Khóa luận Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Đông Hà

Qua quá trình tìm hiểu hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà cho thấy ngân hàng thực hiện tốt nhiệm vụ của cấp trên giao, hỗ trợ, cung ứng vốn theo nhu cầu người dân, giúp hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, ngày càng đẩy mạnh công tác mở rộng thị phần, luôn giữ một vị thế quan trọng trên địa bàn. Ngoài ra quy trình thủ tục cho vay ở ngân hàng được thực hiện một cách có hiệu quả và khoa học. Từ đó rút ngắn được thời gian cho vay, tạo uy tín, niềm tin cho khách hàng hiện tại, thu hút thêm nhiều khách hàng mới. Mặc dù tình hình kinh tế trong tỉnh ít bị biến động lớn trong những năm qua, tuy nhiên sự xuất hiện của nhiều NHTM lớn trên địa bàn đã đặt ngân hàng vào thế cạnh tranh gay gắt. Từ những kết quả đạt được làm cho lợi nhuận của ngân hàng ngày càng tăng trưởng và đạt ở mức cao, điều này cho thấy hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đặc biệt hoạt động cho vay ngày càng tiến triển tốt đẹp mặc dù gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh những tích cực của hoạt động tín dụng mang lại ngân hàng cần quan tâm hơn ến hoạt động huy động vốn nhằm tạo sự cân đối giữa đầu vào và đầu ra để KINH TẾ HUẾ

pdf82 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Lượt xem: 1182 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Khóa luận Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn thành phố Đông Hà, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iên, như phân tích ở trên thì hầu hết người dân hiện nay đều có ý thức trả nợ tốt, chỉ có một phần nhỏ ý thức trả nợ chưa cao cho nên nợ xấu của từng mục đích vay vốn tiêu dùng vẫn tồn tại nhưng nó chiếm tỷ lệ không đáng kể so với tổng nợ xấu của ngân hàng. Trong đó NQH bình quân trong năm 2010 ở mục đích mua xe máy và ô tô là 764 triệu đồng, chiếm 43,88% trong tổng nợ quá hạn cho vay tiêu dùng, năm 2011 giảm xuống 632 triệu đồng, chiếm 43,17% trong tổng nợ quá hạn cho vay tiêu dùng, và đến năm 2012 con số này tiếp tục giảm xuống còn 433 triệu đồng, chiếm 42,12% trong tổng nợ quá hạn cho vay tiêu dùng. Còn với mục đích mua nhà, sửa chữa nhà cũng có sự biến động như NQH đối với mục đích mua sắm phương tiện đi lại. Và ta cũng thấy được tỷ lệ nợ xấu qua các năm của mỗi mục đích vay vốn cho vay tiêu dùng đều giảm dần. Điều này là nhờ các cán bộ tín dụng đã chủ động ngăn chặn nợ quá hạn mới phát sinh, phát hiện dư nợ có ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 51 tiềm ẩn rủi ro, có biện pháp chủ động xử lý, tạo nguồn để xử lý rủi ro do nợ quá hạn cũ tồn đọng. Đây là một thay đổi tốt cho hoạt động cho vay tiêu dùng nói riêng và cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. 2.4 Đánh giá chung về hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà 2.4.1 Kết quả đạt được từ hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà Cho vay tiêu dùng ngoài mục tiêu kích cầu mang ý nghĩa xã hội còn là hoạt động góp phần nâng cao doanh số cho vay và phân tán rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Qua những phân tích về tình hình cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà và phân tích tình hình cho vay tiêu dùng theo hình thức đảm bảo và theo mục đích sử dụng qua 3 năm 2010 - 2012 tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà, tôi rút ra được những nhận xét sau: - Với mục tiêu phấn đấu trở thành NHTM hàng đầu Việt Nam, cho vay tiêu dùng đã đem lại một khoản lợi nhuận không nhỏ cho Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà. Dư nợ qua các năm 2010- 2012 liên tục tăng: năm 2010 là 762.901 triệu đồng, năm 2011 tăng lên 901.638 triệu đồng, đến năm 2012 là 1.085.290 triệu đồng, đánh dấu bước tiến lên trong cho vay tiêu dùng của Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà. - Mặc dù cho vay tiêu dùng không phải là lĩnh vực chủ đạo của ngân hàng, nhưng với ưu thế là số lượng khách hàng lớn, cho vay tiêu dùng đã góp phần vào việc làm tăng uy tín và mở rộng tên tuổi của ngân hàng trong dân chúng, điều này thực sự có ý nghĩa khi mà đa số người dân vẫn chưa quen giao dịch với ngân hàng và việc lựa chọn sử dụng dịch vụ của ngân hàng nào hầu như là hoàn toàn ngẫu nhiên. Như vậy, nếu Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà mở rộng được cho vay tiêu dùng đến các doanh nghiệp, cá nhân trong thành phố, sẽ xây dựng được hình ảnh của ngân hàng mình trong dân chúng qua quá trình làm việc. Từ đó thu hút ngày càng nhiều khách hàng đến sử dụng những dịch vụ khác của ngân hàng. Điều này không những làm tăng lợi nhuận cho hoạt động của mảng cho vay tiêu dùng mà còn góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động của cả ngân hàng. - Quy trình nghiệp vụ tín dụng tại Chi nhánh thời gian qua đã có nhiều sửa chữa, cải tiến nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, nhờ vậy số lượng khách hàng đến với Chi ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 52 nhánh nhiều, Chi nhánh có cơ hội chọn lọc khách hàng hơn, thời gian quyết định cho vay của Chi nhánh cũng được rút ngắn lại. - Các biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng ngân hàng cũng tỏ ra rất hiệu quả biểu hiện qua việc nợ quá hạn của ngân hàng giảm dần qua các năm. Đó là do quy trình tín dụng chặt chẽ, rõ ràng và công tác đánh giá khách hàng cá nhân được tiến hành một cách khoa học với sự kết hợp hai hệ thống đánh giá: hệ thống đánh giá mang tính phán đoán là phương pháp đánh giá khách hàng dựa vào kinh nghiệm, trình độ và sự hiểu biết của cán bộ tín dụng thông qua tiếp xúc, trò chuyện cùng khách hàng để tìm hiểu về thân nhân, lai lịch, khả năng tài chính và thiện chí trả nợ của khách hàng. Còn hệ thống đánh giá mang tính thống kê là tiến hành cho điểm khách hàng theo một số chỉ tiêu như: về yếu tố thân nhân lai lịch, về yếu tố tài chính, về tài sản đảm bảo.Với mỗi yếu tố trên, Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà đánh giá và xác định điểm số mà khách hàng đạt được. Phương pháp này rất hiệu quả, giúp giảm được thời gian xét duyệt cho vay và đưa ra chính sách khách hàng phù hợp về lãi suất, về các kỳ hạn trả gốc, lãi. 2.4.2 Những hạn chế của hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà 2.4.2.1 Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng Hoạt động cho vay tiêu dùng của Chi nhánh dù đã có nhiều chuyển biến phát triển rõ rệt, nhưng vẫn chưa đáng kể so