Đề tài Triển vọng xuất khẩu sang thị trường Anh Quốc của các doanh nghiệp Việt Nam

Mục lục Lời nói đầu Chương 1: Thị trường Anh . 1 I. Một số nét về đất nước Anh 1 1. Điều kiện tự nhiên - Lịch sử - Con người . 1 1.1: Điều kiện tự nhiên . 1 1.2: Sơ lược lịch sử 1 1.3: Con người 2 2. Chính trị và xã hội 2 2.1: Chính trị 2 2.1.1: Bộ máy chính quyền 2 2.1.2: Hệ thống luật pháp . 3 2.2. Xã hội 4 2.2.1. Gia đình 4 2.2.2. Tầng lớp xã hội . 4 2.2.3: Giới tính 5 2.2.4. Chủng tộc . 5 2.2.5. Tôn giáo . 6 3. Văn hóa và lối sống 6 II. Khái quát kinh tế Vương quốc Anh . 6 1. Khái quát chung về trình độ phát triển kinh tế 6 1.1: Sơ lược lịch sử phát triển kinh tế . 6 1.2. Đánh giá tình hình kinh tế Anh trong những năm gần đây . 8 2. Cơ cấu các ngành kinh tế chủ yếu . 12 2.1: Ngành công nghiệp . 13 2.2: Ngành nông nghiệp 14 2.3: Ngành dịch vụ 14 III. Đặc điểm thị trường Anh . 15 1. Hệ thống phân phối 15 1.1. Hệ thống bán buôn . 15 1.2. Hệ thống bán lẻ 17 2. Hệ thống dịch vụ . 18 3. Đặc điểm thị trường Anh 20 3.1: Mức thu nhập và sức mua . 20 3.2. Tập quán và thị hiều tiêu dùng . 21 3.3. Những thay đổi về mặt xã hội có ảnh hưởng tới tiêu dùng cá nhân 22 3.3.1. Tuổi thọ

doc101 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2464 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Triển vọng xuất khẩu sang thị trường Anh Quốc của các doanh nghiệp Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ốc gia thành viên EU với Việt Nam. Hiệp định Hợp tác đề cập đến nhiều lĩnh vực hợp tác khác nhau, theo đó về thương mại, hai bên dành cho nhau quy chế đãi ngộ tối huệ quốc (MFN) và cam kết mở cửa thị trường cho hàng hoá của nhau tới mức tối đa có tính đến điều kiện đặc thù của mỗi bên. Trong bản Hiệp định Hợp tác, EU còn cam kết dành cho hàng hoá xuất xứ từ Việt Nam chương trình ưu đãi Thuế quan phổ cập (GSP). Trên cơ sở Hiệp định hợp tác giữa Việt Nam và EU, Anh Quốc cũng đã ký Hiệp định thương mại và thoả thuận Tối huệ quốc với Việt Nam. Đây được coi là mốc quan trọng đưa quan hệ thương mại giữa hai nước lên một tầm cao mới. Tháng 12-1999, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) và Tổng Lãnh sự quán Anh ở thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp tổ chức Chương trình hợp tác Việt Nam – Anh Quốc với sự tham gia của 60 doanh nghiệp Anh và 60 doanh nghiệp Việt Nam. Đây được coi là cuộc gặp gỡ lớn nhất giữa các doanh nghiệp vừa và nhỏ hai nước với mục đích trao đổi, hợp tác kinh doanh, tạo nên những nét khởi sắc mới trong quan hệ thương mại giữa hai nước. Trong những năm đầu của thế kỷ XXI, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Anh không ngững tăng trưởng thể hiện qua tổng giá trị kim ngạch hai chiều qua các năm. Chính phủ và doanh nghiệp hai nước đều thể hiện mong muốn quan hệ thương mại giữa hai nước sẽ phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong tương lai. 2. Tình hình ngoại thương Việt Nam – Anh Quốc trong những năm gần đây Trong khoảng thời gian từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao (1973) cho đến đầu thập kỷ 90, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Anh Quốc chưa được chú trọng phát triển. Trong giai đoạn này kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam sang Anh chỉ chiếm có 4,08% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Cộng đồng châu Âu lúc đó. Bước vào thập niên 90, quan hệ thương mại giữa hai nước mới bắt đầu có sự khởi sắc. Kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều tăng liên tục từ con số khiêm tốn là 13,5 triệu GBP năm 1991 đến 612,93 triệu GBP năm 2002. Từ năm 1991, Việt Nam liên tục xuất siêu và mức độ xuất siêu ngày càng lớn. Năm 1995, việc Việt Nam ký Hiệp định hợp tác với Liên minh châu Âu (EU) đã tạo cơ hội cho sự phát triển quan hệ giữa Việt Nam với từng nước thành viên của EU. Đây cũng được coi là mốc thời gian quan trọng để đánh giá tình hình ngoại thương giữa Việt Nam và Anh Quốc trong giai đoạn hiện nay. 2.1: Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Anh: Giai đoạn 1995 – 2002, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh rất cao, trung bình đạt khoảng 49,1%/năm, kim ngạch xuất khẩu của năm 2002 gấp 10 lần kim ngạch xuất khẩu của năm 1995. Tình hình xuất khẩu cụ thể được thể hiện qua bảng sau: Bảng 11: Giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Anh giai đoạn 1995 – 2002 Năm Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Kim ngạch triệu USD 74,6 125 265 335 421 479 511 570 Tốc độ % 80,6 67,6 112 30,9 25,7 13,7 6,68 11,5 Nguồn: Tổng cục thống kê Qua bảng 11 ta thấy kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh qua các năm đều tăng với tốc độ cao. Giai đoạn từ 1995 đến 1997 là giai đoạn tăng trưởng mạnh nhất. Đặc biệt năm 1997, kim ngạch tăng hơn gấp đôi so với năm trước. Đây là giai đoạn ngay sau khi Việt Nam và EU ký Hiệp định hợp tác. Như vậy có thể nói bản Hiệp định này đã phát huy tác dụng một cách tích cực. Sang giai đoạn từ năm 1998 đến 2000, tốc độ tăng trưởng giảm xuống, thường dao động ở mức trên dưới 30%. Từ năm 2000 đến nay, tốc độ chỉ ở khoảng 11% đến 13%. Nguyên nhân chủ yếu là do đây là giai đoạn Việt Nam mở rộng xuất khẩu sang các thị trường khác trong khu vực EU nên lượng xuất khẩu sang các khu vực lớn có phần bị thu hẹp. Cá biệt là vào năm 2001, kim ngạch xuất khẩu chỉ tăng 6,68% so với năm trước đó. Đây là mức thấp nhất trong vòng 8 năm qua. Lý giải cho hiện tượng này là tình trạng ảm đạm của nền kinh tế thế giới trong năm 2001 do nạn khủng bố. Tình trạng này đã kéo theo sự suy giảm mạnh của thương mại quốc tế. Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Anh trong năm này cũng không nằm ngoài tình trạng đó. Tuy nhiên chỉ một năm sau, kim ngạch xuất khẩu đã có sự hồi phục một cách nhanh chóng, tăng 11,5%. Trong năm 2003, dự tính xuất khẩu của Việt Nam sang Anh sẽ có sự tăng mạnh bởi theo thống kê thì kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm của ta sang thị trường Anh đã là 405,870 triệu USD tăng 121,9% so với cùng kỳ năm 2002. Xuất khẩu của Việt Nam sang Anh không chỉ tăng về kim ngạch và tốc độ mà còn tăng tỷ trọng trong EU. Tỷ trọng trung bình kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU giai đoạn 1995 – 2002 chiếm khoảng 15,25%, tăng hơn 3 lần so với giai đoạn trước những năm 90. Tỷ trọng cụ thể qua các năm như sau: Bảng 12: Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh so với EU giai đoạn 1995 - 2002 Năm Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Kim ngạch XK sang Anh triệu USD 74,6 125 265 335 421 479 511 570 Tỷ trọng Anh/EU % 10,4 13,9 16,4 16,2 16,9 16,8 17 18,1 Nguồn: Tổng cục Thống kê Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong EU nhìn chung là tăng dần qua các năm. Tuy nhiên mức tăng này còn khá chậm chạp. Nguyên nhân là do kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường khác trong EU đã tăng lên đáng kể như thị trường Italia, Bỉ, Tây Ban Nha (xem phụ lục 2). Cùng với Đức, Pháp, Hà Lan, Anh là một trong bốn thị trường lớn của EU. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang bốn thị trường này thường chiếm một tỷ trọng khá lớn trên tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU. So với các thị trường Đức, Pháp, Hà Lan thì xuất khẩu của Việt Nam sang Anh trong thời gian đầu còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tỷ trọng xuất khẩu sang Anh trên tổng xuất khẩu của Việt Nam sang EU ngày càng tăng, trong khi tỷ trọng sang Đức, Pháp, Hà Lan ngày càng giảm. Điều này cho thấy có sự thay đổi trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của ta sang EU theo hướng cân bằng giữa các thị trường trọng điểm, giảm sự tập trung quá mức vào thị trường Đức, Pháp như trong thời gian đầu. Ta có thể theo dõi xu hướng này qua bảng sau: Bảng 13: XK của Việt Nam sang một số nước trong EU trên tổng XK của Việt Nam sang EU (giai đoạn 1995 – 2002) và so với Anh Đơn vị: % Nước 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Anh 10,4 13,9 16,4 16,2 16,9 16,8 17 18,1 Đức 32,8 25,3 25,5 26,6 26 25,7 24 22,9 Pháp 25,4 16,1 14,7 14,2 14,1 13,4 15,6 13,9 Hà Lan 12 16,4 16,5 14,6 13,6 13,7 12,1 12,8 Nguồn: Tổng cục Thống kê Như vậy, tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh là rất khả quan và có chiều hướng tốt đẹp. Tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu thường ở mức cao. Nếu do những nguyên nhân khách quan làm giảm tốc độ này thì sự phục hồi thường là rất nhanh chóng. Thêm vào đó, thị trường Anh nổi lên với tư cách là đối trọng của các thị trường Đức, Pháp, Hà Lan. Xuất khẩu của Việt Nam sang Anh ngày càng tương xứng với tiềm năng của cả hai bên. 2.2: Tình hình xuất khẩu của Anh vàoViệt Nam: 2.2.1: Kim ngạch và tốc độ tăng trưởng: Kim ngạch xuất khẩu của Anh sang Việt Nam trong 8 năm qua luôn nhỏ hơn so với kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh. Giá trị xuất khẩu của Anh sang Việt Nam được thể hiện cụ thể qua bảng sau: Bảng 14: Giá trị xuất khẩu của Anh vào Việt Nam giai đoạn 1995 – 2002 Năm Đơn vị 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Kim ngạch triệu USD 50,7 83,7 103,9 96,4 109 149,9 171,6 166,6 Tốc độ tăng % -18,6 65 24 -7,2 13 37,5 14,5 -2,9 Tỷ trọng Anh/EU % 7,64 7,33 7,92 7,68 9,08 11,9 11 9,04 Nguồn: Tổng cục Thống kê Qua bảng trên ta thấy, tình hình xuất khẩu của Anh vào Việt Nam giai đoạn 1995 – 2002 rất không ổn định, tốc độ tăng giảm không đều. Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu từ Anh trên tổng kim ngạch nhập khẩu từ EU của Việt Nam còn nhỏ. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng như trên. Về phía Anh, là nước đứng thứ năm trên thế giới về ngoại thương, nước Anh tăng cường đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài nhưng chủ yếu là xuất khẩu sang các nước phát triển khác. Thị trường các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) và thị trường EU là thị trường xuất khẩu chủ yếu của Anh. Về phía Việt Nam, trong những năm qua do vấn đề giá cả, tỷ giá...mà chúng ta chưa thực sự chú ý tới việc nhập khẩu từ thị trường Anh. Mặc dù Anh là trung tâm công nghệ nguồn của châu Âu nhưng chúng ta ít có cơ hội nhập khẩu trực tiếp những dây chuyền công nghệ hiện đại từ thị trường này. Trong tương lai việc nhập khẩu từ thị trường Anh cần phải được chú ý nhiều hơn nữa. Ngoài việc phục vụ cho nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc đẩy mạnh nhập khẩu còn có tác dụng là đòn bẩy đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh. 2.2.2: Cơ cấu hàng xuất khẩu: Sau đây là danh mục các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Anh sang Việt Nam từ năm 2000 đến 2002: Bảng 15: Các mặt hàng xuất khẩu của Anh vào Việt Nam Đơn vị: nghìn USD STT Mặt hàng 2000 2001 2002 1 Xe ô tô vận tải và phụ tùng 27.482 28.548 28.922 2 Máy và phụ tùng hàng hải 6.954 7.324 8.493 3 Máy điện và phụ tùng 4.981 5.562 6.231 4 Máy và phụ tùng hàng không 6.872 6.943 8.549 5 Thuốc thú y 5.974 6.125 6.326 6 Hoá chất 5.126 5.542 6.241 7 Giấy và bìa 3.243 3.467 4.120 8 Hàng dệt 2.415 2.450 2.674 9 Máy, phụ tùng, vật liệu XD 2.680 3.264 3.946 10 Thuốc trừ sâu 1.478 1.524 1.497 11 Máy và phụ tùng SX thuốc lá 982 986 940 12 Máy và y cụ 845 963 1005 13 Văn phòng phẩm 510 554 623 Nguồn: Vụ Âu Mỹ - Bộ Thương mại Nhìn chung cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Anh sang Việt Nam ít có sự thay đổi và kim ngạch không tăng nhiều qua các năm. Qua bảng trên ta thấy, hàng hoá mà Việt Nam nhập khẩu từ Anh chủ yếu là các thiết bị rời và phụ tùng chứ không phải là những dây chuyền công nghệ đồng bộ phục vụ cho quá trình sản xuất hàng hoá xuất khẩu. Anh là một trung tâm công nghệ nguồn của châu Âu nhưng Việt Nam còn chưa tiếp cận và nhập khẩu được nhiều những công nghệ này phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. 3. Những tồn tại trong quan hệ thương mại Việt Nam – Anh Quốc Trong nhiều năm qua, tuy hoạt động thương mại song phương giữa Việt Nam và Anh quốc liên tục được cải thiện, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng với tốc độ cao nhưng thực tế cho thấy hoạt động trao đổi thương mại giữa hai nước vẫn còn tồn tại một số vấn đề như sau. Mặc dù các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như giày dép, may mặc, cà phê, thủ công mỹ nghệ, chè, hạt tiêu... đều đã có mặt trên thị trường Anh nhưng tỷ trọng kim ngạch các mặt hàng trong cơ cấu hàng xuất khẩu nhìn chung ít thay đổi trong nhiều năm. Hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Anh thường tập trung cao độ vào một số ít mặt hàng. Trong năm 2002, chỉ riêng hai mặt hàng giày dép và dệt may đã chiếm tới 58% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh, trong đó giày dép chiếm 48%. Sự tập trung cao độ này dễ gây ra nguy cơ tiềm tàng cho xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam là khả năng dễ bị tổn thương do những thay đổi không dự tính được trong điều kiện cung cấp cho khách hàng. Trong lĩnh vực nông nghiệp, Việt Nam vẫn chưa khai thác được hết những khả năng của mình đối với việc xuất khẩu các sản phẩm nông lâm thuỷ sản - vốn là những sản phẩm rất có triển vọng đối với thị trường Anh. Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nông lâm thuỷ sản của ta sang Anh còn khá khiêm tốn so với nhu cầu nhập khẩu của Anh và khả năng sản xuất - xuất khẩu của Việt Nam. Là một nước nông nghiệp, khí hậu, đất đai phù hợp với cả sản xuất nông sản nhiệt đới cũng như ôn đới, kỹ thuật canh tác tốt, sản phẩm có khả năng cạnh tranh nhưng nhóm nông lâm thuỷ sản của ta chỉ chiếm thị phần rất nhỏ trên thị trường Anh. Thị phần của Việt Nam về nhóm hàng này trên thị trường Anh trung bình thường dao động ở mức 4% đến 6%. Tỷ lệ này không chỉ thấp so với một số nước lớn như Ấn Độ, Trung Quốc mà còn thấp so với những nước có tiềm năng tương đương thậm chí còn kém Việt Nam như Pakistan, Bangladesh, Srilanca. Đây đều là những nước cung cấp chính các sản phẩm nông lâm thuỷ sản cho thị trường Anh, đồng thời cũng là đối thủ cạnh tranh chủ yếu của Việt Nam trong lĩnh vực này. Mặc dù Anh là một quốc gia công nghiệp phát triển trong EU- một trong ba trung tâm công nghệ nguồn của thế giới- nhưng chúng ta vẫn chưa nhập khẩu được nhiều dây chuyền công nghệ hiện đại từ thị trường này mà mới chủ yếu nhập các máy móc và thiết bị lẻ. Quy mô nhập khẩu còn quá nhỏ bé và cơ cấu hàng chưa thật phù hợp nên hoạt động nhập khẩu của Việt Nam từ Anh chưa đóng được vai trò tích cực là đòn bẩy đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này. Nhập khẩu chưa thật gắn liền với xuất khẩu, chưa tạo được tiền đề để thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh. Các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam chưa thực sự chủ động tìm hiểu thị trường Anh và tìm cách thâm nhập trực tiếp sang thị trường này. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp của Việt Nam còn làm ăn tuỳ tiện, manh mún với một phong cách chưa phù hợp với truyền thống và tập quán kinh doanh của các doanh nghiệp Anh. Công tác xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp chưa đạt hiệu quả, chưa có sự gắn kết chặt chẽ giữa các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu của Việt Nam với hệ thống các kênh phân phối trên thị trường Anh. Tình trạng xuất khẩu gián tiếp sang thị trường Anh của các doanh nghiệp Việt Nam còn phổ biến. Theo thống kê, có đến 60% số hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Anh theo kênh gia công và qua trung gian. Tình trạng này đặc biệt phổ biến trong lĩnh vực xuất khẩu giày dép và dệt may - hai mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Anh. Do có quan hệ thương mại truyền thống với Anh Quốc nên nhiều nước châu Á như Singapore, Malaysia, Indonesia là chiếc cầu nối cho các sản phẩm dệt may và giày dép của Việt Nam với thị trường Anh. Hàng hoá sau khi được nhập về từ Việt Nam sẽ bị bóc nhãn, thay nhãn mác mới rồi được tái xuất sang thị trường Anh với giá cao gấp 3 đến 5 lần so với giá nhập từ Việt Nam. Việc buôn bán qua trung gian đã gây thiệt hại không nhỏ cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như doanh nghiệp Anh. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, lợi nhuận nhận được chỉ trên dưới 30% so với sản xuất và xuất khẩu trực tiếp. Thiệt hại hơn nữa là các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không có cơ hội để khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường Anh. Còn đối với các doanh nghiệp Anh, họ sẽ phải mua hàng với giá cao hơn giá thực tế. Những tồn tại trên đây đã gây những trở ngại đáng kể trong quan hệ thương mại Việt Nam – Anh quốc trong giai đoạn hiện nay. Những biến động phức tạp và sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá và tự do hoá thương mại, đòi hỏi cả Việt Nam và Anh cần phải có những nỗ lực hơn nữa nhằm tháo gỡ những khó khăn, giải quyết những tồn tại để thúc đẩy quan hệ hợp tác thương mại phát triển vì lợi ích của cả hai bên. Chương 3 Giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp việt nam xuất khẩu sang anh I. Triển vọng phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Anh quốc Quan hệ thương mại Việt Nam – Anh quốc hiện tại tuy còn tồn tại một số vấn đề nhưng trong tương lai khả năng mở rộng và phát triển quan hệ này là rất lớn. Nhận định này là hoàn toàn có cơ sở bởi một số lý do sau. Thứ nhất, về lý thuyết, thị trường hai nước Việt Nam và Anh có những đặc điểm cơ bản có thể bổ sung cho nhau hay nói một cách khác cả hai nước đều có điều kiện để phát huy lợi thế so sánh của mình. Việt Nam là một nước đang phát triển, đang trong quá trình công nghiệp hoá đất nước nên nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ nguồn là rất lớn. Trong khi Anh quốc là một trong những quốc gia công nghiệp phát triển nhất thế giới và là một trong những trung tâm công nghệ nguồn của EU, có thể đáp ứng nhu cầu nhập khẩu của những nước đang trong quá trình công nghiệp hoá như Việt Nam. Ngược lại, nền nông nghiệp và công nghiệp nhẹ của Anh tuy phát triển nhưng nếu sản xuất thì chi phí sẽ cao hơn nhiều so với nhập khẩu từ các nước đang phát triển. Do đó nhu cầu nhập khẩu những sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp nhẹ của Anh là rất lớn . Mà những sản phẩm này lại là thế mạnh của Việt Nam. Thứ hai, Việt Nam và Anh Quốc đều nằm trong khu vực thương mại năng động nhất thế giới. Việt Nam là một thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Anh là quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu (EU). Đây đều là những tổ chức có mối quan hệ hợp tác gắn bó. Thứ ba, thực tế cho thấy hoạt động thương mại giữa hai nước liên tục được cải thiện, kim ngạch xuất nhập khẩu tăng với tốc độ cao và hứa hẹn sẽ tăng mạnh hơn nữa trong tương lai. Thứ tư, châu Âu vẫn chiếm vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam xác định châu Âu sẽ chiếm khoảng 25% trong cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam, trong đó thị trường EU sẽ chiếm khoảng 17%. Anh được coi là một trong bốn thị trường chính mà Việt Nam hướng tới trong EU. Ngược lại, sự phát triển ổn định của nền kinh tế xã hội Việt Nam trong những năm qua đã thu hút được nhiều sự quan tâm, chú ý của các doanh nghiệp Anh. Hiện nay, tổ chức Hiệp hội thương mại Anh ở Việt Nam đã có 210 thành viên tham gia và ngoài ra còn có hơn 100 văn phòng đại diện và các công ty liên doanh của Anh ở Việt Nam. Thứ năm, Chính phủ hai nước đều có những nỗ lực nhằm thúc đẩy mối quan hệ thương mại song phương. Về phía Anh, hiện tại Chính phủ Anh có cho đặt Phòng Thương mại Anh tại Việt Nam (Trade Partners UK), một văn phòng ở thành phố Hồ Chí Minh và một ở Đại sứ quán Anh tại Hà Nội. Phòng Thương mại có nhiệm vụ xúc tiến hỗ trợ cho các doanh nghiệp Việt Nam muốn kinh doanh tại thị trường Anh quốc và tư vấn cho họ về nhu cầu cũng như nguồn sản phẩm ở thị trường này. Bên cạnh đó, phía Anh cũng phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) để giúp đỡ các công ty Anh muốn đầu tư vào thị trường Việt Nam. Trong năm 2003, Chính phủ Anh đã hỗ trợ tám đoàn doanh nghiệp Anh sang thăm và