Đề tài Tủi do khi đầu cơ trái phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Rủi ro, khái niệm gắn liền với mọi đầu tư, bởi lẽ không ai có thể chắc chắn 100 % cho mỗi dự kiến về lượng và thời điểm thu được những lượng tài chính trong tương lai. Ở bất cứ các lĩnh vực đầu tư đều hàm chứa rủi ro. TTCK được xem là “chiếc máy chiết khấu thông tin” nơi người mua và người bán cổ phiếu quyết định “giá đúng” thỏa mãn cho cả hai phía. Theo lý thuyết hiện đại, giá đúng là giá cung cấp một mức doanh thu tương ứng với mức rủi ro liên quan tới cổ phiếu. Vậy rủi ro cổ phiếu là gì? Làm thế nào để đo lường rủi ro của cổ phiếu? Đầu tư trên TTCK Việt Nam sẽ gặp phải những rủi ro nào? Tiểu luận “ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU TRÊN TTCK VIỆT NAM” sẽ giúp chúng ta giải đáp được những thắc mắc này

doc42 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 2402 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Tủi do khi đầu cơ trái phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ếu bạn theo trường phái phân tích cơ bản thì tin tức về thu nhập hay bất kỳ một tin tức nào khác về công ty lại là lý do chính để bạn quan tâm đến cổ phiếu này. Một khi cổ phiếu đã nằm trong danh sách theo dõi, bạn có thể so sánh diễn tiến giá cả của cổ phiếu đó với diễn tiến giá cả của các cổ phiếu khác. Bạn cũng có thể tìm thấy các thông tin khác liên quan đến cổ phiếu đó nhằm giúp bạn có cơ sở để ra quyết định. Khi chọn lựa cổ phiếu để theo dõi, cách tốt nhất là các nhà đầu tư nên kết hợp các thông tin về phân tích cơ bản lẫn phân tích kỹ thuật để xem liệu cổ phiếu đó có đáng được theo dõi hay không. v Bước 2: Chấp nhận vị thế Chấp nhận vị thế là công việc khá đơn giản, chỉ cần liên hệ với nhà mô giới và thực hiện giao dịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ý một số điều. Trước tiên là loại giao dịch bạn thực hiện: dài hạn hay ngắn hạn. Mặc dù xu hướng chung của giá cổ phiếu là đi lên nhưng bất cứ ai đã từng bị thua lỗ đều có thể hiểu rằng, trong ngắn hạn cổ phiếu có nhiều khả năng đi xuống hơn là đi lên. Nhìn chung, bạn nên tránh những vị thế đoản (vị thế bán non) vì chúng ngốn rất nhiều thời gian và công sức nhưng cơ hội dành cho nó lại rất hiếm hoi. Nếu thực hiện nó cần phải giám sát vị thế đó cẩn thận gấp đôi so với vị thế dài hạn. Kế đến là việc chọn lựa nhà mô giới. Nếu là một nhà đầu tư tư nhân có lẽ chỉ cần đến một nhà mô giới phần dịch vụ. Đây là nhà mô giới cung cấp dịch vụ cơ bản nhất cho bạn, tức là chỉ thực hiện lệnh giúp bạn và ăn hoa hồng. v Bước 3: Giám sát vị thế Giám sát các vị thế đã thực hiện là phần quan trọng nhất của quá trình đầu tư. Tất cả những thông tin và sự điều tra nghiên cứu đã đưa bạn đến chỗ ra quyết định giao dịch. Giám sát vị thế là lúc bạn theo dõi và đánh giá quyết định đầu tư của mình. Khi cổ phiếu bạn chọn tăng giá đều đều và bạn có cơ sở để tin rằng đó là cổ phiếu tốt thì nên mua thêm cổ phiếu này, còn khi cổ phiếu đó giảm giá liên tục bạn nên cân nhắc bán cổ phiếu đi nhằm hạn chế thua lỗ. v Bước 4: Kết thúc vị thế Nhà đầu tư thường bán cổ phiếu để kết thúc một vị thế khi giá cổ phiếu đạt đến mức giá mục tiêu hay cổ phiếu không diễn biến theo mong đợi. Tuy nhiên , rất nhiều nhà đầu tư không biết bán khi nào và bán như thế nào để kết thúc một vị thế và mang lại kết quả tốt nhất. Thông thường nên bán cổ phiếu khi những nhân tố cơ bản cho thấy sự sa sút đáng kể như: thu nhập và lợi nhuận công ty giảm sút trong nhiều năm liền, thị phần thu hẹp dần do cạnh tranh gay gắt... Khái niệm rủi ro Rủi ro trong đầu tư chứng khoán là sự chênh lệch giữa lợi nhuận thực tế trong từng giai đoạn và lợi nhuận dự tính mang lại lợi nhuận đầu tư. Phân loại rủi ro Rủi ro hệ thống Là những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và hầu hết mọi loại chứng khoán. Rủi ro hệ thống bao gồm: Rủi ro lạm phát Lạm phát là sự mất giá của đồng tiền, và giá cả tăng lên đã làm sức mua của vốn đầu tư bị giảm sút. Không những làm giảm sức mua của khoản tiền gốc, lạm phát còn làm giảm sức mua của cả khoản lãi phát sinh. Muốn giữ vững giá trị, vốn liếng phải tăng trưởng nhanh hơn đà lạm phát. Nếu lạm phát có dự kiến tăng thì các chứng khoán lãi suất cố định trả theo lãi coupon chỉ được thanh toán theo danh nghĩa, và như vậy kém hấp dẫn hơn các tài sản khác có khả năng đương đầu với lạm phát. Kết quả là giá trị thị trường của các chứng khoán có lãi suất cố định sẽ bị giảm và điều này làm tăng lãi suất đối với chứng khoán đó. Rủi ro thị trường Biến động về giá cả của thị trường cổ phiếu là khó có thể dự đoán được. Rủi ro thị trường là rủi ro do sự biến động về giá trên thị trường cổ phiếu gây nên. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến rủi ro này là lạm phát, tâm lý nhà đầu tư... Tuy nhiên, loại rủi ro này không gây tác hại đáng kể đối với những nhà đầu tư có ý định cầm giữ chứng khoán lâu dài, bởi giá cả thị trường chứng khoán luôn thăng trầm, xuống rồi lại lên. Về lâu dài, đầu tư vào TTCK có thành tích tăng trưởng vốn liếng khả quan nhất. Rủi ro về lãi suất Lãi suất là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc giải quyết định giá của các chứng khoán có lãi suất cố định. Khi lãi suất ngân hàng tăng, một mặt tiền gởi ngân hàng tăng, mặt khác thì chi phí vay nợ cũng tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, qua đó giá cổ phiếu giảm. Ngược lại, lãi suất giảm, tiền gởi ngân hàng giảm, vốn một lần nữa lại quay trở về TTCK, hơn nữa chi phí vay nợ của doanh nghiệp giảm, lợi nhuận tăng làm cổ phiếu tăng. Như vậy, rủi ro lãi suất là khả năng biến động của lợi nhuận do những thay đổi của lãi suất trên thị trường gây ra. Loại rủi ro này thường xãy ra đối với những người đầu tư vào chứng khoán có thu nhập đều đặn. Họ không thể dùng tiền lãi hoặc gốc để mua lại loại chứng khoán cùng mức cũ. Rủi ro không hệ thống Là những rủi ro do các yếu tố nội tại công ty gây ra, nó có thể kiểm soát được và chỉ tác động đến một ngành hay một công ty, hoặc một số chứng khoán. Rủi ro này có thể được loại trừ thông qua việc đa dạng hoá đầu tư. Rủi ro kinh doanh Khi có những thay đổi trong tình trạng hoạt động của công ty, cụ thể là lợi nhuận và cổ tức bị giảm sút hoặc tăng lên vượt mức so với xu hướng dự kiến được gọi là rủi ro kinh doanh. Nguyên nhân gây nên rủi ro này có thể là sự suy thoái của chu kỳ kinh doanh, sự thay đổi mức thuế, định mức thực tế theo kế hoạch không đạt được, sự yếu kém trong quản lý, giá trị tài sản bị kém giá trị, khả năng biến động giá thành sản xuất sản phẩm, công nghệ lỗi thời, sự cạnh tranh của những sản phẩm khác... Rủi ro tài chính Rủi ro này xuất hiện khi công ty tài trợ cho hoạt động của mình bằng vốn vay. Bởi các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo cho công ty những nghĩa vụ trả nợ, trả lãi. Việc này được thực hiện trước việc thanh toán cổ tức cho cổ đông. Nếu việc tài trợ bằng vốn vay không hiệu quả thì sẽ có ảnh hưởng xấu đến giá cổ phiếu, cổ tức, tiền hoàn vốn có thể sẽ không được trả đầy đủ hoặc đúng hạn. Một công ty có tỷ lệ đòn bẩy tài chính cao thì mức độ rủi ro tài chính càng cao. Đo lường rủi ro Đo lường cổ phiếu đơn nhất Lợi nhuận kỳ vọng (Er) Lợi nhuận kỳ vọng của một tài sản là bình quân gia quyền (theo xác suất) của các kết quả lợi suất thu được trong tất cả các khả năng xãy ra. Công thức tính Er tổng quát là: Er = Trong đó: Pi là xác suất xãy ra khả năng i (tổng P = 100%) ri là lợi suất tương ứng với khả năng i n là số khả năng xãy ra. Phương sai và độ lệch chuẩn Để tính toán mức rủi ro nhiều hay ít của cổ phiếu đầu tư, ta căn cứ vào phương sai và độ lệch chuẩn của nó (phương sai và độ lệch chuẩn đo lường mức độ phân tán hay sự biến động xung quanh Er). v Phương sai () Xuất phát từ kỳ vọng toán, được tính theo xác suất thành phần của các giá trị ri như sau: v Độ lệch chuẩn () Là hệ số đo lường sự sai biệt giữa lợi nhuận so với lợi nhuận kỳ vọng. Độ lệch chuẩn càng lớn thì độ ly tán lợi nhuận kỳ vọng càng lớn, rủi ro càng nhiều. Độ lệch chuẩn lớn hay nhỏ phản ánh độ ly tán tuyệt đối lớn hay nhỏ. Độ lệch chuẩn chính là căn bậc hai của phương sai. Công thức tính độ lệch chuẩn của cổ phiếu là: = s Hệ số biến đổi (CV) Trong trường hợp lợi nhuận kỳ vọng không bằng nhau thì không thể trực tiếp dùng độ lệch chuẩn để dự đoán rủi ro của cổ phiếu nào là lớn hơn, mà phải tính toán sự lớn hay nhỏ của độ ly tán tương đối, ta sử dụng hệ số biến đổi CV. Hệ số biến đổi là hệ số đo lường rủi ro tương đối, tức đo lường sai biệt trên một đơn vị lợi nhuận. Cổ phiếu nào có hệ số biến đổi lớn thì rủi ro sẽ lớn hơn so với cổ phiếu có hệ số biến đổi nhỏ. Công thức tính hệ số biến đổi của cổ phiếu i là: CVi = Ví dụ: Tình trạng nền kinh tế Xác suất (P) Tỷ suất lợi nhuận của cổ phiếu A (rA) Tỷ suất lợi nhuận của cổ phiếu B (rB) Tăng trưởng 30% 100% 20% Bình thường 40% 15% 15% Suy thoái 30% -70% 10% Tổng 100% Cổ phiếu A: ErA = P1r1 + P2r2 + P3r3 = 0,3.1 + 0,4.0,15 + 0,3.(-0,7) = 15% Cổ phiếu B: ErB = P1r1 + P2r2 + P3r3 = 0,3.0,2 + 0,4.0,15 + 0,3.0,1 = 15% - Phương sai và độ lệch chuẩn cổ phiếu A ri - Er (ri - Er)2 Pi(ri - Er)2 100 - 15 = 85 7225 0,3.7225= 2167,5 15 - 15 = 0 0 0,4.0 = 0 -70 - 15= -85 7225 0,3.7225 = 2167,5 = 2167,5 + 0 + 2167,5 = 4335 = = 65,84% - Phương sai và độ lệch chuẩn cổ phiếu B ri - Er (ri - Er)2 Pi(ri - Er)2 20 - 15 = 5 25 0,3.25= 7,5 15 - 15 = 0 0 0,4.0 = 0 10 - 15= -5 25 0,3.25 = 7,5 =7,5 + 0 + 7,5 = 15 = = 3,87 % - Hệ số biến đổi CV của cổ phiếu A: CVA = == 4,389 - Hệ số biến đổi CV của cổ phiếu B: CVB = == 0,258 Đo lường rủi ro của danh mục đầu tư Danh mục đầu tư là sự kết hợp một nhóm các chứng khoán với nhau. Lợi nhuận kỳ vọng (ErP) Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư là bình quân gia quyền của lợi ích từng cổ phiếu đơn nhất trong danh mục, với quyền số là tỷ trọng vốn đầu tư vào mỗi loại cổ phiếu. Nếu trong tổ hợp có hai loại cổ phiếu (A và B) thì lợi nhuận kỳ vọng của tổ hợp là: ErP = = = Trong đó: x là tỷ trọng vốn đầu tư vào mỗi loại cổ phiếu (nếu bán khống nó sẽ mang dấu âm). Ví dụ: Cổ phiếu AGF có lợi nhuận kỳ vọng 14,68% và cổ phiếu BTC có lợi nhuận kỳ vọng là 12%. Ông A đầu tư vào danh mục gồm 200 triệu đồng cổ phiếu BTC và 400 triệu đồng cổ phiếu AGF. Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư này là bao nhiêu ? - Tỷ trọng cổ phiếu: AGF: BTC: - Lợi nhuận kỳ vọng: AGF: BTC: - Lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư: = Phương sai () Phương sai của danh mục đầu tư là hệ số đo lường mức độ rủi ro của danh mục. Phương sai của danh mục đầu tư phụ thuộc vào phương sai của từng cổ phiếu cá biệt và hệ số tích sai giữa hai cổ phiếu đó. Công thức tính phương sai của danh mục đầu tư là: = = Trong đó: Cov là hệ số tích sai. Hệ số tích sai (Cov) Hệ số tích sai đo lường độ biến thiên của các kết quả lợi suất thu được trong hai cổ phiếu rủi ro có chiều hướng biến động song song. Nó là tích số của mỗi độ lệch giữa lợi suất so với ước tính bình quân của từng cổ phiếu. Một Cov dương có nghĩa kết quả lợi suất của hai tài sản biến động cùng chiều với nhau. Ngược lại, nếu nó âm là chúng biến động ngược chiều. Tuy nhiên hệ số tích sai chỉ cho ta biết được mối tương tác giữa hai cổ phiếu là cùng chiều hay ngược chiều mà chưa chỉ ra được mức độ biến động của chúng. Để định lượng được mức độ biến thiên này, ta sử dụng hệ số tương quan (Cor). Hệ số tương quan (Cor) Công thức tính hệ số tương quan: Ta luôn có Vì độ lệch chuẩn luôn dương nên dấu của hệ số tương quan phụ thuộc vào dấu của hệ số tích sai. Dấu của hệ số tương quan là dương, thể hiện lợi nhuận hai cổ phiếu có quan hệ cùng chiều với nhau, hệ số càng lớn thì chúng càng có giao động giống nhau (sự biến động thị giá của hai cổ phiếu là cùng chiều). Hệ số tương quan âm chỉ sự giao động ngược chiều của hai cổ phiếu ( sự biến động thị giá của hai cổ phiếu là ngược chiều). Hệ số tương quan âm càng lớn nghĩa là hai cổ phiếu đó dao động ngược chiều nhau càng lớn. Hệ số tương quan bằng 0, hai cổ phiếu không có tương quan với nhau (sự biến động giá của thị giá cổ phiếu này không ảnh hưởng đến thị giá của cổ phiếu kia). v Hệ số tương quan bằng +1 Hệ số tương quan bằng +1 thì hai cổ phiếu hoàn toàn có giao động giống nhau, tỷ lệ thu nhập của hai cổ phiếu luôn cùng giảm và tăng. Khi đó, lợi nhuận kỳ vọng của danh mục là không đổi khi thay đổi tương quan giữa hai cổ phiếu. Phương sai của danh mục sẽ là: . Độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư sẽ là bình quân gia quyền đơn giản của các độ lệch chuẩn của các loại cổ phiếu có trong danh mục: Như vậy, khi hệ số tương quan mức lợi nhuận kỳ vọng của các cổ phiếu đơn nhất trong danh mục bằng +1 thì mức thu lợi nhuận kỳ vọng và độ lệch chuẩn của danh mục này là số bình quân cộng gia quyền của mức lợi nhuận và độ lệch chuẩn của cổ phiếu đơn nhất, lấy số phân ngạch vốn (x1, x2) mà chúng chiếm trong danh mục làm quyền số. Bởi vậy, cho dù áp dụng tỷ lệ tổ hợp như thế nào đi chăng nữa thì đều không thể đạt hiệu ứng rủi ro thấp. v Hệ số tương quan bằng -1 Khi hệ số tương quan bằng -1 thì tỷ lệ thu nhập của hai chứng khoán thay