với nhu cầu của khách hàng. Các sản phẩm cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh vẫn chưa đa dạng, chỉ tập trung chủ yếu vào cho vay mua phương tiện đi lại, mua dụng cụ sinh hoạt và tiêu dùng khác. 2.4.2.2 Lãi suất Vấn đề cạnh tranh lãi suất giữa các ngân hàng trên địa bàn đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các NHTM trên địa bàn trong khi có ưu thế của mình là chủ động áp dụng lãi suất đối với từng chủ thể đi vay khác nhau, đã không ngừng điều chỉnh theo hướng giảm dần, thì Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà không có được điều đó. Mọi việc điều chỉnh lãi suất cho vay ở Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà do Hội sở quyết định. 2.4.2.3 Mạng lưới Chi nhánh của ngân hàng còn hạn chế ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 53 Mạng lưới Chi nhánh của ngân hàng còn hạn chế không phân bố trên các huyện, thị trấn. Đây là tồn tại làm giảm khả năng hoạt động của ngân hàng, vì với xu thế hướng đến sự thuận tiện người dân không thể đi xa để gửi tiết kiệm hay sử dụng các dịch vụ khác, mà họ sẽ đến với những ngân hàng nào theo họ là thuận lợi nhất (gần nhất) để giao dịch mặc dù mức phí có thể “nhỉnh” hơn. 2.4.2.4 Tâm lý đi vay của khách hàng Tâm lý vay ngân hàng là mắc nợ, là không tốt đang còn tồn tại rất nặng nề trong suy nghĩ người dân. Mặt khác, một bộ phận người lao động có thu nhập hàng tháng ở mức trung bình với điều kiện sống còn thiếu thốn, nhưng họ chấp nhận và bằng lòng với cuộc sống ấy, cộng thêm với tâm lý tiêu dùng còn tồn tại từ lâu trong dân ta: chưa đến thời điểm chưa chi - tích luỹ chưa đủ lượng thì cũng ít tiêu dùng. Hạn chế này đã tạo nên rất nhiều khó khăn cho ngân hàng khi muốn mở rộng nghiệp vụ này. 2.4.2.5 Thiếu sự hợp tác giữa cơ quan, doanh nghiệp với ngân hàng Đối với hình thức vay vốn bằng sự bảo lãnh của cơ quan, doanh nghiệp nơi người lao động làm việc, thì sự hợp tác nhiệt tình của giám đốc cơ quan, doanh nghiệp đó với ngân hàng là điều rất quan trọng. Người lãnh đạo vì lý do khách quan hay chủ quan của mình mà thường không “mặn mà” lắm trong quan hệ với ngân hàng nên dể dẫn đến xảy ra rủi ro. Nhất là trong trường hợp Ban lãnh đạo không quản lý tốt lao động của mình nên dể xảy ra tình trạng ký nhận nhiều lần để họ có dư nợ tồn tại ở nhiều ngân hàng cùng một lúc. Hơn nữa khi có sự thay đổi về thu nhập, chỗ làm của người lao động đã được xác nhận để vay vốn thì Ban lãnh đạo đã không thông báo kịp thời cho ngân hàng biết để xử lý. 2.4.2.6 Hoạt động cho vay tiêu dùng tiềm ẩn rủi ro về thanh khoản Phần lớn các khoản cho vay tiêu dùng có kỳ hạn dài, đặc biệt đối với các khoản vay để mua nhà ở và phương tiện đi lại có thời hạn từ 3-10 năm, trong khi nguồn vốn huy động chủ yếu của Chi nhánh là ngắn hạn. Điều này dẫn đến việc hoạt động cho vay tiêu dùng có tiềm ẩn rủi ro thanh khoản do sự mất cân đối về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ. 2.4.3 Nguyên nhân của các hạn chế 2.4.3.1 Nguyên nhân chủ quan Tổ chức và hoạt động thanh tra NHNN ( từ Trung ương đến địa phương ) tuy có nhiều đổi mới, nhưng nhìn chung còn hạn chế về trình độ và kỹ thuật. Trong chỉ đạo ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 54 thiếu kiên quyết xử lý hoặc buộc đối tượng phải chấp hành những kiến nghị của đoàn thanh tra, do đó hiệu quả xử lý thanh tra nhìn chung còn hạn chế. Việc quản lý điều hành của NHTM có lúc chưa sâu sát, chưa cụ thể, chưa coi trọng đúng mức việc quản lý nghiệp vụ và con người, công tác kiểm tra, kiểm soát hàng ngày việc làm của cán bộ chưa thật sự tốt, sai sót xảy ra chưa phát hiện kịp thời. 2.4.3.2 Nguyên nhân khách quan Nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển sang cơ chế thị trường, do thiếu kinh nghiệm quản lý và điều hành kinh doanh, vì thế không tránh khỏi lúng túng, bỡ ngỡ, va vấp thậm chí phải trả giá. Trong thời gian gần đây dư luận xã hội tập trung phê phán hoạt động ngân hàng có nhiều thiếu sót, quan chức lãnh đạo ngân hàng có nhiều việc làm sai trái...Đây là một trong những nguyên nhân tác động đến tâm lý cán bộ ngành ngân hàng dẫn đến việc mở rộng tín dụng còn hạn chế. Lạm phát: Lạm phát làm cho giá cả của các mặt hàng những năm gần đây đều tăng, trong khi đó thu nhập của người dân lại hạn chế nên khách hàng phải lựa chọn rất nhiều lần mới đưa ra quyết định vay vốn ngân hàng hay không. Các biến động gần đây của nền kinh tế cũng gây khó khăn không nhỏ cho các doanh nghiệp đặc biệt là các nhà sản xuất dễ bị ảnh hưởng biến động về kinh tế. Bên cạnh đó, môi trường điều kiện tự nhiên biến đổi thất thường trong những năm qua là những trở ngại bất khả kháng đối với cá nhân, tổ chức trong việc vay vốn và trả lãi. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 55 CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY TIÊU DÙNG TẠI CHI NHÁNH NHNo & PTNT THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ 3.1 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà 3.1.1 Thuận lợi Hoạt động cho vay tiêu dùng của tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà có những điểm thuận lợi sau: - Đội ngũ nhân viên trẻ có trình độ chuyên môn cao: Ngân hàng có một đội ngũ nhân viên trẻ có trình độ chuyên môn cao và rất năng động, có thể đảm nhận tốt các lĩnh vực hoạt động của ngân hàng. Bên cạnh đó các cán bộ nhân viên ngân hàng luôn được bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ ngân hàng đáp ứng kịp thời sự phát triển của công nghệ ngân hàng trên thế giới. Đồng thời ngân hàng cũng thường xuyên mời các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng giảng dạy và học hỏi trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ, nhân viên ngân hàng. - Khách hàng có nguồn thu nhập cao và ổn định: Đối tượng khách hàng của ngân hàng là các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, đây là cơ sở để ngân hàng tạo ra món vay có chất lượng. Đồng thời hoạt động cho vay của ngân hàng trong thời gian qua đã không ngừng nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng, thể hiện qua dư nợ bình quân tăng trong khi nợ quá hạn giảm mạnh. - Áp dụng công nghệ thông tin rộng rãi vào các hoạt động của ngân hàng: Được đánh giá là một trong những ngân hàng áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin vào quá trình hoạt động, tất cả các quá trình từ phát vay, quản lý và thu nợ đều xử lý bằng máy tính với phần mềm luôn được đổi mới cho phù hợp. Từ đó tăng khả