Luận án Tác động của QTCT đến chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam

Góc độ chủ quan phía doanh nghiệp, do sai sót từ quá trình lập BCTC, vấn đề này phụ thuộc vào sự hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ. Doanh nghiệp niêm yết cần phải thường xuyên đánh giá và cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm giảm rủi ro những sai sót những chỉ tiêu tài chính trọng yếu trong quá trình lập BCTC. Tuy nhiên, điều này không loại trừ việc doanh nghiệp có những hành vi cố tình làm sai lệch số liệu kế toán để nhằm mục tiêu cho cá nhân hoặc nhóm lợi ích nào đó. Trong trường hợp này, giải pháp đưa ra là tăng cường giám sát hiệu quả của BKS và KTNB.

pdf178 trang | Chia sẻ: tueminh09 | Ngày: 08/02/2022 | Lượt xem: 371 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận án Tác động của QTCT đến chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ông tin tài chính: bao gồm các nghiệp vụ thông thường và các nghiệp vụ xử lý vào thời điểm cuối năm. Doanh nghiệp cần chủ động đưa ra những quy định cụ thể cho từng loại nghiệp vụ từ đó chủ động trong quá trình tạo lập, đặc biệt đối với những công ty lập báo cáo tài chính hợp nhất. 150 - Thông tin phi tài chính: đây là những loại thông tin có thể đánh giá trước khi kết thúc niên độ, do đó nội dung loại thông tin này có thể chuẩn bị trước thời điểm kết thúc niên độ. - Cần phải có ràng buộc với công ty kiểm toán độc lập nhằm xây dựng kế hoạch kiểm toán bắt đầu từ việc soát xét BCTC quý và giữa niên độ nhằm rút ngắn thời gian kiểm toán. 5.2.2 Kiến nghị tăng cường QTCT nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC các công ty niêm yết ở Việt Nam Căn cứ vào kết quả nghiên cứu định lượng và phỏng vấn các chuyên gia, luận án xem xét những mặt tích cực cũng như các yếu kém làm cơ sở đưa ra kiến nghị. Kiến nghị về QTCT nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC chủ yếu tập trung vào vai trò giám sát của HĐQT và BKS. Như đã trình bày tại chương 2, hiệu quả của cơ chế kiểm soát của từng yếu tố trong QTCT phụ thuộc vào các đặc tính như: cơ cấu, sự độc lập, năng lực chuyên môn, quyền hạn, trách nhiệm và sự cẩn trọng của chúng. Bên cạnh đó, qua ý kiến chuyên gia đã trình bày trong chương 4 khi đưa ra các nhận định về sự tác động của các yếu tố QTCT đến chất lượng thông tin BCTC, các chuyên gia đều tập trung vào những nguyên nhân xuất phát từ nhiệm vụ, sự độc lập, quyền hạn, trách nhiệm và sự cẩn trọng của từng yếu tố QTCT. Vì vậy, kiến nghị cụ thể đặt ra nhằm tăng cường QTCT là tăng cường các đặc tính của từng yếu tố có ảnh hưởng đến quy trình lập và công bố thông tin BCTC thông qua tăng cường nhiệm vụ, sự độc lập, quyền hạn, trách nhiệm và sự cẩn trọng của từng yếu tố QTCT. Những kiến nghị này nhằm hướng đến việc thực hiện hiệu quả vai trò của từng yếu tố để Ban điều hành sẽ lập và công bố theo hướng những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC đã đề ra ở trên. 5.2.2.1 Các kiến nghị liên quan đến HĐQT Mặc dù trong Luật doanh nghiệp, HĐQT được quyết định về các quy chế quản lý nội bộ, nhưng không nhấn mạnh hoặc chưa hướng dẫn cụ thể về các chính 151 sách liên quan đến sự đảm bảo tính trung thực cũng như sự đầy đủ của các thông tin tài chính và phi tài chính cung cấp ra bên ngoài. Chưa có điều khoản nào quy định cụ thể trong việc xây dựng các chính sách lập và công bố thông tin đảm bảo các thông tin cung cấp ra bên ngoài là trung thực. Những nội dung này chủ yếu từ việc xác lập trong chính nội bộ của từng doanh nghiệp thông qua điều lệ và quy chế QTCT của từng doanh nghiệp. Kiến nghị tăng cường hoạt động giám sát của HĐQT đến chất lượng thông tin BCTC sẽ nhằm vào tăng cường tính hiệu quả hoạt động của HĐQT. Vai trò của HĐQT là định hướng chiến lược và giám sát có liên quan đến chất lượng thông tin BCTC, vì vậy kiến nghị sẽ tập trung vào tính độc lập, trình độ chuyên môn, nhiệm vụ và những điều kiện để HĐQT hoạt động hiệu quả. Tăng cường tính độc lập và trình độ chuyên môn - Vì tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập trong thực tế ít, do đó các ý kiến của những thành viên này sẽ không được thông qua, nếu các thành viên còn lại không cùng quan điểm, do đó công ty niêm yết cần đảm bảo số lượng thành viên HĐQT độc lập trong HĐQT phải chiếm trên 50%, nhưng ít nhất phải có thành viên HĐQT điều hành. Như chương 4 đã trình bày, thành viên HĐQT độc lập có chuyên môn về kế toán tài chỉnh có tác động mạnh nhất góp phần làm tăng chất lượng thông tin BCTC. Tuy nhiên, hiện nay cho thấy số lượng thành viên HĐQT độc lập của các công ty niêm yết chỉ chiếm 12,8% mẫu nghiên cứu. Vì vậy, trong các thành viên HĐQT độc lập tối thiểu cần phải có một thành viên có kinh nghiệm và chuyên môn về kế toán tài chính. Bằng sự am hiểu chuyên môn sâu giúp thành viên HĐQT độc lập có khả năng phản biện cũng như đề xuất những hoạt động của Ban điều hành trong việc thiết lập, duy trì và cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ. - Đánh giá nguy cơ vả đảm bảo tính độc lập của các thành viên HĐQT độc lập. Nhà nước ban hành Thông tư 121 về QCQTCT, trong đó tại khoản 3 điều 2, nêu rõ các điều kiện của thành viên HĐQT độc lập. Các thành viên HĐQT độc lập cần có cam kết không vi phạm các yêu cầu về tính độc lập theo Thông tư 121. 