Luận án Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan ở Việt Nam

Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về khái niệm kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan, các quy trình, kỹ thuật kiểm tra sau thông quan; vai trò và yêu cầu của kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan. Đồng thời, qua kinh nghiệm quốc tế trong kiểm tra sau thông quan của một số nước điển hình, luận án rút ra một số nhận xét và bài học làm cơ sở cho đề xuất các giải pháp ở phần tiếp theo. Trên cơ sở quan điểm về KTSTQ về TGHQ đã trình bày, luận án đi sâu phân tích về thực trạng kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan ở Việt Nam, đảm bảo đưa đến cái nhìn toàn diện trong công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan hiện nay. Qua đó, tác giả rút ra những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó; làm cơ sở tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan.

doc191 trang | Chia sẻ: toanphat99 | Lượt xem: 4335 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ộng KTSTQ về TGHQ. Việc xây dựng hệ thống chuẩn mực kiểm tra sau thông quan về TGHQ đảm bảo tính logic, hệ thống sẽ tạo thuận lợi để vừa nâng cao hiệu quả quản lý hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu, vừa kiểm soát được hành vi của người khai hải quan vi phạm pháp luật hải quan. Thông qua đó, hạn chế được sự tùy tiện trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa. Bởi vì, chuẩn mực kiểm tra sau thông quan chính là công cụ để xử lý sai phạm của các chủ thể khi tham gia quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa đó. Công chức hải quan thì căn cứ vào chuẩn mực để thực hiện theo chức trách được giao; doanh nghiệp và người khai hải quan thì căn cứ vào chuẩn mực để giám sát việc KTSTQ về TGHQ của công chức hải quan. Hai bên đều có những căn cứ để xác định mức độ tuân thủ pháp luật. Từ đó, sẽ làm cho KTSTQ về TGHQ ngày càng minh bạch và đạt kết quả cao hơn. Ngoài ra, nếu tuân thủ theo đúng chuẩn mực thì kết quả KTSTQ về TGHQ sẽ đảm bảo được tính trung thực và khách quan. Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực KTSTQ phải dựa trên cơ sở chuẩn mực, cam kết quốc tế có liên quan đến hoạt động Hải quan. Việc xây dựng chuẩn mực KTSTQ về TGHQ thường tập trung vào 6 nội dung chủ yếu sau: 4.3.3.1 Nhóm chuẩn mực chung: Nhóm chuẩn mực chung: quy định những nội dung làm nền tảng cho hoạt động kiểm tra sau thông quan về TGHQ; Nhóm chuẩn mực chung bao gồm những nội dung chủ yếu như : Các quy định về tổng thể các nguyên tắc cơ bản, các yêu cầu có tính bắt buộc về cơ quan hải quan, về đoàn KTSTQ về TGHQ, về các kiểm tra viên hải quan, thực hiện KTSTQ về TGHQ, về các đối tượng KTSTQ và các đối tượng có liên quan đến KTSTQ về TGHQ, về phương thức về KTSTQ về TGHQ, về các cam kết quốc tế phải tuân thủ, về kỹ thuật quản lý rủi ro, về kỹ năng nghiệp vụ KTSTQ về TGHQ Ví dụ như: Nội dung về yêu cầu mà kiểm tra viên phải thực hiện trong KTSTQ về TGHQ như: - Kiểm tra viên phải sử dụng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với mức độ phức tạp của cuộc KTSTQ về TGHQ; thực hiện nhiệm vụ với trọng trách cao. - Kiểm tra viên hải quan ngoài những tiêu chuẩn chung của công chức hải quan phải có những kiến thức và kỹ năng cần thiết đã qua đào tạo về pháp luật về thuế, kế toán, kiểm toán và pháp luật về kiểm tra, thanh tra. - Kiểm tra viên phải có năng lực để kiểm tra, đánh giá và đưa ra các kiến nghị, bằng chứng xác đáng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KTSTQ về TGHQ. - Kiểm tra viên phải có năng lực thực thi nhiệm vụ độc lập, sáng tạo và có khả năng ứng phó với mọi tình huống phức tạp phát sinh trong quá trình kiểm tra.. 4.3.3.2 Nhóm chuẩn mực về xây dựng và sử dụng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu. Nhóm chuẩn mực này bao gồm những nội dung chủ yếu như: Xây dựng, quản lý, khai thác hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về trị giá hải quan (như đã phân tích ở phần trên). Các quy định về tính thận trọng và bảo mật thông tin có liên quan đến hoạt động KTSTQ về TGHQ và liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Ví dụ như: - Kiểm tra viên phải sử dụng các kết quả của cuộc kiểm tra sau thông quan trước đó, của các cuộc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán độc lập.. Kiểm tra viên hải quan phải xem xét, kiểm tra, sử dụng có chọn lọc khi có đủ chứng cứ để chứng minh rằng, kết quả đó đã được xác định khi đã đánh giá tính tuân thủ của các bên có liên quan, các chuẩn mực nghề nghiệp liên quan; khi sử dụng bằng chứng này, kiểm tra viên hải quan phải chịu trách nhiệm về tính xác thực khi đưa ra kết luận kiểm tra sau thông quan. - Kiểm tra viên phải có thái độ thực hiện công việc một cách thận trọng, phải giữ bí mật quốc gia, bí mật về nghiệp vụ Ngành và bí mật nghề nghiệp của đối tượng được KTSTQ về TGHQ 4.3.3.3 Nhóm chuẩn mực về thực hành kỹ thuật nghiệp vụ KTSTQ về TGHQ. Nhóm chuẩn mực gồm những nội dung chủ yếu như quy định việc lập kế hoạch KTSTQ về TGHQ tại trụ sở cơ quan hải quan và KTSTQ về TGHQ tại trụ sở doanh nghiệp. Trong kế hoạch phải xác định rõ mục tiêu, nội dung, phạm vi, phương pháp thực hiện, thời gian và nhân sự cho việc KTSTQ về TGHQ. Quy định về tính kiểm tra tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ có liên quan chặt chẽ tới KTSTQ về TGHQ như hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát, kiểm soát nội bộ, tình hình kiểm tra, thanh tra của cơ quan chức năng đối với hoạt động xuất nhập khẩu của đơn vị được kiểm tra sau thông quan về TGHQ. Bằng chứng phải rõ ràng, dựa trên cơ sở hồ sơ, chứng từ thu thập được, phân loại, xắp sếp quản lý các bằng chứng theo từng mối quan hệ kinh tế, từng nhóm sai phạm để thuận tiện cho việc tham vấn và lập báo cáo về KTSTQ về TGHQ. Ví dụ như: - Xây dựng và thực hiện chuẩn mực về kiểm tra tính hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ. Trên thực tế, chuẩn mực này trong quá trình thực hiện thời gian qua chưa thực hiện, mặc dù chuẩn mực này đóng vai trò quan trọng giúp kiểm tra viên hải quan đánh giá được độ tin cậy của hệ thống kiểm soát nội bộ; dự đoán và đề phòng các rủi ro kiểm soát nhằm xây dựng kế hoạch kiểm tra cụ thể, phù hợp với thực tế kiểm tra. Thậm chí, khi thực hiện KTSTQ, nếu kiểm tra viên thu thập được các bằng chứng về sự kém hiệu lực của một khâu trong hệ thống kiểm soát nội bộ để so sánh với đánh giá ban đầu mà ảnh hưởng đáng kể đến các kết luận KTSTQ thì phải điều chỉnh lại theo kế hoạch kiểm tra cho phù hợp. 4.3.3.4 Nhóm chuẩn mực về đánh giá mức độ rủi ro về ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Nhóm chuẩn mực này gồm có những nội dung chủ yếu như quy định kiểm tra viên hải quan phải có ước lượng mức độ rủi roc cho tổng thể cuộc KTSTQ về TGHQ để xác định trọng tâm kiểm tra. Quy định về nội dung phân tích tình hình và kết quả kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp được kiểm tra. Quy định về chọn mẫu KTSTQ về TGHQ phải đảm bảo tính tiêu biểu, đại diện được cho tổng thể. Quy định về kiểm tra đánh giá chất lượng của cuộc KTSTQ về TGHQ một cách đầy đủ, đúng đắn, tránh được những sai sót cả về nội dung và phương pháp kiểm tra Ví dụ như: Quy định cụ thể việc chọn mẫu cần tuân thủ các yêu cầu sau: - Phải căn cứ vào kết quả của việc lựa chọn hình thức kiểm tra ở khâu thông quan; căn cứ vào mục tiêu hay nội dung của KTSTQ về TGHQ để xác định, lựa chọn mẫu kiểm tra. - Phải xác định tiêu thức đánh giá các sai số và mức sai số chấp nhận được làm cơ sở đưa ra những kết luận của KTSTQ về TGHQ, đồng thời phải phân tích rủi ro có thể gây ra của mẫu được chọn, khả năng phát sinh các sai sót và dự kiến các phương án giảm thiểu những rủi ro do phương pháp chọn mẫu mang lại 4.3.3.5 Những chuẩn mực về đánh giá chính xác nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp đối với Nhà Nước. Nhóm chuẩn mực này gồm có những nội dung chủ yếu như: quy định về kiểm tra, đánh giá tình hình và khả năng tuân thủ pháp luật về khai báo trị giá hải quan của người khai hai quan. Quy định về mức độ đánh giá về mức độ tuân thủ pháp luật và các quy định cụ thể trong từng khâu công việc trong quy trình KTSTQ về TGHQ. Quy định về kiểm tra, phân tích các báo cáo tài chính của doanh nghiệp được KTSTQ về TGHQ. Ví dụ như: Chuẩn mực về kiểm tra, phân tích các báo cáo tài chính của đơn vị được KTSTQ về TGHQ thì kiểm tra viên hải quan khi thực hiện chuẩn mực này phải - Biết vận dụng các phương pháp, kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính phù hợp với đặc điểm, tính chất, phạm vi, mục tiêu của cuộc KTSTQ về TGHQ. - Khi phát hiện những sai lệch hoặc biến động bất thường, kiểm tra viên hải quan phải tiến hành điều tra, thu thập thêm các bằng chứng để làm rõ nguyên nhân sai lệch và tính toán mức độ vi phạm 4.3.3.6 Nhóm chuẩn mực báo cáo và kiểm tra việc thực hiện các kiến nghị của KTSTQ về TGHQ. Nhóm chuẩn mực này cần quy định về hình thức và nội dung của báo cáo KTSTQ về TGHQ. Nhóm chuẩn mực này phải đảm bảo nội dung, số liệu trong báo cáo phải chính xác, ý kiến nhận xét phải dựa trên những bằng chứng KTSTQ về TGHQ tin cậy và chính xác; đồng thời yêu cầu kiểm tra viên phải lập kịp thời, đúng thời hạn theo kế hoạch đã được phê duyệt. nhóm chuẩn mực này gồm có những nội dung chủ yếu như: quy định về lập báo cáo kết quả KTSTQ về TGHQ. Quy định về việc theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận và xử lý kết quả KTSTQ về TGHQ. Ví dụ như: Chuẩn mực phải nêu được những quy định cụ thể của báo cáo KTSTQ về TGHQ như: - Đản bảo tính chính xác về nội dung và số liệu trong báo cáo. Các ý kiến nhận xét phải phải dựa trên những bằng chứng KTSTQ về TGHQ. - Nội dung báo cáo phải được trình bày theo những nội dung chủ yếu như: Tóm tắt về cơ sở pháp lý, tình hình chấp hành pháp luật về thuế, về hải quan; tuân thủ các chuẩn mực ghi sổ kế toán của đơn vị được kiểm tra. .. Xây dựng và thực hiện chuẩn mực KTSQ về TGHQ là hết sức cần thiết và có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện nâng cao chất lượng KTSTQ về TGHQ ở Việt Nam. Với những lý do như đã phân tích ở các phần nêu trên, xây dựng và áp dụng chuẩn mực KTSTQ về TGHQ như đề xuất, khác về cơ bản so với nội dung và quy trình KTSTQ hiện hành ở chỗ: Nội dung và quy trình KTSTQ chỉ là quy định trong nội bộ Ngành hải quan, nội dung chưa đầy đủ, chưa được công khai minh bạch nên chưa là cơ sở pháp lý, chưa là căn cứ cho việc thực hiện và giám sát giữa các bên liên quan trong KTSTQ về TGHQ. 4.3.4 Tăng cường phối hợp công tác giữa lực lượng KTSTQ về TGHQ với các lực lượng trong và ngoài Ngành Hải quan. a) Tăng cường hợp tác phối kết hợp KTSTQ về TGHQ với các lực lượng trong nội bộ Ngành Hải quan. Kiểm tra sau thông quan về TGHQ là một nghiệp vụ quan trọng không tách rời với các nghiệp vụ liên quan khác như: kiểm tra trước thông quan, kiểm tra trong thông quan, phúc tập hồ sơ hải quan, quản lý dữ liệu thông tin về trị giá, điều tra chống buôn lậu cho nên phải phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên trong quá trình thực hiện. Xuất phát từ những hạn chế trong cơ chế phối kết hợp trong KTSTQ về TGHQ ở Việt Nam thời gian qua, cơ chế phối kết hợp trong KTSTQ về TGHQ trong nội bộ Ngành cần được hoàn thiện theo những chú ý sau đây: + Xây dựng quy trình phối kết hợp trong việc cung cấp, trao đổi thông tin giữa các đơn vị thuộc Tổng cục hải quan. Trong đó, lưu ý tổ chức tập huấn đào tạo trao đổi nghiệp vụ, phối kết hợp với các đơn vị trong Tổng Cục có liên quan phục vụ KTSTQ về trị giá hải quan. Cần xây dựng mối quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng kiểm tra trị giá tại khâu trong thông quan và khâu sau thông quan do đây là mối quan hệ phối hợp khép kín trong toàn bộ quy trình quản lý giá tính thuế từ khâu trong thông quan đến khâu sau thông quan nhằm mục tiêu kiểm soát được trị giá khai báo, ngặn chặn các hiện tượng gian lận thương mại. + Phối hợp với Cục công nghệ thông tin và các đơn vị quản lý cơ sở dữ liệu thông tin thuộc Tổng Cục để đảm bảo khai thác thông tin trên các cơ sở dữ liệu hiện có tại Tổng Cục phục vụ việc cung cấp thông tin cho lực lượng KTSTQ, đặc biệt là các thông tin liên quan đến các đối tượng được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt ASEAN, ACFTA, AKFTA.. + Phối hợp với Cục Công nghệ thông tin và thống kê Nhà nước về hải quan để hoàn thiện xây dựng phần mềm “quản lý danh bạ doanh nghiệp trên máy tính” nhằm mục đích: Phân loại doanh nghiệp trên toàn quốc theo nhóm, phân loại mặt hàng trọng điểm, cung cấp thông tin và lựa chọn doanh nghiệp cho việc xác định đối tượng KTSTQ theo kế hoạch. + Phối hợp với Ban quản lý rủi ro hoàn thiện tiêu chí phục vụ công tác quản lý rủi ro trong KTSTQ. b) Tăng cường hợp tác phối kết hợp KTSTQ về TGHQ với các lực lượng ngoài Ngành Hải quan. Thứ nhất: Hợp tác với các Bộ, Ngành liên quan. Thực tế công tác KTSTQ về TGHQ cho thấy vẫn chưa có sự phối hợp đồng bộ, hiệu quả giữa các cơ quan có liên quan trong việc xác minh tính trung thực của trị giá khai báo hàng nhập khẩu. Để công tác KTSTQ về TGHQ hiệu quả hơn, cần tập trung thực hiện một số biện pháp sau: - Nghiên cứu xây dựng các cơ chế phối hợp giữa lực lượng KTSTQ với các cơ quan