năng quản lý của ngân hàng, rút ngắn được thời gian thu nợ gốc và lãi, nên giảm thời gian chờ đợi của khách hàng xuống mức thấp nhất. - Chất lượng cho vay tiêu dùng và uy tín của ngân hàng ngày càng được cải thiện: Hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng trong thời gian qua đã không ngừng nâng cao cả về số lượng lẫn chất lượng. Đây có thể nói là một lợi thế của ngân hàng, thể ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 56 hiện hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng rất có uy tín và đã tạo được niềm tin của khách hàng. 3.1.2 Khó khăn Bên cạnh những thuận lợi đã nêu ở trên thì ngân hàng cũng gặp những khó khăn nhất định: - Trong nền kinh tế thị trường hiện nay nói chung và trong địa bàn nói riêng giữa các NHTM ngày càng có sự cạnh tranh gay gắt bằng các công cụ như lãi suất, đơn giản hóa các thủ tục đi vay, các sản phẩm vay đa dạng, cải tiến về chất lượng các dịch vụ. - Một khó khăn nữa trong cho vay tiêu dùng đó là món vay nhỏ, từ đó gây khó khăn cho cán bộ tín dụng trong khâu thẩm định, kiểm tra sử dụng vốn vay, nhắc nhở đôn đốc việc trả lãi vì số lượng khách hàng đông. Chính điều này đã gây nên một nhược điểm cơ bản là rủi ro cao trong hoạt động cho vay tiêu dùng. - Trong quá trình hoạt động cho vay tiêu dùng đã xảy ra trường hợp khách hàng vay nhiều ngân hàng do đó về lâu dài công tác thu hồi nợ sẽ gặp nhiều khó khăn và thậm chí còn không thu được nợ, và không ít các doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, điều này dẫn đến nợ quá hạn tăng lên. - Bên cạnh đó, mấy năm gần đây thiên tai lũ lụt xảy ra ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp dẫn đến việc cho vay gặp nhiều rủi ro, làm tăng tỉ lệ nợ quá hạn. - Hệ thống thông tin giữa khách hàng và ngân hàng còn hạn chế. Khách hàng thì không nắm bắt được thông tin của ngân hàng như ngân hàng có dịch vụ gì, thủ tục vay vốn, ưu đãi ra saoCòn ngân hàng khó nắm bắt tình hình kinh tế của khách hàng. Tóm lại, trong hoạt động kinh doanh ngân hàng đầy phức tạp và nhiều rủi ro, ta có thể xét đến những rủi ro tiềm ẩn sau: - Rủi ro về khả năng trả nợ của khách hàng vay. Có thể vì lý do khách quan như giảm thu nhập, thất nghiệp do doanh nghiệp người đó làm việc gặp khó khăn trong kinh doanh nên đã không trả được lương cho người lao động hay doanh nghiệp đó đang trong tình trạng giảm biên chế hoặc như ốm đau, tai nạn...làm cho khách hàng ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 57 lâm vào tình trạng khó khăn về tình hình tài chính như sự sụt giảm hay mất hẳn thu nhập. - Những rủi ro xuất phát từ phía chủ quan của người vay, trường hợp khách hàng cố tình không trả nợ, hay họ thay đổi chỗ làm việc... Đây là một trong những rủi ro tiềm ẩn gây thiệt hại nhiều nhất cho ngân hàng. Tuy nhiên, hiệu quả của món vay không thể hiện ở chổ có thu hồi được hay không mà là cách thức thu hồi như thế nào để ít phải tốn kém chi phí nhất, vì vậy tuỳ tính chất của những rủi ro mà ngân hàng có những cách thức thu hồi hợp lý. - Những rủi ro do việc biến động của các bất động sản mà khách hàng thế chấp. Tại thời điểm mà khách hàng thế chấp thì tài sản thế chấp có giá cao, nhưng đến khi ngân hàng phát mãi tài sản để thu hồi nợ trong trường hợp khách hàng không còn khả năng trả nợ thì lại giảm giá, điều này sẽ dẫn đến việc ngân hàng không thu hồi đủ số nợ mà khách hàng đã vay. 3.2 Định hướng phát triển 3.2.1 Định hướng phát triển của NHNo & PTNT Tỉnh Quảng Trị Tiếp tục thực hiện chiến lược kinh doanh, giữ vững vai trò chủ đạo, chủ lực, thực hiện đầu tư có chọn lọc trên thị trường nông nghiệp - nông thôn, đồng thời củng cố phát triển thị trường, thị phần, mở rộng và nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cơ cấu lại NHNo & PTNT có hiệu quả, tăng cường các nguồn lực con người, công nghệ, tài chính nhằm tăng thêm năng lực hoạt động kinh doanh, cạnh tranh và hội nhập. Tăng cường hợp tác với tổ chức tài chính, Ngân hàng thế giới, đảm bảo hoạt động hiệu quả, phát triển bền vững. 3.2.2 Định hướng phát triển của Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà Từ định hướng của NHNo tỉnh Quảng Trị, Chi nhánh đưa ra những mục tiêu định hướng: - Tập trung ra sức hoàng thiện và phát huy tổ chức bộ máy và phương thức quản trị điều hành, nhất là nâng cao năng lực quản lý nguồn vốn và nâng cao trình độ quản lý của cán bộ Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà nhằm tăng cao uy tín và sức mạnh cạnh tranh. Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh doanh, góp phần thực hiện các ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 58 mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành phù hợp với các luật và cơ chế mới của ngân hàng. - Hoàn thiện công tác đào tạo và quản lý điều hành, kiểm tra kiểm soát nội bộ nhằm bảo đảm ngân hàng hoạt động đúng luật, nâng cao an toàn hiệu quả. Phương châm hành động: phát huy sức mạnh toàn hệ thống thực hiện “đoàn kết, kỷ cương, sáng tạo, an toàn, hiệu quả”. - Phát huy những thành tích đã đạt được trong kinh doanh tăng cường hiện đại hoá công nghệ, kiên trì chiến lược kinh doanh phù hợp với năng lực và yêu cầu nhằm xây dựng Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà thành ngân hàng của mọi thành phần kinh tế. Tập trung cho nông nghiệp và nông thôn, kinh doanh đa dạng hoá từ đó tạo lợi nhuận cho ngân hàng; xem nông thôn là thị trường quan trọng để đầu tư phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn, thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo. Thị trường nông thôn vẩn là đầu ra chủ yếu của ngân hàng. - Tăng cường quan hệ đầu tư đối với các hộ làm kinh tế trang trại, mở rộng quan hệ với các loại hình hợp tác. Nâng cao các quan hệ với khách hàng, tạo uy tín và tín nhiệm đối với mọi tầng lớp dân cư . - Rà soát và xác định lại các tiêu thức phân loại khách hàng mà ngân hàng đề ra các biện pháp thu hút và quản lý khách hàng hợp lý. Thực hiện các chính sách nhằm cũng cố, giữ gìn quan hệ với khách hàng truyền thống . - Về đối tượng đầu tư: tất cả mọi dự án, phương án sản xuất kinh doanh có lãi, phù hợp với pháp luật và chủ trương của ngành đều là đối tượng đầu tư. Căn cứ vào đặc điểm, thế mạnh của từng vùng, từng xã để xây dựng dự án đầu tư thích hợp, chú trọng phát triển các cụm công nghiệp, mở rộng thị trường. - Thực hiện các biện pháp tích cực hơn để khơi tăng nguồn vốn, tăng dư nợ, giảm thấp nợ quá hạn đảm bảo chất lượng tín dụng. Thực hiện tốt nhiệm vụ huy động vốn tại địa phương, đặc biệt là nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, nguồn vốn trung, dài hạn. - Nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu lực công tác kiểm tra, kiểm toán nội bộ; tổ chức kiểm tra hoạt động tín dụng, kiểm tra theo đề cương của NHNo & PTNT Việt Nam. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát trước, trong và sau khi cho vay. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 59 - Làm tốt công tác chuyển tiền, kiều hối, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho khách hàng mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng. Đẩy mạnh ứng dụng tin học trong hoạt động ngân hàng. - Tổ chức phát động và hưởng ứng các phong trào thi đua, động viên nhân viên, cán bộ lãnh đạo tham gia các khóa đào tạo do các cấp, ban ngành mở để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. 3.3 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà 3.3.1 Mở rộng và thu hút khách hàng 3.3.1.1 Mở rộng đối tượng khách hàng Mỗi ngân hàng muốn tồn tại và phát triển phải tìm mọi cách để thu hút khách hàng vì khách hàng chính là yếu tố quyết định đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng cần phải làm thế nào để đa dạng hóa các đối tượng khách hàng trong tất cả các nghiệp vụ kinh doanh nói chung và nghiệp vụ cho vay tiêu dùng nói riêng, khách hàng chính là yếu tố quyết định sự sống còn đối với ngân hàng. Có thể có những giải pháp sau: - Mở rộng cho vay tiêu dùng vào các đối tượng là những khách hàng có thu nhập cao, ổn định để mở rộng doanh số cho vay + Những khách hàng có thu nhập khá, ổn định và những khách hàng làm trong các doanh nghiệp, các cơ sở kinh doanh hoạt động có hiệu quả là những đối tượng mà ngân hàng cần hướng đến. Đối tượng này có nhu cầu cuộc sống cao, do quỹ tài chính của họ không thể hình thành một lúc mà thường được hình thành trong tương lai, vì thế họ cần đến ngân hàng với vai trò là người cung ứng trước quỹ tài chính cho họ có thể đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống hiện tại của họ. + Đây là nhóm khách hàng tiềm năng trong tương lai vì họ có thu nhập cao và ổn định. Hơn nữa, khách hàng này có trình độ học vấn nhất định nên họ có ý thức trách nhiệm đối với món nợ mình đã vay, dẫn đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng thuận lợi hơn. Và đối với ngân hàng việc giao dịch với họ sẽ dễ dàng hơn. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 60 + Ngoài ra, ngân hàng cần gia tăng thêm lượng khách hàng vay trong ngắn hạn. Bởi vì vay tiêu dùng là hầu hết người vay vay với mục đích không tạo ra lợi nhuận, cho nên để an toàn cho ngân hàng thì thời hạn các khoản vay càng ngắn càng tốt. - Tiếp tục mở rộng cho vay tiêu dùng đối với khách hàng tại các doanh nghiệp mà ngân hàng đã thiết lập mối quan hệ + Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà là một trong những thành viên của NHNo & PTNT Việt Nam, một ngân hàng đã có lịch sử phát triển lâu đời, là người bạn đồng hành của người dân lao động. Đây là một ngân hàng có hệ thống nhiều cấp và lợi ích này đã tạo cho ngân hàng mối quan hệ ngày càng mở rộng với các cơ quan, đơn vị doanh nghiệp trên địa bàn. Điều đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng mở rộng thị phần cho vay tiêu dùng. 3.3.1.2 Mở rộng thời hạn vay vốn cho món vay có giá trị lớn Đồng thời với việc mở rộng DSCV đối với những đối tượng có mức thu nhập cao, ngân hàng nên mở rộng thời hạn vay vốn cho các món vay có giá trị lớn nhằm làm giảm sức ép của việc trả nợ hàng tháng lên tình hình tài chính của khách hàng. Đa số khách hàng đều muốn vay với thời hạn dài, để cùng với một mức thu nhập nhất định họ vừa có thể thực hiện trả nợ cho ngân hàng, vừa đủ để chi phí cho cuộc sống hàng ngày. Mặt khác, cùng một thời hạn vay, nếu một món vay có quy mô vốn vay lớn hơn món vay có mức vốn vay thấp thì số tiền gốc và lãi phải trả hàng tháng cho ngân hàng cũng cao hơn theo tỷ lệ. Chính vì thế với món vay có giá trị lớn, khi thời hạn vay bị khống chế sẽ gây ra khó khăn cho người vay trong quá trình trả nợ. Thông thường thì những người cho vay mong muốn khách hàng của mình có tỷ lệ tiền thanh toán hàng tháng nằm trong giới hạn từ 25-30% trong tổng thu nhập để có thể đảm bảo được cuộc sống và thực hiện tốt hợp đồng vay tiêu dùng. Vì vậy ngân hàng có thể mở rộng thời hạn vay cho các món vay từ 10 triệu trở lên, nhất là những món vay có giá trị lớn. Một khi thời hạn vay được mở rộng, ví dụ như thay đổi từ mức 36 tháng như hiện nay lên thành mức tối đa là 60 tháng, như vậy sẽ thuận lợi hơn cho khách hàng trong quá trình trả nợ. Trong từng trường hợp sẽ xác định thời hạn vay cụ thể, phụ thuộc vào quy mô của món vay, thu nhập trung bình mỗi tháng và sự lựa chọn thời hạn vay theo khách hàng là phù hợp với họ nhất để thực hiện việc trả góp hàng ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 61 tháng. Nếu như có nhiều khách hàng vay vốn với thời hạn dài thì sẽ làm dư nợ của ngân hàng đạt mức cao hơn, và việc thu lãi từ số dư nợ này sẽ đem lại cho ngân hàng món lợi lớn. 3.3.1.3 Mở rộng mạng lưới Chi nhánh ở một số huyện, thị trấn trên địa bàn Cho vay tiêu dùng là hình thức cho vay trả góp hàng tháng nên việc trả nợ duy trì trong một thời gian dài, mang tính thường xuyên, liên tục. Mặc khác các doanh nghiệp hay những cá nhân vay vốn lại phân bố rải rác trên nhiều huyện, thị trấn khác nhau. Chính vì thế mà hệ thống mạng lưới các chi nhánh càng rộng sẽ càng dễ tiếp cận để cho vay tiêu dùng đối với khách hàng và tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong quá trình đi trả góp hàng tháng. Bên cạnh đó, khi ngân hàng muốn tăng DSCV nói chung và DSCV tiêu dùng nói riêng thì việc phát triển số lượng trên cùng một địa điểm sẽ là không có tác dụng vì thị trường trên địa phương đó không vì thế mà phát triển lên. Vậy muốn tăng được dư nợ của loại hình này, chúng ta phải phát triển thêm những chi nhánh mới, hướng đối tượng khách hàng của mình sang những doanh nghiệp cũng như những cá nhân chưa thực hiện vay tiêu dùng trên những địa bàn khác nhau. Muốn thế phải có mạng lưới Chi nhánh phân bố đến từng địa bàn, nhất là những khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh lớn. Đây còn là cơ hội cho ngân hàng nâng cao được doanh số cho vay thông qua việc cấp vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp có nhu cầu, đồng thời thực hiện các dịch vụ ngân hàng khác như chuyển tiền, thanh toán, mở tài khoản... 