152 - Mặc dù trong quy chế QTCT 121 có yêu cầu các công ty niêm yết phải tách riêng hai chức danh Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc, nhưng lại đưa ra điều kiện mở là ngoại trừ được ĐHCĐ chấp thuận, vì vậy theo khảo sát hiện nay vẫn còn 63 doanh nghiệp chiếm 32,3% mẫu vẫn còn kiêm nhiệm hai chức danh. Việc kiêm nhiệm này rất khó tránh khỏi tình trạng tập trung quyền lực và dẫn đến lạm dụng quyền lực. Do đó, QCQTCT cần bắt buộc các công ty niêm yết tách hai chức năng Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc. Tăng cường nhiệm vụ của HĐQT - Cần có sự phân công nhiệm vụ các cho thành viên HĐQT, trong đó phải có một thành viên HĐQT độc lập thực hiện nhiệm vụ giám sát quá trình lập và công bố thông tin BCTC. - Các thành viên HĐQT độc lập phải họp thường kỳ không có sự tham gia của những người quản lý hoặc các thành viên HĐQT điều hành để tăng cường sự trao đổi và thông tin giữa các thành viên HĐQT độc lập. Nhằm khắc phục những vấn đề trên, các thành viên HĐQT độc lập cần họp ít nhất 4 lần trong một năm và trước cuộc họp của HĐQT, để chia sẻ ý kiến và những vấn đề quan tâm. Cần chỉ định một thành viên HĐQT độc lập cao cấp để lãnh đạo nhóm thành viên HĐQT độc lập nhằm tăng cường khả năng chất vấn và kiểm soát công tác quản lý. - BCTN của doanh nghiệp phải được các thành viên HĐQT thông qua trước khi công bố ra bên ngoài trong cuộc họp của các thành viên HĐQT độc lập. Tăng cường khả năng thu thập thông tin của HĐQT - Hầu hết các thành viên HĐQT trông chờ vào các thông tin do người quản lý cung cấp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, thông tin từ kênh này, trước khi đến được HĐQT thường đã được chế biến nhằm mang tính thuyết phục hơn là cung cấp thông tin. Để khắc phục tình trạng thiếu thông tin và thông tin ít chính xác, các thành viên HĐQT độc lập cần liên tục truy cập các thông tin và phân tích từ những nguồn tin độc lập, khách quan và trung lập. Cần thiết lập hệ thống cung cấp thông 153 tin riêng để đảm bảo thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác. Ngoài kênh thu thập chính thống do Ban điều hành cung cấp, các thành viên HĐQT độc lập cần có kênh thông tin khác từ các cổ đông, nhân viên hoặc các bên liên quan khác. - Tùy theo mô hình đặc điểm hoạt động kinh doanh, ngành nghề của từng doanh nghiệp, HĐQT cần xây dựng hệ thống báo cáo trong đó quy định rõ nội dung, thời gian phù hợp nhiệm vụ định hướng và giám sát có liên quan đến lập và công bố như: nhận diện các hoạt động quản trị rủi ro, duy trì và cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ để Ban điều hành cung cấp nhằm tránh tình trạng thông tin bất cân xứng giữa HĐQT và Ban điều hành. - HĐQT cần tiếp nhận thường xuyên những thông tin phi tài chính như: thị phần, sự hài lòng của nhân viên, hoạt động của đối thủ cạnh tranh, các kế hoạch dự kiến của Ban điều hành, để giám sát nội dung công bố liên quan đến thông tin phi tài chính. Tăng cường năng lực và mức độ cẩn trọng thông qua việc đánh giá HĐQT Để nâng cao mức độ cẩn trọng của các thành viên HĐQT, nhằm cung cấp thông tin cho cổ đông giám sát hiệu quả hoạt động của từng thành viên HĐQT, HĐQT cần báo cáo ĐHCĐ hằng năm về những nội dung: - Công tác giám sát đánh giá và cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ của Ban điều hành. - HĐQT độc lập có thể kiểm chứng lại mức độ chính xác và hợp lý của những thông tin tài chính và phi tài chính được cung cấp không thông qua BKS và KTNB. - Chủ tịch HĐQT phải báo cáo trước ĐHCĐ hằng năm về việc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm của HĐQT và từng thành viên HĐQT. - Ngoài ra, nhằm nâng cao năng lực giám sát, các thành viên HĐQT thường xuyên tham gia các lớp tập huấn ngắn hạn về QTCT và công bố thông tin BCTC. 154 5.2.2.2 Ban kiểm soát Vai trò chính của BKS là giám sát hoạt động của HĐQT, Ban điều hành và thẩm định BCTC, do đó các kiến nghị nhằm tăng cường hoạt động hiệu quả của BKS tập trung vào việc tăng cường tính độc lập và nhiệm vụ của ban này. Tăng cường tính độc lập BKS - Với phương thức bầu BKS hiện nay theo phương thức “đối vốn” đã tạo ra một sự độc lập