trong Bộ Tài Chính như Cục quản lý giá, Tổng cục Thuế: + Phối hợp với Tổng Cục thuế, Cục quản lý giá đưa ra các chế tài trong việc đấu tranh chống gian lận qua giá, bao gồm cả chuyển giá. Cần quy định những chế tài nghiêm khắc để xác định lại giá trong trường hợp chuyển giá. - Nghiên cứu xây dựng các Quy chế phối hợp giữa lực lượng KTSTQ với các cơ quan trong ngoài Bộ như Ngân hàng, Kiểm toán, kho bạc, công an..vv.. Sự phối hợp này sẽ tránh được sự chồng chéo trong kiểm tra của các cơ quan quản lý Nhà Nước cũng như tạo ra cơ sở pháp lý thuận lợi trong quá trình thu thập và xử lý thông tin về đối tượng chịu KTSTQ về trị giá hải quan được chính xác, đem lại hiệu quả cao. + Phối hợp với Ngân hàng để đưa ra các quy chế trong việc quản lý chặt chẽ thanh toán qua ngân hàng của các doanh nghiệp và các cá nhân có liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu. Nghiên cứu để đưa tiêu chí trên tờ khai điện tử yêu cầu doanh nghiệp xuất nhập khẩu có thể kê khai các tài khoản được dùng để thanh toán cho lô hàng và chế tài trách nhiệm khi cơ quan Hải quan phát hiện có sai sót. + Phối hợp với Tổng Kiểm toán Nhà Nước và Kiểm toán hải quan các nước để xây dựng Bộ chuẩn mực Kiểm toán hải quan đế từ đó giúp cho công chức hải quan có định hướng rõ ràng hơn trong quá trình KTSTQ về trị giá hải quan như: phương pháp kiểm tra và xử lý kết quả KTSTQ . - Tiến đến, trình Bộ Tài chính ban hành quy chế phối kết hợp trong công tác trao đổi, cung cấp thông tin các Luật, Nghị định và các văn bản hướng dẫn giữa các đơn vị trong và ngoài Ngành. Thứ hai, hợp tác với cộng đồng doanh nghiệp: Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp đã hiểu và nắm rõ quyền và nghĩa vụ của mình thực hiện đúng các phương pháp xác định trị giá, quy trình KTSTQ theo quy định của các văn bản pháp quy. Trong các cuộc KTSTQ về trị giá, các doanh nghiệp cũng đã tích cực hợp tác với cơ quan Hải quan trong việc cung cấp tài liệu, số liệu trong xác định trị giá nhằm bảo vệ quyền lợi của chính họ.Tuy nhiên vẫn còn một bộ phận doanh nghiệp chưa am hiểu các phương pháp xác định giá tính thuế, hoặc ý thức chấp hành pháp luật chưa cao hoặc còn một bộ phận lớn doanh nghiệp lợi dụng sự thông thoáng của chính sách áp giá để khai báo trị giá thấp nhằm trốn thuế. Xét trên khía cạnh tuân thủ pháp luật, có hai nguyên nhân khiến doanh nghiệp không tuân thủ là do không hiểu biết đầy đủ và cố tình tìm cách tận dụng các khe hở của pháp luật để gian lận. Do vậy, cần: + Tăng cường hơn nữa công tác hướng dẫn, công tác đào tạo, tuyên truyền, phổ biến Hiệp định Trị giá hải quan GATT/WTO đến doanh nghiệp bằng nhiều phương pháp khác nhau trong đó cần ưu tiên sớm xây dựng cơ chế phối hợp, cung cấp thông tin kịp thời cho các cơ quan báo chí (kênh Invest TV - Đài truyền hình VN, Truyền hình VTC, Thời báo Tài chính, Báo Hải quan...) để công tác tuyên truyền, phổ biến đào tạo được hiệu quả; + Xây dựng các tiêu chí để cùng doanh nghiệp đàm phán, ký kết thỏa thuận hợp tác. Hệ thống tiêu chí chủ yếu bao gồm nguyên tắc hợp tác; cách thức hợp tác; các yêu cầu với doanh nghiệp (chủ yếu là minh bạch hóa với cơ quan hải quan về hoạt động xuất nhập khẩu, cung cấp định kỳ cho cơ quan các số liệu về xuất nhập khẩu, về thuế); các lợi ích doanh nghiệp được hưởng như chưa đưa vào diện KTSTQ, khi phát hiện sai sót thì chủ yếu cho doanh nghiệp tự giải trình, khắc phục. Đây cũng là một hình thức phân loại trước để tập trung nguồn lực cho kiểm tra các đối tượng khác.Trong quá trình thực hiện cần chú ý đến việc tuyên truyền cũng như kịp thời giải đáp những vướng mắc phát sinh trong cộng đồng doanh nghiệp. + Đối với các doanh nghiệp cố tình không tuân thủ thì cần có những biện pháp mạnh như : Công khai các doanh nghiệp có hành vi gian lận thương mại đã bị cơ quan hải quan phát hiện trên trên Website của hải quan, trên báo Hải quan; Đẩy mạnh KTSTQ về trị giá hải quan tại trụ sở doanh nghiệp thường xuyên vi phạm, từ đó hạn chế được gian lận từ xa, tăng ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp; thắt chặt các quy định trong việc thành lập và giải thể doanh nghiệp + Đẩy mạnh tuyên truyền cho các doanh nghiệp thông qua các hình thức như tổ chức các các hội nghị đối thoại, tập huấn chính sách thuế mới nhằm tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao hiệu lực quản lý thuế Bên cạnh đó, kiểm tra, rà soát số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh để phát hiện kịp thời các trường hợp thực tế có kinh doanh nhưng không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế để đưa vào diện quản lý. Giám sát và nắm bắt kịp thời số doanh nghiệp tạm nghỉ kinh doanh, số doanh nghiệp ngừng hoạt động (bỏ trốn, giải thể, phá sản), doanh nghiệp đang hoạt động Thứ ba: Tăng cường hợp tác quốc tế . Thường xuyên phối hợp giữa cơ quan Hải quan Việt Nam với cơ quan Hải quan các nước trong khu vực và trên thế giới sẽ là cơ hội tốt hơn để học hỏi kinh nghiệm KTSTQ về TGHQ của hải quan các nước cũng như sự tranh thủ những trợ giúp kỹ thuật từ phía các cơ quan hải quan các nước trong quá trình hoàn thiện hệ thống kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan ở Việt Nam trên tinh thần: - Thực hiện hợp tác quốc tế trên tinh thần cởi mở, bình đẳng mà vẫn đản bảo nhiệm vụ chính trị được giao theo đúng chủ trương “ Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”. Hải quan Việt Nam cần tiếp tục đưa nội dung hợp tác về KTSTQ về TGHQ trong các Hiệp định hợp tác hỗ trợ trong công tác Hải quan mà Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục ký kết với nhiều tổ chức quốc tế trong tương lai. - Tham khảo kinh nghiệm của các nước trong đấu tranh chống gian lận về giá khi áp dụng Hiệp định trị giá GATT thông qua các cuộc họp thường niên của Uỷ ban kỹ thuật về xác định trị giá hải quan. - Chủ động tăng cường hợp tác quốc tế, tiến hành thực tế khảo sát một số mô hình KTSTQ về TGHQ của một số nước tiên tiến trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Phápnhằm trao đổi thông tin và kinh nghiệm, tranh thủ sự hỗ trợ về đào tạo nhân lực cho các cán bộ làm công tác KTSTQ về TGHQ. Công việc này cần tiến hành song song với các hoạt động nghiệp vụ khác trong quá trình hoạt động của KTSTQ về TGHQ. - Hiện nay cơ chế xác minh từ thông tin về trị giá lô hàng nhập khẩu đạt hiệu quả rất thấp. Để công tác KTSTQ về TGHQ có kết quả cần xây dựng cơ chế phối hợp với hải quan các nước thông qua việc ký các Hiệp định cung cấp thông tin giữa hải quan các nước. Khi Hải quan Việt Nam cần xác minh thông tin về trị giá của một lô hàng nhập khẩu thì đề nghị hải quan nước bạn phối hợp xác minh giá của