3.3.1.4 Tăng cường công tác quảng bá thương hiệu Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiếp thị trong kinh doanh ngân hàng và áp dụng vào thực tiễn sẽ tạo được hiệu quả tích cực và có tính chiến lược lâu dài. Chi nhánh hiện nay đã tiến hành một số hoạt động quảng bá nhưng để thực hiện hiệu quả thì ngân hàng cần xây dựng một chính sách cụ thể. Mục đích của hoạt động quảng bá là nhằm thu hút khách hàng tiếp cận và sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Mặt khác, tạo ấn tượng tốt đối với khách hàng, cải tiến bộ mặt, tăng danh tiếng và uy tín của ngân hàng. Các hoạt động cụ thể như sau: - Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng: sách báo, tạp chí ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 62 - Tham gia tài trợ, đồng tài trợ cho các chương trình thể thao, giải trí trên địa bàn. - Tham gia các hội chợ triển lãm; tham gia công tác từ thiện, khuyến học, bảo vệ môi trường, - Nâng cao phong cách giao dịch hiện đại, văn minh, lịch sự đối với mỗi giao dịch viên. - Trên website của ngân hàng, nên thường xuyên cập nhật, bổ sung thông tin về các sản phẩm dịch vụ, các hoạt động thường nhật của ngân hàng, đặc biệt là danh mục cho vay tiêu dùng để khách hàng có thể nắm bắt dễ dàng. 3.3.1.5 Đa dạng hóa các hình thức cho vay Để phát huy hết hiệu quả, bên cạnh những hình thức cho vay hiện tại, Chi nhánh cần mở rộng và đa dạng hóa các hình thức cho vay tiêu dùng. Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh trong thời gian qua chủ yếu là cho vay không có TSĐB đối với CBCNV làm việc trong các doanh nghiệp quốc doanh, còn đối với CBCNV làm việc trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì muốn vay phải có TSĐB. Việc này đã làm giảm đi một lượng khách hàng đáng kể. Do vậy, Chi nhánh cần mở rộng đối tượng cho vay, đồng thời đa dạng hóa các hình thức cho vay để thu hút thêm nhiều khách hàng mới, tăng doanh số cho vay. Cụ thể như sau: a, Hoàn thiện các sản phẩm cho vay tiêu dùng không có đảm bảo bằng tài sản đối với CBCNV thông qua phương thức người đại diện Trong quá trình mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng, cả ngân hàng và khách hàng, mà cụ thể ở đây là CBCNV vay không có TSĐB (vay trả theo tiền lương hàng tháng), đều gặp phải những khó khăn. - Đối với ngân hàng khó khăn ở chỗ: + Số lượng món vay tiêu dùng nhiều nhưng giá trị món vay nhỏ khiến cho Ngân hàng mất nhiều thời gian, tốn kém chi phí trong việc thẩm định, xét duyệt cho vay, kiểm tra sử dụng vốn và thu nợ. + Ngoài ra còn có những rủi ro khách quan đến từ phía khách hàng như bệnh tật, giảm biên chế, tai nạn, mất việc làm - Đối với người vay khó khăn ở chỗ: ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ U Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 63 + Khó khăn của khách hàng là ở chỗ họ cũng làm việc vào giờ hành chính nên khó giao dịch với ngân hàng vào giờ hành chính. Đến hạn trả nợ mỗi tháng, khách hàng phải đến ngân hàng làm thủ tục trả nợ, mất thời gian đi lại và giao dịch. Do đó, cần thiết phải cho vay qua người đại diện. Muốn thực hiện được điều này thì cần phải có kế hoạch thay đổi chính sách, nhằm tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thu nợ, phải chú ý đảm bảo quyền lợi cho người đại diện. b, Hoàn thiện công tác thẩm định, định giá trong hình thức cho vay có tài sản đảm bảo là bất động sản Hiện nay, phần lớn cán bộ tín dụng thường tự mình thu thập tài liệu về định giá tài sản nhà đất, điều này gây khó khăn không nhỏ cho công tác định giá của cán bộ tín dụng như là định giá không phù hợp dẫn đến gây thiệt hại rất nhiều cho ngân hàng. Một giải pháp có thể khắc phục được tình trạng trên là Hội sở nên thành lập một bản thông tin bất động sản, cung cấp thông tin về nhà đất, định giá và môi giới nhà đất nhằm hỗ trợ cho hoạt động tín dụng để tránh khỏi thiệt hại xảy ra đối với ngân hàng. c, Đa dạng hóa phương thức hoàn trả nợ gốc và lãi Phương thức hoàn trả nợ gốc và lãi cho vay tiêu dùng chủ yếu là trả theo định kỳ theo tháng. Trong khi đó phương thức hoàn trả qua các quý, nửa năm hay trong năm chưa được áp dụng. Do ở thời gian này, đối tượng vay chủ yếu là CBCNV, họ trả nợ từ tiền lương hàng tháng. Nhưng khi mở rộng đối tượng cho vay, nhiều người có nguồn thu nhập biến động theo mùa, theo quý thì việc áp dụng phương thức hoàn trả theo tháng sẽ gây khó khăn cho họ. Ngoài ra có nhiều khách hàng muốn trả nợ theo quý, theo năm để bớt thời gian giao dịch với ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng nên để cho khách hàng tự lựa chọn phương thức trả nợ của mình, nhưng phải kiểm tra và giúp họ phương thức trả nợ tốt nhất. 3.3.2 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ - nhân viên Muốn mở rộng hoạt động cho vay thì năng lực tài chính của ngân hàng phải đảm bảo. Một trong những yếu tố tác động lớn đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng là đội ngũ CBTD. Ngân hàng cần phải quan tâm thực hiện các giải pháp: - Về công tác tuyển dụng: ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 64 + Tiêu chuẩn tuyển dụng phải phù hợp với tính chất công việc, nghiệp vụ địa bàn cần tuyển. Công tác tuyển dụng nên được tiến hành chặt chẽ, công khai, minh bạch, phù hợp với quy chế của Chi nhánh nhằm thu hút được những nhân viên mới có trình độ, năng lực. Sau khi tuyển dụng xong, Chi nhánh nên tiếp tục tổ chức đào tạo lực lượng cán bộ mới này, bởi một cán bộ tín dụng không chỉ đơn thuần là người cho vay vốn mà còn phải là người tư vấn cho khách hàng về khả năng sản xuất kinh doanh, góp ý cho khách hàng về những sai sót trong phương án kinh doanh, Do đó, đòi hỏi CBTD vừa phải nắm chắc chuyên môn nghiệp vụ vừa phải am hiểu và có kinh nghiệm thực tế về tất cả các lĩnh khác nhau. - Bố trí nhân lực: + Bố trí nhân viên vào những vị trí phù hợp với trình độ, năng lực, chuyên môn đào tạo, sở trường của họ để từ đó nâng cao hiệu quả công việc. Đối với những cán bộ không đủ phẩm chất đạo đức hoặc không nắm chắc chuyên môn nghiệp vụ cơ bản thì kiên quyết cho thôi việc hoặc chuyển sang bộ phận khác. - Vấn đề thưởng phạt: + Chi nhánh cần có một chế độ lương, thưởng phù hợp để kích thích tinh thần hăng say làm việc, cống hiến hết mình của nhân viên cho sự nghiệp chung của ngân hàng từ đó hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Tránh tình trạng hưởng lương theo doanh số cho