giả tạo như đã trình bày tại chương 4, trong thực tế cho thấy người quyết định thành viên BKS tại ĐHCĐ là do các thành viên HĐQT và Ban điều hành. Nhằm tăng cường tính độc lập thật sự cho BKS, theo quan điểm của tác giả cần thay đội hình thức bầu BKS từ “đối vốn” sang “đối nhân”. BKS sẽ được bầu dựa vào số cổ đông tham dự tại ĐHCĐ, mỗi người là một phiếu bầu. Với phương thức này sẽ loại bỏ sự áp đặt các cổ đông sở hữu nhiều cổ phiếu mà chủ yếu là các thành viên HĐQT và Ban điều hành. Mặt khác, vì bản thân các thành viên BKS là những người không tham gia trực tiếp vào công việc hằng ngày hoặc nắm giữ chức danh quản lý của doanh nghiệp, do đó mọi hoạt động của BKS sẽ hướng đến bảo vệ cổ đông nhiều hơn. - Theo quy định hiện nay, các thành viên BKS không nắm giữ chức danh quản lý trong doanh nghiệp, điều đồng nghĩa với việc có thể họ là nhân viên của doanh nghiệp, như vậy phần nào là giảm tính độc lập. Do đó, QCQTCT cần yêu cầu ít nhất 2/3 thành viên BKS là thành viên độc lập, trong đó có trưởng BKS. - Nhằm đảm bảo tính độc lập của BKS, điều 122 luật doanh nghiệp có quy định “Không phải là vợ hoặc chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột của thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác”. Tuy nhiên trong thực tế, theo ý kiến chuyên gia cho thấy tính độc lập của BKS bị vi phạm khi có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp về lợi ích kinh tế với thành viên HĐQT, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác. Do đó, luật doanh nghiệp cần bổ sung điều 122 các thành viên BKS hoặc ít nhất là Trưởng BKS 155 phải là người không có mối quan hệ về lợi ích với các thành viên trên. Các thành viên này cần có sự cam kết về việc đảm bảo tính độc lập của mình. - Thù lao BKS phải được đề xuất riêng và do ĐHCĐ quyết định, không đưa chung quỹ thù lao HĐQT và BKS. Mặt khác, BKS có quyền đề xuất kinh phí về tư vấn từ bên ngoài khi cần thiết. Tăng cường nhiệm vụ BKS Theo Thông tư 121/2012/TT-BTC, Bộ tài chính cần trao quyền cho Ban kiểm soát nhiều hơn trong vai trò giám sát quá trình lập và công bố thông tin BCTC. Cụ thể: Giám sát thông tin BCTC công bố: - Giám sát về tính trung thực các thông tin trên BCTN, đặc biệt các thông tin phi tài chính ở góc độ trung thực, hợp lý thông qua việc đánh giá những cơ sở mà từ đó HĐQT và Ban điều hành dùng làm căn cứ để đưa ra những nhận định, đặc biệt các phân tích mang tính chất dự báo, nhằm tránh hiện tượng thổi phồng và làm đẹp thông tin. - Kiểm tra các BCTC hằng năm, sáu tháng và hằng quý trước khi đệ trình HĐQT; - Đề xuất lựa chọn công ty kiểm toán độc lập, mức phí kiểm toán và mọi vấn đề liên quan đến sự rút lui hay bãi nhiệm của công ty kiểm toán độc lập; Thảo luận với kiểm toán viên độc lâp về tính chất và phạm vi kiểm toán trước khi bắt đầu việc kiểm toán; - Giám sát tính độc lập của kiểm toán viên độc lập, phương pháp và kế hoạch làm việc của kiểm toán độc lập. - Xem xét thư quản lý của kiểm toán viên độc lập và ý kiến phản hồi của Ban quản lý công ty; 156 - Xin ý kiến tư vấn chuyên nghiệp độc lập hoặc tư vấn về pháp lý và đảm bảo sự tham gia của chuyên gia bên ngoài công ty với kinh nghiệm trình độ chuyên môn phù hợp vào công việc của công ty nếu thấy cần thiết; Giám sát HĐQT - Giám sát tính độc lập của các thành viên HĐQT độc lập không điều hành. - Giám sát nhiệm vụ các thành viên HĐQT và thành viên HĐQT độc lập về những định hướng liên quan đến xây dựng và cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như quá trình công bố thông tin nói chung và thông tin BCTC nói riêng . - Báo cáo những hoạt động giám sát trên vào kỳ ĐHCĐ hằng năm. Giám sát Ban điều hành - Hệ thống kiểm soát nội bộ và quản trị rủi ro không chỉ dừng ở mức độ hình thức mà quan trọng hơn, hệ thống này cần phải được thực thi trong thực tế. Vì vậy, để có thể thẩm định thông tin BCTC, hoạt động của BKS không chỉ đơn thuần thẩm định các thông tin công bố trên báo cáo mà nó phải được thẩm định ngay trong quá trình tạo lập những thông tin này. - Nhiệm vụ Ban điều hành là thực thi các định hướng của HĐQT đặt ra, do đó, BKS cần giám sát Ban điều hành trong việc thực thi các nghị quyết do HĐQT đề ra. Tăng cường năng lực và mức độ cẩn trọng thông qua việc đánh giá BKS - Hiện nay theo TT52 chưa yêu cầu phải công bố báo của BKS trong BCTN. Tuy nhiên, báo cáo của BKS đóng vai trò quan trọng trong vấn đề đánh giá về năng lực điều hành của HĐQT và Ban điều hành, do đó luật pháp cần yêu cầu công bố báo cáo BKS trong BCTN. Nội dung báo cáo bao gồm: Đánh giá tính độc lập của các thành viên HĐQT, đánh giá hoạt động của HĐQT và Ban điều hành trong việc thực thi nhiệm vụ; Báo cáo về thực hiện nhiệm vụ của BKS có liên quan đến quá