Luận án Giải pháp tài chính phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập

Đất đai là một trong những cản trở lớn nhất đối với hoạt động đầu tư, SXKD của các DNNVV Hà Nội bởi Hà Nội là Thành phố có mật độ dân cư cao, quá trình đô thị quá với tốc độ lớn. Do không có khả năng tiếp cận đất đai với chi phí và thủ tục hợp lý, nên các DNNVV khó có thể tiếp cận các nguồn tài chính cần thiết cho tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh. Trước tình trạng khó khăn khi tiếp cận việc thuê đất, nhiều DNNVV đã sử dụng đất ở của gia đình vào mục đích SXKD. Tuy nhiên, thuế chuyển mục đích sử dụng đất quá cao và thủ tục chuyển đổi phức tạp đã góp phần làm tăng chi phí sản xuất của DN. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Nghị định 36/CP cho phép UBND cấp tỉnh được quyết định thành lập và phê duyệt các dự án đầu tư xây dựng khu công nghiệp quy mô nhỏ nhằm thống nhất quản lý đối với mô hình khu, cụm, điểm công nghiệp.

pdf213 trang | Chia sẻ: tueminh09 | Ngày: 09/02/2022 | Lượt xem: 10 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Giải pháp tài chính phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố hà nội trong thời kỳ hội nhập, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
quan trọng của DNNVV đồng thời thực thi nhiều chính sách hỗ trợ tài chính cho các DNNVV phát triển, các NHTM cần duy trì lãi suất cho 176 vay đối với khách hàng DNNVV một mức giá hợp lý và phù hợp với thị trường. Chính vì vậy, việc định giá chính xác để tìm ra lãi suất hợp lý cho NH là vấn đề cấp thiết hiện nay. - Xuất phát từ những khó khăn mà các DNNVV Hà Nội gặp phải trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng từ NH. Để hỗ trợ vốn cho các DNNVV Hà Nội, thì hoàn thiện sử dụng giải pháp tín dụng theo hướng: + Thành phố tạo lập cơ chế khuyến khích các NHTM thực hiện việc khoanh nợ, giãn nợ và tiếp tục cho vay để DNNVV duy trì hoạt động và trả nợ thay vì phá sản. Các TCTD cần nới lỏng tiêu chí và hình thức bảo lãnh để DNNVV tiếp cận và có thể vay vốn để duy trì hoạt động SXKD. + Thành phố nghiên cứu, ban hành cơ chế, chính sách khuyển khích các NHTM trên địa bàn tăng mức dư nợ tín dụng và ưu tiên nguồn vốn cho các DNNVV trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Nguồn vốn hỗ trợ các DN, Thành phố sẽ kêu gọi Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính bố trí nguồn ngân sách từ nguồn trợ giúp phát triển DNNVV. + Các TCTD cần giảm các điều kiện vay đối với các DNNVV. Có cơ chế, chính sách tiền tệ tín dụng phù hợp với việc đầu tư vốn cho DNNVV mở rộng quy mô hoạt động. Vì hiện nay nhiều DN thương mại, làng nghề muốn vay số vốn hàng trăm triệu đồng trở lên, thời gian 3-5 năm để đầu tư cơ sở vật chất, nâng cao dây chuyền công nghệ sản xuất nhưng nhà xưởng thế chấp chưa đủ yếu tố pháp lý (sổ đỏ), hoặc tài sản thế chấp không đủ giá trị cần thiết và nhiều thủ tục quy định khác mà NH không thể cho vay... Do vậy, cùng với việc ban hành các cơ chế, chính sách tạo hành lang pháp lý cho NH và DN thì UBND Thành phố cần phát huy vai trò của Quỹ bảo lãnh tín dụng để trợ giúp DNNVV khi không đủ tài sản thế chấp có thể vay được nguồn vốn cần thiết phục vụ SXKD. - Trên cơ sở chiến lược tổng thể và chiến lược định hướng phát triển KTXH của Thủ đô đến năm 2020,2030, các TCTD cần bám sát các chương 177 trình phát triển DNNVV nhất là các làng nghề truyền thống, các hộ gia đình... để xác định điểm đầu tư và định mức đầu tư đối với các loại hình làng nghề chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, chế biến nông - lâm - thuỷ sản để tăng cường phục vụ, cải tiến đầu tư, mở ra khả năng tiếp cận vốn rộng rãi hơn. Có như vậy các làng nghề truyền thống mới có thể đi vào CNH,HĐH, hình thành các cụm công nghiệp và dịch vụ lớn, thu hút lao động nhàn rỗi, đưa văn minh công nghiệp vào các làng nghề truyền thống. - Các TCTD cần có các biện pháp khuyến khích DNNVV vay vốn đầu tư phát triển SXKD như nâng mức cho vay không có đảm bảo đối với các cơ sở sản xuất các mặt hàng tiểu thủ công, hàng may mặc xuất khẩu... Bên cạnh việc thẩm định giá trị tài sản thế chấp là nhà xưởng, tài sản gắn liền với đất đã trong vùng quy hoạch ổn định, có đầy đủ hồ sơ pháp lý thì nên cân nhắc để có định giá hợp lý nhằm nâng mức vay có thế chấp tương ứng giá trị tài sản đảm bảo. Vấn đề này trong luật đất đai đã được tiếp cận và trao quyền rộng rãi hơn cho người sử dụng đất. - Để giảm thiểu thời gian thẩm định dự án, tạo điều kiện cho các DNNVV nhanh chóng tiếp cận vốn vay, các TCTD cần bố trí cán bộ thẩm định dự án đầu tư chuyên trách ở từng đơn vị trực tiếp cho vay. Đây là vấn đề mà thực tế cho thấy chuyên môn hoá trong hoạt động NH nói chung và trong lĩnh vực cho vay nói riêng, đặc biệt là cho vay các DNNVV sẽ tạo ra những hiệu quả nhất định trong việc phục vụ các yêu cầu của khách hàng, đảm bảo an toàn cho nguồn vốn vay của NH. - Thành phố cần có chính sách khuyến khích phát triển, mở rộng các TCTD cổ phần, các NH hợp tác xã ở tại xã, phường, làng nghề truyền thống để tạo thêm kênh dẫn vốn đến DNNVV, các chủ trang trại, các hộ SXKD. 3.2.3.2. Đối với ngành ngân hàng * Đối với NHNN. 178 Để tạo điều kiện phát triển DNNVV, NHNN cần quan tâm một số vấn đề khi sử dụng công cụ lãi suất thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế, cụ thể: - Điều hành chính sách lãi suất linh hoạt, kịp thời. Việc sử dụng công cụ lãi suất cần đảm bảo duy trì mặt bằng lãi suất ổn định, phù hợp với cơ chế thị trường trên cơ sở xử lý tốt mối quan hệ về lợi ích của người gửi tiền, các NH và người vay tiền. - Tăng cường năng lực dự báo của NHNN và sớm đưa ra các giải pháp điều tiết mang tính “đón đầu” để tránh các cú sốc về lãi suất, gây tổn thương cho các chủ thể nhất là các DNNVV trong nền kinh tế. Dự báo tình hình kinh tế vĩ mô, xu hướng thị trường trong nước và quốc tế, sự biến động tăng giảm của các luồng vốn, về cung cầu, lãi suất, chính sách tiền tệ,... tạo điều kiện giúp NHTM định hướng trong hoạt động kinh doanh, từ đó NHTM có thể xây dựng chính sách lãi suất phù hợp, tạo điều kiện cho các DNNVV có thể tiếp cận vốn vay với lãi suất hợp lý. - Củng cố và phát triển thị trường tiền tệ, khuyến khích phát triển đồng bộ thị trường tài chính, đa dạng hoá các kênh huy động vốn trong nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng tăng của các DNNVV, hạn chế sự phát triển của thị trường tài chính ngầm. - Điều hành linh hoạt, mềm dẻo, thận trọng các công cụ của chính sách tiền tệ, hạn chế gây