đổi theo các hướng hoàn toàn đối lập nhau, rủi ro của danh mục đầu tư này sẽ được giảm bớt (rủi ro của danh mục do hai loại cổ phiếu này tạo nên có xu hướng gần bằng 0). Phương sai của các tỷ lệ thu nhập trong danh mục đầu tư lúc này sẽ là: = Công thức tính độ lệch chuẩn của danh mục giảm còn: Trong trường hợp này, rủi ro của danh mục hai cổ phiếu sẽ được triệt tiêu nếu các tỷ trọng của các cổ phiếu trong danh mục có quan hệ với nhau như sau: v Hệ số tương quan bằng 0 Khi hệ số tương quan bằng 0 thì hai cổ phiếu đó không có tương quan với nhau. Cho dù áp dụng tỷ lệ danh mục đầu tư như thế nào đi nữa thì đều không thể đạt được hiệu ứng rủi ro thấp. Lúc này, Cov(rA, rB) = 0. Tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng của danh mục không đổi ; nhưng phương sai của các tỷ lệ thu nhập trong danh mục bây giờ sẽ là: Độ lệch chuẩn là: Ký hiệu tương quan biến thiên đã biến khỏi công thức vì hệ số tương quan được giả thiết bằng 0. v Hệ số tương quan nằm giữa +1 và -1 Trường hợp phổ biến nhất là tỷ suất lợi tức của hai cổ phiếu tương quan không hoàn toàn (nằm giữa +1 và -1). Tức là cả hai cổ phiếu cùng tăng giá hoặc giảm giá, cái này tăng nhưng cái kia giảm ở mức độ khác nhau. Để mức rủi ro đạt giá trị thấp nhất, ta tìm tỷ lệ tối ưu (tỷ trọng vốn cho mỗi cổ phiếu trong danh mục). Ví dụ: Một danh mục đầu tư gồm hai cổ phiếu: CP1 với độ lệch chuẩn 15% và CP2 với độ lệch chuẩn là 12%. Hệ số tương quan giữa hai cổ phiếu là 0,4 và nhà đầu tư bỏ tiền bằng nhau vào hai cổ phiếu này. Hỏi phương sai và của danh mục đầu tư ? - Tỷ trọng cổ phiếu: - Hệ số tương quan: =0,4 - Hệ số tích sai: - Phương sai cổ phiếu: Phương sai của danh mục đầu tư: == 0,012825 Tỷ lệ tổ hợp tối ưu của hai loại cổ phiếu Ta luôn có: Với Nhưng lưu ý rằng, danh mục đầu tư cổ phiếu phải được điều chỉnh thường xuyên mới có thể duy trì được động thái tối ưu. Bởi lẽ, những sự thay đổi về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện thị trường sẽ làm cho danh mục không còn thích hợp nữa. Với một nhóm các cổ phiếu có sẵn, ta có thể kết hợp tốt nhất các cổ phiếu đó vào các danh mục đầu tư. Ý nghĩa của đầu tư hỗn hợp gồm hai cổ phiếu nói riêng và nhiều cổ phiếu nói chung cho phép giảm được rủi ro so với đầu tư riêng lẻ. Bằng việc thay đổi tỷ trọng của từng cổ phiếu một cách tối ưu, ta có thể tạo ra các đầu tư hỗn hợp một cách hiệu quả. Lợi tức của đầu tư kết hợp là số bình quân gia quyền của lợi tức từng cổ phiếu hợp thành. Ngược lại, rủi ro không phải là số bình quân gia quyền của từng cổ phiếu hợp thành. Việc tính toán phương sai của danh mục đầu tư theo quy tắc trên cho thấy tác động của hệ số tích sai (Cov) đối với rủi ro của danh mục. Một Cov dương sẽ làm tăng phương sai của danh mục đầu tư, và Cov âm sẽ làm giảm phương sai của nó - bởi vì lợi suất của những cổ phiếu có tương quan biến động âm, ngược chiều sẽ có khuynh hướng bù đắp cho nhau và làm ổn định lợi suất chung của danh mục đầu tư. Phương sai và lợi nhuận kỳ vọng của danh mục n cổ phiếu Công thức tổng quát tính phương sai của tổ hợp n cổ phiếu: = Với Lợi nhuận kỳ vọng của tổ hợp n cổ phiếu: Trong đó: Khi đầu tư vào tài sản không rủi ro với tỷ trọng là và vào tài sản rủi ro với tỷ trọng là thì: Trong đó: là lãi suất phi rủi ro (lãi suất trái phiếu chính phủ) là lợi nhuận dự kiến của thị trường. Vì do vậy: = Đo rủi ro cổ phiếu bằng hệ số beta ( Khi nói rủi ro không hệ thống có thể bị triệt tiêu bằng cách đa dạng hoá, điều này không có nghĩa là tất cả mọi nhà đầu tư đều nắm giữ danh mục thị trường và bỏ qua việc xác định rủi ro phi hệ thống của từng công ty. Tuy nhiên, việc xác định rủi ro không hệ thống được xem là một nghệ thuật, bởi vì mỗi ngành, mỗi công ty đều có những rủi ro riêng. Do vậy, loại rủi ro này không có bất cứ một cơ sở chung nào giữa các doanh nghiệp để có thể mô hình hoá nó thành một công thức, mà chỉ có thể làm điều này với rủi ro hệ thống dựa trên cơ sở chung là sự biến động tỷ suất lợi nhuận của từng cổ phiếu so với sự biến động tỷ suất lợi nhuận của toàn bộ thị trường. Và như thế, khái niệm hệ số beta đã ra đời để thực hiện nhiệm vụ đo lường rủi ro và có khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp khác nhau. Hệ số beta Hệ số beta được định nghĩa là hệ số đo lường mức độ biến động lợi nhuận cổ phiếu cá biệt so với độ biến động lợi nhuận danh mục cổ phiếu thị trường. Xác định hệ số beta Công thức tính của một cổ phiếu: Hoặc có thể tính theo như sau: Trong đó: là hệ số tích sai giữa và là phương sai của danh mục thị trường là mức sinh lời của cổ phiếu i tại kỳ t là mức sinh lời của thị trường tại kỳ t là hệ số tương quan giữa và Hệ số đo phần góp của tài sản đó góp vào rủi ro của danh mục thị trường. Một cao hơn nghĩa là lợi tức của một tài sản nhạy cảm hơn đối với những thay đổi về giá trị danh mục thị trường và cũng có nghĩa tài sản đó góp nhiều rủi ro hơn vào danh mục. Dựa vào hệ số , ta có thể xác định tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng của một cổ phiếu riêng lẽ: Thực tế, đầu tư cổ phiếu đơn nhất xãy ra rất ít, đa số các trường hợp là đầu tư danh mục đầu tư gồm nhiều loại cổ phiếu đơn nhất. Để đo rủi ro của danh mục đầu tư, ta tính hệ số của danh mục. Hệ số của danh mục đầu tư là giá trị bình quân gia quyền của các cổ phiếu, quyền số là tỷ trọng mà mỗi một cổ phiếu chiếm trong danh mục đầu tư. Công thức tính: = Khi ta nhập thêm cổ phiếu có hệ số tương đối cao vào thì hệ số của cả danh mục cũng tăng lên. Ngược lại, khi đưa hệ số thấp vào thì hệ số của danh mục sẽ giảm xuống. Ý nghĩa của hệ số beta Hệ số của cổ phiếu cho biết tỷ lệ biến động lợi nhuận của nó so với lợi nhuận thị trường. Hệ số có thể là một số dương hoặc là một số âm. Cổ phiếu có hệ số dương thì lợi nhuận của nó có mối quan hệ thuận chiều với thu nhập của thị trường. Ngược lại, cổ phiếu có giá trị âm sẽ có mối quan hệ ngược chiều với thị trường. Cụ thể, nếu = 2 thì cứ 1% tăng giá (giảm giá) thị trường sẽ đưa đến sự tăng giá (giảm giá) của cổ phiếu đó 2%. Nếu = -2 thì 1% tăng giá (giảm giá) thị trường sẽ đưa đến sự giảm giá (tăng giá) của cổ phiếu đó là 2%. Như vậy, càng lớn thì độ rủi ro của cổ phiếu càng lớn. Rủi ro khi đầu tư cổ phiếu trên TTCK Việt Nam TTCK Việt Nam còn ở mức rất sơ khởi. Các quy định và luật về chứng khoán mới của Việt Nam mới chỉ có hiệu lực vào đầu tháng 1/2007 nên quá trình áp dụng cũng mới chỉ ở giai đoạn đầu. Cơ chế giám sát các hoạt động mua bán chứng khoán cần phải có những hệ thống máy tính đủ để đáp ứng việc theo dõi các hoạt động mua bán, và quá