trình lập và công bố thông tin BCTC. 157 - Nhằm tăng cường trách nhiệm và mức độ cẩn trọng của BKS, luật doanh nghiệp cần bổ sung về trách nhiệm của các thành viên BKS và có những hình thức xử lý trong trường hợp ban này thiếu trách nhiệm giám sát HĐQT và Ban điều hành gây thiệt hại cho công ty. 5.2.2.3 Kiểm toán nội bộ KTNB có thể đem lại cho doanh nghiệp rất nhiều lợi ích. Đây là công cụ giúp phát hiện và cải tiến những điểm yếu trong hệ thống quản lý của doanh nghiệp. Thông qua công cụ này, HĐQT và Ban giám đốc có thể kiểm soát hoạt động tốt hơn, quản lý rủi ro tốt hơn, tăng khả năng đạt được các mục tiêu kinh doanh. Một doanh nghiệp có chức năng KTNB sẽ làm gia tăng niềm tin của các cổ đông, các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán về hệ thống quản trị ở đây. Với sự ra đời của KTNB, công tác kiểm soát ở doanh nghiệp được tin tưởng có hệ thống, chuyên nghiệp, độc lập và khách quan hơn. Có thể coi bộ phận KTNB là người gác cổng cho các cổ đông. KTNB giúp gia tăng giá trị công ty trên thị trường chứng khoán vì các nhà đầu tư sẽ tin tưởng hơn vào hệ thống quản trị của doanh nghiệp. Các thống kê trên thế giới cho thấy, công ty có chức năng KTNB tốt thường có thời hạn báo cáo tài chính minh bạch và chính xác hơn, khả năng gian lận thấp hơn và hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng cao hơn. Tuy nhiên, để chức năng KTNB thực sự hiệu quả, mức độ độc lập và tính chuyên nghiệp của KTNB có ý nghĩa rất lớn đối với QTCT. Hoạt động KTNB của nhiều doanh nghiệp Việt nam hiện tại mới chủ yếu phục vụ mục đích tuân thủ các quy định bên ngoài như quy định về thuế, kế toán, luật lao động nhiều hơn là chủ động, tích cực phát hiện rủi ro và tăng cường kiểm soát hoạt động của doanh nghiệp. Theo luật doanh nghiệp năm 2014, Công ty cổ phần tại Việt Nam có 2 mô hình: có BKS và không có BKS (điều 134). Mô hình không có BKS, bắt buộc công 158 ty cổ phần phải thành lập Ban KTNB trực thuộc HĐQT. Mục đích yêu cầu này nhằm tăng cường tính độc lập cho KTNB. Chính vì lợi ích nêu trên, nhằm đảm bảo giảm bớt nguy cơ gian lận và sai sót trong quá trình lập và công bố thông tin BCTC, Bộ tài chính trong quy chế quản trị các công ty niêm yết cần phải yêu cầu: - Các công ty niêm yết có cơ cấu tổ chức, mạng lưới kinh doanh phức tạp cần phải có chức năng KTNB. - Trưởng Ban KTNB do Ban kiểm soát đề cử nhằm gia tăng tính độc lập của Ban này hoặc do thành viên HĐQT độc lập trong mô hình không có BKS đề xuất. - Mọi báo cáo của KTNB phải được báo cáo cho BKS hoặc thành viên HĐQT độc lập trong mô hình không có BKS. 5.2.3 Các công ty niêm yết Qua tham khảo ý kiến của chuyên gia (phụ lục 16) cho thấy, chất lượng thông tin BCTC hiện nay là chưa cao, nguyên nhân từ phía doanh nghiệp chủ yếu là do doanh nghiệp công bố thông tin chỉ theo yêu cầu của pháp lý nhiều hơn là đem đến sự hữu ích của người sử dụng. Nguyên nhân thứ hai là do doanh nghiệp cố tình không muốn công bố. Vì vậy, các doanh nghiệp niêm yết cần nhận thức rằng minh bạch thông tin và QTCT tốt mang lại lợi ích cho chính doanh nghiệp. - Các công ty niêm yết với đặc thù về quy mô, ngành nghề, đội ngũ nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp khách nhau, do đó nội dung thông tin sẽ khác nhau. Vì vậy, để đồng nhất xây dựng quy chế công bố thông tin, các công ty niêm yết cần xây dựng quy chế lập, công bố cũng như hình thức và nội dung thông tin BCTC phù hợp từng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, những nội dung này cần được đánh giá thường xuyên và cải tiến nhằm phù hợp những thay đổi về nhu cầu của người sử dụng. 159 - Thông qua những hướng dẫn của các hội nghề nghiệp về thang đo chất lượng thông tin BCTC cũng như những thông lệ QTCT tốt, các công ty niêm yết cần tự đánh giá chất lượng thông tin BCTC cũng như chất lượng quản trị để từ đó có thể nâng cao chất lượng thông tin, kịp thời điều chỉnh những thiếu sót. Bởi vì có những nội dung chỉ có chính các công ty niêm yết mới thật sự đánh giá đúng đắn hơn các thành viên bên ngoài. - Nhằm tăng cường QTCT hướng đến nâng cao chất lượng thông tin BCTC vấn đề cốt lõi thuộc về trách nhiệm và văn hóa của từng doanh nghiệp. Mặc dù, theo yêu cầu của luật pháp các công ty niêm yết phải xây dựng QCQTCT phù hợp mô hình hoạt động của mình, nhưng thực tế cho thấy các doanh nghiệp niêm yết thường xây dựng quy chế ở mức đảm bảo theo yêu cầu của luật pháp. Từng doanh nghiệp niêm yết phải nhận thức rằng QTCT tốt sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động cũng như quá trình lập và công bố thông tin BCTC. Do đó, doanh nghiệp niêm yết cần dựa vào những kiến nghị đã đưa ra tại mục 5.2.2 để xây dựng QCQTCT cho doanh nghiệp của mình. 5.2.4 Các cơ quan giám sát - Cũng qua ý kiến chuyên gia tại phụ lục 16 cho thấy, mức độ công bố thông tin thấp, một phần nguyên nhân là do doanh nghiệp không biết do chưa có hướng dẫn cụ thể. Vì vậy, hiệp hội nghề nghiệp cần có những hướng dẫn chi tiết về những nội dung nhằm nâng cao chất lượng thông tin BCTC. Từng bước thúc đẩy việc nhận thức về lợi ích mà chất lượng thông tin mang lại, từ đó doanh nghiệp thay đổi quan điểm trong vấn đề công bố thông tin một cách minh bạch. - Hiệp hội nghề nghiệp cần nghiên cứu về những thông tin tự nguyện và các thông tin phi tài chính theo thông lệ quốc tế phù hợp với yêu cầu của Việt Nam, nhằm giúp các công ty niêm yết có hiểu biết về việc công bố thông tin hữu ích thông qua các buổi tập huấn cập nhật kiến thức hoặc các khóa đào tạo ngắn hạn. Từ đó giúp cho các công ty niêm yết có những kiến thức nhất định về những nội dung cần trình bày và diễn giải khi công bố BCTN. 160 - Sở giao dịch chứng khoán cần tổ chức đánh giá chất lượng thông tin BCTC, vinh danh những doanh nghiệp công bố thông tin có chất lượng. Hiện nay, hằng năm Sở giao dịch chứng khoán kết hợp với các bên hữu quan tổ chức bình chọn BCTN tốt. Tuy nhiên, việc làm này chỉ dừng ở mức độ vinh danh các doanh nghiệp có BCTN tốt, số lượng doanh nghiệp này chiếm tỷ trọng ít trên tổng số các công ty niêm yết tại Việt Nam. Vì vậy, bên cạnh duy trì việc làm này, Sở giao dịch chứng khoán cần phải có đánh giá những BCTN của các doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu, để từng bước nâng cao chất lượng BCTN chung cho các công ty niêm yết, kể cả quy định về chế tài. - Ủy ban chứng khoán nhà nước ngoài việc chế tài đối với những doanh nghiệp vi phạm về quy định công bố thông tin: thời gian, nội dung không trung thực theo mục 8, Nghị định 85/2010/NĐ-CP ngày 02/08/2010, cần có biện pháp hữu hiệu hơn như như tạm dừng giao dịch có thời hạn đối với những công ty niêm yết vi phạm về những nội dung trình bày, thời gian công bố BCTN. - Về lâu dài, thông qua QCQTCT, Bộ tài chính cần bổ sung trách nhiệm của HĐQT về những nội dung cần đánh giá về mức độ hoàn thành của HĐQT cũng như các thành viên HĐQT. Qua nội dung đánh giá mức độ hoàn thành của từng thành viên HĐQT sẽ là cơ sở để ĐHCĐ thông qua quyết định khen thưởng hằng năm, nhằm nâng cao năng lực, trách nhiệm và tính cẩn trọng của từng thành viên HĐQT. - Hiện nay, trong thực tế, quyền và trách nhiệm của Ban kiểm soát rất mờ nhạt, vì vậy Luật doanh nghiệp cần đưa ra quy định nhằm tăng cường tính độc lập để nâng cao quyền lực, vai trò và trách nhiệm của BKS. Để đạt được điều này, luật doanh nghiệp cần thay đổi phương thức bầu BKS và đề ra những yêu cầu để nâng cao trách nhiệm của BKS trong trường hợp các thành viên BKS. - Vốn nhà nước chiếm trong vốn điều lệ của công ty niêm yết có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC. Qua phân tích chương 4 cho thấy, những doanh nghiệp có vốn nhà nước chiến dưới 50% đều công bố thông tin BCTC có chất lượng tốt. Vì vậy, Bộ tài chính cần kiến nghị với Chính phủ kiên quyết giảm tỷ lệ vốn nhà 161 nước dưới 50% các công ty niêm yết không cần thiết nắm giữ cổ phần chi phối. Điều này phù hợp với chính sách cổ phần hóa hiện nay của Chính phủ. 5.2.5 Công ty kiểm toán độc lập - Ngoài việc cung cấp dịch vụ kiểm toán BCTC, trong tương lai các công ty kiểm toán độc lập cần cung cấp dịch vụ đảm bảo nhằm đánh giá tính hợp lý về những thông tin phi tài chính mà doanh nghiệp trình bày trên BCTN. Hiện nay, Hiệp hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam đang dự thảo và xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia chuẩn mực kiểm toán 3400 “Kiểm tra thông tin tài chính tương lai”. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, Hiệp hội cần có hướng dẫn chi tiết thông qua các khóa cập nhật kiến thức hằng năm để các công ty kiểm toán và kiểm toán viên thực hiện soát xét tính hợp lý của những thông tin mang tính chất dự báo của doanh nghiệp – những thông tin không có những chuẩn mực để đo lường. - Ngoài báo cáo kiểm toán, công ty kiểm toán cần cung cấp thư quản lý nhằm đánh giá về hệ thống kiểm soát nội bộ và phải được đính kèm trong BCTN. Thông qua thư quản lý của kiểm toán độc lập, sẽ là kênh thông tin hữu ích để các yếu tố QTCT có khả năng định hướng và kiểm soát tốt quá trình lập và công bố thông tin BCTC. - Từ kết quả của chương 4 cho thấy quy mô công ty càng lớn và vốn nhà nước chiếm dưới 50% vốn điều lệ thì chất lượng thông tin BCTC càng cao, đây là yếu tố dữ liệu giúp cho các kiểm toán viên có nhận định chung trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán khi đánh giá về môi trường kiểm soát của hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán, góp