lô hàng đó ghi trên tờ khai xuất khẩu tại nước xuất khẩu vì thông thường hàng hoá xuất khẩu thường được hoàn thuế nên trị giá khai báo trên tờ khai xuất khẩu sẽ phản ánh đúng giá thực tế của hàng hoá. Ngược lại, khi hải quan nước bạn đề nghị xác minh trị giá hải quan cho lô hàng nhất định, Việt Nam sẽ tìm kiếm trị giá trên tờ khai xuất khẩu tại Việt nam để cung cấp. Để việc hợp tác đem lại hiệu quả, trước mắt tập trung vào những nước, những vùng lãnh thổ có hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam với kim ngạch lớn, có khả năng xảy ra gian lận thương mại cao (ví dụ: Hàng hoá nhập khẩu từ các nước Asean, Trung Quốc, Đài Loan,) . - Đẩy mạnh hoạt động của các tùy viên hải quan ở các nước. Hoạt động này cần những chính sách và kinh phí phù hợp, khắc phục những tồn tại không hiệu quả trong thời gian trước đây. - Xây dựng cơ chế mua tin qua các tổ chức thẩm định trị giá trung lập như: SGS, để xác minh trị giá khai báo của một số trường hợp đặc biệt, cần củng cố thông tin để có kết luận cụ thể trong quá trình kiểm tra, tham vấn. Việc xây dựng cơ chế mua tin nhằm chủ động xác minh các nguồn thông tin có liên quan đến trị giá, ngăn chặn gian lận thương mại từ xa, rút ngắn thời gian kiểm tra, kiểm soát hàng hoá khi về đến Việt Nam, phù hợp với tiến trình hội nhập, cải cách và hiện đại hoá của Ngành Hải quan. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và trong khu vực về việc cử đại diện hải quan ở nước ngoài, nhất là tại các nước hoặc khối nước có mối quan hệ thương mại lớn với Việt nam là rất quan trọng và cần thiết, vừa giúp cho Hải quan nắm vững các thủ tục hải quan của các nước, cập nhật những nội dung mới phát sinh trong quá trình thực hiện Hiệp định trị giá GATT từ các nước thành viên và bổ sung nguồn thông tin trong quá trình kiểm tra trị giá, tham vấn và xác định giá..vv, vừa nắm được thông tin doanh nghiệp nước ngoài có quan hệ thương mại với Việt Nam . 4.3.5 Tăng cường hiệu quả tham vấn giá trong KTSTQ về TGHQ. Trong thực tế ở Việt Nam hiện nay, tham vấn về trị giá được chỉ được chú trọng trong khâu thông quan của quá trình làm thủ tục hải quan và hiệu quả tham vấn không cao. Theo mô hình chung của các nước phát triển thì bộ phận KTSTQ là đơn vị phụ trách về kiểm tra tính chính xác, trung thực của trị giá khai báo, và tiến hành tham vấn khi có nghi ngờ về trị giá khai báo. Vì vậy, một trong những giải pháp hỗ trợ công tác KTSTQ về trị giá hải quan là phải tăng cường hiệu quả công tác tham vấn trị giá hải quan. Cần tiến hành các giải pháp như: - Minh bạch hóa các văn bản pháp quy về xác định trị giá hải quan. Tính minh bạch của văn bản pháp quy đươc thể hiện ở hai phương diện là khả năng áp dụng trực tiếp điều khoản quy định vào thực tế và tính liên thông giữa các văn bản pháp luật có liên quan. Do vậy, đối với hệ thống văn bản pháp luật và văn bản dưới luật cần được giảm thiểu số lượng văn bản hướng dẫn, tiến đến khả năng trực tiếp áp dụng điều luật vào thực xác định trị giá. Bộ Tài Chính và Tổng Cục Hải quan cần tổ chức rà soát lại toàn bộ hệ thống văn bản liên quan đến xác định trị giá hải quan để thực hiện chỉnh sửa, bổ sung phù hợp. - Xây dựng quy trình tham vấn trị giá hải quan theo hướng hiện đại hóa bằng cách phân định rạch ròi giữa hai loại hình là tham vấn để xác định trị giá hải quan (tư vấn) và tham vấn để kiểm tra trị giá hải quan (kiểm tra sau thông quan). Mô hình tách hai hoạt động xác định và kiểm tra sẽ giúp bộ phận hải quan chuyên trách từng khâu nghiệp vụ có thể tập trung nguồn lực của mình để nâng cao hiệu quả công việc. Trong đó, cần đề cao vai trò quan trọng, quy định trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ trong quá trình tham vấn để kiểm tra trị giá hải quan, bởi vì trong khi áp lực hàng hóa thông quan ngày càng nhanh hơn, công chức hải quan trong khâu thông quan không thể đủ thời gian và cũng không đủ thông tin để kiểm tra hay tham vấn một cách bài bản, chi tiết mà khâu KTSTQ sẽ có nhiều thời gian để tập trung kiểm tra, tập trung kiểm chứng và chọn lọc thông tin tốt hơn. - Cần nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ quản lý tham vấn giá. Thường xuyên tổ chức các chương trình đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ công chức dặc biệt là xây dựng năng lực cho đội ngũ công chức kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan về nghiệp vụ kiểm định, kỹ năng tham vấn bao gồm: Kiểm tra hồ sơ, tài liệu khai báo và kiểm tra trị giá khai báo, chuẩn bị tham vấn, cách thức tham vấn, nội dung tham vấn, hình thức tham vấn, biên bản tham vấn, kết luận sau tham vấn. - Xây dựng hệ thống quản lý thông tin chung để đản bảo những người làm nhiệm vụ quản lý giá, tham vấn giá có thể truy cập và sử dụng, khai thác thông tin về hàng hóa, người khai hải quan, chủ hàng, ở mọi khía cạnh cần thiết. Bộ phận kiểm tra sau thông quan các cấp phải được trang bị quyền và khả năng truy cập vào tất cả các nguồn thông tin hợp pháp liên quan đến hoạt động doanh nghiệp; được cung cấp thông tin đầy đủ qua kênh thông tin của cơ sở dữ liệu giá, thông tin quản lý rủi ro, thông tin tình báo hải quan, lưu ý các thông tin này phải được xử lý bằng những công cụ hiện đại, cho pháp truy cập nhanh và chính xác. - Nâng cao chương trình phần mềm về quản lý cơ sở dữ liệu giá theo hướng tích hợp trực tiếp với chương trình quản lý dữ liệu chung của toàn Ngành. Trên thực tế, cơ sở dữ liệu giá hiện nay còn thể hiện hai hạn chế cơ bản là thiếu tính phong phú và biệt lập với hệ thống đa chức năng của Ngành. Để tiến tới áp dụng thông quan điện tử cho hàng hóa xuất, nhập khẩu, cần xây dựng được một hệ thống thông tin chung để đảm bảo người làm nhiệm vụ quản lý giá, tham vấn giá có thể truy cập, sử dụng và khai thác thông tin về hàng hóa, người khai hải quan, chủ hàng ở mọi khía cạnh cần thiết. 4.4. Một số khuyến nghị: 4.4.1. Khuyến nghị với Chính phủ: Cần sắp xếp cơ cấu tổ chức của hệ thống cơ quan Hải quan, trong đó ưu tiên tăng biên chế cho ngành hải quan để bổ sung thêm lực lượng KTSTQ nhằm phù hợp với yêu cầu công việc, từng giai đoạn phát triển ngành Hải quan . Mô hình tổ chức của hệ thống cơ quan Hải quan tổ chức theo khu vực, theo yêu cầu công việc, không phụ thuộc vào địa giới hành chính của tỉnh là xu hướng của thực tế hiện nay. Mô hình này hiện đã được hải quan các nước trên thế giới áp dụng và triển khai có hiệu quả như: Hải quan Pháp, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc. Việc sắp xếp hệ thống tổ chức theo khu vực của cơ quan Hải quan theo yêu cầu nhiệm vụ chứ không phải theo yêu cầu tổ chức hành chính. Việc tổ chức theo mô hình này sẽ tăng cường được năng lực quản lý, điều hành của cấp Tổng cục Hải quan, giảm bớt đầu mối trung gian để phù hợp với yêu cầu cải cách, hiện đại hóa. Tiêu chuẩn hóa trụ sở làm việc gắn với hệ thống cơ sở vật chất và công nghệ thông tin hiện đại. Đặc biệt, nguồn nhân lực sẽ được chuyên nghiệp và nâng cao chất lượng hơn trong đó có lực lượng KTSTQ. Biên chế của ngành Hải quan được xác định trong phạm vi tổng số biên chế được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao cho Bộ Tài chính. Bộ trưởng Bộ Tài chính giao chỉ tiêu biên chế cho ngành Hải quan phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định trên cơ sở chủ động tổ chức, sắp xếp bộ máy quản lý và sử dụng lao động theo đúng chủ trương tinh giản biên chế của Nhà nước. Bên cạnh có cần có đề xuất thí điểm thực hiện thi tuyển các chức danh lãnh đạo cấp Tổng Cục, CụcTuy nhiên, làm sao đảm bảo tính chất chuyên sâu và không phụ thuộc vào địa giới hành chính thì ngành Hải quan cần phải xây dựng cụ thể, cần có lộ trình thực hiện thích hợp trong 5 đến 10 năm, có thể sẽ làm thí điểm ở một vài đơn vị. Chỉ đạo các Bộ, Ngành phối hợp, hỗ trợ đến công tác kiểm tra sau thông quan nói chung và kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan nói riêng. Chính phủ cần cẩy mạnh sự phối hợp giữa các Bộ, Ngành có liên quan đến kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan, trong đó có các nội dung như: + Chỉ đạo Bộ Tài Chính nghiên cứu, phối hợp với Bộ Công an đẩy mạnh sự phối hợp trong gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan, trốn lậu thuếGiao cho Bộ Tài chính kiện toàn hệ thống kế toán công và kế toán doanh nghiệp để thực sự trở thành công cụ quản lý kiểm soát hoạt động kinh tế. + Chỉ đạo Bộ Tài chính, Tổng Cục hải quan, phối hợp với Ngân hàng nhà nước trong việc nâng cao hiệu quả việc kiểm tra, kiểm soát các khoản giao dịch thanh toán; giảm dần các giao dịch bằng tiền mặt, tiến tới chấm dứt các giao dịch tiền mặt giữa các tổ chức thương mại. + Chỉ đạo phối hợp với Bộ Công Thương trong việc hỗ trợ và phổ cập rộng rãi trên các phương tiện đại chúng về mức giá giao dịch của các mặt hàng chủ yếu nhập khẩu vào Việt Nam với số lượng lớn ở các thị trường lớn và khu vực. + Chỉ đạo phối hợp với Bộ Ngoại giao để hỗ trợ Bộ tài chính tổ chức được mạng lưới đại diện hải quan tại nước ngoài. 4.4.2 Khuyến nghị với Bộ Tài Chính: Bộ Tài Chính không ngừng hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn KTSTQ về TGHQ. Cần tăng cường hơn nữa nguyên tắc pháp chế trong hoạt động của KTSTQ nói chung và KTSTQ về TGHQ nói riêng. Nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, Bộ Tài chính cần phải không ngừng rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định về pháp luật liên quan đến hoạt động KTSTQ. Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan cần tổ chức và xây dựng lại toàn bộ hệ thống văn bản hướng dẫn áp dụng trong nội bộ Ngành Hải quan về các phương pháp xác định trị giá hải quan, các quy trình xác định trị giá, các quy trình tham vấn trị giá , v.v Trên cơ sở Luật Hải Quan sửa đổi sắp có hiệu lực vào năm 2015, Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan cần xem xét ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể về: quy trình tham vấn trị giá hải quan; quy trình kiểm tra trị giá hải quan; và những quy trình nghiệp vụ khác có liên quan đến lĩnh vực kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan. Bổ sung đầy đủ thẩm quyền về xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng KTSTQ về TGHQ ngành Hải quan trong pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và quy định cụ thể thẩm quyền trong xử lý vi phạm về trị giá hải quan. Đồng thời, phải có chế tài xử lý nghiêm những hành vi gian lận về trị gá hải quan. Nghiên cứu đề xuất với Chính Phủ xây dựng cơ chế trưng mua tài sản đối với trường hợp gian lận qua trị giá hải quan. Việc trưng mua, trưng dụng tài sản của cá nhân, tổ chức đã được quy định trong các luật, pháp lệnh được ban hành trong thời gian gần đây nhưng mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung, chưa có quy định cụ thể về đối tượng, thẩm quyền, điều kiện tiến hành việc trưng mua, trưng dụng. Vì vậy, để thực hiện đầy đủ Hiệp định trị giá GATT/WTO, thực hiện tốt kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan cần sớm nghiên cứu, xây dựng cơ chế trưng mua đối với những trường hợp trưng mua tài sản đối với trường hợp gian lận qua trị giá hải quan. Áp dụng cơ chế “trưng mua hàng hóa” trong trường hợp hàng nhập khẩu được bán phá giá, được trợ giá hoặc doanh nghiệp khai báo trị giá hàng hóa nhập khẩu quá thấp mà cơ quan hải quan chưa thể có đủ căn cứ để đấu tranh, thì có thể trưng mua hàng hóa đó theo giá khai báo sau khi đã bù đắp một số chi phí hợp lý cho doanh nghiệp. Như vậy mới góp phần răn đe, ngăn chặn việc gian lận thương mại qua giá tính thuế ở một số mặt hàng hóa xuất, nhập khẩu trong. Để làm được điều đó cần phải có cơ sở pháp lý quy định rõ ràng, minh bạch việc trưng mua, trưng dụng trưng mua tài sản đối với trường hợp gian lận qua trị giá Hải quan. Tăng cường chỉ đạo về cơ sở vật chất, chương trình hành động cho công tác KTSTQ về TGHQ. Bộ Tài Chính cần tăng cường chỉ đạo về cơ sở vật chất, chương trình hành động đối với ngành hải quan nói chung và KTSTQ nói riêng. Chú trọng đến nâng cao chất lượng các chương trình thực hiện thủ tục hải quan điện tử; hệ thống VNACCS/VCIS một cách hiệu quả; tăng hiệu quả hoạt động quản lý rủi ro; nhanh chóng triển khai công tác kiểm tra sau thông quan đối với thủ tục hải quan điện tử. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính phải đảm bảo kinh phí và tiến độ trang bị cơ sở vật chất, phương tiện, trang bị hiện đại phục vụ hoạt động nghiệp vụ của Ngành Hải quan.  Trang bị phương tiện, cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật, vũ khí, công cụ hỗ trợ, thiết bị công nghệ thông tin đối với từng hoạt động nghiệp vụ của Ngành cũng đã được rà soát, xác định nhu cầu để lập kế hoạch, đề án trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. 