vay làm cho nhân viên chỉ quan tâm đến số lượng mà không quan tâm đến chất lượng. + Cùng với chế độ lương, thưởng hợp lý thì Chi nhánh cũng phải nghiêm khắc xử lý những cá nhân vì những nguyên nhân chủ quan đã làm thất thoát vốn của Chi nhánh. Đối với những cá nhân gây thất thoát vốn của Chi nhánh thì phải đền bù thiệt hại bằng vật chất, có như vậy thì nhân viên của Chi nhánh mới làm việc cẩn thận hơn và do đó hạn chế bớt rủi ro. - Vấn đề bồi dưỡng cán bộ: + Tổ chức các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ, yêu cầu tất cả các cán bộ tín dụng phải nắm vững và thực hiện đúng các cơ chế, quy chế, quy định nghiệp vụ tín dụng; năng động nhạy bén trong công việc, có tinh thần trách nhiệm cao; thường xuyên tổng kết ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 65 rút kinh nghiệm giữa các cán bộ làm công tác tín dụng trong công tác xét duyệt cho vay, xử lý thu hồi nợ + Thường xuyên mở các lớp tập huấn chất lượng cao, phát động phong trào tìm hiểu về luật NHNN, luật các TCTD, bộ luật Dân sự, trong toàn thể CBCNV, tạo điều kiện cho cán bộ tín dụng tìm hiểu chuyên sâu vào những ngành nghề lĩnh vực mà Chi nhánh có đầu tư vốn và qua đó thông hiểu cơ chế chính sách pháp luật. + Hàng năm phải thực hiện thi tay nghề, kết hợp với đánh giá, phân loại cán bộ tín dụng có năng lực, có phẩm chất đạo đức, để có chế độ thưởng phạt nghiêm minh. 3.3.3 Đẩy mạnh công tác hạn chế và xử lý nợ quá hạn Nợ quá hạn là khoản không thể thiếu trong hoạt động của các ngân hàng; nhưng tồn tại như thế nào, tăng trưởng như thế nào lại là vấn đề mà các ngân hàng cần giải quyết triệt để để có thể duy trì nợ quá hạn ở một khoảng mà vẫn đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng. 3.3.3.1 Thu thập, phân tích thông tin khách hàng một cách chặt chẽ Việc xác minh thông tin khách hàng góp một phần không nhỏ vào hiệu quả hoạt động cho vay, giúp hạn chế rủi ro có thể xảy ra. Do đó, cần chú trọng thực hiện công tác này một cách chặt chẻ và khoa học. Ngay khi tiếp xúc với khách hàng vay vốn, CBTD phải tiến hành phân tích kỹ lưỡng thông tin khách hàng, xác định và phân loại khách hàng ngay từ đầu để phát hiện kịp thời những rủi ro có thể xảy ra. Cần thiết phải kiểm tra khách hàng có đủ tư cách pháp lý hay không, tình trạng kinh tế ra sao, mức thu nhập thế nào. Xác minh, tăng cường thu thập thông tin về khách hàng chính xác để tránh việc đánh giá sai lầm khách hàng, làm mất đi những khách hàng có nhiều tiềm năng khác trong tương lai. Đối với những khách hàng có quan hệ lâu năm với Chi nhánh thì việc nắm bắt thông tin khá dễ dàng, tuy nhiên cũng không vì vậy mà chủ quan bỏ qua việc xác minh hoặc làm sơ xài vì có thể có những vấn đề mới phát sinh, có những thay đổi mà khách hàng cố tình giấu diếm. 3.3.3.2 Chú trọng công tác thẩm định khách hàng Một công việc được xem là quan trọng trong việc hạn chế nợ quá hạn tại Chi nhánh là thẩm định: nếu thẩm định tốt, chính xác về khách hàng thì việc trả nợ của khách ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 66 hàng đối với Chi nhánh sẽ được thực hiện tốt, nhưng nếu thẩm định sai, không chặt chẽ sẽ dẫn đến cho vay không hiệu quả, không đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng, từ đó nảy sinh nợ quá hạn. Vậy để hạn chế nợ quá hạn, các nhân viên tín dụng cần thẩm định kỹ những vấn đề sau: a, Thẩm định trước khi cho vay + Tư cách người đi vay: Tư cách người đi vay ở đây chính là tình trạng hợp pháp của khách hàng đi vay. CBTD phải biết rõ khách hàng đó có đủ tư cách pháp lý không. Thẩm định tính pháp lý để đảm bảo sự đầu tư đúng hướng, đúng pháp luật, tránh những rủi ro không đáng có. + Khả năng trả nợ: Điều này được thể hiện qua thu nhập của khách hàng để đảm bảo chắc chắn sẽ trả được nợ vay, đồng thời CBTD có thể tư vấn cho khách hàng số tiền vay và thời hạn vay hợp lý nhất với khả năng trả nợ. + Tài sản bảo đảm: Tài sản bảo đảm được cầm cố, thế chấp tại ngân hàng để đảm bảo cho món vay, đề phòng trường hợp khách hàng không thể trả được nợ thì ngân hàng có thể phát mãi tài sản thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm phải đảm bảo bù đắp được chi phí, có lãi và bảo toàn được vốn, có khả năng tiêu thụ và cần phối hợp với sở ban ngành liên quan để đánh giá tính pháp lý của tài sản. CBTD cần cẩn trọng khi gặp những khách hàng có tài sản bảo đảm quá lớn. Phải luôn nhớ rằng, tài sản bảo đảm chỉ là nguồn thu nợ thứ 2, khi có sự xác nhận kinh doanh không tốt, món vay cần được từ chối và không cho phép tài sản bảo đảm ảnh hưởng đến quyết định này. b, Tăng cường công tác kiểm tra sau cho vay Kiểm tra sau cho vay để kiểm tra mục đích sử dụng vốn, tình hình trả nợ, tài sản đảm bảo, tình hình tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng nhằm có những biện pháp khống chế kịp thời, giảm nợ quá hạn cho Chi nhánh. Thực tế thì kiểm tra sau khi cho vay thường khiến khách hàng cảm thấy khó chịu, lại rất mất thời gian cho phía ngân hàng nên các nhân viên tín dụng thường ít kiểm tra đúng như quy định về thời gian, cách thức kiểm tra. Do đó, để cải thiện tình hình này thì Chi nhánh nên có sự linh động về thời gian kiểm tra sau cho vay, cần có sự thay đổi về kỳ kiểm tra, không nên với mọi khách hàng đều áp dụng mật độ kiểm tra giống nhau như hiện nay. Và khi kiểm tra phải thực hiện kiểm tra trên thực tế, phân tích đánh giá để phát hiện ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 67 kịp thời những bất thường, những rủi ro có thể xảy ra, tránh việc thực hiện trên giấy tờ mang tính đối phó hết sức nguy hiểm. Bên cạnh đó, qua công tác kiểm tra thực tế, CBTD cần tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc của khách hàng để kịp thời có những biện pháp tháo gỡ và ngân hàng có khả năng thu hồi nợ. 3.3.4 Giải pháp phòng ngừa và hạn chế những rủi ro trong hoạt động cho vay tiêu dùng 3.3.4.1 Trường hợp xảy ra những rủi ro dẫn đến giảm sút thu nhập hay mất việc làm của người vay vốn Để phòng tránh rủi ro trên, trước khi thực hiện cho vay tiêu dùng ngân hàng phải có được những thông tin đầy đủ và đúng nhất về lợi nhuận của doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất kinh doanh, thu nhập bình quân của CBCNV, xu hướng phát triển trong tương lai, thị trường cạnh tranh và tiềm năng phát triển... Qua đó có thể lựa chọn những doanh nghiệp tốt nhất để tiến hành cho vay tiêu dùng. Đồng thời nhằm hạn chế tổn thất cho ngân hàng do rủi ro trên xảy đến với doanh