phần mang lại hiệu quả của cuộc kiểm toán. 5.3. Các hạn chế của luận án và những hướng nghiên cứu trong tương lai 5.3.1 Các hạn chế của luận án Cũng như bất cứ công trình nghiên cứu nào, luận án này cũng có những hạn chế của nó, cụ thể: 162 - Để đo lường chất lượng thông tin BCTC, luận án sử dụng 16 thang đo để đo lường 5 đặc tính chất lượng của FASB và IASB. Các thang đo này được sử dụng từ các nghiên cứu ở nước ngoài được thực hiện ở các nước phát triển. Mặc dù, theo xu hướng hòa nhập hiện nay, Việt Nam đã từng bước cải tiến chuẩn mực chất lượng theo hướng quốc tế nhưng phù hợp với điều kiện tại Việt Nam và thang đo của luận án khi đo lường sử dụng những yêu cầu của quy định Việt Nam để làm tiêu chuẩn chất lượng. Do đó tiêu chuẩn này trong tương lai cũng sẽ thay đổi theo hướng hòa nhập quốc tế, vì vậy thang đó chỉ có giá trị trong hiện tại. - Như trong chương 3 đã đề cập đến phương pháp cho điểm, mặc dù cố gắng hạn chế những yếu tố chủ quan, nhưng điều này không thể loại bỏ hoàn toàn. Vì vậy, chắc chắn không thể tránh khỏi sự sai sót trong quá trình cho điểm chất lượng thông tin của từng công ty niêm yết, đặc biệt là những thang đo định tính. - Mẫu nghiên cứu trong luận án, mặc dù phù hợp về mặt ý nghĩa nghiên cứu nhưng chỉ chiếm 29,3% tổng số công ty niêm yết ở thời điểm nghiên cứu, so với những nghiên cứu trên thế giới thì mẫu nghiên cứu trong luận án vẫn nhỏ. - QTCT tại Việt Nam ở thời điểm hiện tại cũng chỉ mới bắt đầu, do đó những thông lệ QTCT tốt hầu hết chưa được thực thi đầy đủ, vì vậy cho thấy sự tương tác các yếu tố QTCT đến chất lượng thông tin BCTC là chưa rõ nét. 5.3.2 Hướng nghiên cứu trong tương lai Từ những hạn chế của luận án đã trình bày ở phần trên, đây cũng chính là những cơ sở để các nghiên cứu trong tương lai có những điều kiện và hướng nghiên cứu sâu hơn: - Để có thể đo lường chất lượng thông tin BCTC một cách khoa học hơn, cần chi tiết thang đo cho từng đặc tính chất lượng của FASB và IASB. Việc chi tiết này sẽ giúp việc cho điểm từng yếu tố sẽ khách quan và chính xác hơn. Ví dụ để đo lường đặc tính thích hợp, thông tin “định hướng tương lai” cần chi tiết nhiều thuộc tính riêng biệt như: mức độ thông tin định hướng, nguồn lực để thực hiện, rủi ro, cơ hội dự kiến trong quá trình thực hiện hoặc có thể bổ sung về những giải thích liên quan đến “lãi lỗ bất thường” hoặc mô tả về “chính sách nhân sự”, “tài sản tiềm 163 tàng” Lúc này, nhà nghiên cứu không sử dụng thang đo khoảng như luận án mà sử dụng thang đo danh nghĩa để đo lường mức độ công bố của từng khoản mục chất lượng thông tin. - Để nhằm giảm tính chủ quan khi cho điểm, các nghiên cứu tiếp theo cần ít nhất hai người có chuyên môn tham gia cho điểm, trong trường hợp có sự sai lệch, các chuyên gia cùng nhau thảo luận để lấy điểm chung, từ đó mang lại việc cho điểm khách quan và hợp lý hơn chất lượng của từng thang đo. - Về các đặc tính QTCT có khả năng mở rộng hơn 7 biến phụ thuộc như chương 3 của luận án đã trình bày theo hướng đa chiều. Ví dụ, không chỉ đơn thuần là số lượng cuộc họp mà bao gồm những nội dung trong cuộc họp như: số lượng ý kiến tham gia liên quan đến chất lượng thông tin, số lượng thành viên HĐQT độc lập tham gia cuộc họpVề hoạt động BKS có thể mở rộng: số lượng thành viên có kinh nghiệm về hoạt động kiểm toán, thời gian giữ chức vụ kế toán trưởng hoặc giám đốc tài chính 164 TÀI LIỆU THAM KHẢO TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 1. Nguyễn Hữu Ánh, 2013. Đóng góp của các trường phái lý thuyết kế toán và nghiên cứu kế toán đương đại trong việc xây dựng các nguyên tắc kế toán. Tạp chí kinh tế phát triển số 194, trang 3-8. 2. Bộ tài chính, 2005. Chuẩn mực kế toán số 28: Báo cáo bộ phận. Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC, ngày 15/02/2005. 3. Bộ tài chính, 2005. Chuẩn mực kế toán số 29: Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán. Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC, ngày 15/02/2005. 4. Bộ tài chính, 2012. Hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán. Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 05/04/2012. 5. Bộ tài chính, 2012. Quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng. Thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26/07/2012. 6. Phan Văn Đàn, 2012. Xây dựng thang đo phát triển bền vững doanh nghiệp. Tạp chí khoa học 2012: 23b, trang 224 – 231. Đại học Cần Thơ. 7. Vũ Hữu Đức, 2010, Những vấn đề cơ bản của lý thuyết kế toán. Nhà xuất bản Lao động. 8. Bùi Xuân Hải, 2011, Một số vấn đề về mô hình quản trị công ty trên thế giới và Việt Nam. Hội thảo khoa học: Pháp luật về quản trị công ty- Những vấn đề lý luận và thực tiễn. 9. Đặng Thị Thúy Hằng, 2011. Thực trạng và giải pháp cho vấn đề công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết Việt Nam. Website Tạp chí nghiên cứu khoa học kiểm toán, .aspx?newsID=426 10. Nguyễn Thị Thúy Hằng, 2012. Mối quan hệ giữa cơ chế quản trị công ty và kết quả họoạt động kinh doanh của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán TPHCM. Luận văn Thạc sĩ, trường ĐH Kinh tế TPHCM. 