4.4.3 Khuyến nghị với Tổng Cục Hải Quan: Đẩy mạnh cải cách hành chính, hiện đại hóa trong lĩnh vực hải quan. Trong bối cảnh triển khai công cuộc cải cách thủ tục hành chính hiện nay, Tổng cục Hải quan xác định cải cách, hiện đại hóa Hải quan là một đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập của đất nước, đồng thời xuất phát từ thực trạng, nguồn lực quản lý của ngành Hải quan. Trọng tâm là cải cách thủ tục hải quan dựa trên phương pháp quản lý hải quan hiện đại theo hướng tuân thủ các chuẩn mực, thông lệ và cam kết quốc tế, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin. Để thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan cần: - Tập trung đầu tư, hiện đại hóa các trụ sở làm việc, đầu tư các trang thiết bị kỹ thuật, công cụ hỗ trợ; hạ tầng truyền thông và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho các mặt hoạt động cơ quan hải quan. - Đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương nhằm chia sẻ kinh nghiệm về cải cách, hiện đại hóa, phương pháp, kỹ thuật quản lý hiện đại hóa hải quan. - Tìm kiếm, vận động các dự án hỗ trợ kỹ thuật, viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế và các nước phục vụ cho quá trình cải cách, phát triển và hiện đại hóa ngành. - Bên cạnh đó, cần có chiến lược tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hiệu quả. Yếu tố con người là một trong những tiền đề quan trong cho sự thành công của cải cách, hiện đại hóa lĩnh vực hải quan. Muốn vậy, bên cạnh đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, Tổng cũng hải quan cũng cần có những chính sách, cơ chế đãi ngộ khen thưởng cho lực lượng KTSTQ về TGHQ. Nên thành lập các quỹ hỗ trợ KTSTQ để nhằm mục đích phục vụ cho công tác KTSTQ nói chung và KTSTQ về TGHQ nói riêng như: mua tin phục vụ cho công tác KTSTQ về TGHQ, mua các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác KTSTQ về TGHQ, thưởng các cá nhân trong và ngoài Ngành có thành tích trong việc phối hợp KTSTQ về TGHQ Đồng thời với quy định chế độ ưu đãi, khen thưởng cụ thể, Tổng Cục hải quan phải có những quy định kỷ luật nghiêm khắc đối với những cán bộ hải quan làm công tác KTSTQ về TGHQ có hành vi trái pháp luật, gây tổn hại cho doanh nghiệp hoặc có hành vi tiêu cực cấu kết với doanh nghiệp để làm sai lệch kết quả KTSTQ về TGHQ. Xây dựng chuẩn mực kiểm tra sau thông quan. Tổng cục Hải quan cần nhanh chóng xây dựng chuẩn mực kiểm tra sau thông quan. Điều đó đòi hỏi quá trình thực hiện KTSTQ của cơ quan hải quan được tiến hành dựa trên cơ sở các chuẩn mực, với phương pháp tiếp cận khoa học, đảm bảo tính chính xác, trung thực và khách quan. Hệ thống chuẩn mực kiểm tra sau thông quan là cơ sở cần thiết để các bên có liên quan có nghĩa vụ phải thực hiện. Việc tuân thủ các chuẩn mực trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KTSTQ đảm bảo cho quá trình này được tiến hành khách quan, khoa học, tuân thủ các quy định của pháp luật, đảm bảo cho kết quả KTSTQ có độ chính xác cao, có cơ sở pháp lý tin cậy, phục vụ cho việc đánh giá tính tuân thủ, đảm bảo hệ thống thanh tra, kiểm tra của cơ quan hải quan và cơ quan Nhà nước khác có thẩm quyền thực thi có hiệu quả, tránh chồng chéo gây cản trở cho hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Tăng cường đào tạo kỹ năng KTSTQ về TGHQ, trong đó chú trọng kỹ năng về kế toán, kiểm toán, phát hiện gian lận thương mại. Nếu các doanh nghiệp có hành vi gian lận trị giá hải quan qua chứng từ thương mại và chứng từ ngân hàng thì chắc chắn họ sẽ chỉnh sửa chứng từ kế toán để tạo ra nguồn tiền mặt thanh toán không chính thức cho bên mua. Vì thế phải có am hiểu về chứng từ trên mới có thể phát hiện ra được những hành vi gian lận của doanh nghiệp, do dó, nâng cao các kỹ năng kiểm tra chứng từ trong đó kỹ năng về kế toán, kiểm toán luôn phải được quan tâm đào tạo cho cán bộ thực hiện KTSTQ về TGHQ. Bên cạnh đó, cần tiếp tục kiểm tra phát hiện những hình thức vi phạm gian lận thương mại trong lĩnh vực khai báo trị giá hải quan, trong đó bao gồm cả hành vi chuyển giá. Ở Việt Nam, các hành vi chuyển giá diễn ra khá đa dạng và tương đối phức tạp. Hoạt động này được các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các nhà đầu tư sử dụng để giảm nghĩa vụ nộp thuế, gia tăng lợi ích cục bộ. Xét tổng thể, chuyển giá không những tạo ra rủi ro cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh, ảnh hưởng đến chính sách quản lý và điều hành nền kinh tế của Chính phủ. Vì thế, chuyển giá là hoạt động cần phải được ngăn chặn. Chính vì vậy, cơ quan Hải quan phải tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với trị giá tài sản góp vốn là máy móc, thiết bị nhập khẩu để ngăn ngừa tình trạng chuyển tiền qua việc khai tăng trị giá vốn góp là các hàng hoá nhập khẩu như hiện nay. Trên cơ sở thông tin dữ liệu hiện có của ngành thuế, cần khẩn trương rà soát lại các doanh nghiệp FDI, các tập đoàn kinh tế kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực để xác định các đầu mối doanh nghiệp là các bên liên kết, làm căn cứ cho việc xây dựng kế hoạch, xác định rõ phạm vi cần tiến hành các cuộc kiểm tra, thanh tra đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm theo nội dung yêu cầu của chuyên đề chống chuyển giá. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động chuyển giá, trong đó chú trọng công tác kiểm tra sau thông quan. 4.3.4.2. Hoàn chỉnh chế độ và áp dụng thành công quản lý Doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt. Khái niệm doanh nghiệp ưu tiên và chương trình doanh nghiệp ưu tiên gắn liền với khung tiêu chuẩn về an ninh, tạo thuận lợi cho thương mại toàn cầu trên đã được WCO thông qua năm 2005. Một trong những mục tiêu của Khung tiêu chuẩn WCO là tăng cường sự hợp tác giữa Hải quan – Doanh nghiệp. Đồng thời, một trong bốn nhân tố chính của Khung tiêu chuẩn là chỉ ra những ưu đãi Hải quan dành cho các doanh nghiệp đáp ứng được yêu cầu tối thiểu của an ninh dây chuyền cung ứng và chấp hành tốt pháp luật hải quan. Theo đó, doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt (AEO - Authorized Economic Operator) được định nghĩa là một bên tham gia vào hoạt động lưu chuyển hàng hóa quốc tế, được cơ quan Hải quan công nhận tuân theo những tiêu chuẩn của WCO hoặc những tiêu chuẩn an ninh dây chuyền cung ứng tương đương. Triển khai AEO hiện nay đang là một chương trình hàng đầu của hải quan nhiều nước. Hoàn chỉnh chế độ và áp dụng thành công chương trình” Doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt” sẽ nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về Hải quan, tạo thuận lợi thương mại và khuyến khích doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật mối quan hệ đối tác giữa Hải quan và doanh nghiệp càng ngày càng được coi trọng và phát triển. Xác định đây là công việc lâu dài, có tầm quan trọng trong công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá Hải quan, Tổng Cục Hải quan cần có những giải pháp và định hướng cụ thể để tiếp tục triển khai chương trình AEO phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và điều kiện đặc thù của Việt nam. Qua đó, có chế độ đối xử phù hợp như tạo điều kiện cho doanh nghiệp chấp hành tốt, tập trung được nguồn lực kiểm tra đối với những đối tượng có nhiều rủi ro cao có khả năng vi phạm, gian lận, trốn thuế Bên cạnh đó, cần có bộ phận chuyên trách đảm nhiệm vận hành chương trình này, không làm một cách tạm thời như hiện nay. Tổng cục Hải quan cần bố trí các bộ phận chuyên trách cấp phòng, ở địa phương, tùy theo số lượng và quy mô các AEO để thành lập cấp đội hoặc tổ trực thuộc chi cục KTSTQ. Nghiên cứu cụ thể việc xây dựng tổ chức bộ máy triển khai, thực hiện chế độ này. Nghiên cứu chương trình AEO của các nước để từ đó tìm ra những bài học kinh nghiệm áp dụng cho Hải quan Việt Nam KẾT LUẬN Kiểm tra sau thông quan là một trong những nội dung trọng tâm của công tác hải quan. Trong kiểm tra sau thông quan thì kiểm tra về trị giá hải quan là chủ yếu và quan trọng nhất. Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan là công cụ quan trọng số một trong việc phát hiện, ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động gian lận thương mại, đặc biệt là chống chuyển giá. Đối với Việt nam, vì nhiều lý do, công tác kiểm tra sau thông quan nói chung và kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan đang được đặt ra hết sức cấp bách cả về số lượng và chất lượng công việc, nhưng việc triển khai thực hiện trong thời gian qua đạt kết quả còn thấp. Chính vì vậy, nghiên cứu đề tài luận án: “Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan ở Việt Nam”, mong muốn góp một số ý kiến nhằm tăng cường hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan cũng như góp phần trong công cuộc cải cách, hiện đại hóa và đổi mới của Ngành Hải quan. Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về khái niệm kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan, các quy trình, kỹ thuật kiểm tra sau thông quan; vai trò và yêu cầu của kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan. Đồng thời, qua kinh nghiệm quốc tế trong kiểm tra sau thông quan của một số nước điển hình, luận án rút ra một số nhận xét và bài học làm cơ sở cho đề xuất các giải pháp ở phần tiếp theo. Trên cơ sở quan điểm về KTSTQ về TGHQ đã trình bày, luận án đi sâu phân tích về thực trạng kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan ở Việt Nam, đảm bảo đưa đến cái nhìn toàn diện trong công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan hiện nay. Qua đó, tác giả rút ra những tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế đó; làm cơ sở tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan. Với những kiến thức tìm hiểu được, tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan hiện nay và cả những năm tiếp theo, trong đó tập trung vào các giải pháp về chất lượng và số lượng cán bộ KTSTQ về TGHQ; Cải tiến hệ thống cơ sở dữ liệu giá và tăng cường hợp tác trong nước và quốc tế trong lĩnh vực KTSTQ về trị giá hải quan Để thực hiện các giải pháp đề xuất trong đề tài không thể tách rời sự quan tâm, chỉ đạo thực hiện kiên quyết, thường xuyên, kịp thời và đồng bộ từ Chính Phủ, các Bộ, Ngành và cơ quan quản lý Nhà Nước có thẩm quyền kể cả sự hỗ trợ của quốc tế.v.v. Các giải pháp đề xuất áp dụng cần được thường xuyên cập nhật, điều chỉnh, bổ sung nhằm không ngừng hoàn thiện, đáp ứng sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của thương mại trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tuy nhiên, kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan là lĩnh vực mới, và đang còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, việc thực hiện KTSTQ về TGHQ đang được hướng đến trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử, thì vấn đề về KTSTQ về TGHQ vẫn là câu hỏi lớn cho những nghiên cứu tiếp theo. Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù tác giả đã có nhiều sự cố gắng, song luận án sẽ không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết. Tác giả rất mong được các cơ quan, đơn vị, cá nhân góp ý xây dựng chân thành để được chỉnh sửa luận án có chất lượng cao hơn./. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt: Ban Thư ký Asean (2004), Tài liệu hướng dẫn xác định trị giá hải quan Asean. Bộ tài chính (2001), Nghị định số 102/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 của Chính phủ quy định chi tiết về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Bộ tài chính (2003), Thông tư 96/2003/TT-BTC ngày 10/10/2003 của Bộ Tài chính được ban hành hướng dẫn thi hành Nghị định số 102/2001/NĐ-CP ngày 31/12/2001 của Chính phủ Bộ tài chính (2005), Thông tư 114/2005/TT-BTC ngày 15/12/2005 về hướng dẫn về kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. .Bộ tài chính (2004), Chiến lược phát triển và hiện đại hóa ngành Hải quan đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, Bộ Tài Chính (2010), Thông tư số 205/2010/TT-BTC ngày 15/12/2010 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 40/2007/NĐ-CP quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu Bộ Tài Chính (2005), Nghị định 154/2005/ND-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan. Bộ Tài Chính (2013), Thông tư số 194/2010/TT-BTC ngày 6/12/2010 của Bộ Tài Chính hướng dẫn về thủ tục hải quan và kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Bộ Tài Chính (2008), Quyết định số 1102/2008/QĐ-BTC ngày 21/5/2008 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về việc xây dựng cơ sở dữ liệu giá. Bộ Tài Chính (2008), Quyết định số 30/2008/QĐ-BTC ngày 21/5/2008 về việc ban hành tờ khai trị giá tính thuế hàng hóa nhập khẩu và hướng dẫn khai báo. Bộ Tài Chính (2012), Thông tư số 182/2012/TT-BTC ngày 25/10/2012 của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung điểm 1, Mục I hướng dẫn khai báo trị giá tính thuế trên tờ khai trị giá ban hành kèm theo Quyết định số 30/2008/QĐ-BTC ngày 21/5/2008. Cục thuế xuất nhập khẩu – Tổng cục Hải quan (2011), Đề tài “ Hoàn thiện cơ sở dữ liệu giá tính thuế”. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (1999), Nghị định số 16/1999/NĐ-CP ngày 27/03/1999 quy định về thủ tục hải quan, giám sát và lệ phí hải quan. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2007), Nghị định số 40/2007/NĐ-CP ngày 16/3/2007 của Chính phủ quy định về việc xác định trị giá hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2010), Nghị định số 87/2010/NĐ-CP ngày 13/8/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Đề án tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan, Tổng cục Hải quan (2006 ) Đào Ngọc Xuân, Xây dựng chuẩn mực kiểm tra sau thông quan, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Tài chính.