nghiệp hay cơ sở sản xuất kinh doanh trong khi đã tiến hành cho vay tiêu dùng, trong từng trường hợp cụ thể ngân hàng có những phương án xử lý như: - Khi thu nhập người lao động bị giảm sút làm khả năng trả nợ của người vay bị ảnh hưởng, cán bộ ngân hàng sẽ làm việc trực tiếp với từng cá nhân cụ thể. Dựa trên mức thu nhập đã điều chỉnh, kết hợp với các nguồn thu nhập khác nếu có, CBTD sẽ xây dựng phương án trả nợ mới phù hợp cho người đó. Tạo điều kiện để họ có thể tiếp tục trả nợ cho ngân hàng, nhưng vẫn đảm bảo cho cuộc sống. - Khi người lao động bị mất việc làm thì khả năng thu nợ của ngân hàng là rất thấp chính vì nguồn đảm bảo cho việc trả nợ đã mất. Trong trường hợp ngoài lương, người vay còn có những khoản thu nhập thường xuyên khác đủ khả năng trả nợ cho ngân hàng thì CBTD làm việc với người đó để họ vẫn duy trì việc trả nợ cho ngân hàng, bên cạnh đó bắt buộc thực hiện các biện pháp đảm bảo bằng tài sản như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Nếu người lao động không còn nguồn thu nhập nào khác ngoài lương thì do quá trình đóng BHXH trước đó nên khi người lao động nghỉ việc sẽ được hưởng một khoản trợ cấp từ quỹ BHXH, đây sẽ trở thành nguồn để ngân hàng có thể thu hồi được món nợ vay đó. Trong thời gian sắp đến, khi hoạt động của Quỹ trợ cấp ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 68 thất nghiệp được triển khai thì đây sẽ là nguồn thu nợ chính của ngân hàng trong trường hợp này. Mặc dù vẫn có thể thu hồi được nợ, nhưng hiệu quả của việc thu nợ thể hiện ở cách thức thu như thế nào, nên tốt hơn hết ngân hàng phải phòng tránh những rủi ro trên ngay từ đầu bằng việc xem xét về tiềm năng và xu hướng phát triển của doanh nghiệp đó trong tương lai để có được các món vay tiêu dùng thật sự có chất lượng. 3.3.4.2 Trường hợp xảy ra các rủi ro khách quan dẫn đến ốm đau, tai nạn, hay thiệt hại đến tính mạng của người vay vốn Trong trường hợp này tầm quan trọng của lãnh đạo doanh nghiệp được thể hiện rõ nhất, vì chính họ là những người nắm thông tin đầy đủ nhất về lao động làm việc cho mình. Chính vì vậy trong biên bản thoả thuận giữa ngân hàng và người đại diện doanh nghiệp phải có điều khoản về trách nhiệm doanh nghiệp trong việc cung cấp các thông tin có liên quan đến tình hình vay tiêu dùng một cách kịp thời cho ngân hàng biết để xử lý nếu có rủi ro xảy ra. - Nếu người vay bị ốm đau, tai nạn ở mức nhẹ thì CBTD không cần điều chỉnh lại phương án trả nợ vì sự mất cân bằng về tài chính này chỉ xảy ra trong thời gian ngắn, và họ đã có 75% lương làm nguồn trả nợ nên không ảnh hưởng nhiều đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng . Trong trường hợp tai nạn, bệnh nghề nghiệp xảy ra làm ảnh hưởng đến khả năng lao động, thu nhập của người vay trong thời gian dài thì ngân hàng phải có phương án điều chỉnh kỳ hạn cũng như số tiền trả nợ cho phù hợp dựa trên thu nhập thực tế tại doanh nghiệp và cụ thể số tiền trợ cấp từ Quỹ bảo hiểm. Người bị rủi ro sẽ được hưởng từ Quỹ bảo hiểm số tiền trợ cấp 1 lần từ 4-12 tháng lương nếu mức suy giảm khả năng lao động từ 5-30% và được hưởng mức trợ cấp hàng tháng từ 1-3 triệu đồng tháng lương tương ứng với mức suy giảm khả năng lao động là từ 31-100%. - Trường hợp thiệt hại tính mạng người lao động do rủi ro khách quan đem lại, thì nguồn thu nợ chủ yếu của ngân hàng là từ Quỹ bảo hiểm của người đó, ngoài ra ở một số doanh nghiệp còn có các quỹ tại doanh nghiệp khác hình thành từ thâm niên, tiền thưởng của người lao động, đây là nguồn thu nợ của ngân hàng trong trường hợp có rủi ro xảy ra. Lãnh đạo doanh nghiệp phải có trách nhiệm khi xác nhận cho người lao ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 69 động vay vốn ngân hàng bằng việc thông tin nhanh nhất cho ngân hàng về rủi ro xảy ra và cùng phối hợp với ngân hàng để giải quyết trong trường hợp này. Ngoài số tiền tuất của người đó, Quỹ BHXH sẽ trợ cấp thêm số tiền bằng 24 tháng tiền lương tối thiểu. Số tiền này và số tiền trích từ các quỹ của người lao động tại doanh nghiệp được dùng để thanh toán hết các nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Và lãnh đạo doanh nghiệp là người có nghĩa vụ trích tất cả các khoản thu mà người đó được để thanh toán trong trường hợp này. Tuỳ vào thương lượng của doanh nghiệp và ngân hàng mà ngân hàng chỉ thu số tiền gốc còn lại thôi, không thu tiền lãi đối với khoản vay đó. Xem như đây là sự chia sẻ từ phía ngân hàng trong rủi ro không may này. 3.3.4.3 Trường hợp xảy ra rủi ro từ phía chủ quan của người đi vay - Trường hợp người vay cố tình không trả nợ: đi kèm với hồ sơ vay vốn có sự xác nhận của doanh nghiệp, nên có thêm phần cam kết bắt buộc người đi vay thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng, nếu không sẽ chịu các hình thức xử phạt về lợi ích vật chất tại doanh nghiệp. Lúc này doanh nghiệp với tư cách là người đại diện chấp nhận cho CBCNV của mình vay vốn phải có những qui định cụ thể về việc xử lý các hành vi vi phạm hợp đồng tín dụng tiêu dùng giữa người vay với ngân hàng và đã có sự chấp nhận từ phía người vay, ví dụ: + Quy định các CBCNV nào có tên trong danh sách không trả nợ nữa và ngân hàng được báo về đơn vị sẽ bị cắt thưởng của tháng đó. Thông thường đây là những người không trả nợ vay từ 3 tháng trở lên. + Trường hợp nặng hơn, nếu người đó tiếp tục không trả nợ và ngân hàng đã gửi giấy báo về nhiều lần thì người đó sẽ bị cắt thi đua của quý hay của năm đó. + Ở một số doanh nghiệp, đơn vị khi mà giá trị tiền thưởng không lớn hay yếu tố thi đua không được coi trọng, thì doanh nghiệp nên áp dụng phương thức “giam lương” của người đó cho đến khi họ thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Đây là hình thức có thể nói phù hợp nhất trong việc xử lý các loại rủi ro như thế này. - Nếu trường hợp người vay tiêu dùng nghỉ việc tại doanh nghiệp đó và chuyển sang làm việc tại đơn vị mới thì doanh nghiệp đó phải có trách nhiệm thông báo với ngân hàng về danh sách số người này, đồng thời doanh nghiệp chỉ ký chấp nhận đơn xin chuyển công tác nếu người đó chứng minh được là đã hoàn thành xong việc trả nợ ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 70 cho ngân hàng. - Trong trường hợp người vay nghỉ hay bỏ việc bất thường, không có sự đồng ý của lãnh đạo doanh nghiệp thì người đại diện doanh nghiệp phải có trách nhiệm với món vay đó. Người đại diện cho đơn vị hoàn toàn có quyền ký chấp nhận để trích quỹ bảo hiểm của