165 11. Nguyễn Đình Hùng, 2010. Hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, trường ĐH Kinh tế TPHCM. 12. International Finance Coporation, 2004. Các nguyên tắc quản trị công ty của OECD. Bản dịch. Tổ chức tài chính quốc tế tại Việt Nam. 13. International Finance Coporation, 2013. Hướng dẫn lập báo cáo phát triển bền vững. Ủy ban chứng khoán nhà nước. 14. Lê An Khang, 2008, Ảnh hưởng của thông tin bất cân xứng đối với nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán TP.HCM. Luận văn Thạc sĩ, trường ĐH Kinh tế TPHCM. 15. Nguyễn Bích Liên, 2012. Xác định và kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng chất lượng thông tin kế toán trong môi trường ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP) tại các doanh nghiệp Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, trường ĐH Kinh tế TPHCM. 16. Trần Thị Xuân Mai, 2011. Mối tương quan giữa quản trị công ty qua tỷ lệ sở hữu với hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết ở Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ, trường ĐH Kinh tế TPHCM. 17. Martin Hilb, 2008. Quản trị hội đồng doanh nghiệp kiểu mới. Bản dịch. Nhà xuất bản Trẻ. 18. Võ Văn Nhị, Nguyễn Đình Hùng, 2009. Quản trị công ty và sự minh bạch thông tin tài chính của công ty niêm yết. Tạp chí kế toán, số 81 tháng 12, trang 24 – 26. 19. Võ Văn Nhị, 2011. Giải pháp nâng cao chất lượng thông tin và chất lượng công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. 20. Nguyễn Thị Hồng Oanh, 2008. Hoàn thiện việc trình bày và công bố thông tin BCTC các công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sĩ, trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh. 166 21. Lê Thị Tú Oanh, 2012. Hoàn thiện hệ thống báo cáo thường niên trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Luận án Tiến sĩ, trường ĐH Kinh tế quốc dân. 22. Nguyễn Phúc Sinh, 2008. Nâng cao tính hữu ích của báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Luận án Tiến sĩ, trường ĐH Kinh tế TPHCM. 23. Đoàn Phan Tân, 2001. Về khái niệm thông tin và các thuộc tính làm nên giá trị của thông tin. Tạp chí Văn hóa – Nghệ thuật, số 3. 24. Nguyễn Đình Thọ, 2011. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. Nhà xuất bản Lao động Xã hội. 25. Hoàng Trọng- Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất bản Hồng Đức. 26. Tổ chức tài chính quốc tế (IFC), 2010. Cẩm nang quản trị công ty. Nhà xuất bản Nông nghiệp. 27. Tổ chức tài chính quốc tế (IFC), 2010. Báo cáo thẻ điểm quản trị công ty. Ủy ban chứng khoán nhà nước Việt Nam. 28. Hà Thị Đoan Trang 2013, Quản trị công ty và vấn đề bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư chứng khoán. Tạp chí tài chính số 5. TÀI LIỆU TIẾNG ANH 29. Abbott, Lawrence J;Parker, Susan;Peters, Gary F, 2004, Auditing Characteristics and Restatements. Auditing: A Journal of Practice & Theory Vol 23, No.1. pp 69-87. 30. Ahmed, K., Hossain, M. and Adams, M. B, 2006. The effects of board composition and board size on the informativeness of annual accounting earnings. An International Review, Vol. 14, pp. 418-431. 31. Ali shah.S.Z, Ali Butt.S, Hasan.A, 2009, Corporate Governance and Earnings Management an Empirical Evidence Form Pakistani Listed Companies. European Journal of Scientific Research, ISSN 1450-216X Vol.26 No.4(2009), pp.624-638. 167 32. Allam. M.Hamdan, Adel. M.S and Sameh M. Reda Reyad, 2013, The Impact of Audit Committee Characteristics on the Performance: Evidence from Jordan. International Management Review, Vol. 9 No.1. 33. Alzoubi.E.S.S, 2012. Board Characteristics and Financial Reporting Quality among Jordanian Listed Companies: Proposing Conceptual Framework. Asian Journal of Finance & Accounting ISSN 1946-052X 2012, Vol. 4, No. 1. 34. Andrew J. Felo, Srinivasan Krishnamurthy, Steven A. Solieri, 2003. Audit Committee Characteristics and the Perceived Quality of Financial Reporting: An Empirical Analysis. 35. Anna Watson, Philip Shrivrs, Claire Marston, 2002. Voluntary Disclourse of Accounting Ratios in the UK. British Accounting Review (2002). Vol. 34, pp.289-313. 36. Anup Agrawal and Charles R. Knoeber, 1996. Firm Performance and Mechanisms to Control Agency Problems between Managers and Shareholders. Journal of Financial and Quantitative Analysis, Vol. 31, No.3. 