trình thiết lập bộ máy này cần phải có đầu tư và hiện cũng trong giai đoạn đang hình thành. Phạm vi và mức độ hiệu quả quản lý của Nhà nước chưa tương xứng với mức độ phát triển của TTCK. Theo số liệu hiện nay, có 4.000 công ty đại chúng của Nhà nước nhưng mới chỉ có trên 1.000 doanh nghiệp đăng ký với Ủy ban chứng khoán nhà nước, trong đó có trên 300 doanh nghiệp đã niêm yết trên TTCK tập trung. Nói cách khác, hiệu lực của các quy định về giao dịch, chuyển nhượng chứng khoán của Nhà nước mới tác động đến khoảng 1/10 doanh nghiệp, vì vậy các quy định về phát hành huy động vốn mới tác động đến 25% doanh nghiệp đại chúng. Như vậy, thị trường tự do còn quá lớn dẫn đến hiệu quả của các chính sách quản lý Nhà nước còn thấp, là nguyên nhân làm cho TTCK nói chung còn thiếu minh bạch và phát triển thiếu bền vững. Bên cạnh đó, cổ phiếu trên thị trường tự do không được tổ chức, quản lý và giám sát nên tính rủi ro cao, dễ gây bất ổn cho thị trường chính thức và cả hệ thống tài chính... Năng lực tài chính của hệ thống các tổ chức trung gian và hỗ trợ thị trường số vốn điều lệ còn hạn hẹp nên chưa đảm nhận được vai trò dẫn dắt thị trường. Nguồn nhân lực của các công ty chứng khoán quá mỏng và trình độ còn thấp nên việc nhập lệnh, khớp lệnh ở một số công ty vẫn còn trục trặc. Cơ sở mặt bằng ở các công ty chứng khoán lại quá nhỏ hẹp, số đông còn thực hiện khớp lệnh theo phương thức thủ công nên luôn ở dạng quá tải. Trong năm 2008 diễn biến của thị trường chứng khoán đã quá bất ngờ và không kịp phản ứng đối với các nhà đầu tư, các nhà quản lý hoạch định chính sách và cả các chuyên gia phân tích, dự báo thị trường. Không ai ngờ rằng chỉ số trên cả hai sàn đã rơi gần 70%; thị trường chứng khoán có đến 27 phiên liên tiếp giảm kịch sàn. Nghiêm trọng hơn, nền kinh tế chúng ta lại chịu tác động của suy thoái kinh tế sâu sắc trên phạm vi toàn cầu. Gánh nặng này một lần nữa lại trút lên thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã phản ánh “gánh nặng” đó qua hai giai đoạn, giai đoạn từ đầu năm đến 15/9/2008, với mức đáy 366,02 điểm được thiết lập vào ngày 20/6/2008. Giai đoạn thứ hai từ 15/9/2008 đến hết năm, với mức đáy mới 286.85 điểm vào ngày 10/12/2008, thấp hơn mức đáy trước 79,17 điểm, tương đương 21,6%. TTCK Việt Nam 2008 có thể nói là thị trường suy thoái nhất trên thế giới. Trong khi nền kinh tế chưa bị suy thoái như các quốc gia khác, việc TTCK rơi tự do như vậy bộc lộ quá nhiều vấn đề của thị trường. v Rủi ro từ chính sách Năm 2008 TTCK chịu nhiều rủi ro từ các chính sách của các cơ quan quản lý Nhà nước. Đầu năm 2008, những biện pháp mạnh chống lạm phát đã ảnh hưởng tới thị trường. Các biện pháp siết chặt cung tiền gồm có Chỉ thị 03 sau đó được thay bằng Nghị quyết 03 hạn chế lượng tiền cho vay đổ vào thị trường từ các ngân hàng thương mại. Các nhà đầu tư mất một lượng tiền lớn để đầu tư, trong khi đó họ phải chịu áp lực bán chứng khoán ra để thu tiền về trả nợ ngân hàng. Biện pháp SCIC mua lại cổ phiếu để bình ổn giá không phát huy tác dụng, mà ngược lại làm lung lay lòng tin của nhà đầu tư vào khả năng can thiệp vào thị trường của Chính phủ. Chính phủ dường như không thể đưa ra các quyết định nhanh nhậy khi chính mình là một nhà đầu tư. Và Chính phủ cũng không có đủ ngân sách, không sẵn sàng can thiệp vào TTCK. Nhiều câu hỏi về chính sách siết chặt biên độ giao dịch của uỷ ban chứng khoán nhà nước và tác dụng. Về dài hạn chính sách này hạn chế lực hấp dẫn của thị trường, hạn chế tính thanh khoản, không ngăn được đà giảm mà ngược lại làm thị trường giảm sút kéo dài. v Khó khăn nội tại nền kinh tế 2008 là năm thực sự khó khăn của nền kinh tế Việt Nam cũng như trên toàn thế giới. Các doanh nghiệp cả niêm yết lẫn không niêm yết đều gặp khó khăn, vì vậy giá cổ phiếu giảm là điều tất yếu. Tâm lý nhà đầu tư khi doanh nghiệp gặp khó khăn là tăng cường bán cổ phiếu ra nhằm giảm rủi ro và hạn chế mua vào vì sợ thua lỗ. Khó khăn về kinh tế cũng làm giảm lượng cung tiền nhàn rỗi đổ vào TTCK. Các công ty lớn trước kia nhiều tiền, đầu tư mạnh vào tài chính thông qua mua nhiều chứng khoán, giờ đây phải bán ra cắt lỗ để thu tiền về trợ giúp cho lĩnh vực kinh doanh vốn cũng đang gặp khó khăn. v Áp lực giải chấp và thoái vốn Áp lực giải chấp các chứng khoán cầm cố và repo là một trong những nguyên nhân chính khiến TTCK suy giảm mạnh vào 2008. Đây là hậu quả của việc dễ dãi cho vay đầu tư chứng khoán năm 2007. Rất nhiều công ty chứng khoán, định chế tài chính phải bán các chứng khoán thế chấp của nhà đầu tư để hoàn lại vốn để cho vay hoặc khi thị trường đã xuống quá thấp phải bán ra để giải chấp. Chính áp lực này đã làm cho thị trường lúc nào nguồn cung cũng nhiều và bán với giá thấp. Chỉ đến khoảng tháng 8 thị trường mới thoát khỏi áp lực này khi các công ty chứng khoán bán được hết các cổ phiếu thế chấp. Áp lực thứ hai đẩy thị trường xuống là áp lực bán ra của nhà đầu tư nước ngoài. Suốt trong 6 tháng cuối năm, nhà đầu tư nước ngoài toàn bán ròng chứng khoán. Họ phải bán để tăng tỷ lệ tiền mặt hoặc thoái vốn về công ty mẹ khi công ty mẹ đang gặp khó khăn. Họ thường bán ra với khối lượng lớn, nhiều phiên liên tục, làm thị trường có cố gắng mấy cũng không tăng lên được. Hiện tại giá trị danh mục của nhà đầu tư nước ngoài trên TTCK chỉ còn 4,6 tỉ USD, giảm 4 tỉ USD so với đầu năm 2008. Thua thiệt nhất vẫn là nhà đầu tư chứng khoán và các bài học rút ra rất thấm thía và đau đớn. Tin chắc rằng các nhà quản lý thị trường cũng sẽ rút ra nhiều bài học bổ ích mà bài học lớn nhất là các biện pháp hành chính can thiệp thị trường dường như mang lại hiệu quả rất thấp và thị trường chứng khoán rất cần sự minh bạch. Bước sang năm 2009, các ngân hàng đã điều chỉnh tăng lãi suất tiền gửi nhằm thu hút tiền nhàn rỗi trong dân cư. Lãi suất tiền đồng tăng mạnh trong những ngày cuối tháng 5 khiến nhiều người liên tưởng đến giai đoạn khởi đầu cho một cuộc đua lãi suất tiết kiệm sẽ lặp lại như hồi đầu năm trước. Từ 21/5-27/5 tăng cao nhất là kỳ hạn 12 tháng với 1,16%. Ngày 26/5/2009, ngoại trừ giảm ở các kỳ hạn 2 tuần và 6 tháng, lãi suất bình quân các kỳ hạn còn lại đều tăng. Mức tăng nhỏ nhất là 0,03%/năm cho kỳ hạn 1 tháng. Mức tăng cao nhất là 1,16%/năm cho kỳ hạn 12 tháng. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước phổ biến ở mức từ 8,5-10%/năm, trung và dài hạn từ 10-10,5%/năm. Lãi suất cho vay VND của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần phổ biến ở mức từ 10-10,5%/năm. Lãi suất cho vay sau khi trừ đi phần hỗ trợ lãi suất phổ biến ở mức từ 4,5-6%/năm. Lãi suất cho vay USD ở mức 6-7%/năm. Lãi suất cho vay thỏa thuận đối với các nhu cầu vốn phục vụ đời sống, cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phổ biến từ 12-16,5%/năm. Các dự báo về nguy cơ lạm phát sẽ tái bùng phát trong tương lai gần đang được nhắc tới nhiều, khi nguồn tiền đẩy ra thị trường để thực hiện chủ trương kích cầu ngày càng mạnh hơn. Nguy cơ rủi ro cho TTCK là điều không thể tránh khỏi. Công ty Chứng khoán SME (SMES) đưa ra danh sách 25 mã chứng khoán có dấu hiệu của rủi ro (số liệu cập nhật đến hết ngày 31/03/2009). Công ty này cho biết, các chỉ tiêu trong nhóm rủi ro này không ám chỉ tất các công ty đang hoạt động yếu kém mà chỉ giúp cho nhà đầu tư thấy được những rủi ro trong tương lai có thể tác động không tích cực đến công ty đó để nhà đầu tư tìm hiểu thêm thông tin trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Trong số đó, SMES xếp PPC của Nhiệt điện Phả Lại đứng đầu với khoản lỗ do trích lập dự phòng chênh lệch tỷ giá thời điểm cuối năm 2008 vẫn còn quá cao khiến chỉ số EPS trong 4 quý tính đến hết quý I/2009 là số âm. Tuy nhiên, tỷ giá đồng JPY giảm đi nên công ty không còn phải trích lập dự phòng nữa và mặc dù theo quy định hiện hành, việc xác định chênh lệch tỷ giá thường tính vào cuối năm nên công ty không tính doanh thu từ khoản chênh lệch này nhưng kết quả quý I/2009 vẫn rất khả quan. PPC là doanh nghiệp cung cấp điện nên nguồn doanh thu và lợi nhuận hoạt động kinh doanh tương đối ổn định qua các năm và nó thể hiện rõ ở quý I này với với lợi nhuận trước thuế đạt 284,263 tỷ đồng, bằng 99% so với cùng kỳ năm ngoái. Tuy nhiên, SMES cho rằng rủi ro lớn nhất mà nhà đầu tư cần chú ý chính là sự biến động của tỷ giá đồng JPY ảnh hưởng đến hoạt động tài chính của công ty. Đứng thứ 2 trong nhóm này là cổ phiếu IFS của Thực phẩm Quốc tế. Mặc dù quý I năm nay IFS có lãi nhưng kết quả năm nay vẫn giảm mạnh so với năm ngoái. Khoản chi phí tài chính của công ty là quá lớn trong đó chủ yếu là chi phí lãi vay khiến cho hoạt động tài chính của công ty lỗ gần 17 tỷ đồng. Chi phí bất thường năm nay cũng tăng 353,6 triệu đồng. Do đó, lãi trước thuế chỉ đạt 13,319 tỷ đồng, bằng 69% so với cùng kỳ năm ngoái. Việc phụ thuộc quá nhiều vào vốn vay khiến chi phí lãi vay lớn và nguồn tiền giảm mạnh. Tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu 4,94 là một tỷ lệ rủi ro. Kết quả kinh doanh sẽ phụ thuộc khá nhiều vào biến động lãi suất của ngân hàng trong thời gian tới. QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU Nhận diện rủi ro trong TTCK Rủi ro khi công ty cổ phần bán chứng khoán cho công chúng mà không có tập trung quảng bá Để đưa ra quyết định đầu tư, nhà đầu tư cần phải biết là các báo cáo tài chính có được một công ty kiểm toán có uy tín tiến hành việc kiểm toán để xác định chính xác các số liệu có liên quan hay không? Hội đồng quản trị của công ty có phải là những người biết kinh doanh hay không? Các nhà đầu tư, với tư cách là cổ đông phải dành quyền cổ đông của mình khiếu nại với cơ quan pháp luật nếu công ty phát hành không thực hiện đúng những gì như tập quảng bá đã đề cập. Rủi ro đối với nhà đầu tư khi không bán được cổ phần Đây là rủi ro về tính thanh khoản của cổ phiếu, thường diễn ra trong trường hợp thiếu những nhà làm giá và hệ thống mua bán chứng khoán hoạt động có hiệu quả, dẫn đến khó khăn trong việc mua và bán cổ phiếu. Rủi ro công ty Rủi ro công ty thường phản ánh thông qua lợi nhuận. Thông thường lợi nhuận càng cao thì rủi ro càng nhiều, và rủi ro thường được thể hiện dưới dạng rủi ro về lãi suất, giá lên xuống thất thường, năng lực quản trị, mất vốn, hoàn trái, chuyển đổi, chính trị, ngành công nghiệp... Có thể chia thành hai loại rủi ro chủ yếu: - Rủi ro hệ thống - Rủi ro không hệ thống Rủi ro về thời điểm Cùng một loại cổ phiếu có người đầu tư lời, có người đầu tư lỗ vì đầu tư sai thời điểm. Đầu tư sai thời điểm có thể vì nhà đầu tư không theo dõi sát chuyển biến của TTCK thế giới và trong nước. Lĩnh vực này đòi hỏi những nhà mô giới phải có trình độ nghề nghiệp cao, đủ khả năng theo dõi TTCK nước ngoài để có thể cập nhật hóa từng ngày, từng giờ cho khách hàng khi cần. Rủi ro về lạm phát lãi suất, và tỷ giá hối đoái Nếu lãi suất tiền gởi ngân hàng tăng cao sẽ hấp dẫn khách hàng, khi đó nhà đầu tư chứng khoán sẽ có sự chọn lựa. Sự phát triển của TTCK luôn diễn biến nghịch chiều với lạm phát và lãi suất. Lạm phát càng nghiêm trọng, lãi suất càng cao bao nhiêu TTCK càng nhiều rủi ro bấy nhiêu. Rủi ro về vốn và lời Điều lo lắng nhất đối với các nhà đầu tư chứng khoán là công ty có đủ lớn mạnh và đủ tin tưởng để đầu tư không? Luật chứng khoán ở các nước có TTCK phát triển rất khắt khe đối với công ty cổ phần nhưng tình trạng phá sản vẫn không tránh khỏi. Khi mà công ty phá sản thì nhà đầu tư chứng khoán đầu tư vào công ty đó chắc chắn sẽ lỗ. Rủi ro do luật pháp thay đổi và không ổn định Ở bất kỳ TTCK nào trên thế giới, khi luật pháp điều chỉnh và quản lý TTCK thay đổi đều không có lợi cho nhà đầu tư chứng khoán. Lý do cơ bản là vì các nhà đầu tư hoạch định chiến lược đầu tư dựa trên cơ sở nền tảng của luật pháp hiện hành, nhưng khi luật pháp thay đổi sẽ làm đảo lộn chiến lược đầu tư đã được hoạch định. Quản trị rủi ro Nhận diện rủi ro Nhận diện rủi ro là bước quan trọng và đầu tiên nhằm tiềm hiểu cặn kẽ về bản chất của rủi ro. Phương pháp trực tiếp và đơn giản nhất la liệt kê từng nhân tố và các biến cố có thể gây ra rủi ro. Phương pháp làm rõ bản chất của rủi ro: - Nhận dạng đầy đủ những tác nhân kinh tê nào có thể dẫn đến rủi ro, như: lãi suất, lạm phát, tỷ giá hối đoái, tăng trưởng kinh tế... - Tìm hiểu xem chiều hướng nào có thể gây ra rủi ro, ví dụ Ngân hàng trưng ương đang hướng chính sách tiền tệ của mình theo mục tiêu là chống lạm phát, bằng cách tăng lãi suất cơ bản sẽ tác động đến giá chứng khoán như thế nào? - Phân tích và nhận dạng các biểu hiện của rủi ro đang đề cập có phụ thuộc vào những biến cố nào khác hay không, ví dụ công ty có biểu hiện rủi ro trong trường hợp không được nhà đầu tư tín nhiệm. Ước lượng, định lượng rủi ro Bước này sẽ đo lường mức độ phản ứng của công ty đối với các nguồn gốc rủi ro đã xác định ở trên. Cụ thể, dùng một phương pháp giả định nếu có nhân tố rủi ro thì công ty được gì và mất gì. Đánh giá đầy đủ các tác động của rủi ro Để đánh giá rủi ro người ta thường làm bài toán chi phí và lợi tức. Đôi khi, việc quản lý rủi ro tiêu tốn nhiều nguồn lực của công ty như tiền bạc và thời gian, do đó cần phải cân