tìm hiểu thị trường Việt Nam để xúc tiến đầu tư. Về phía Việt Nam, Tham tán thương mại Sứ quán Việt Nam tại Anh đã làm rất tốt trong việc giúp đỡ các công ty của Việt Nam tìm hiểu thị trường Anh cũng như tư vấn, hướng dẫn cho các doanh nghiệp Anh Quốc nghiên cứu tìm hiểu thị trường Việt Nam. Ngoài ra, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cùng Thương vụ còn phối hợp với Bộ Công thương Anh, Phòng Thương mại và Công nghiệp London, Hiệp hội các doanh nghiệp Việt Anh tổ chức các cuộc hội thảo về cơ hội buôn bán đầu tư giữa hai nước. Trong thời gian tới, Chính phủ hai nước đều chủ trương tăng cường quan hệ thương mại hơn nữa bao gồm tổ chức các cuộc tiếp xúc giữa các doanh nghiệp hai nước, Chính phủ Anh giúp phía Việt Nam mở các lớp đào tạo về kỹ năng quản lý, tổ chức các cuộc hội thảo chuyên đề về thị trường hai nước. Như vậy, quan hệ thương mại Việt Nam – Anh Quốc có đầy đủ cơ sở chủ quan cũng như khách quan để phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Đây sẽ là tiền đề để các doanh nghiệp của Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường này. II. Dự báo xuất khẩu của Việt Nam sang Anh trong thời gian tới Để có được những dự báo về khả năng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh trong thời gian tới, trước hết ta cần phải căn cứ vào định hướng phát triển thị trường xuất khẩu của Việt Nam. Sau đây là bảng cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam và hướng phát triển đến năm 2010: Bảng 16 : Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam đến năm 2010 Đơn vị:% Nước 1991-1995 2000 2010 Nhật Bản 28,5 12 11 ASEAN 18 13 11 EU 12 15 17 Mỹ 1 8 17 Trung Quốc 7,4 8 9 SNG và Đông Âu 2,2 3 4 Các nước khác 30,9 41 31 Nguồn: Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại Qua bảng 16 ta thấy, đến năm 2010, chúng ta chuyển dần hướng xuất khẩu sang châu Âu và Mỹ. Chủ trương của Việt Nam là đến năm 2010, xuất khẩu sang châu Âu sẽ chiếm 25% trên tổng lượng xuất khẩu, trong đó riêng EU sẽ chiếm 17%. Mặc dù, đến năm 2004, EU sẽ kết nạp thêm 10 thành viên mới nhưng Việt Nam xác định cùng với Đức, Pháp, Hà Lan, Anh vẫn sẽ là bạn hàng lớn nhất của mình trong EU. Dự kiến trong giai đoạn từ nay đến năm 2010, tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Anh sẽ chiếm khoảng 20% trong EU. Các mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang thị trường này sẽ là giày da, may mặc, sản phẩm gỗ, thủ công mỹ nghệ, nông lâm thuỷ sản tinh chế và dầu thô. Để có thể đưa ra những dự đoán về xuất khẩu của Việt Nam sang Anh, ngoài căn cứ vào hướng phát triển thị trường xuất khẩu, nhu cầu nhập khẩu của Anh, còn cần phải căn cứ vào những dự báo về thị trường xuất khẩu những mặt hàng chính của Việt Nam mà Bộ Thương mại đưa ra. Bảng 17: Dự báo thị trường xuất khẩu một số mặt hàng chính của Việt Nam Đơn vị: Lượng : nghìn tấn Giá trị:Triệu USD Mặt hàng Thực hiện 2000 Kế hoạch 2005 Kế hoạch 2010 Cơ cấu thị trường Lượng Giá trị Lượng Giá trị Lượng Giá trị Dệt may 1.950 5.000 7.500 Mỹ: 57,1%; EU: 18,6%; Nhật: 15,7%; Các thị trường khác : 8,6% Giày dép 1.650 4.000 7.000 EU: 67,4%; Mỹ: 12,2%; Nhật: 3,9%; Các thị trường khác :16,5% Thuỷ sản 1.200 2.500 3.000 Mỹ: 35%; Nhật: 26%; EU: 10%; Trung Quốc:13%; Hàn Quốc: 5%; Singapore:2%; úc: 2%; Các thị trường khác: 7% Dầu thô 16.800 3.200 11.800 2.400 8.000 1.600 Mỹ: 25%, Trung Quốc:24%; Singapore: 19%; Nhật: 18%; Anh: 7%; Các thị trường khác: 8,6% Cà phê 630 500 700 700 750 850 EU: 65%; Mỹ: 17%; Nhật: 6%; Singapore: 3%; Các thị trường khác: 9% Cao su 245 153 300 250 500 500 Trung Quốc: 35%; EU:15%; Singapore:10%; Đài Loan:8%; Hàn Quốc:8% Nga: 7%; Malaisia: 5%; Các thị trường khác: 12% Rau quả 180 800 1.600 Trung Quốc: 50%; ĐàiLoan:10%; Hàn Quốc: 8%; Nhật: 7%; EU: 5%; Các thị trường khác: 16% Nguồn:Báo cáo về hướng thị trường xuất khẩu những mặt hàng chính của Việt Nam Vụ Xuất Nhập khẩu - Bộ Thương mại Bảng dự báo trên cho thấy EU vẫn luôn là thị trường quan trọng đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Với vị trí quan trọng trong EU và tiềm năng nhập khẩu lớn, thị trường Anh sẽ chiếm tỷ trọng đáng kể trong việc nhập khẩu những mặt hàng này của Việt Nam. Dệt may và giày dép vẫn sẽ là những mặt hàng đóng góp lớn vào kim ngạch xuất khẩu từ nay đến năm 2010. Hai mặt hàng này sẽ vẫn có sự tăng trưởng đều đặn sang thị trường Anh. Đặc biệt là mặt hàng giày dép, Anh sẽ là thị trường xuất khẩu giày dép lớn nhất của Việt Nam với hai mặt hàng được thị trường Anh ưa chuộng là giày da và giày thể thao. Cà phê cũng là mặt hàng sẽ có sự tăng trưởng mạnh vào thị trường Anh. Với chính sách khuyến khích phát triển giống cà phê Arabica - giống cà phê được ưa chuộng trên thế giới - cà phê của Việt Nam sẽ cạnh tranh được với cà phê của các nước hiện đang là bạn hàng cung cấp cà phê lớn cho Anh như Ấn Độ và Colombia. Hiện nay chính phủ đang cố gắng đưa diện tích cà phê Arabica lên 100 nghìn ha với hy vọng đạt sản lượng từ 150 nghìn tấn đến 200 nghìn tấn vào năm 2010. Xuất khẩu cà phê sang EU sẽ chiếm khoảng 65% tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê của Việt Nam vào 2005 và 2010. Trong đó dự đoán xuất khẩu sang Anh sẽ chiếm khoảng 10%. Thuỷ sản dự báo cũng sẽ có sự tăng trưởng khi xuất khẩu vào Anh. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này vẫn được duy trì như trước do việc xuất khẩu thuỷ sản vào EU không phải là dễ dàng đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Đây là mặt hàng có sự kiểm tra chặt chẽ nhất khi xuất khẩu sang EU. Muốn có sự tăng trưởng đột phá đòi hỏi các doanh nghiệp thuỷ sản Việt Nam phải có sự đầu tư và nỗ lực rất lớn trong mọi khâu sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm. Đặc biệt mặt hàng dầu thô sẽ là mặt hàng mới được xuất khẩu sang thị trường Anh và dự đoán sẽ có xu hướng tăng mạnh. Anh là nước có ngành công nghiệp hóa dầu phát triển. Các vùng khai thác dầu của Anh chủ yếu là ở khu vực Biển Bắc và vùng Alasca. Tuy nhiên, dầu đã được khai thác ở những vùng này trong thời gian rất dài. Để đảm bảo cho nguồn cung cấp xăng dầu trong tương lai, bên cạnh việc các công ty dầu khí đẩy mạnh đầu tư khai thác ở nước ngoài, nhu cầu nhập khẩu dầu thô của Anh phục vụ cho công nghiệp năng lượng trong nước là rất lớn. Điển hình là vào năm 2003, ba công ty dầu khí lớn của Anh là Shell. UK. Ltd, Esso Exploration và Production UK. Ltd đã ký kết thoả thuận với công ty dầu mỏ Statoil ASA của Nauy về việc cung cấp xăng dầu từ Nauy sang Anh với khối lượng lớn đảm bảo cho nhu cầu về xăng dầu của Anh trong tương lai. Tuy nhiên, thoả thuận chỉ bắt đầu có hiệu lực vào năm 2017. Đây sẽ là cơ hội cho dầu thô của Việt Nam xuất khẩu sang