sốc cho các NHTM và DNNVV. - Để phát huy hơn nữa vai trò của lãi suất cơ bản, NHNN nên nghiên cứu điều hành đồng bộ với các công cụ chính sách tiền tệ, chính sách tài khoá,... bảo đảm cho NHTM tự do cạnh tranh theo pháp luật mà không bị khống chế bởi những quy định ràng buộc của NHNN. - Cần có cơ chế khuyến khích hỗ trợ các NHTM giảm lãi suất cho vay đối với các DNNVV sản xuất hàng xuất khẩu, ưu tiên cấp tín dụng và đảm bảo cung ứng đủ vốn cho DN thu mua nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, nhất là các mặt hàng mà DNNVV có thế mạnh. 179 * Đối với các NHTM. Để tồn tại và phát triển, các NHTM luôn phải duy trì chính sách lãi suất dương, có nghĩa lãi suất cho vay phải bù đắp được lãi suất huy động, các chi phí hoạt động của NHTM và có lãi. Các NHTM luôn mong muốn đạt được mức lãi suất cho vay cao nhất với mức dư nợ vốn vay không đổi, tuy nhiên về bản chất kinh tế thì lãi suất cho vay lại có nguồn gốc từ lợi nhuận của DN, do vậy NHTM chỉ có thể tồn tại được nếu hoạt động SXKD của DN có hiệu quả. Vì vậy, khi thực hiện chính sách lãi suất nhằm thúc đẩy sự phát triển của DNNVV, các NHTM cần quan tâm một số vấn đề sau: - Chủ động nắm bắt phân tích thông tin, tín hiệu về chính sách lãi suất, cơ chế điều hành lãi suất của NHNN để có cơ sở hoạch định chính sách lãi suất và điều hành chính sách lãi suất tiền gửi, tiền vay của NHTM. Nâng cao năng lực phân tích và dự báo, chủ động trong định hướng lãi suất thị trường, từ đó có phản ứng kịp thời phù hợp với diễn biến thị trường và những thay đổi về chính sách lãi suất của NHNN. - Nâng cao năng lực quản trị rủi ro thanh khoản, rủi ro ngoại hối, rủi ro lãi suất, rủi ro chính sách,... đặc biệt quan tâm đến ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản trị rủi ro. Đồng thời chú trọng đến việc hoàn thiện bộ máy quản trị rủi ro, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác quản trị rủi ro, nhất là rủi ro lãi suất. - Phân tích đánh giá chính xác mức sinh lời hay hiệu quả đồng vốn của DNNVV từ đó xác định lãi suất cho vay hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho cả NH và DN đều có thể tồn tại và phát triển. - Nâng cao khả năng dự báo và thực hiện tốt vai trò tư vấn về lãi suất cho vay đối với khách hàng để giúp DNNVV phòng ngừa và hạn chế rủi ro cho chính DN và cho cả NHTM. - Cung cấp các dịch vụ tài chính phái sinh với tần suất và chất lượng cao hơn nữa làm công cụ phòng ngừa rủi ro lãi suất cho các DNNVV. 180 - Thực hiện chính sách ưu đãi, chia sẻ khó khăn về lãi suất với các khách hàng gặp khó khăn trong khả năng của mình, qua đó hỗ trợ DNNVV phát triển bền vững và gắn bó chặt chẽ với NH. - Phát huy vai trò của hiệp hội NH trong việc thực hiện chính sách lãi suất ổn định, cùng mặt bằng để vừa đảm bảo lợi ích kinh doanh của NH vừa tránh những xáo trộn về mặt bằng lãi suất gây ảnh hưởng đến nền kinh tế. * Đối với các DNNVV. - Tính toán, dự báo đầy đủ, chính xác chi phí lãi vay khi xem xét đánh giá hiệu quả và quyết định thực hiện đối với các phương án, dự án đầu tư. - Tích cực và chủ động thực hiện các công cụ phòng ngừa rủi ro về lãi suất thông qua việc khai thác, sử dụng các dịch vụ phái sinh để bảo hiểm các rủi ro do biến động lãi suất trên thị trường. - Trích lập đầy đủ các quỹ dự phòng về tài chính trong hoạt động SXKD nhằm giúp DN có thể đứng vững trước những cú sốc về lãi suất. - Sử dụng thận trọng, linh hoạt các công cụ đòn bẩy tài chính trong hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu gia tăng lợi nhuận, đồng thời hạn chế rủi ro thua lỗ khi lãi suất biến động ngoài dự đoán. - Thường xuyên tăng cường năng lực, tự chủ về tài chính, tổ chức hoạt động SXKD có hiệu quả để tăng nguồn vốn tích luỹ nội bộ, đa dạng hoá các kênh huy động vốn, giảm dần việc DNNVV phụ thuộc quá lớn vào nguồn vốn vay từ các NHTM, TCTD. Để tín dụng có thể phát huy vai trò giúp DNNVV tháo gỡ khó khăn về vốn cần có cải cách đồng bộ từ NHNN, NHTM và chính DNNVV. 3.2.4. Một số đề xuất về hoàn thiện giải pháp tín dụng 3.2.4.1. Đối với ngành ngân hàng + Điều kiện cho vay phải có tài sản thế chấp đang là trở ngại lớn đối với DNNVV. NH cần mở rộng cho vay tín chấp đối với những DNNVV hoạt động có hiệu quả mà có quan hệ tốt với NH (khách hàng truyền thống) 181 + Các gói “hỗ trợ lãi suất” cho vay của Chính phủ khi giải ngân cần chú trọng hiệu quả: đúng đối tượng, mục đích nhằm phát huy tác dụng “trợ giúp” DNNVV vượt qua khó khăn để phát triển. + NH nghiên cứu đề xuất những sản phẩm tín dụng mới cho DNNVV 3.2.4.2. Đối với Thành phố Hà Nội Thành phố tiếp tục phối hợp chặt chẽ với NHNN chi nhánh Hà Nội và các NHTM trên địa bàn Hà Nội để đưa ra các biện pháp hỗ trợ hiệu quả hơn cho DNNVV trên địa bàn. Bằng các gói hỗ trợ lãi suất cho vay ưu đãi, chương trình kết nối giữa NH và DN để hiểu nhau hơn, cùng hợp tác để đảm bảo lợi ích của cả DN và NH. Hiện nay và những năm tới, sẽ có nhiều TCTD nước ngoài sẽ “vào” Hà Nội nên cạnh tranh giữa các TCTD sẽ càng gay gắt. NH rất cần DN để mở rộng thị trường, DN rất cần NH để giải quyết khó khăn về vốn...Thành phố cần có cơ chế tăng cường quan hệ hợp tác giữa NH và DN dưới nhiều hình thức nhằm giải quyết và đạt lợi ích của cả hai bên. 3.2.5. Hoàn thiện chính sách điều hành tỷ giá để phát triển DNNVV Chính sách điều hành tỷ giá của một quốc gia phụ thuộc vào 2 yếu tố: cơ chế xác định và cơ chế can thiệp của quốc gia đó. Với điều kiện KTXH hiện nay của Việt Nam thì việc thực hiện một cơ chế tỷ giá linh hoạt có sự kiểm soát của Nhà nước là phù hợp. Do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ở Việt Nam chưa cao, tỷ trọng các mặt hàng đã qua chế biến trong kim ngạch xuất khẩu còn thấp, nhiều mặt hàng xuất khẩu được sản xuất bởi các nguyên liệu nhập khẩu nên việc thả nổi tỷ giá hoàn toàn trong giai đoạn hiện nay sẽ khó thực hiện được mục tiêu khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu. Nếu thả nổi tỷ giá trong điều kiện khả năng nội tại nền kinh tế Việt Nam chưa đủ mạnh thì có thể dẫn đến nạn đầu cơ ngoại tệ, môi trường vĩ mô không ổn định, điều này sẽ ảnh hưởng bất lợi đến sự phát triển của DN. Tỷ giá hối đoái cũng là một loại giá cả nên chịu chi phối bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế trong nước cũng như kinh tế 182 thế giới còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau và mức độ chênh lệch về tiềm lực kinh tế của mỗi quốc gia cũng như mỗi tập đoàn còn có sự cách biệt rất lớn thì Nhà nước chưa nên để tỷ giá hối đoái phụ thuộc hoàn toàn