(2007) Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ- Xây dựng chuẩn mực Kiểm tra sau thông quan. . Hải quan New Zealand (2012), Cải thiện tính tuân thủ của Hải quan New Zealand www.customs.govt.nz. Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT)- Kết quả vòng đàm phán Uruguay về hệ thống thương mại đa biên – NXB Thống kê năm 2000 Hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) đã sửa đổi và bổ sung theo Nghị định thư sửa đổi hiệp định về chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung cho khu vực Thương mại tự do ASEAN (AFTA) ngày 15/12/1995- Ủy bán Quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế Hoàng Việt Cường, Nâng cao hiệu quả nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan đối với hoạt động thanh toán quốc tế qua ngân hàng Hoàng Trần Hậu,( 2005), Sử dụng hiệu quả các công cụ kế toán, kiểm toán trong hoạt động kiểm tra sau thông quan ở Việt Nam hiện nay, Nà Nội, Học viện tài chính, (2009)- Giáo trình trị giá hải quan. Luật Hải quan Mỹ, (2003), Lực lượng Hải quan và Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ Luật Hải quan New Zealand, (2005), Hải quan New Zealand Luật Hải quan Nhật Bản, (2000), Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản Luật Thuế Hải quan của Nhật Bản, (2000), Hiệp hội Doanh nghiệp Nhật Bản Mai Thế Huyên (2002), Cơ sở lý luận thực tiễn nội dung và tác nghiệp cụ thể nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan trong ngành Hải quan. Nghiên cứu hải quan : “Áp dụng quản lý rủi ro trong lĩnh vực tri giá hải quan – Kinh nghiệm của Hải quan Indonesia”, Nguyễn Thị An Giang, (2008)- Nâng cao hiệu quả hoạt động tham vấn trong khâu kiểm tra xác định trị giá hải quan tại các cục hải quan địa phương- Nguyễn Thị Thương Huyền,(2008) Kiểm tra hồ sơ hải quan đối với hàng hoá xuất, nhập khẩu - thực trạng và giải pháp, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Tài chính. Nguyễn Viết Hồng (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Kế hoạch cải cách pháp triển và hiện đại hoá hải quan giai đoạn 2004-2006 - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Tổng cục Hải quan. Nguyễn Văn Bình, (2007), Nâng cao hiệu quả kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo loại hình gia công, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành, Tổng cục Hải quan Nguyễn Thị Kim Oanh (20011), Kiểm tra sau thông quan ở Việt Nam trong bối cảnh tự do hóa thương mại – Luận án tiến sĩ Phạm Vũ Minh, (2007), Mô hình kiểm tra sau thông quan ở một số nước trên thế giới và khả năng áp dụng cho Việt Nam, Luận án tiến sĩ. Phương Linh (2001), “Kinh nghiệm Hải quan Thái Lan khi thực hiện Hiệp định Trị giá Hải quan GATT/WTO ”, Tạp chí Hải quan số 4, tr10. Phạm Ngọc Hữu, Nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan , Hà Nội, 4/2003 Phạm Thị Bích Ngọc & Thái Bùi Hải An, Đề tài nghiên cứu khoa học- Doanh nghiệp ưu tiên đặc biệt - Kinh nghiệm của các nước và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” Quốc hội khóa 10 (2001), Luật Hải quan số 29/2001/QH10 ngày 29/6/2001. Quốc hội khóa 11 (1993), Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Quốc hội khóa 11 (2005), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan số 42/2005/QH11 ngày 14/6/2005. Quốc hội khóa 11 (2005), Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14/6/2005. Quốc hội khóa 11 (2006), Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11 ngày 29/11/2006. Quốc hội khóa 13 (2012), Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012. Quốc hội khóa 11 (2005), Luật Thương mại số 36/2005/QH11ngày 14/06/2005. Tổng cục Hải quan,(2003), Công ước Kyoto sửa đổi, Hà Nội Tổng cục Hải quan: Báo cáo triển khai thực hiện Chỉ thị 568/CT-TCHQ Tổng Cục Hải quan , Báo các tổng kết công tác ngành Hải quan năm 2003,2004,2005,2006,2007,2008, 2009, 2010,2011,2012,2013 Tổng cục Hải quan. Tổng Cục Hải quan, Báo các tổng kết công tác năm 2003,2004,2005,2006,2007,2008, 2009, 2010,2011, 2012,2013 Cục kiểm tra sau thông quan. Tổng Cục Hải quan , Báo các tổng kết công tác năm 2006,2007,2008, 2009, 2010,2011, 2012,2013 Phòng 1- Cục kiểm tra sau thông quan. Tổng Cục Hải quan (2013), Quyết định số 621/QĐ-TCHQ về việc ban hành Quy trình phúc tập hồ sơ hải quan và Quy trình Kiểm tra sau thông quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Tổng Cục Hải quan (2009), Quyết định 1383/QĐ-TCHQ ngày 14/7/2009 về ban hành Quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, quy trình kiểm tra thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu. Tổng Cục Hải quan (2013), Quyết định 3550/QĐ-TCHQ ngày 1/1/2013 về ban hành Quy trình nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, quy trình kiểm tra thuế đối với hàng hóa xuất khẩu nhập khẩu. Tổng cục Hải quan , Tập bài giảng Trị giá Hải quan Việt Nam, 2006, Trung tâm đào tạo Bồi dưỡng Công chức Hải quan, Tổng cục Hải quan, Tài liệu giảng dạy của nhóm làm việc về Kiểm tra sau thông quan. Tổng cục Hải quan, (2006),Tài liệu dùng cho lớp nghiệp vụ Hải quan tổng hợp, chuyên đề Kiểm tra sau thông quan của Trung tâm đào tạo bồi dưỡng công chức hải quan. Tổ chức Hải quan Thế giới,(2000),Sổ tay Kiểm tra xác định Trị giá Hải quan của Tổ chức Hải quan Thế giới. Tổ chức Hải quan Thế giới,(1998), Giáo trình xác định Trị giá Hải quan của Tổ chức Hải quan Thế giới. Tổ chức Hải quan Thế giới,(2010), Sổ tay Kiểm tra xác định Trị giá Hải quan của Tổ chức Hải quan Thế giới. Tổng cục thống kê (2012)– NXB Thống Kê, Xuất nhập khẩu hàng hoá (International Merchandise Trade Viet Nam Tổ chức hải quan thế giới (2010), Sổ tay về chống gian lận thương mại. Tổ chức hải quan thế giới (2010), Sổ tay về kiểm tra trị giá. Tạ Thị Mão- (2008), Xây dựng phần mền thu thập, khai thác thông tin phục vụ công tác kiểm tra sau thông quan. Vụ hợp tác quốc tế- Tổng cục Hải quan (2008), Hướng dẫn xác định trị giá Hải quan ASEAN. Website: WTO.org Customs.gov.vn Trang Web của Tổ chức Asean, Tiếng Anh: 1. Mark Siegrist (2000), Report on the preparation Requirement for the implementation of WTO/ GATT valuation in Vietnam. 2. New Zealand Customs Service (2002), Customs post entry audit for Lao, Myanmar, Vietnam. 3. Alan Hall (2002) Strengthening the Capacity of Vietnam customs, Report on project implemetation during phase1 and recommendation possible – project phase 2 UNDP – Funded Project VIE/97/059. 4. WCO(2000)Commercial fraud enforcement techniques; Risk management, Profiling and Selectivity; Commercial Fraud; Investigative Procedures; Post – clearance Audit. 5. ASEAN PCA Manual (2004).

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docde_ta_luan_an_tien_si_pbn_ban_bao_ve_hv_3123.doc
Luận văn liên quan