người mang nợ đó trả nợ cho ngân hàng. Vì theo điều 4 Điều lệ BHXH thì quyền hưởng BHXH của người lao động có thể bị đình chỉ hoặc cắt giảm hoặc huỷ bỏ khi người lao động vi phạm pháp luật. 3.3.4.4 Trường hợp xảy ra rủi ro do tình hình biến động kinh tế Khi những nguyên nhân khách quan như biến động về bất động sản, làm cho giá của các tài sản mà người vay thế chấp cho ngân hàng khi vay giảm thấp so với tại thời điểm ngân hàng định giá tài sản. Và vào lúc này người vay không trả nợ thì dẫu cho ngân hàng phát mại tài sản cũng không thu hồi đủ nợ của người đó. Đây là rủi ro rất hiếm xảy ra, nhưng để tránh trường hợp này xảy ra thì ngân hàng phải làm tốt công tác thẩm định trước khi quyết định cho vay như: xem xét giấy tờ sở hữu tài sản của người vay, tình hình tài chính của người bảo lãnh, định giá tài sản đó. Nhưng nếu trường hợp này đã xảy ra rồi thì tiền thu được do phát mại tài sản thế chấp thanh toán theo thứ tự sau: Trả nợ gốc và lãi vay, trả các chi phí bảo quản, phát mại, tố tụng, phần còn thiếu mà ngân hàng chưa thu đủ thì tiếp tục tìm các nguồn khác để trả nợ. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 71 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ A - KẾT LUẬN Qua quá trình tìm hiểu hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà cho thấy ngân hàng thực hiện tốt nhiệm vụ của cấp trên giao, hỗ trợ, cung ứng vốn theo nhu cầu người dân, giúp hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, ngày càng đẩy mạnh công tác mở rộng thị phần, luôn giữ một vị thế quan trọng trên địa bàn. Ngoài ra quy trình thủ tục cho vay ở ngân hàng được thực hiện một cách có hiệu quả và khoa học. Từ đó rút ngắn được thời gian cho vay, tạo uy tín, niềm tin cho khách hàng hiện tại, thu hút thêm nhiều khách hàng mới. Mặc dù tình hình kinh tế trong tỉnh ít bị biến động lớn trong những năm qua, tuy nhiên sự xuất hiện của nhiều NHTM lớn trên địa bàn đã đặt ngân hàng vào thế cạnh tranh gay gắt. Từ những kết quả đạt được làm cho lợi nhuận của ngân hàng ngày càng tăng trưởng và đạt ở mức cao, điều này cho thấy hiệu quả hoạt động của ngân hàng, đặc biệt hoạt động cho vay ngày càng tiến triển tốt đẹp mặc dù gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh những tích cực của hoạt động tín dụng mang lại ngân hàng cần quan tâm hơn nữa đến hoạt động huy động vốn nhằm tạo sự cân đối giữa đầu vào và đầu ra để chủ động hơn về nguồn vốn trong việc cho vay, đồng thời đẩy mạnh công tác thu nợ nhằm giảm thiếu nợ quá hạn. Để thích ứng với môi trường cạnh tranh chung Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà đã và đang có những chính sách đúng đắn, sáng tạo, không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng, mở rộng thêm nhiều hoạt động tín dụng theo chiều hướng đa năng, nhanh chóng hoà nhập vào sự phát triển chung của hệ thống NHTM. Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới yếu tố này càng đóng vai trò quan trọng, mỗi nhân viên, mỗi phòng ban là một thành phần trong sự nghiệp phát triển của Chi nhánh. Với một đội ngũ nhân viên trẻ, khả năng nghiệp vụ cao, làm việc năng động, luôn luôn sáng tạo, hy vọng rằng Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà sẽ phát triển hơn nữa, bằng việc nâng cao chất lượng, đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ ngân hàng để có thể cạnh tranh với các NHTM khác trên địa bàn tỉnh Quảng Trị nói riêng và trên thị trường nói chung. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 72 B - KIẾN NGHỊ * Đối với NHNN Hoạt động của NHTM mục tiêu là lợi nhuận, để đảm bảo được vốn nhà nước giao theo vốn điều lệ cũng như bảo đảm khả năng thanh khoản cho khách hàng. Do đó khi yêu cầu hệ thống NHNo là đầu mối trong cho vay khắc phục hậu quả phải xây dựng cơ chế phù hợp, không ảnh hưởng đến tình hình tài chính của NHTM. * Đối với địa phương Tiến hành sắp xếp các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước làm ăn kém hiệu quả, kết hợp với việc khoán, bán, cho thuê... Tiến hành quy hoạch phát triển, xây dựng các dự án khả thi phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của địa phương. Đề xuất phương án, dự án hiệu quả, xin phép cải tạo, xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng của địa phương. Tiến hành thực hiện cải cách hành chính, tiến hành làm việc một cửa. Tạo cơ chế thông thoáng cho người dân khi làm, đăng ký giấy tờ được thuận lợi. * Đối với NHNo & PTNT Việt Nam NHNo & PTNT Việt Nam có chính sách ưu đãi về thu nhập... tạo động lực giúp cán bộ tín dụng phấn đấu trong công tác và nâng cao chuyên môn. Khi đơn vị xây dựng được những chính sách cho vay khả thi, NHNo Việt Nam tạo thuận lợi trong nguồn vay, cung ứng thêm vốn.Tạo điều kiện phát triển những sản phẩm dịch vụ mới. * Đối với Chi nhánh NHNo & PTNT Thành phố Đông Hà Tiếp tục gắn bó hoạt động của ngân hàng với điạ phương, tranh thủ sự giúp đỡ của các ban ngành. Mở rộng tạo mối quan hệ với các cơ quan chức năng các phường, xã lân cận, tạo điều kiện cho dân cư những vùng này dễ dàng thực hiện vay vốn tại Chi nhánh. Hỗ trợ, khuyến khích cán bộ trong cơ quan đưa ra những đề án mới trong khi vay và cho vay. Qua đó để phát hiện, bồi dưỡng những nhân tố tích cực làm nồng cốt cho đơn vị. ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Trần Hữu Tuấn SVTH: Hoàng Thị Như Trang Trang 73 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. PGS.TS Phan Thị Cúc – Năm 2008 – Giáo trình nghiệp vụ Ngân hàng thương mại – NXB Thống kê. 2. TS Nguyễn Minh Kiều – Năm 2009 – Tín dụng và thẩm định tín dụng ngân hàng – NXB Thống kê. 3. Giảng viên Th.S Nguyễn Thị Tuyên Ngôn biên soạn – Năm 2011 – Tập bài giảng Tổng quan Nghiệp vụ ngân hàng thương mại – Trường Đại Học Duy Tân – Khoa QTKD. 4. PGS.TS Phan Thị Cúc, NCS.ThS Đoàn Văn Huy, Th.S Nguyễn Văn Kiên – Năm 2010 – Tín dụng ngân hàng – NXB Thống kê 5. Luật các tổ chức tín dụng 2010 Các website: 6. Quyết định 67/1999/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ về một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn. 7. Sổ tay tín dụng, NHNo&PTNT Việt Nam NXB, Hà Nộ tháng 7 năm 2004. 8. Các báo cáo hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHNo&PTNT Thành phố Đông Hà các năm 2010, 2011, 2012. 9. Các tạp chí Ngân hàng các năm 2010, 2011, 2012. 10. Một số khoá luận các khoá trước.ĐA ̣I H ỌC KI NH TÊ ́ HU Ế

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfk43a_khdt_hoang_thi_nhu_trang_8879.pdf