vào quan hệ cung - cầu thị trường. Do đó, việc tiếp tục duy trì tỷ giá linh hoạt có sự điều tiết của Nhà nước có thể còn kéo dài trong một thời gian nữa khi Việt Nam chưa thực sự có một tiềm lực kinh tế mạnh, có lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn để có thể can thiệp vào thị trường khi cần thiết nhằm ổn định sức mua của đồng tiền quốc gia, ổn định được giá cả hàng hoá trên thị trường. Như vậy, một cơ chế tỷ giá hối đoái phù hợp phải là một cơ chế phản ánh được các mối quan hệ đặc biệt giữa tỷ giá hối đoái với lãi suất, tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát trong từng thời kỳ khác nhau. Trong những trường hợp cần thiết, Nhà nước có thể thực hiện phá giá nhẹ đồng tiền nhưng chỉ trong giới hạn được tính toán kỹ lưỡng vì mỗi lần phá giá tiền tệ là mỗi lần chấp nhận tăng thêm mức độ lạm phát tiền tệ, chấp nhận sức mua đồng tiền bị mất giá. Trong tình huống như vậy, việc tính toán cân đối ngân sách quốc gia nhằm bù đắp thiệt hại do phá giá tiền tệ đem đến cho các thành viên trong xã hội cần được thực hiện một cách thận trọng và chính xác. Để có được quyết định chính xác việc phá giá nhẹ đồng tiền, việc xác định tỷ lệ phá giá trong quan hệ với lạm phát tiền tệ và tăng trưởng kinh tế cần được đặt ra và xem xét thận trọng. Thực hiện việc phá giá tiền tệ cần được xem là một bài toán kinh tế mà đáp số cuối cùng phải là kinh tế tiếp tục được tăng trưởng một cách bền vững. Do vậy, quan hệ giữa phá giá tiền tệ, lạm phát tiền tệ với tăng trưởng kinh tế sau khi thực hiện phá giá sẽ là: % phá giá tiền tệ < % lạm phát tiền tệ < % tăng trưởng kinh tế Muốn đẩy mạnh xuất khẩu thì cần nới tỷ giá mạnh hơn, chính sách tỷ giá cần linh hoạt hơn, nhưng phải điều chỉnh một cách từ từ, có sự cân nhắc thận trọng. Chính sách tỷ giá cần linh hoạt để VND không bị định giá cao, qua đó giúp chính sách kích cầu không bị “rò rỉ” sang hàng ngoại nhập và sẽ 183 nâng cao hiệu quả kích cầu. Điều này là hoàn toàn phù hợp vì trên thế giới hàng loạt các nước đối mặt với suy thoái đều chọn giải pháp phá giá đồng tiền nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Tỷ giá linh hoạt không chỉ có lợi cho xuất khẩu mà còn hạn chế đầu cơ, vì khi tỷ giá biến động cao nhà đầu cơ sẽ thận trọng. Việt Nam vẫn chịu áp lực lớn từ hàng nhập khẩu cho nên việc điều hành tỷ giá của NHNN cần phải linh hoạt hơn nhưng cũng không gây sốc cho các DN và gây mất ổn định kinh tế vĩ mô. Nếu phá giá quá lớn có thể ảnh hưởng bất lợi đối với các DN vay nợ bằng ngoại tệ. Trong thời gian tới, để chính sách tỷ giá có tác dụng thúc đẩy DNNVV phát triển, NHNN cần áp dụng một số biện pháp: - Điều chỉnh linh hoạt tỷ giá USD/VND thông qua tỷ giá trên thị trường ngoại tệ liên NH. Bên cạnh đồng USD, cần chú trọng đến những ngoại tệ mà Việt Nam có quan hệ XNK lớn, ở vị thế nhập siêu lớn, nhất là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,... bởi đây không chỉ là thị trường nhập khẩu hàng hoá lớn của Việt Nam mà còn là thị trường Việt Nam cũng nhập siêu lớn. Việt Nam có thể áp dụng cơ chế rổ tiền tệ xác định tỷ giá, bởi tỷ giá hình thành dựa trên quan hệ cung cầu ngoại hối. Mỗi nước đều có quan hệ thương mại với nhiều nước khác nhau, vì vậy cần xem xét tỷ giá dựa trên quan hệ cung - cầu ngoại hối trong XNK với nhiều nước khác nhau. Tất nhiên, khi áp dụng cơ chế này cũng cần xem xét lại thành phần trong “rổ tiền tệ” trong từng thời kỳ nhất định để có những điều chỉnh hợp lý. - Mở rộng thị trường mua bán ngoại tệ chính thức và thu hẹp thị trường phi chính thức, đảm bảo tỷ giá phản ánh sát thực quan hệ cung cầu ngoại tệ trên thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán ngoại tệ của DN, giảm các hiện tượng tiêu cực. Hoàn thiện thị trường ngoại tệ liên NH cả về quy mô, doanh số giao dịch, số lượng thành viên, công cụ giao dịch, thời gian giao dịch để đáp ứng nhanh chóng nhu cầu thanh toán ngoại tệ của DN, đảm bảo quá trình SXKD được thông suốt. Muốn tăng khối lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường liên NH cần: cho phép các NHTM mua bán ngoại tệ trên 184 thị trường, hiện đại hoá hệ thống NH để đẩy nhanh tốc độ thanh toán, giúp các NHTM tận dụng cơ hội kinh doanh, giảm chi phí, thời gian và rủi ro trong quá trình thanh toán. Các NHTM cần tăng cường hơn nữa việc thực hiện các giao dịch mua bán trực tiếp với nhau, nhất là tăng cường các giao dịch kỳ hạn, hoán đổi. Một khi các công cụ và loại hình giao dịch trên thị trường phong phú sẽ góp phần hạn chế bớt tâm lý găm giữ ngoại tệ của các đối tượng tham gia thị trường. Một khi thị trường được hoàn thiện hơn thì sự can thiệp của NHNN sẽ có điều kiện chuyển dần từ công cụ can thiệp trực tiếp sang can thiệp gián tiếp thông qua hoạt động mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên NH để NHNN đóng vai trò “người mua bán cuối cùng”. Qua đó việc điều chỉnh tỷ giá ngoại tệ có thể sát với quan hệ cung cầu trên thị trường hơn, kịp thời hơn, góp phần giảm thiểu rủi ro và thiệt hại trong giao dịch ngoại tệ cho DN. Tiếp tục củng cố và phát triển thị trường nội tệ liên NH với các hoạt động đa dạng để NHNN phối hợp, điều hoà hoạt động 2 thị trường nội tệ và ngoại tệ, giúp nâng cao hiệu quả điều tiết tỷ giá. Trong tương lai, cần tiến tới xây dựng một thị trường tiền tệ liên NH, không phân biệt thị trường ngoại tệ hay thị trường nội tệ. - Nâng cao hiệu quả công cụ nghiệp vụ thị trường mở. Hiệu quả công cụ này phụ thuộc vào khả năng tập trung ngoại tệ của NHNN để có thể có lượng ngoại tệ đủ lớn can thiệp vào cán cân cung cầu ngoại tệ trên thị trường. Muốn vậy cần chú ý tăng dự trữ, đảm bảo cho dự trữ ngoại tệ quốc gia tương xứng với tốc độ tăng khối lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường. Cần thực hiện cơ chế NHNN mua lại toàn bộ ngoại tệ từ nguồn thu xuất khẩu dầu thô, ngoại tệ của các tập đoàn, tổng công ty lớn của nền kinh tế, tạo điều kiện cho cơ quan này chủ động điều hành, can thiệp thị trường ngoại hối. Hiện nay DN không bắt buộc phải bán ngoại tệ thu được cho NH vì vậy muốn tăng thu bằng ngoại tệ cho các NHTM nên áp dụng các biện pháp khuyến khích tính tự nguyện của DN như xây dựng cơ chế mua bán ngoại tệ hợp lý, thủ tục đơn 185 giản, bình đẳng giữa người mua và người bán để DN không chỉ thấy thuận tiện trong mua bán ngoại tệ mà còn có thể thu được lợi nhuận khi thực hiện các giao dịch này. Ngoài ra, đối với những DN thường xuyên thực hiện tốt việc bán ngoại tệ cho NH khi dư thừa thì NHTM cần có sự đảm bảo ưu tiên bán