Anh nhưng chỉ trong giai đoạn từ nay đến năm 2010. Bởi sau khi những nhà máy lọc dầu của Việt Nam được hoàn thành và đưa vào hoạt động thì việc xuất khẩu dầu thô của Việt Nam sẽ không được khuyến khích. Rau quả tuy là mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu mạnh của Việt Nam sang thị trường Anh nhưng chỉ sau một khoảng thời gian dài khi các doanh nghiệp xuất khẩu rau quả Việt Nam tạo được uy tín tốt về chất lượng với các nhà nhập khẩu Anh Quốc. Vì vậy trong thời gian trước mắt, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng vẫn sẽ tăng không đáng kể. Các nước cung cấp chính mặt hàng này cho thị trường Anh là EU và New Zealand là những nước có khả năng cạnh tranh rất mạnh. Các mặt hàng khác như đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ vẫn sẽ là những mặt hàng có những đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh. Bên cạnh việc gia tăng nhu cầu về những mặt hàng này trên thị trường Anh, các doanh nghiệp thủ công mỹ nghệ của Việt Nam cũng đã có những đầu tư lớn, có thể đáp ứng những hợp đồng lớn từ phía nhà nhập khẩu. Về cao su tự nhiên, do là mặt hàng nhập khẩu thiết yếu của thị trường Anh nên nhu cầu nhập khẩu mặt hàng này vẫn ổn định và sẽ có kim ngạch tăng trưởng đều qua các năm. III. Giải pháp thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Anh Xuất phát từ những phân tích về thị trường Anh, kinh tế Anh, quan hệ thương mại Việt Anh trong thời gian qua và những dự báo xuất khẩu của Việt Nam sang Anh trong thời gian tới, ta có thể thấy triển vọng xuất khẩu sang thị trường Anh của các doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn. Để những triển vọng và dự đoán thành hiện thực, Việt Nam cần phải có những biện pháp đồng bộ từ phía nhà nước và các doanh nghiệp xuất khẩu. Nhà nước có những giải pháp nhằm tạo điều kiện thúc đẩy mối quan hệ thương mại song phương giữa hai nước, đưa ra những chính sách hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội tiếp xúc với đối tác Anh thông qua những chuyến thăm ngoại giao từ đó thiết lập quan hệ hợp tác thương mại lâu dài. Bản thân doanh nghiệp phải năng động tìm hiểu thị trường Anh, đối tác Anh, áp dụng những biện pháp hỗ trợ từ phía nhà nước một cách tích cực. Đồng thời phải nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân doanh nghiệp và hàng hoá xuất khẩu. Cụ thể, nhà nước và doanh nghiệp cần có những giải pháp sau. 1. Giải pháp về phía nhà nước: Anh quốc tuy không phải là thị trường truyền thống của Việt Nam nhưng luôn là một đối tác quan trọng trong hoạt động ngoại thương của Việt Nam. Vì vậy, để thúc đẩy xuất khẩu sang thị trường này, Việt Nam phải có những giải pháp từ phía nhà nước một cách tổng thể, trên mọi khía cạnh. 1.1: Những chính sách chung: Hoàn thiện hành lang pháp lý tạo thuận lợi tối đa cho xuất khẩu nói chung. Trước hết là luật Thương mại, luật Đầu tư nước ngoài, luật Thuế...Đồng thời phải tiếp tục đổi mới và cải cách thủ tục hành chính trong quản lý xuất nhập khẩu,nhất là thủ tục hải quan, áp dụng công nghệ thông tin vào việc kê khai hàng tính thuế. Hoàn thiện quản lý các chiến lược cấp quốc gia về phát triển các ngành hàng xuất khẩu. Trong đó xác định rõ các thị trường mục tiêu, tỷ trọng cơ cấu thị trường; chiến lược thâm nhập thị trường, chiến lược sản phẩm, giá, phân phối, xúc tiến khuyếch trương; tổ chức thực hiện và kiểm soát các chiến lược này cho từng ngành hàng xuất khẩu. Điều quan trọng nhất hiện nay là phải đảm bảo hiệu lực thống nhất và đồng bộ trong thực hiện các mục tiêu chiến lược ở tất cả các ngành, các cấp cũng như tăng cường sự liên kết chặt chẽ giữa Chính phủ, các ngành sản xuất,các cơ quan khoa học và các doanh nghiệp của Việt Nam. Tăng cường chất lượng hàng xuất khẩu từ phía nhà nước. Nghiêm túc mở rộng các chương trình về quản lý chất lượng như ISO, TQM...Đưa chất lượng thành quốc sách hàng đầu để thâm nhập thị trường, nâng cao tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu tương xứng với tiềm năng. 1.2: Về quan hệ song phương: Tăng cường mối quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước. Mặt khác, do Anh quốc là một thành viên trong Liên minh châu Âu, vì vậy việc mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế thương mại với EU là nền tảng cần thiết để mở rộng quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Anh. Trước mắt, để đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu sang Anh quốc, trong điều kiện chưa là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới, Việt Nam cần chuẩn bị đàm phán kéo dài chế độ GSP với EU. Ngoài ra, Bộ Thương mại chủ trì, phối hợp với các ngành hữu quan tiến hành đàm phán và thoả thuận với EU về các vấn đề còn tồn tại trong quan hệ thương mại Việt Nam – EU như: phối hợp với EU trong việc kiểm soát lượng giầy dép mang xuất xứ Việt Nam xuất khẩu vào EU, tránh nguy cơ EU áp đặt hạn ngạch cho Việt Nam; Đề nghị EU sớm cùng ta xem xét lại Hiệp định Dệt may để nâng mức hạn ngạch lên từ 30% đến 50% cho từng chủng loại. Có định hướng cơ cấu hàng vào EU nói chung và Anh quốc nói riêng. Nâng cao năng lực cạnh tranh của các mặt hàng chủ lực. Phát triển mặt hàng mới với công nghệ mới. Giải quyết trong quan hệ song phương giữa hai Chính phủ, tạo thuận lợi cho việc tăng cường khả năng thâm nhập của hàng xuất khẩu Việt Nam sang thị trường Anh về các vấn đề như thoả thuận về thủ tục kiểm tra hàng hoá nhập khẩu, thoả thuận về thanh toán. Phía Việt Nam cũng nên đàm phán với phía Anh về việc cho phép thành lập kho ngoại quan của Việt Nam tại Anh để giảm bớt các rủi ro kinh doanh. 1.3: Về hỗ trợ xúc tiến thương mại: Chính phủ nên cho phép thành lập các trung tâm xúc tiến thương mại Việt Nam tại Anh. Hiện nay luật thương mại Anh đã cho phép thành lập các trung tâm thương mại của nước ngoài trên đất nước Anh. Các trung tâm xúc tiến thương mại Việt Nam tại Anh sẽ giới thiệu, quảng bá hàng hoá của Việt Nam, đồng thời thực hiện cung ứng các dịch vụ trợ giúp miễn phí hoặc phí thấp cho các nhà kinh doanh và đầu tư khi tiếp cận và thâm nhập thị trường Anh. Mặt khác, trung tâm có thể sẽ thu hút các công ty Việt Kiều, cộng đồng người Việt tại Anh tới giới thiệu, bán hàng, giao dịch mua hàng tại Anh, tạo đầu mối, xúc tiến cho các công ty, doanh nghiệp trong nước triển khai quan hệ buôn bán với các các doanh nghiệp Anh. Bộ Thương mại cần chủ động tổ chức triển lãm định kỳ hàng xuất khẩu Việt Nam tại Anh. Tăng cường hoạt động quảng cáo hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường Anh thông qua các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, truyền hình, kể cả thông qua việc tham gia các cuộc hội chợ, triển lãm, giới thiệu hàng mẫu được tổ chức tại Anh. Có thể lựa chọn một số mặt hàng có khả năng tiêu thụ mạnh nhất trên thị trường trong từng thời kỳ để tập trung quảng cáo. Ngoài ra, để người tiêu dùng Anh biết tới hàng hoá Việt Nam nhiều hơn thì ngoài việc quảng cáo sản phẩm của Việt Nam, Bộ Thương mại và các cơ quan hữu quan như Ngoại giao, Du lịch, Phát thanh, Truyền hình...cần hợp tác trong việc phát hành các tài liệu, catalogue, băng, đĩa để giới thiệu và quảng bá hình ảnh của Việt Nam trên đất nước Anh. Tổ chức các phái đoàn thương mại của Chính phủ đi khảo sát thị trường, trao đổi thông tin và xúc tiến các cơ hội kinh doanh, đầu tư mới tại thị trường Anh. Tổ chức cung cấp thông tin về thị trường Anh cho các doanh nghiệp Việt Nam. Để làm tốt hơn việc này, Bộ Thương mại và Thương vụ Việt Nam tại Anh cần thường xuyên tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề về thị trường Anh. Đây sẽ là những dịp để các doanh nghiệp có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, thông tin về chính sách, chế độ quản lý xuất nhập khẩu của Anh, hệ thống thuế quan, thủ tục xuất nhập khẩu và các tư liệu cần thiết khác về thị trường và mặt hàng mà các doanh nghiệp quan tâm, giúp cho các doanh nghiệp của Việt Nam có sự chuẩn bị tốt trước khi xuất khẩu vào thị trường Anh. Tăng cường vai trò của thương vụ trong việc xúc tiến thương mại. Thương vụ Việt Nam tại Anh giúp đỡ các doanh nghiệp xuất khẩu trong nước tìm đối tác tin cậy, ngân hàng có uy tín ở Anh. Thương vụ cũng phải thực hiện vai trò cầu nối của mình, đó là thoả mãn những nhu cầu thông tin vè hàng hoá, về đối tác Việt Nam cho các doanh nghiệp Anh khi họ có nhu cầu buôn bán với Việt Nam và ngược lại cung cấp thông tin cho các doanh nghiệp Việt Nam về các đối tác Anh khi họ có yêu cầu. Thương vụ cũng phải thường xuyên báo cáo về Bộ Thương mại từng diễn biến chung trên thị trường Anh như luật lệ, cơ chế chính sách, tỷ giá hối đoái, lạm phát, các biện pháp thuế quan và phi thuế quan, xu hướng thương mại...đến những diễn biến cho từng mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Anh như dự báo cung cầu, vấn đề cạnh tranh, giá cả, thị hiếu, kênh phân phối, cách tiếp cận thị trường. Ngoài ra, các cơ quan hữu quan cần phải giúp đỡ doanh nghiệp trong công tác nghiên cứu dự báo thị trường. Đây là công tác quan trọng và cần thiết đối với hoạt động xuất nhập khẩu mà không phải doanh nghiệp nào cũng có khả năng thực hiện. Anh là một thị trường tự do với những đòi hỏi nghiêm ngặt về tiêu chuẩn chất lượng. Vì vậy công tác dự báo thị trường càng có vai trò quan trọng, góp phần định hướng hoạt động xuất khẩu, giảm bớt các rủi ro khi xuất khẩu. 1.4: Về hỗ trợ tài chính: Chính phủ cần có những chính sách nhằm hỗ trợ cho liên minh các doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất khẩu vào Anh. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thì việc buôn bán với các đối tác Anh thường gặp nhiều khó khăn như khoảng cách địa lý giữa hai nước xa xôi nên cước phí vận chuyển cao, rủi ro lớn. Vì vậy, Chính phủ cần có các chính sách tín dụng ưu đãi cho các doanh nghiệp xuất khẩu sang Anh như hỗ trợ vốn hoặc hỗ trợ lãi suất cho vay để doanh nghiệp có điều kiện nâng cao năng suất, chất lượng hàng hoá, đề phòng những rủi ro có thể xảy ra. Đối với các doanh nghiệp mạnh dạn xuất khẩu những mặt hàng mới sang thị trường Anh thì cần có biện pháp khuyến khích như miễn giảm thuế. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu được nhiều sản phẩm thì cần có chính sách thưởng xuất khẩu. Anh là một thị trường khó tính và mức độ cạnh tranh hết sức khốc liệt. Hàng hoá của Việt Nam thường gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của hàng hoá cùng chủng loại từ các nước đang phát triển khác trên thị trường này. Do đó, để khuyến khích các doanh nghiệp xuất khẩu sang Anh, Chính phủ cần có sự trợ giá trong thời gian đầu khi các doanh nghiệp mới thâm nhập thị trường. Từ đó các doanh nghiệp mới có cơ hội đứng vững trên thị trường và có thể cạnh tranh được với hàng hóa của các nước khác. Sử dụng có hiệu quả Quỹ tín dụng Hỗ trợ xuất khẩu. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện môi trường kinh doanh trong nước để thuận lợi hoá cho các hoạt động kinh doanh và đầu tư của các doanh nghiệp. 2. Giải pháp đối với các doanh nghiệp: Để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Anh, ngoài những chính sách hỗ trợ cần thiết từ phía nhà nước còn cần có sự nỗ lực của các doanh nghiệp. Chính các doanh nghiệp là nhân tố có ý nghĩa quyết định cho sự thành công bởi doanh nghiệp là chủ thể trực tiếp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Để thâm nhập và đứng vững trên thị trường Anh – một thị trường tự do cạnh tranh - đòi hỏi các nhà xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam phải có những giải pháp cụ thể từ khâu nghiên cứu thị trường đến khâu giao dịch. 2.1: Tìm hiểu thị trường: Thách thức lớn nhất đối với các nhà kinh doanh là phải hiểu thị trường họ sẽ làm ăn và phải hiểu tâm lý cũng như nhu cầu khách hàng. Thị trường Anh là một thị trường khó tính, do vậy đòi hỏi các nhà xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam phải tìm hiểu nghiên cứu bài bản và chuyên nghiệp về nhu cầu cũng như thị hiếu của thị trường này trước khi đặt mối quan hệ kinh doanh thì mới có thể thành công. Để tiếp cận thị trường Anh các doanh nghiệp nên tận dụng những hỗ trợ về xúc tiến thương mại từ phía Chính phủ và các Bộ ngành liên quan. Doanh nghiệp có thể tham gia các cuộc hội thảo chuyên đề về thị trường Anh, tham gia các cuộc hội chợ triển lãm hay thông qua Thương vụ Việt Nam tại Anh để tìm kiếm những thông tin về thị trường và những đối tác tin cậy. Để tiết kiệm chi phí, doanh nghiệp có thể cung cấp cho Thương vụ các hàng mẫu, catalogue hoặc giới thiệu quảng cáo để Thương vụ có điều kiện giới thiệu với khách hàng. 2.2: Tạo nguồn hàng: Nguồn hàng thích hợp với thị trường Anh là nguồn hàng đa dạng, phong phú về chủng loại, khối lượng lớn, cung ổn định, thoả mãn thị hiếu tiêu dùng và đáp ứng tốt nhất năm tiêu chuẩn của sản phẩm là chất lượng, vệ sinh thực phẩm, an toàn cho người sử dụng, bảo vệ môi trường và lao động Đối với các doanh nghiệp thương mại chuyên làm xuất nhập khẩu, do không phải là người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm nên các doanh nghiệp này cần chủ trọng đến khâu tìm nhà sản xuất trong nước có uy tín, hàng hoá đáp ứng yêu cầu về chất lượng. Từ đó xây dựng mối quan hệ lâu dài để tạo nguồn cung cấp hàng ổn định. Đồng thời, doanh nghiệp thương mại phải thường xuyên cập nhật những thay đổi trong thị hiếu tiêu dùng để điều chỉnh những thay đổi trong sản xuất nhằm tạo ra những sản phẩm phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng Anh vốn rất khó tính. Đối với doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, muốn tạo ra được nguồn hàng thích hợp với thị trường có nhiều đòi hỏi cao về chất lượng như thị trường Anh, các doanh nghiệp phải tăng cường đầu tư và hoàn thiện quản lý. Nếu một doanh nghiệp chú trọng đầu tư vốn và công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất, lại áp dụng hệ thống quản lý thích hợp sẽ tạo ra sản phẩm xuất khẩu có chất lượng cao, đáp ứng tốt nhu cầu của người tiêu dùng và vượt được rào cản kỹ thuật của bất kỳ thị trường nào cho dù khó tính nhất. Tại thời điểm này, khi các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu của Việt Nam đang hướng vào thị trường EU nói chung và thị trường Anh nói riêng, không còn cách nào khác là phải tăng cường áp dụng các hệ thống quản lý ISO 9000, ISO 14000 và HACCP. Đây đều là những hệ thống quản lý mà việc áp dụng gần như là yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu vào thị trường này. 2.3: Lựa chọn kênh phân phối: Hệ thống phân phối của Anh quốc đã hình thành nên tổ hợp rất chặt chẽ và có nguồn gốc lâu đời. Tiếp cận được với hệ thống phân phối này không phải là dễ đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam. Hiện nay, các nhà xuất khẩu của ta muốn tiếp cận các kênh phân phối chủ đạo trên thị trường Anh quốc thì cần phải tiếp cận được với các nhà nhập khẩu Anh. Các doanh nghiệp Việt Nam có thể tiếp cận với các nhà nhập khẩu Anh theo hai hướng sau: Thứ nhất, các nhà xuất khẩu Việt Nam có thể thông qua Thương vụ của Việt Nam tại Anh, Phòng Thương mại Anh tại Việt Nam (Trade Partners UK) để tìm đối tác và xuất khẩu trực tiếp sang thị trường Anh. Hiện nay nhiều doanh nghiệp của Việt Nam thường ở trong tình trạng phải xuất khẩu qua trung gian để vào được thị trường Anh. Có tình trạng này một phần là do các doanh nghiệp Việt Nam chưa tích cực trong việc tìm những thông tin thị trường. Để khắc phục tình trạng này, các nhà xuất khẩu Việt Nam cần chủ động trong việc tìm đối tác thông qua các cơ quan xúc tiến thương mại của Chính phủ. Trước mắt, việc tiến hành xuất khẩu trực tiếp còn gặp nhiều khó khăn nhưng đây sẽ là cơ hội cho hàng hoá Việt Nam khẳng định được uy tín và chất lượng của mình trên một thị trường khó tính như thị trường Anh. Việc tìm đối tác tin cậy và xuất khẩu hàng hoá trực tiếp sang một thị trường có dung lượng lớn, ổn định, hàm lượng công nghệ cao như thị trường Anh quốc là một hướng đi đúng đắn cả trước mặt và lâu dài. Thứ hai, những doanh nghiệp Việt Nam có tiềm lực kinh tế nên thành lập liên doanh với các công ty xuyên quốc gia của Anh để trở thành công ty con. Bằng cách này, các doanh nghiệp có thể thâm nhập trực tiếp vào các kênh phân phối chủ đạo trên thị trường Anh vì các công ty xuyên quốc gia Anh luôn đóng vai trò chủ chốt trong các kênh phân phối này. Các nhà nhập khẩu (các công ty thương mại) thuộc các công ty xuyên quốc gia thường nhập hàng từ các xí nghiệp, nhà máy thuộc tập đoàn của mình. Sau đó đưa hàng vào mạng lưới tiêu thụ (hệ thống các siêu thị, cửa hàng, công ty bán lẻ độc lập...). Nếu trở thành một công ty con của tập đoàn thì đương nhiên hàng sản xuất ra sẽ được đưa vào kênh tiêu thụ của tập đoàn. Việt Nam đang thực hiện tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì vậy trong tương lai hàng xuất khẩu chủ lực của ta sẽ là hàng điện tử – tin học, thực phẩm chế biến và các mặt hàng chế tạo có hàm lượng công nghệ cao. Những mặt hàng này rất khó thâm nhập vào thị trường phát triển như thị trường Anh. Do vậy, ngay từ bây giờ, các doanh nghiệp phải lựa chọn phương thức thích hợp, chủ động và tích cực thâm nhập vào các kênh phân phối trên thị trường này. Bên cạnh đó, việc thâm nhập thành công và có chỗ đứng trên thị trường Anh sẽ là chìa khoá quan trọng cho các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khác của EU. 2.4: Tiến hành giao dịch: Với tư cách là nhà xuất khẩu, khi tiến hành giao dịch với các nhà nhập khẩu Anh Quốc, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tìm hiểu kỹ văn hóa của đối tác để có phương án chuẩn bị thích hợp, bởi các tập quán kinh doanh của người Anh và người Việt Nam rất khác nhau. Các doanh nhân Anh là những người rất coi trọng lợi ích của thương vụ, họ có thể tiến hành hợp tác với những đối tác hoàn toàn xa lạ. Do ít hiểu biết về đối tác nên các nhà kinh doanh Anh thường thích các hợp đồng bằng văn bản dài và chi tiết để tránh các vấn đề phát sinh. Họ sẽ xem xét rất kỹ từng điều khoản của hợp đồng trước khi ký và sẽ không thay đổi ý kiến một khi hợp đồng đã được ký kết. Các nhà xuất khẩu Việt Nam cần phải chú ý tới vấn đề quan trọng này bởi các thương nhân Việt Nam thường tin vào các mối quan hệ hơn vào văn bản nên thường thích các hợp đồng ngắn gọn, chỉ bao gồm các điều khoản chủ yếu. Phần còn lại của hợp đồng sẽ tuân theo những lần giao hàng trước hoặc thoả thuận thêm sau này. Khi ký kết hợp đồng với các nhà nhập khẩu Anh Quốc, các nhà xuất khẩu Việt Nam nên nhớ rằng một hợp đồng chi tiết đã được ký kết, nếu gặp rắc rối trong việc thực hiện họ không nên trông đợi vào sự thông cảm của đối tác để yêu cầu sửa đổi hợp đồng. Đây là điều khác biệt so với các bạn hàng truyền thống của Việt Nam. Vì vậy, trước khi ký kết hợp đồng, các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải nghiên cứu thật kỹ mọi điều khoản, thời gian và khả năng thực hiện hợp đồng của mình để tránh những rắc rối xảy ra sau này. Một điều quan trọng nữa mà các nhà xuất khẩu Việt Nam cần phải chú ý đến là các nhà nhập khẩu Anh, nhất là những nhà nhập khẩu lớn, thường rất thận trọng trong việc lựa chọn các nhà cung cấp. Họ không chỉ nghiên cứu kỹ các sản phẩm chào bán mà có thể còn tiến hành kiểm tra các cơ sở sản xuất của nhà cung cấp. Do đó các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam cần phải có sự chuẩn bị trước về vần đề này. 3. Giải pháp đối với ngành hàng: Việc thúc đẩy xuất khẩu đòi hỏi phải có giải pháp tổng thể từ phía Nhà nước và doanh nghiệp. Đây là những giải pháp đối với chủ thể của hoạt động xuất khẩu. ở một khía cạnh khác, chúng ta còn cần phải có giải pháp đối với bản thân hàng hóa - đối tượng trực tiếp của hoạt động xuất khẩu. Ở vị thế như Việt Nam hiện nay trong thương mại quốc tế, việc nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu là giải pháp mấu chốt để các doanh nghiệp Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu. Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường Anh - thị trường trọng điểm trong khu vực EU và có mức độ cạnh tranh gay gắt nhất trong EU - thì điều này càng có ý nghĩa quan trọng. Giải pháp chung để nâng cao sức cạnh tranh cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam bao gồm những giải pháp về chất lượng và giá cả. Về chất lượng của hàng hoá: Đầu tiên là phải tập trung nỗ lực nâng cao chất lượng hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Anh, đáp ứng những chế định và đòi hỏi của thị trường, xây dựng chiến lược sản phẩm cho từng loại hàng hoá xuất khẩu. Thực hiện nghiêm ngặt chế độ giao hàng đúng mẫu và đúng chất lượng đã thoả thuận. Để làm tốt việc này, cần có sự hoạt động tích cực và hiệu quả của các cơ quan kiểm tra chất lượng hàng xuất khẩu ở các cửa khẩu, trong trường hợp cần thiết cần có sự hợp tác chặt chẽ với các tổ chức giám định hàng hoá có uy tín quốc tế. Thường xuyên cải tiến chất lượng, mẫu mã, đóng gói, bao bì, nhãn hiệu của hàng hoá, góp phần nâng cao chất lượng, độ hấp dẫn của hàng hoá Việt Nam, nhất là đối với hàng may mặc và giày dép cần phải theo kịp thời trang và thị hiếu của người tiêu dùng trên thị trường. Về giá cả Phấn đấu hạ giá thành sản xuất, giảm bớt chi phí trung gian, xử lý tham số vận tải trong giá để tạo thêm sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam trên thị trường Anh. Thực hiện một cách linh hoạt những chính sách về tỷ giá hối đoái, đáp ứng sự thay đổi nhanh chóng về tỷ giá trên thị trường Việt Nam và thị trường Anh Quốc. Dự báo trước những biến động về tỷ giá để đưa ra một mức giá chào bán hợp lý, vừa thu được lợi nhuận vừa có khả năng cạnh tranh về giá so với các đối thủ khác. Trên đây là những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho mọi chủng loại hàng hoá xuất khẩu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, một số mặt hàng tuy Việt Nam có khả năng cạnh tranh trên thị trường Anh nhưng kim ngạch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng xuất khẩu của Việt Nam. Vì vậy, ngoài những giải pháp về chất lượng và giá cả, việc nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá còn cần những giải pháp khác. Như đã phân tích ở chương hai, đối với một nước có nền nông nghiệp nhỏ bé và công nghiệp nhẹ ít được chú trọng như Anh thì những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩu sang thị trường này vẫn là những mặt hàng nông lâm thuỷ sản và công nghiệp nhẹ. Đây đều là những mặt hàng xuẩt khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong số đó có những mặt hàng như thuỷ sản, trái cây đặc sản, nhân điều, hạt tiêu, cà phê, may mặc, da giày, thủ công mỹ nghệ, đồ gỗ, gốm sứ được xếp vào danh sách nhóm hàng có khả năng cạnh tranh. Đối với nhóm hàng này, giải pháp khác nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuất khẩu là tăng cường quảng bá thương hiệu. Điều này đặc biệt quan trọng khi xuất khẩu sang thị trường Anh bởi những người tiêu dùng Anh rất coi trọng thương hiệu khi lựa chọn hàng hóa. Để tiến hành quảng bá thương hiệu cho hàng hoá của mình trên một thị trường nước ngoài thì doanh nghiệp phải chú trọng thực hiện đầy đủ bốn bước cơ bản là: Xây dựng chiến lược nghiên cứu thị trường, chiến lược xác định khu vực thị phần, đối tượng khách hàng; nghiên cứu kỹ càng đối thủ cạnh tranh; xây dựng cách thức quảng bá sản phẩm trên thị trường; xác định một chiến lược kinh doanh riêng cho mình. Đồng thời, doanh nghiệp phải đầu tư cho kế hoạch xây dựng hình ảnh công ty. Song song với chiến lược quảng bá hiệu quả cần phải ổn định chất lượng hàng xuất khẩu để đảm bảo uy tín cho thương hiệu. Đẩy mạnh kim ngạch xuất khẩu sang một thị trường có những đòi hỏi rất cao và cạnh tranh gay gắt như thị trường Anh thì giải pháp quan trọng hàng đầu là nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó các doanh nghiệp còn phải tạo cho mình một thương hiệu riêng, gắn liền với chất lượng sản phẩm, tạo uy tín với các nhà nhập khẩu Anh Quốc. Kết luận Anh Quốc là một thành viên chủ chốt trong Liên minh châu Âu - một đối tác rất quan trọng trong hoạt động ngoại thương của Việt Nam. Triển vọng xuất khẩu sang thị trường Anh của các doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn. Nếu có điều kiện hiểu biết tốt về thị trường này, xác định được những tiềm năng và nhu cầu nhập khẩu, đồng thời có giải pháp khai thác hợp lý, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Anh sẽ tăng mạnh và hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn. Điều này không chỉ có ý nghĩa đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam mà còn góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế thương mại giữa Việt Nam với Vương Quốc Anh nói riêng và với Liên minh châu Âu nói chung. Tài liệu tham khảo GS .TS. NGƯT. Bùi Xuân Lưu (ĐHNT): Giáo trình “Kinh tế Ngoại thương” – NXB Giáo Dục Dương Hữu Hạnh: Giáo trình “Kinh doanh quốc tế” – NXB Tài Chính Ths. Nguyễn Hoàng Ánh (ĐHNT): "Vai trò của văn hoá trong đàm phán thương mại quốc tế" - Kỷ yếu hội nghị khoa học năm 2000 - Đại học Ngoại thương David McDowall: Sách “Britain in close-up” – NXB Trẻ – 2002. Nguyễn Tâm Tình: Sách “100 Tập đoàn kinh tế hàng đầu châu Âu” – NXB Thế Giới – 2001. TS. Nguyễn Quán: Sách “217 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới” – NXB Thống kê - 2003. Sách "Britain 2002 - The Official Yearbook" - Văn phòng Thống kê quốc gia Anh - 2003. Sách "Britain's Economy" - Trung tâm in ấn - 2002. Sách “Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế” – NXB Thống kê và Trung tâm hội chợ triển lãm Việt Nam. Tài liệu “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới” của Bộ Thương mại và Trung tâm tư vấn - đào tạo kinh tế thương mại. Tài liệu của Vụ Âu Mỹ, Vụ Xuất nhập khẩu - Bộ Thương mại. Báo cáo phát triển thế giới các năm 2002, 2003 của World Bank 13. “Kỷ yếu xuất khẩu 2001” – Saigon Time. 14. “Xuất nhập khẩu hàng hoá Việt Nam” – NXB Thống kê 2002 15. Niên giám thống kê các năm 2000, 2001, 2002 – NXB Thống kê 16. Kinh tế Việt Nam và Thế giới các năm 1999, 2000, 2001, 2002 - Thời báo kinh tế Việt Nam. 17. Tạp chí Nghiên cứu châu Âu các số năm 2001, 2002, 2003. 18. Tạp chí Ngoại thương các số năm 2003. 19. Tạp chí Những vấn đề kinh tế thế giới các số 2, 4 năm 2003 20. Tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 44 năm 2002. 21. Tạp chí Thương mại số 26 năm 2003. 22. Thời báo kinh tế Sài Gòn các số 11, 34 năm 2003. 23. Báo Diễn đàn doanh nghiệp số 59 năm 2003. 24. Báo Đầu tư các số 115, 116, 120 năm 2003. 25. Báo Thị trường - Tin nhanh hàng ngày các số 225, 228 năm 2003. 26. www. tradepartners.gov.uk. 27. www. britishcouncil.org.vn 28. www. uk-vietnam.org 29. www. statistics.gov.uk/themes/economy/ 30. www. europages.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTriển vọng xuất khẩu sang thị trường Anh Quốc của các doanh nghiệp Việt Nam.doc
Luận văn liên quan