nhắc xem liệu việc quản lý rủi ro như vậy có đem lại lợi ích lớn hơn chi phí bỏ ra để thực hiện nó hay không. Đánh giá năng lực thực tế của người thực hiện chương trình bảo hiểm rui ro Chương trình bảo hiểm rủi ro có ý nghĩa khi mà rủi ro đã phát sinh cần thiết phải được bảo hiểm. Chính vì vậy, người thực hiện chương trình bảo hiểm rủi ro là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, trong thực tế năng lực của người thực hiện chương trình bảo hiểm rủi ro là rất khác nhau, từ đó cần thiết phải xem xét một cách có cơ sở năng lực thực tế của họ. Lựa chọn công cụ quản trị quản trị rủi ro thích hợp Đây là bước mấu chốt cuối cùng trong việc xây dựng chiến lược quản lý rủi ro. Trong bước này nhà quản lý phải chọn một giải pháp cụ thể. Ví dụ, đối với các sản phẩm phái sinh trên TTCK, người ta có thể sử dụng các hợp đồng quyền chọn, hợp đồng tương lai, hợp đồng có kỳ hạn... làm công cụ phòng chống rủi ro. Các công cụ này có ưu điểm là tính thanh khoản cao và có hiệu quả về giá.Tuy nhiên, các công cụ này không linh hoạt, không khắc phục được rủi ro cố hữu mà chi phí theo dõi lại khá tốn kém. Một số giải pháp phòng ngừa rủi ro trên TTCK Việt Nam Giải pháp kinh tế vĩ mô v Về vấn đề lãi suất: Có các giải pháp xử lý cung cầu về vốn nhằm làm cho lãi suất ổn định lại, không để lãi suất tăng cao hơn. Lãi suất tăng cao cũng tác động đến lạm phát (chi phí đẩy), đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng (kinh nghiệm khủng hoảng tài chính châu Á cho thấy nếu lãi suất tăng cao sẽ dẫn đến chỉ có các tín dụng rủi ro mới tiếp cận được) làm giá chứng khoán giảm và làm cho di chuyển tiền tệ giữa các khối kinh doanh trở nên phức tạp, khó kiểm soát hơn. v Xử lý vấn đề thanh khoản của các Ngân hàng thương mại: để đảm bảo an toàn cho ngân hàng kết hợp với xử lý vấn đề nợ đọng cho vay chứng khoán và bất động sản trong các Ngân hàng thương mại để tránh đổ vỡ cả hệ thống ngân hàng. v Ngân hàng nhà nước rà soát lại tổng mức vay tiền gửi ngoại tệ và nợ ngắn hạn bằng ngoại tệ; kết hợp với Bộ Tài chính rà soát lại tổng mức đầu tư gián tiếp nước ngoài. Trên cơ sở tổng mức dự trữ ngoại hối, có sự đánh giá lại khả năng chống đỡ của nền kinh tế nếu có sự đảo chiều. v Ngân hàng nhà nước cần xem xét cơ chế báo cáo giao dịch đối với nhà đầu tư mua cổ phần trong các Ngân hàng thương mại dưới mức 5% thay cho cơ chế xin phép Ngân hàng nhà nước, đặc biệt là các Ngân hàng thương mại tham gia vào hệ thống giao dịch cổ phiếu đại chúng trên thị trường giao dịch chứng khoán Hà Nội, vì thực chất cơ chế giám sát này gần như cơ chế giám sát của các ngân hàng đã niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán, thị trường giao dịch chứng khoán. Các giải pháp trên TTCK v Tạm giãn bớt việc thắt chặt tín dụng với TTCK và bất động sản để tránh tác động của việc sụt giảm tối đa bất động sản và chứng khoán, từ đó giảm bớt rủi ro cho ngân hàng và TTCK. v Hạn chế việc giải chấp chứng khoán, trong bối cảnh giá chứng khoán sụt giảm mạnh như hiện nay, đề nghị các Ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán tạm ngừng giải chấp, tiếp tục gia hạn hoặc Ngân hàng hương mại hỗ trợ tài chính thông qua hoạt động tái chiết khấu để tạo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng. v Xử lý cầu đầu tư: giữ tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào TTCK Việt Nam như hiện nay (49%). Tuy nhiên, cần nghiên cứu tháo gỡ các thủ tục hành chính (ví dụ như tháo gỡ quy định các ngân hàng nước ngoài mua cổ phiếu các Ngân hàng thương mại chưa niêm yết phải xin phép Ngân hàng nhà nước) để tạo ra sức cầu đối với khối các ngân hàng, từ đó tác động chung đến tâm lý thị trường. v Điều chỉnh biên độ giá cổ phiếu: xem xét điều chỉnh biên độ hợp lý để cải thiện tính thanh khoản nhưng vẫn đảm bảo tính ổn định của thị trường, tránh gây sốc. Trong điều kiện kinh tế vĩ mô còn khó khăn, tâm lý và lòng tin nhà đầu tư chưa cao, thì việc mở biên độ sẽ chứa đựng nhiều rủi ro, vì vậy việc điều chỉnh biên độ cần dựa trên diễn biến của thị trường và theo hướng nới lỏng dần. v Xây dựng cơ chế can thiệp thị trường từ SCIC để phát huy hiệu quả, giải pháp này mang tính hỗ trợ và không nên coi là biện pháp bình ổn thị trường. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xem xét thành lập Quỹ bình ổn thị trường với sự tham gia của Nhà nước và các thành viên thị trường. Nâng cao hiệu quả của pháp luật về quản trị công ty. Đối với nước ta, khái niệm quản trị công ty hầu như vẫn còn tương đối xa lạ với cả giới hoạch định chính sách cũng như những người nghiên cứu pháp lý. Để bảo đảm hiệu quả pháp luật về quản trị công ty trong trong mối liên hệ với việc hoàn thiện pháp luật về công bố thông tin trên TTCK, cần tập trung vào một số giải pháp sau đây: - Cần coi việc tuân thủ các quy định về quản trị công ty là một trong những yêu cầu bắt buộc trước khi thực hiện việc niêm yết trên TTCK. - Các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán phải thường xuyên báo cáo việc tuân thủ các quy định về quản trị công ty và báo cáo cho sở giao dịch chứng khoán những thay đổi về nhân sự của công ty một cách kịp thời. - Khi thiết kế điều lệ công ty, quy chế hoạt động của Hội đồng quản trị, người quản lý công ty và ban kiểm soát công ty phải xác định rõ nội dung, thẩm quyền và cơ chế phối hợp trong việc thực hiện các nhiệm vụ về quản trị công ty; nội dung và phương pháp phối hợp giữa các bộ phận trong công ty khi giải quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của mình. - Các công ty tự mình hoặc dưới sự trợ giúp, tư vấn của các chuyên gia khẩn trương rà soát hệ thống quản trị công ty của mình nhằm phát hiện những thiếu sót, lỗ hổng, những điểm chưa hợp lý từ đó đề ra biện pháp khắc phục. Nâng cao vị trí, vai trò của cổ đông – chủ sở hữu công ty trong việc đề xuất các yêu cầu quản trị công ty, nhất là việc thực hiện quyền giám sát của cổ đông đối với hoạt động của người quản trị công ty. Nâng cao vai trò của người quản trị công ty trong hoạt động công bố thông tin trên TTCK Việt Nam. Là người trực tiếp điều hành hoạt động của công ty nên người quản trị công có rất nhiều thông tin và những thông tin đó cần phải được công bố, báo cáo cho cổ đông biết để họ thực hiện quyền của mình. Tuy vậy, người quản trị công ty luôn chịu sự chi phối từ rất nhiều phía như cổ đông lớn – người cử mình và Hội đồng quản trị, lợi ích tư nhân của mình… nên đã dẫn đến việc họ lợi dụng các thông tin từ hoạt động của công ty để trục lợi. Ở nước ta hiện nay, thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát thường nắm giữ rất ít cổ phần trong công ty, thêm vào đó họ lại thường xuyên chuyển nhượng cổ phần của mình khi thị trường tăng nóng hay sụt giảm làm ảnh hưỏng đến niềm tin của nhà đầu tư. Như vậy, để người quản trị công ty gắn bó với sự sống còn của công ty thì phải có các tiêu chuẩn vật chất đối với những người này. Tiêu chuẩn vật chất tối thiểu đối với thành viên Hội đồng quản trị, thành viên ban kiểm soát. Theo chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp thành viên hội đồng qnả trị nắm giữ cổ phần trị giá thành viên ban kiểm soát nắm giữ cổ phần trị giá: Dưới 10 tỷ đồng 800 triệu đồng 400 triệu đồng Từ 10 tỷ đến 30 tỷ đồng 1,5 tỷ đồng 600 triệu đồng Trên 30 tỷ đồng Trên 2 tỷ đồng Trên 1 tỷ đồng (Nguồn: Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam số 459HHĐTC về việc tăng cường công tác quản trị doanh nghiệp tại các công ty đại chúng ngày 14 tháng 3 năm 2008). Bên cạnh việc gắn trách nhiệm của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát thông qua việc nắm giữ trị giá cổ phần tại công ty, thì việc ban hành bộ quy tắc đạo đức của nhà quản trị doanh nghiệp là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Các công ty cần có những biện pháp khuyến khích thu hút người có năng lực vào quản trị công ty. Đối với các nhà đầu tư cần trang bị kỹ năng chọn lọc, phân tích thông tin trước khi đưa ra quyết định đầu tư để giảm thiểu các rủi ro phát sinh. Trước thực trạng thiếu thông tin sạch trong đầu tư chứng khoán thì việc các nhà đầu tư tự trang bị cho mình những kỹ năng phân tích, đánh giá độ tin cậy của thông tin về công ty là rất cần thiết. Nhà đầu tư cần trang bị cho mình những kỹ năng cơ bản khi đọc và phân tích một báo cáo tài chính và khi phát hiện ra thông tin có vấn đề thì cần kiểm chứng kịp thời như hỏi công ty, tham vấn ý kiến của chuyên gia… Nâng cao vai trò của Hiệp hội kinh doanh chứng khoán trong việc bảo đảm tính minh bạch trên thị trường. Ngày 14/5/2004, tại Hà Nội, hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt Nam đã chính thức đi vào hoạt động. Hiệp hội kinh doanh chứng khoán Việt Nam đi vào hoạt động sẽ tạo thêm sức mạnh cho hoạt động kinh doanh chứng khoán, tăng niềm tin cho công chúng đầu tư trong bối cảnh thị trường đang khó khăn hiện nay. Hiệp hội kinh doanh chứng khoán có nhiệm vụ thiết lập và duy trì mối quan hệ thường xuyên giữa các thành viên phối hợp với uỷ ban chứng khoán nhà nước để xây dựng hệ thống khuôn khổ pháp lý về chứng khoán. Hiệp hội cũng tổ chức các hoạt động đào tạo chứng khoán và thiết lập mối quan hệ quốc tế về lĩnh vực này. Trong những năm qua, vai trò của hiệp hội kinh doanh chứng khoán trong việc hỗ trợ sự phát triển của thị trường đã được khẳng định. Với số lượng các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư chứng khoán tham gia là thành viên đã làm cho tiếng nói của Hiệp hội ngày càng có giá trị. Trước những biến động của TTCK nước ta thời gian gần đây, hiệp hội kinh doanh chứng khoán đã có không ít kiến nghị đối với ủy ban chứng khoán nhà nước, Bộ Tài chính, ngân hàng Nhà nước Việt Nam… nhằm tìm kiếm các giải pháp khôi phục lại vị thế của TTCK đối với công chúng đầu tư. Vai trò của hiệp hội Kinh doanh chứng khoán trong việc nâng cao tính minh bạch trên TTCK nước ta thể hiện ở những điểm sau đây: - Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán sẽ phản ánh được mức độ thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của các thành viên; - Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán sẽ đưa ra những khuyến cáo đối với nhà đầu tư trước những thông tin không đáng tin cậy, không có cơ sở; - Kiến nghị đối với cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc điều chỉnh chính sách cho phù hợp với những biến động của thị trường. Nâng cao hiệu quả hoạt động của báo giới, làm rõ vai trò của báo giới trong hoạt động công bố thông tin trên TTCK. Đây là việc làm cần được tiến hành ngay. Không thể phủ nhận những gì mà báo giới đã mang lại cho TTCK trong thời gian qua và cũng đã không ít những tác hại mà báo giới đã mang lại đối với thị trường. Thông qua kênh báo chí giúp cho tổ chức phát hành tiếp cận được với công chúng đầu tư và công chúng đầu tư tiếp cận được với tổ chức phát hành. Điều mà chúng ta quan tâm hiện nay, đó là bản thân doanh nghiệp không muốn tiếp cận với báo chí, bởi khi khai thác thông tin báo giới thường quá nhấn mạnh tới những thông tin nhỏ hay cường điệu hoá thông tin gây nên những hiểu nhầm cho nhà đầu tư. Vai trò của báo giới đối với hoạt động công bố thông tin trên TTCK thể hiện ở những điểm sau: - Báo giới phải góp phần định hướng cho công chúng đầu tư, đưa các thông tin chính xác, khách quan và tránh những bình luận gây hại cho doanh nghiệp; - Báo giới phải trở thành công cụ để cho doanh nghiệp quảng bá và khuếch trương thương hiệu của mình trên thị trường; - Khi phản ánh các thông tin về doanh nghiệp phải bảo đảm tính khách quan, công bằng, không cường điệu hoá thông tin, không đưa những thông tin “gây nhiễu” làm khó khăn cho nhà đầu tư. Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK, Bộ Tài chính chỉ đạo uỷ ban chứng khoán nhà nước phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng đẩy mạnh việc thông tin tuyên truyền với nội dung và phương thức đa dạng để công chúng có hiểu biết hơn về những lợi ích cũng như những rủi ro khi tham gia thị trường chứng khoán, coi đây là một trong các giải pháp trọng tâm lâu dài nhằm phát triển lành mạnh và bền vững thị trường chứng khoán. Đây cần được coi là tôn chỉ, mục đích hoạt động của báo chí trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK. Củng cố lòng tin của nhà đầu tư cũng như tăng cường sự quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK. Các phân tích ở trên đã chỉ rõ rằng, TTCK rất nhạy cảm với thông tin. Thông tin càng minh bạch, càng rõ ràng thì niềm tin của công chúng đầu tư vào TTCK càng lớn. Niềm tin của công chúng đầu tư là động lực thúc đẩy thị trường ngày càng phát triển, vượt qua những giai đoạn khó khăn thử thách. Để thành công trên TTCK ngoài kiến thức, tiền bạc, sự kiên nhẫn, sự may mắn thì lòng tin vẫn là nhân tố có ý nghĩa quyết định. Nếu không có lòng tin vào thị trường, không có lòng tin vào tổ chức phát hành thì chắc chắn nhà đầu tư không thể đầu tư tiền bạc của mình vào được. Nói một cách khác đi, lòng tin của nhà đầu tư quyết định đến sự phát triển của TTCK. Tình trạng thông tin bất cân xứng trên TTCK Việt Nam thời gian qua cũng như việc sụt giảm quá nhanh của TTCK thời gian