ngoại tệ cho những DN này khi họ có nhu cầu về ngoại tệ,... từ đó sẽ hạn chế tâm lý găm giữ ngoại tệ. Đặc biệt trong trường hợp tỷ giá biến động quá mạnh cho phép DN thực hiện biện pháp kết hối nguồn thu ngoại tệ của các DN, với cam kết sẽ bán lại số ngoại tệ tương ứng cho DN khi có nhu cầu. Việc đảm bảo khối lượng dự trữ ngoại tệ tới một mức độ nhất định để đảm bảo can thiệp của Nhà nước là cần thiết, nhưng bên cạnh cần có chính sách dự trữ ngoại tệ hợp lý. Trong điều kiện quan hệ tín dụng, thương mại và đầu tư của Việt Nam đã mở rộng ra nhiều thị trường thì cần đổi mới cơ cấu dự trữ ngoại tệ, bên cạnh dự trữ bằng đồng USD cũng cần dự trữ các đồng ngoại tệ khác phù hợp với cơ cấu XNK và cơ cấu vay nợ của Việt Nam. Định kỳ NHNN cần có phân tích, đánh giá tình hình và xu hướng biến động của các đồng tiền mà Việt Nam có quan hệ giao dịch thương mại để có biện pháp điều chỉnh dự trữ ngoại tệ phù hợp và kịp thời với sự thay đổi của kim ngạch buôn bán, vay nợ hoặc chuyển hoá các hợp đồng vay nợ phù hợp với cơ cấu dự trữ ngoại tệ. Chính sách này không chỉ phù hợp khi Việt Nam thực hiện chính sách đa dạng hoá, đa phương hoá các quan hệ kinh tế mà còn góp phần giảm bớt rủi ro biến động tỷ giá, góp phần điều chỉnh và ổn định tỷ giá, tạo điều kiện để DNVVV phát triển. - Tăng cường giám sát sự luân chuyển vốn ngoại tệ ra - vào Việt Nam. Với tính nhạy cảm của tỷ giá và trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng, các luồng vốn chu chuyển gia tăng trên phạm vi toàn cầu, mức độ tự do hoá các giao dịch vốn ngày càng cao, biến động của dòng vốn đầu tư, đặc biệt là các dòng vốn đầu tư gián tiếp ảnh hưởng mạnh tới cung cầu ngoại tệ và diễn biến tỷ giá. Do đó, việc giám sát và tiến tới kiểm soát có chọn lọc 186 các nguồn vốn này là cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tạo điều kiện DNNVV phát triển. Công tác điều hành tỷ giá phải bám sát mọi diễn biến của thị trường để có biện pháp kịp thời, phù hợp. - Các chính sách tỷ giá của NHNN cần rõ ràng, công khai và thông báo trước tới các đối tượng có liên quan để thống nhất và chủ động thực hiện. Việc thông báo công khai và thường xuyên tỷ giá thực song phương, tỷ giá danh nghĩa, tỷ giá thực đa biên giữa VND và các ngoại tệ khác sẽ giúp các DNNVV nắm bắt và chủ động trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh. - Chú trọng phát triển các công cụ giao dịch mới trên thị trường như các loại giao dịch kỳ hạn, quyền chọn, swap,... giúp DN thuận tiện khi ký kết các hợp đồng giao dịch và thanh toán quốc tế, giảm thiểu thiệt hại khi thị trường quốc tế có sự biến động giá, nhất là rủi ro tỷ giá, khi các DN Việt Nam vẫn phụ thuộc khá nhiều vào nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu. - Cần có sự phối hợp đồng bộ giữa điều hành tỷ giá, lãi suất với các chính sách kinh tế vĩ mô khác. Giữa lãi suất và tỷ giá có mối quan hệ mật thiết với nhau, là hai yếu tố nhạy cảm của nền kinh tế đồng thời là những công cụ hữu hiệu của chính sách tiền tệ. Sự khập khiễng giữa chính sách lãi suất và tỷ giá có thể gây ra những hậu quả bất lợi cho nền kinh tế. Chính sách tỷ giá là một bộ phận của chính sách tiền tệ, nằm trong mối quan hệ của hệ thống các chính sách kinh tế vĩ mô. Vì vậy, chính sách tỷ giá chỉ có thể đạt được mục tiêu khi quá trình điều hành được đặt trong mối quan hệ của hệ thống các chính sách kinh tế, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Mục tiêu của chính sách tỷ giá và các chính sách kinh tế khác trong ngắn hạn có thể không giống nhau. Do vậy, sự phối hợp chặt chẽ và linh hoạt trong điều hành chính sách có thể đem lại hiệu quả cao hơn cho chính sách tỷ giá và giảm thiểu được những rủi ro đối với nền kinh tế mà nó có thể gây ra. 3.2.6. Hoàn thiện chính sách đầu tư và các quỹ hỗ trợ của Thành phố 187 3.2.6.1. Hoàn thiện chính sách đầu tư Để phát triển DNNVV, Thành phố cần xây dựng chính sách khuyến khích đầu tư, cải thiện môi trường đầu tư, tạo chuyển biến về thu hút đầu tư trong và ngoài nước nhằm khai thác vị thế của Thủ đô. Cụ thể: - Đổi mới nội dung và phương thức vận động, xúc tiến đầu tư theo một chương trình chủ động, hiệu quả, phù hợp với từng điạ bàn, lĩnh vực. Tổ chức thực hiện các diễn đàn xúc tiến đầu tư với từng dự án, ngành nghề, lĩnh vực nhằm thu hút các nhà đầu tư tiềm năng, thực hiện chuyển giao công nghệ tiên tiến, công nghệ nguồn. Trên cơ sở thu hút đầu tư mà Thành phố trợ giúp tích cực cho DNNVV phát triển hướng vào mục tiêu chiến lược đã hoạch định. - Thành lập trung tâm xúc tiến đầu tư của Thành phố để tạo điều kiện thống nhất đầu mối quản lý nhà nước về đầu tư (quản lý một cửa). Tất cả mọi thủ tục thu hút, quy hoạch, thẩm định, cấp phép đầu tư phải được thực hiện từ trung tâm xúc tiến đầu tư. Tăng cường nghiên cứu tình hình thị trường đầu tư để lựa chọn các dự án đầu tư có hiệu quả. Thành phố thành lập “Quỹ xúc tiến đầu tư” nhằm hỗ trợ DNNVV phát triển. - Thành phố phác thảo ý tưởng đầu tư để kêu gọi đầu tư, đồng thời quan tâm hỗ trợ đầu tư nhằm mục tiêu phát triển DNNVV. Xây dựng cơ chế khuyến khích nhà đầu tư gọi vốn đầu tư vào Thành phố để phát triển loại hình DNNVV. Thành phố xây dựng cơ chế khuyến khích các nguồn vốn đầu tư xã hội để thành lập mới DNNVV trong các ngành nghề mà Hà Nội có lợi thế. 3.2.6.2. Sử dụng có hiệu quả Quỹ đầu tư phát triển Thành phố Hà Nội - Đẩy mạnh các hoạt động chuyên môn cả bề rộng và bề sâu, nhất là hoạt động đầu tư và huy động vốn. Tăng tỷ lệ đầu tư trực tiếp, giảm tỷ trọng cho vay trong tổng nguồn vốn đầu tư, phát triển các nghiệp vụ đầu tư theo hình thức BT, BOT, nhượng và chuyển nhượng quyền khai thác, sử dụng công trình,... Hướng tới mô hình huy động vốn thông qua phương thức hợp 188 vốn, mở rộng các đối tác tham gia hợp vốn ra các tổ chức có nguồn đầu tư dài hạn như bảo hiểm, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước, nâng cao khả năng thoái vốn của Quỹ để Quỹ phát huy đầy đủ vai trò là nguồn vốn mồi để thực hiện các mục tiêu phát triển KTXH của Thành phố.54 - Xúc tiến quản lý các quỹ tài chính Thành phố giao. Quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động, cho vay ưu đãi của các tổ chức tài chính quốc tế cho phát triển kết cấu hạ tầng tại địa phương và đáp ứng được nhiệm vụ được giao. - Sử dụng vốn của Quỹ với vai trò “vốn mồi” trong các kênh đầu tư (trực tiếp và gián tiếp), huy động vốn, nhằm định hướng đầu tư và thu hút các nhà đầu tư, các TCTD, NH trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào các dự án đầu tư cấp thiết cho phát triển KTXH, có khả năng thu hồi, hoàn được vốn. - Xây dựng mô hình Quỹ theo hướng mở là một tổ chức huy động vốn, quản lý các nguồn vốn. Một mặt thể hiện trò quan trọng trong việc tập trung các nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế kỹ thuật của của địa phương, mặt khác là một tổ chức giúp địa phương sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính. Bám sát chức năng, nhiệm vụ được giao, các chỉ thị, Nghị quyết của Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố từng giai đoạn, triển khai tốt nhất các nhiệm vụ được giao, về đầu tư (trực tiếp và gián tiếp), huy động vốn cho các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng KTXH ưu tiên phát triển của Thành phố, cũng như các nhiệm vụ khác Thành phố giao. Phối kết hợp chặt chẽ hơn để tranh thủ sự ủng hộ, tạo điều kiện của các cơ quan ban ngành trung ương, Thành phố trong việc triển khai định hướng công tác, tìm kiếm các dự án đầu tư, cho vay, huy động vốn từng thời kỳ. Nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức Đảng, phát huy vai trò tập hợp quần chúng của các tổ chức đoàn thể trong xây dựng cơ quan và thực hiện nhiệm vụ. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện bộ máy tổ chức, chú trọng rèn luyện cán bộ lãnh đạo kế cận vừa có 189 phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị tốt, trình độ quản lý giỏi, vừa có khả năng kế thừa lãnh đạo các nhiệm vụ tại Quỹ. Đồng thời đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chủ chốt thực sự là “bộ máy cái” trong hoạt động của Quỹ, có năng lực quản trị cao, có khả năng đáp ứng được các hoạt động đa dạng của Quỹ. Đào tạo nâng cao, chuyên sâu đội ngũ cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, có tính chuyên nghiệp về tài chính – ngân hàng, quản trị rủi ro, đầu tư nước ngoài và hợp tác quốc tế. Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy trình chuyên môn, hướng tới mục tiêu cải cách hành chính nội bộ, và là cẩm nang trong thực hiện nhiệm vụ tại quỹ. 3.2.6.3. Hoàn thiện sử dụng có hiệu quả Quỹ bảo lãnh tín dụng Quỹ BLTD đảm bảo cho DNNVV có thể tiếp cận được nguồn vốn mà không cần tài sản thế chấp, là cầu nối giữa NH và DNNVV nên là một xu thế tất yếu trong nền KTTT hội nhập, phù hợp với thông lệ của WTO. Quỹ BLTD sẽ giúp DNNVV vay vốn dễ dàng hơn đồng thời Quỹ cũng sẽ đứng ra thanh toán khoản vay NH khi DN không có khả năng thanh toán. Bởi vậy Quỹ BLTD cho DNNVV Hà Nội chính là giải pháp hữu hiệu nhất thay thế cho những chương trình tín dụng ưu đãi của Thành phố hướng tới các DNNVV. Bởi những chương trình tín dụng ưu đãi đang tạo ra sự bất bình đẳng giữa các DN trong nước và trong cùng ngành nghề, với lãi suất ưu đãi hơn lãi suất thị trường thì tỷ suất lợi nhuận của các DN nhận tín dụng ưu đãi sẽ cao hơn so với DN không nhận ưu đãi. Như vậy đây không phải là kết quả của những nỗ lực cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh mà là do các DN có được lợi thế từ việc được cấp tín dụng ưu đãi. Hơn thế nữa, những DN được nhận tín dụng ưu đãi sẽ gặp khó khăn trong việc gia nhập thị trường khi quy định của WTO là không ưu đãi về tài chính. Quỹ BLTD cho DNNVV Hà Nội mới ra đời và đang gặp khó khăn trong hoạt động. Để Quỹ hoạt động có hiệu quản, cần phải nhìn nhận khó khăn từ chính Quỹ để đưa ra những giải pháp cần thiết. Cụ thể: 190 - Vốn hoạt động của Quỹ bảo lãnh được hình thành từ các nguồn: vốn cấp của ngân sách Thành phố, vốn góp của các TCTD, DN, hiệp hội ngành nghề, các tổ chức hỗ trợ, vốn tài trợ, vốn bổ sung từ kết quả hoạt động của Quỹ BLTD. Trên thực tế vốn từ ngân sách rất hạn chế, nên quy mô vốn của Quỹ phải dựa vào vốn góp của các đối tượng song các đối tượng góp vốn lại có tâm lý e ngại khi chưa có quy định về việc rút vốn, chuyển nhượng vốn góp sau khi góp vốn vào Quỹ bảo lãnh. Như vậy, cần có những quy định chi tiết, cụ thể hơn để đảm bảo quyền lợi của những cá nhân, tổ chức góp vốn. - Về đóng góp thành lập Quỹ: Nhà nước nên chăng có những quy định mở hơn tùy thuộc vào điều kiện của từng tỉnh mà có thể cho phép thành lập quỹ với mức vốn thấp hơn 30 tỷ. Về tỷ lệ đóng góp vào Quỹ nên bắt buộc các đơn vị phải thực hiện. cần tổ chức giới thiệu Quỹ cho các DNNVV biết, thành lập website của Quỹ nêu rõ các chính sách, điều kiện để được bảo lãnh, hỗ trợ. Nên có quy định cho phép DNVVN đăng ký vay vốn trước đối với Quỹ BLTD, căn cứ vào đơn xin phép, tình hình hoạt động cũng như tài sản thế chấp, cầm cố để cấp cho DNNVV một hạn mức tín dụng. Khi DN có nhu cầu thì sẽ tiến hành thủ tục cho vay, điều này sẽ làm giảm thời gian xin vay đồng thời đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn vay cho DN. Theo quy định, DN muốn bảo lãnh phải có tài sản thế chấp, nhưng nếu DN có tài sản thế chấp sẽ không cần vay vốn từ Quỹ bảo lãnh mà sẽ trực tiếp vay ở NH. Đây là một bất cập. Vậy, nên cho bảo lãnh tín chấp để tháo gỡ vướng mắc này và có thể chấp nhận từ 20- 30% trong tổng nguồn Quỹ để dành cho bảo lãnh tín chấp. - Cần tiếp tục hoàn thiện về cơ chế Quỹ BLTD: Quy chế bảo lãnh cho DNNVV của Quỹ rất chặt chẽ. Ví dụ, DN phải có tài sản thế chấp, phải đáp ứng được các điều kiện về khả năng trả nợ, quy chế bảo lãnh của Quỹ không khác quy chế cho vay của NHTM. Nếu đáp ứng được các điều kiện này, DN sẽ đi vay NH chứ không cần đến Quỹ Bảo lãnh. Hiện nay, UBND Thành phố Hà Nội đang nghiên cứu xây dựng quy chế quản lý rủi ro tín dụng của Quỹ 191 BLTD cho DNNVV, NHNN ban hành thông tư hướng dẫn các TCTD phối hợp với Quỹ BLTD triển khai thực hiện cơ chế bảo lãnh theo quy định tại Quyết định số 58/2013/QĐ-TTgngày 15/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của Qũy. 3.2.6.4. Thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture capital) của Hà Nội: Trong điều kiện tiến bộ công nghệ phát triển và tác động của hội nhập, để giúp các DNNVV Hà Nội có điều kiện thuận lợi khi tiếp cận các nguồn vốn tín dụng đa dạng, Thành phố Hà Nội cần có chính sách linh hoạt, mềm dẻo hơn khuyến khích hoạt động của các Quỹ có thể hoạt động và phát huy hiệu quả. UBND Thành phố cần quy định chi tiết về việc điều hành, quản lý, kiểm tra, giám sát nội dung hoạt động để tăng cường hiệu quả của Quỹ đồng thời đưa ra biện pháp chỉ đạo tích cực hơn để Qũy hoạt động có hiệu quả, đúng hướng, đúng đối tượng góp phần giải quyết những khó khăn về vốn cho các DNVVN. Hiện nay, Hà Nội đã thành lập “vườn ươm DN” “vườn ươm khoa học công nghệ”. Quỹ đầu tư mạo hiểm có vai trò hỗ trợ để phát triển “vườn ươm DN” “vườn ươm khoa học công nghệ” để “nảy mầm” ra những DN và doanh nhân giỏi. UBND Thành phố Hà Nội cần quy định chi tiết về điều hành, quản lý, kiểm tra, giám sát nội dung hoạt động để tăng cường hiệu quả của quỹ đồng thời đưa ra biện pháp chỉ đạo tích cực hơn để Quỹ hoạt động có hiệu quả, đúng hướng, đúng đối tượng góp phần giải quyết những khó khăn về vốn cho các DNNVV Thành phố sớm thành lập và vận hành thị trường vốn, thị trường tài chính Hà Nội: Những năm tới, tác động của tiến trình hội nhập, thực hiện các cam kết quốc tế, các DN nước ngoài sẽ vào Hà Nội ngày càng nhiều. Mặt khác, với vị thế “đắc địa” cả về kinh tế- chính trị- xã hội, Hà Nội là nơi “hội tụ” “giao thương” của các DN nước ngoài và các địa phương khác đòi hỏi thị 192 trường vốn, thị trường tài chính Hà Nội phải phát triển, bởi KTTT là kinh tế tiền tệ, mọi quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hóa 3.2.7. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ mặt bằng SXKD đối với DNNVV Vấn đề đất đai, mặt bằng sản xuất là một rào cản cho sự phát triển các DNNVV. Hiện nay, để thúc đẩy đầu tư trong nước, Nhà nước thực hiện chính sách ưu đãi như: giảm hoặc miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất hoặc thuế đất đối với các nhà đầu tư. Chính sách liên quan đến mặt bằng sản xuất (miễn, giảm tiền thuê đất và thuế đất) được Chính phủ cho phép UBND Thành phố Hà Nội vận dụng linh hoạt nhằm khai thác lợi thế đặc thù để phát triển KTXH Thủ đô. Những năm tới, Thành phố cần tập trung đầu tư phát triển hơn nữa các khu công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung để đáp ứng nhu cầu về mặt bằng SXKD cho các DN dân doanh như: cụm công nghiệp Cầu Giấy (36 lô), cụm tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Tuy - Hai Bà Trưng (33 lô), cụm công nghiệp Nguyên Khê -Đông Anh (12 lô), cụm công nghiệp Ngọc Hồi (34 lô), cụm công nghiệp Lệ Chi - Gia Lâm (10 lô), cụm công nghiệp nhỏ và vừa Từ Liêm (32 lô), cụm công nghiệp Phú Thị -Gia Lâm, cụm công nghiệp nhỏ và vừa Sóc Sơn -Phủ Lỗ, cụm công nghiệp nhỏ và vừa Lâm Giang -Gia Lâm và cụm công nghiệp nhỏ và vừa An Khánh (thuộc tỉnh Hà Tây cũ). Ngoài ra, Thành phố cũng cần phê duyệt xây dựng thêm các khu sản xuất làng nghề truyền thống khác ngoài các khu sản xuất làng nghề Bát Tràng và làng nghề ở các xã Vân Hà, Liên Hà, Kiêu Kỵ, Triều Khúc. Trong những năm qua, Thành phố đã áp dụng cơ chế hỗ trợ kinh phí chuẩn bị đầu tư hạ tầng kỹ thuật và hàng rào và 30% chi phí giải phóng mặt bằng của các dự án cụm và khu công nghiệp nhỏ và vừa. Do đó, tỷ suất đầu tư xây dựng hạ tầng giảm từ 1-1,5 tỷ đồng/ha đem lại lợi ích trực tiếp cho các DN được vào cụm, khu công nghiệp của Thành phố. Giai đoạn tới (2015 - 2020), Thành phố cần phát huy chính sách này để trợ giúp các DNNVV phát triển. Mặc dù còn một số hạn chế (về quy hoạch, cơ chế quản lý, lựa chọn 193 ngành nghề) song về cơ bản mô hình khu, cụm công nghiệp nhỏ và vừa sau hơn 9 năm triển khai ở Hà Nội đã đạt được một số kết quả nhất định, bước đầu giải quyết khó khăn về mặt bằng sản xuất cho DN, góp phần tạo dựng mô hình sản xuất công nghiệp theo hướng tập trung, hiện đại. Để giải quyết nhu cầu mặt bằng SXKD cho các DNNVV trong những năm tới, Thành phố cần thực hiện một số giải pháp cụ thể: - Tập trung đầu tư, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong các cụm, khu công nghiệp, khu trung tâm thương mại dịch vụ tạo mặt bằng phát triển SXKD cho các DNNVV trên địa bàn Hà Nội. - Công khai quy hoạch sử dụng đất, công bố rộng rãi danh mục các dự án đầu tư theo hướng xã hội hóa, thực hiện đấu thầu các dự án có sử dụng đất, đấu giá quyền sử dụng đất công khai, minh bạch, tạo điều kiện cho DNNVV ở các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển SXKD. Cần có chế tài xử lý nghiêm minh những DN đã được thuê đất nhưng sử dụng sai mục đích, không hiệu quả, không thực hiện đúng dự án SXKD. Thu hồi những khu đất sử dụng không hiệu quả, không đúng mục đích, đất hoang hóa giao để bàn cho các DN có nhu cầu nhằm nâng cao hiệu quả quỹ đất của Thành phố. - Thành phố hoạch định, thực thi chính sách đất đai linh hoạt, phù hợp với đặc thù của Hà Nội nhằm tạo điều kiện cho các DNNVV tiếp cận thuận lợi hơn về mặt bằng SXKD. Chính sách đất đai của Thành phố cần hướng tới tạo lập sự công bằng, bình đẳng trong quan hệ sử dụng đất cho các nhà đầu tư, các loại hình DN cả trong và ngoài nước. - Thành phố cần thống nhất và hiện đại hóa việc đăng ký, đồng thời hợp lý hóa các thủ tục đăng ký đối với đất đai và các công trình xây dựng. Quy định các thủ tục rõ ràng, đơn giản và hợp lý để giải quyết các tranh chấp và kiện tụng nhằm giải quyết vấn đề sở hữu và quyền sử dụng đất. - Thành phố thúc đẩy nhanh hơn việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV yên tâm đầu tư xây dựng nhà 194 xưởng để phát triển SXKD. Bởi, khi được cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, DNNVV sẽ thuận hơn về tài sản thế chấp cho các khoản vay khi tiếp cận các nguồn vốn TDNH. - Thành phố cần xây dựng quy hoạch các cụm công nghiệp, khu công nghiệp để giải quyết mặt bằng cho các DNNVV, đồng thời tạo thuận lợi cho các DNNVV liên kết với nhau nhằm nâng cao năng lực SXKD Các giải pháp trên có quan hệ tương tác chặt chẽ nhưng đều chung mục tiêu nhằm tháo gỡ khó khăn “trợ giúp” cho DNNVV Hà Nội phát triển. Kết luận chƣơng 3 Những năm qua, Thành phố đã sử dụng có hiệu quả các giải pháp tài chính nhằm “trợ giúp” DNNVV trên địa bàn Hà Nội phát triển. Việc sử dụng các giải pháp cần được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện phù hợp hơn với thực tiễn phát triển nền KTTT hội nhập trong những năm tới, đồng thời khai thác lợi thế của Thủ đô, tạo môi trường thuận lợi cho DNNVV Hà Nội phát triển, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế Thủ đô. Hiện nay, toàn cầu hóa, mở cửa hội nhập cùng với tác động của tiến bộ khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức thì cơ hội, cùng thách thức đặt ra cho DNNVV Hà Nội ngày càng lớn đòi hỏi vai trò trợ giúp của các giải pháp tài chính nhằm tạo môi trường thuận lợi để tận dụng cơ hội, giảm thiểu thách thức cản trở sự phát triển DNNVV. Xuất phát từ quan điểm, định hướng phát triển của Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030,2050 mà NCS đưa ra những đề xuất về giải pháp tài chính với tư cách một công cụ quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm mục tiêu phát triển DNNVV trên địa bàn Hà Nội. 195 KẾT LUẬN Những năm qua, DNNVV Hà Nội phát triển nhanh về số lượng, chất lượng, đã và đang ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò to lớn đối với phát triển KTXH của Thủ đô. Để phát huy lợi thế vốn có của các DNNVV cũng như vị thế của Thủ đô nhằm phát triển DNNVV trên địa bàn Hà Nội, NCS chọn đề tài: “Giải pháp tài chính phát triển DNNVV trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong thời kỳ hội nhập” để nghiên cứu và rút ra những kết luận: Thứ nhất: Hệ thống hoá lý luận cơ bản về DNNVV, làm rõ nội hàm phát triển DNNVV (khái niệm, nội dung, tiêu thức đánh giá), tác động của HNKTQT đối với phát triển DNNVV, sử dụng giải pháp tài chính đối với phát triển DNNVV trên địa bàn Hà Nội. Nghiên cứu làm sáng tỏ thêm một số vấn đề trong việc ban hành, thực thi các giải pháp tài chính đối với các DNNVV nói chung và Thành phố Hà Nội. Các vấn đề được nghiên cứu một cách lô gíc và khoa học, tạo điều kiện cho việc nâng cao nhận thức lý luận trong hoạch định, thực thi chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính. Thứ hai, thông qua tổng hợp, phân tích, đánh giá việc sử dụng các giải pháp tài chính đối với phát triển DNNVV, NCS chỉ ra tính đặc thù cũng như những bất cập cần được tháo gỡ trong sử dụng giải pháp tài chính để phát triển DNNVV Hà Nội. Thứ ba, Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, NCS đề xuất hệ thống quan điểm và các biện pháp hoàn thiện sử dụng giải pháp tài chính đối với phát triển DNNVV trên địa bàn Hà Nội: giải pháp về thuế, tín dụng, tỷ giá, các Quỹ trợ giúp, giải quyết mặt bằng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV Hà Nội phát triển, đóng góp vào tăng trưởng, phát triển KTXH của Thủ đô, thực hiện Chiến lược phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, 2050. 196 Tuy nhiên, nền KTTT hiện đại và tác động của HNKTQT luôn vận động, phát triển không ngừng làm cho việc sử dụng các giải pháp tài chính luôn bị bất cập. Chính phủ luôn phải hoàn thiện các chính sách, công cụ quản lý kinh tế vĩ mô cho phù hợp với trình độ phát triển của KTTT và lộ trình HNKTQT. Chính sách pháp luật của Chính phủ hoạch đinh, thực thi được áp dụng thống nhất trong toàn quốc song mỗi địa phương có đặc điểm đặc thù đòi hỏi sự vận dụng chính sách phải linh hoạt, kịp thời. Hà Nội là Thành phố trực thuộc Trung Ương, là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả nước nên có nhiều thuận lợi trong triển khai kịp thời, vận dụng linh hoạt chính sách pháp luật của Nhà nước. Song để đạt hiệu quả tối ưu trong thực thi chính sách, Thành phố cần khai thác “tính đặc thù và cơ hội” vốn có của Thủ đô cho mọi đối tượng được thụ hưởng chính sách, nhằm phát triển DNNVV từ đó đóng góp vào tăng trưởng, phát triển KTXH Thủ đô. 197 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Ngô Thị Mai Linh, (2011), Nợ công gia tăng và nỗi lo của Doanh nghiệp nhà nước, Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 4(93), Tr 33-35 2. Ngô Thị Mai Linh, (2012), Nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra sau thông quan của Hải quan việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 2 (103) - Tr 30-33 3. Ngô Thị Mai Linh, (2014), kinh nghiệm thực thi giải pháp tài chính để phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và bài học cho Hà Nội, Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 10(135), Tr 68-70 4. Ngô Thị Mai Linh, (2015), Giải pháp về vốn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Hà Nội, Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 04(141), Tr 53- 54, 57 5. Ngô Thị Mai Linh, (2015), Tháo gỡ khó khăn về vốn tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 07(144), Tr 42-44. 6. Ngô Thị Mai Linh (2011), Kinh tế tư nhân - những vấn đề đặt ra hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 2(91), Tr 25-26 198 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Phạm Thị Vân Anh (2012), Giải pháp nâng cao năng lực tài chính của DNNVV, LATS, Học Viện Tài chính. 2. Lê Xuân Bá, Trần Kim Hào, Nguyễn Hữu Thắng, (2006), Doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, NXB chính trị quốc gia, Hà Nội. 3. Nguyễn Văn Bào (2007): “Phát triển DNNVV hiện nay ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí Thị trường giá cả, (1), tr.31-33 4. Bộ Tài chính (2006), Quyết định số 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp áp dụng cho các DNNVV. 5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2006), Quy định về trợ giúp các doanh nghiệp nhỏ và vừa - NXB chính trị quốc gia, Hà Nội 6. Lê Mai Chi (2001), Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách, NXB Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. 7. Chính phủ (2001), Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV 8. Cục Thống kê Thành phố Hà Nội (2006), Kết quả điều tra toàn bộ DN giai đoạn 2000-2005 Thành phố Hà Nội. 9. Cục thống kê Thành phố Hà Nội (2014), Niên giám thống kê các năm 2006, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013 - NXB Thống kê Hà Nội 10. Nguyễn Cúc (2000), Đổi mới cơ chế và chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đến 2005, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 11. Đông Đà (2015), “Cục thuế Thành phố Hà Nội nhận bằng khen về thành tích triển khai nội thuế điện tử”, T/C Thuế nhà nước (24,538), tr10 12. Đà Đông (2015), “Cục thuế Hà nội tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho DN”, T/C thuế nhà nước (14 - 528), tr 12. 199 13. Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Vai trò của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế. Kinh nghiệm các nước và bài học đối với Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 15. Đinh Nguyễn (2015), “Bài phỏng vấn Phó giám đốc NHNN Chi nhánh Thành phố Hà Nội”, Báo Kinh tế và đô thị ngày 6/1. 16. Trần Hanh (2008) “Doanh nghiệp vừa và nhỏ: Những lợi thế về tổ chức- quản lý”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển (số 114) tr.41-45. 17. Nghiêm Thuý Hằng (2009),“Chính sách kinh tế vĩ mô của Trung Quốc năm 2008”, Thông tin tài chính, (số 2 và 3), tr 25-27. 18. Trần Đăng Hòa (2006), Phát triển doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên - Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội 19. Học viện Tài chính (2003), Hoàn thiện các giải pháp tài chính kế toán cho việc phát triển kinh tế-xã hội trong các đơn vị cơ sở cấp xã ở nước ta hiện nay, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội. 20. Học viện Tài chính (2014), Giáo trình tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính, Hà Nội. 21. Bạch Đức Hiển (1996), Sử dụng các công cụ tài chính để khuyến khích và định hướng phát triển DNNVV Việt Nam, LAPTS, ĐH Tài chính. 