gần đây đã làm suy giảm lòng tin của nhà đầu tư vào TTCK. Một trong những nguyên nhân của việc suy giảm lòng tin của nhà đầu tư đó chính là việc họ không có cơ hội tiếp cận được với các thông tin chính thức trước khi đưa ra quyết định đầu tư. Niềm tin của công chúng đầu tư sẽ được cải thiện nếu các quy định pháp luật về công bố thông tin trên TTCK được các chủ thể tham gia thị trường tuân thủ đầy đủ. Công tác quản lý nhà nước về TTCK cũng cần phải dựa trên hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác, khách quan và kịp thời. Cần đẩy mạnh việc kiểm tra, thanh tra để xử lý các vi phạm trên thị trường, đặc biệt là các vi phạm về chào bán chứng khoán ra công chúng; vi phạm về công bố thông tin và vi phạm liên quan đến giao dịch thao túng thị trường. Các giao dịch bất hợp pháp trong lĩnh vực chứng khoán nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời thì những hậu quả mà nó mang lại là rất lớn. Các nước có TTCK phát triển thì cũng có một hệ thống thông tin về TTCK rất hiện đại. Theo kinh nghiệm của Trung Quốc, việc khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc khôi phục TTCK là một bộ phận của chương trình cải cách kinh tế ở Trung Quốc. Điều này phản ánh dấu ấn cải cách kinh tế theo mô hình Trung Quốc, cũng được tiến hành một cách tuần tự trên cơ sở sự ổn định chính trị, ổn định kinh tế vĩ mô và là sản phẩm của quá trình chuyển hoá dần về quan hệ sở hữu. Chính phủ Trung Quốc đã chủ động, tích cực tìm kiếm những con đường mới cho việc thiết lập lại thị trường vốn, tiến hành thử nghiệm việc thành lập thị trường giao dịch cổ phiếu tập trung ở Thượng Hải và Thẩm Quyến để tạo tiền đề cho việc thành lập thị trường vốn rộng lớn ở Trung Quốc. Thời gian qua, với những nỗ lực của uỷ ban chứng khoán nhà nước trong việc duy trì, củng cố lòng tin của nhà đầu tư vào TTCK bằng rất nhiều các biện pháp khác nhau như điều chỉnh biên độ giao dịch, tăng cường các biện pháp hỗ trợ cho thị trường, xử lý vi phạm pháp luật về chứng khoán và TTCK… Tất cả những nỗ lực đó đã góp phần không nhỏ vào việc củng cố lòng tin của nhà đầu tư vào thị trường. Việc củng cố lòng tin của nhà đầu tư vào thị trường là công việc khó khăn và phải được tiến hành thường xuyên, bởi nếu không chú tâm vào việc giám sát thị trường thì ngay lập tức có thể ảnh hưởng đến niềm tin của công chúng vào thị trường. Bảo hiểm rủi ro chứng khoán Với bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào, bảo hiểm luôn được coi là công cụ hữu ích để phòng ngừa rủi ro. Hoạt động bảo hiểm phát triển mạnh mẽ ở nhiều ngành nghề: vận tải, hàng hóa, vàng, kinh doanh tiền tệ..., và hiện nay đang lan sang ngành chứng khoán. Hiện tại chưa có sản phẩm nào được bán trực tiếp cho nhà đầu tư, nhưng nhà đầu tư vẫn được bảo hiểm thông qua công ty chứng khoán đứng đơn hợp đồng. Trong trường hợp rủi ro xảy ra, công ty chứng khoán sẽ có bồi thường bảo hiểm để bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư – khách hàng của mình. Vì vậy, lợi ích tối thiểu nhất là khi có hợp đồng bảo hiểm, công ty chứng khoán đã tạo được niềm tin nhất định đối với nhà đầu tư. Đó là sản phẩm bảo hiểm dành cho các công ty chứng khoán nhưng lại bảo vệ được quyền lợi của các nhà đầu tư. 3 loại hình bảo hiểm cơ bản hiện nay: v Thứ nhất là loại hình bảo hiểm tổng hợp bảo vệ những hoạt động hàng ngày của công ty chứng khoán, như là mất chứng từ trong quá trình vận chuyển, bị mất cắp giấy tờ, tài sản, do bị phá hoại.. v Thứ hai là loại hình bảo hiểm trách nhiệm, bảo hiểm cho công ty chứng khoán khi mà nhân viên của họ làm sai nghiệp vụ, đầu tư không đúng theo yêu cầu của khách hàng, giao dịch không đúng quy định, sử dụng tài khoản của khách hàng để trục lợi, tư vấn sai lệch… v Thứ ba là loại hình bảo hiểm dành cho cán bộ điều hành công ty chứng khoán trước những quyết định đầu tư, quản lý của họ hoặc họ có những quy trình không đúng với quy định của pháp luật... Tuy nhiên, ở Việt Nam lĩnh vực chứng khoán hoạt động bảo hiểm vẫn chưa có đất dụng võ. Bởi vì, sự phát triển của loại hình này hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình kinh tế của nước bản địa và sự sôi động của thị trường vốn. Do vậy, cần tập trung đẩy mạnh phát triển thị trường cả về quy mô và chất lượng, sớm triển khai loại hình bảo hiểm này giúp nhà đầu tư và công ty chứng khoán có thêm công cụ phòng ngừa rủi ro. LỜI KẾT Từ những nội dung đã được phân tích ở trên ta thấy đầu tư cổ phiếu không phải là một công việc kinh doanh dễ dàng, nhất là trong thời điểm hiện nay TTCK Việt Nam đang trong tình trạng “nóng”, “ảo”. Kiếm tiền đã khó, giữ được nó và hơn thế nữa, làm cho đồng tiền đó tiếp tục sinh sôi nảy nở còn khó hơn nhiều. Do đó, để có được thành công bản thân các nhà đầu tư phải có sự hiểu biết sâu sắc, tâm lý ổn định. Và quan trọng nhất là phải biết chấp nhận rủi ro. Một chiến lược đầu tư gọi là hiệu quả khi có thể giảm thiểu rủi ro và tăng cao lợi nhuận. Trong khi đó, các chiến lược kinh doanh hầu như phải chấp nhận mức rủi ro cao vì chính rủi ro cao đó là nguồn gốc của lợi nhuận cao. Nhà đầu tư vì vậy phải biết chấp nhận những phi vụ thất bại, không nên kỳ vọng rằng lúc nào họ cũng thắng được thị trường. Bên cạnh đó, để đảm bảo TTCK hoạt động có hiệu quả, Nhà nước cần tăng cường hoạt động tuyên truyền, cảnh báo, chuẩn hóa các hoạt động tư vấn đầu tư, can thiệp thị trường theo một cường độ nhất định... TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Đầu tư chứng khoán - Bùi Trí Dũng; NXB Tài Chính (2002) 2. Hạn chế những rủi ro trong đầu tư kinh doanh chứng khoán - Mạnh Yên; NXB Lao động - xã hội (2007) 3. Đầu tư và đầu cơ chứng khoán - PGS. TS. Lê Văn Tề và TS. Nguyễn Văn Hà; NXB Lao động - xã hội (2007) 4. Cẩm nang người tư vấn kinh doanh và đầu tư chứng khoán Việt Nam - Lê Văn Thủy; NXB Tài chính (2007) 5. Thị trường chứng khoán - GS. TS. Lê Văn Tư; NXB Thống kê (2003) 6. Wesbite: www.kienthuctaichinh.com Wesbite: www.cafe.vn MỤC LỤC Lời mở đầu ......................................................................................................................................1 Lời kết ...........................................................................................................................................38 Tài liệu tham khảo .......................................................................................................................39

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docRui ro khi dau tu co phieu tren thi truong chung khoan Viet Nam.doc
Luận văn liên quan