22. Phạm Văn Hồng, Nguyễn Vĩnh Thanh (2007), “Giải pháp phát triển DNNVV ở Việt nam trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Giáo dục lý luận, (5), tr.38-43. 23. Phạm Thị thúy Hồng (2004), Phát triển chiến lược cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hiện nay, LATS 24. Nguyễn Đình Hương (2002), Giải pháp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 200 25. Vũ Thị Thu Hường (2010), Chính sách thuế đối với DNNVV thực trạng và giải pháp - Luận văn thạc sỹ, Học viện Tài chính, Hà Nội 26. Nguyễn Hải Hữu (1995) Đổi mới cơ chế quản lý DNNVV trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 27. Thanh Mai (2015), “Hội nghị điển hình tiên tiến Cục thuế Hà Nội”, Tạp chí Thuế nhà nước (13-527), tr10 28. Nguyễn Quang Minh (2007),“Hướng đi của các DNNVV trong tiến trình hội nhập”, Tạp chí Kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (số 10), tr.38-41. 29. Nguyễn Thị Minh (2013), Quản lý tài chính các doanh nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, LATS, ĐH Kinh tế quốc dân, Hà Nội 30. Nguyễn Thị Việt Nga (2012), Sử dụng công cụ tài chính vĩ mô nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV, LATS, Học viện Tài chính 31. Phạm Thị Minh Nghĩa (2011), Một số hạn chế liên quan đến sự phát triển của DNNVV Hà nội trong giai đoạn hiện nay, Đề tài khoa học, Trung tâm phát triển DNNVV Hà Nội 32. Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (2008), Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam - Thực trạng và giải pháp, NXB Thống kê Hà Nội 33. Hồ Xuân Phương (2002), Tài chính hỗ trợ phát triển các DN vừa và nhỏ, NXB Tài chính, Hà Nội 34. Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2005), Luật Doanh nghiệp, NXB thống kê, Hà Nội 35. Hà Quý Sáng (2010), Chính sách tài chính, kế toán để phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta, LATS, ĐH Thương mại, Hà Nội 36. Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội (2010), Báo cáo tình hình đăng ký kinh doanh của các DNNVV từ 2008-2009, hà Nội 37. Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội (2009), Báo cáo tình hình thực hiện Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg, Hà Nội 201 38. Sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội (2007), Kế hoạch hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa Thành phố Hà Nội giai đoạn 2007 - 2010, Hà Nội 39. Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội (2009), Thực trạng và các giải pháp thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội trong điều kiện gia nhập WTO, đề tài khoa học, Hà Nội 40. Đinh Văn Sơn (2009), Chính sách tài chính với phát triển xuất khẩu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, NXB Tài chính, Hà Nội 41. Trần Sửu (2006), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện toàn cầu hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 42. Lê Văn Tâm, (1996), Phát triển các doanh nghiệp công nghiệp nhỏ và vừa Hà Nội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 43. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006 về Phê duyệt kế hoạch phát triển DNVVN giai đoạn 2006 - 2010 44. Thủ tướng Chính phủ (2/2012), Quyết định phê duyệt chiến lược phát triển kinh tế -xã hội Thành phố Hà Nội đến năn 2030, tầm nhìn đến năm 2050 45. Lê Thủy (2008), “Trợ giúp và phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, (2), tr 17-19. 46. Phan Thị Lệ Thủy (2010), Phát triển các DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội trong điều kiện hội nhập, Luận văn thạc sỹ kinh tế, ĐH Ngoại thương Hà Nội 47. Võ Đức Toàn (2010), Tín dụng hỗ trợ DNNVV tại NHTM cổ phần Á Châu trong quá trình hội nhập, Luận văn Thạc sỹ, ĐH Thái nguyên 48. Hà Văn Tuấn (2009), “Góp phần khắc phục hạn chế của DNNVV”, Tạp chí Thương mại, (số 31), tr.6-7. 202 49. Nguyễn Thế Tràm (2009), “Để DNNVV phát triển có hiệu quả trong quá trình hội nhập thương mại quốc tế”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, (9), tr.26- 29. 50. Phạm Quang Trung (2008), “Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ Hà Nội”, T/C Kinh tế và Phát triển, (129), tr.10-14. 51. UBND Thành phố Hà Nội (2012), Đề án Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội đến năm 2030, hà Nội 52. UBND Thành phố Hà Nội (2005), Hai mươi năm đổi mới ở Thủ đô Hà Nội, định hướng phát triển đến năm 2010, NXB Sự thật Hà Nội. 53. UBND Thành phố Hà Nội, Sở Tài chính Hà Nội, 12/2014, Tờ trình về đề án hoàn thiện và phát triển thị trường vốn, thị trường tài chính Thủ đô. 54. UBND Thành phố Hà Nội, Sở Tài chính Hà Nội. 12/2014, Đề án hoàn thiện và phát triển thị trường vốn, thị trường tài chính Thủ đô. 55. UBND Thành phố Hà Nội. 12/2000, Pháp lệnh Thủ đô Hà Nội. 56. Viện chiến lược và chính sách tài chính Việt Nam (2015), tài chính Việt nam 2014-2015 - ổn định kinh tế vĩ mô và hội nhập, NXB Tài chính, Hà Nội 57. Website của Bộ Tài chính: WWW.mof.gov.vn 58. Website Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt nam: WWW.chinhphu.vn 59. Website của Cục Phát triển DNNVV, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: và Website của Bộ Kế hoạch và Đầu tư: 60. Website của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam:sbv.gov.vn 61. Website của NHNN Chi nhánh Hà Nội: 62. Website của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư: WWW.gov.vn 63. Website : 64. Website Cục Thuế Hà nội: 65. Website Tổng Cục Thuế: WWW.gdt.gov.vn 66. Website của Hiệp hội các DNNVV Hà Nội 203 67. Website của Phòng Thương mại và công nghiệp Vệt Nam: www.vcci.org.vn 68. Website Sở kế hoạch và Đầu tư Hà Nội: 69. Website Sở Tài chính Hà Nội: WWW.sotaichinhs.hanoi.gov.vn 70. Website Trung tâm hỗ trợ DNNVV Hà Nội: WWW.hanoi-Sme.vn Tiếng Anh 71. Nguyen Hoa Cuong (2007). Donor Coordination in SME Development in Vietnam: What has been done and How can it be strengthened. Vietnam Economic Management Review. (2).pp. 25-39. 72. Huyen Linh (1998). Situation of Hanoi’s Small and Medium Enterprises. Vietnam Business. 8(16).pp. 20-21. 73. Economic Commission for Europe (2003). Small and Medium - sized enterprises in countries in transition. Geneva New York: United Nations.Hanoi.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_giai_phap_tai_chinh_phat_trien_doanh_nghiep_nho_va_v.pdf
Luận văn liên quan