37. Anup Agrawal and Sahiba Chadha, 2004. Corporate Governance and Accounting Scandals. 38. Athur Levitt, 1998. Evidence on the Relationship Between Corporate Governance Characteristics and the Quality of Financial Reporting. 39. Bader Al-Shammari, Waleed Al-Sultan, 2010. Corporate governance and voluntary disclosure in Kuwait. International Journal of Disclosure and Governance (2010) Vol 7, pp. 262 – 280. 40. Barth.M.E, Beaver.W.H, Landsman.W.R, 2001. The relevance of the value relevance literature for financial accounting standard setting: another view. Journal of Accounting and Economics 31 (2001) 77–104. 41. Barth.M.E, 2013. Measurement in Financial Reporting: The Need for Concepts. 168 42. Barth.M, 2005. International Accounting Standards and Accounting Quality. http:// public.kenan-flagler.unc.edu/faculty/langm/bll-ias_revision.pdf. 43. Bédard Jean, 2009. Strengthening the financial reporting system: Can audit committees deliver?. 44. Bikram Chatterjee, Stuart Tooley, Vic Fatseas, Alistair Brown, 2012. An Analysis of the Qualitative Characteristics of Management Commentary Reporting by New Zealand Companies. 45. Bowrin.A.R, 2008. International Acounting Standards and Financial Reporting Quality in Trinidad and Tobago. uwi.org/files/publications/journal/2008_2_3 /118_150.pdf. 46. Brennan, 2007. Corporate Governance and Financial Reporting. 47. Cadbury A, 1992. Report of the committee on the financial aspects of corporate governance. London: Gee. 48. Cheng và Courtenay, 2006. Board composition, regulatory regime and voluntary disclosure, The International Journal of Accounting 41 (2006) 262–289. 49. Chiraz Ben Ali, 2009. Disclosure quality and corporate governance in a context of minority expropriation, 50. Cohen .J, Krishnamoorthy .G and Wright .A, 2002. Audit Committee Effectiveness and Financial Reporting Quality: Implications for Auditor Indepence. Australian Accounting Review 2002. 51. Cohen.J, Krishnamoorthy.G and Wright.A, 2004, The corporate governance mosaic and financial quality, Journal of Accounting Literature (87 – 152). 52. Cohen .J, Krishnamoorthy .G and Wright .A, 2010. Corporate Governance in the Post-Sarbanes-Oxley Era: Auditors’ Experiences. Contemporary Accounting Research Vol. 27 No. 3, pp. 751–786. 169 53. Courtis John.K, 1995. Readability of annual Reports: Western versus Asian Evidence. Accounting, Auditing and Accountability Journal 1995;8, 2, ProQuest Central pg.4. 54. Dalton D.R et al, 2007. The Fundamental Agency Problem and Its Mitigation: Independence, Equity, and the Market for Corporate Control. informaworld.com /smpp/title~content=t791720496 55. David B. Farber, 2004. Restoring Trust after Fraud: Does Corporae Governance Matter?, 56. Davood Khodadady, 2012. The Relevance or Financial Reporting Information System in Banking Industry. Asian Journal of Research in Banking and Financial, Vol.2. 57. Dechow.P, Ge.W, Schrand.C, 2010. Understanding earnings quality: A review of the proxies, their determinants and their consequences. 58. De Franco., S.P. Kothari, Rodrigo.S.V, 2011. The Benefits of Financial Statement Comparability. Journal of Accounting Research Vol. 49, No. 4. 59. DeZoort, F., and S. Salterio, 2001. The effects of corporate governance experience and financial reporting and audit knowledge on audit committee members’ Judgments. A Journal of Practice and Theory, Vol.20, No.2. 60. Dumitru Matiş, Sorana Mihaela Mănoiu, Carmen Giorgiana Bonaci, 2011. Corporate Governance and the Financial Reporting Process. Annales Universitatis Apulensis Series Oeconomica, 14(2), 2012. 61. Eng.L.L, Y.T. Mak, 2003. Corporate governance and voluntary disclosure. Journal of Accounting and Public Policy, 22 (2003), 325-345. 62. Epstein, 2010. Corporate Governance Is Changing: Are You a Leader or a Laggard? www.imanet.org/PDFs/Public/SF/2010_10/10_2010_epstein.pdf. 170 63. Fama.Eugene .F, Jensen Michael. C, 1983. Separation of Ownership and Control. 64. FASB, 2008, Financial Accounting Series, Statement of Financial Accouting Standards No. 1570-100: Exposure Draft on an improved Conceptual Framework for Financial Reporting. Norwalk. 65. FASB, 2010. Conceptual framework for financial reporting (Chapter 3: Qualitative characteristics of useful financial information). Statement of Financial Accounting Concepts. No. 8, Norwalk, CT. 66. Fee, 2003. Discussion Paper on The Financial Reporting and Auditing Aspects of Corporate Governance. article&id=482& Itemid=106&lang=en. 67. Ferdy van Beest, Geert Braam and Suzanne Boelens, 2009. Quality of financial reporting: measuring qualitative characteristics. Nice working paper 09 – 108. 68. Ferdy van Beest, Geert Braam, 2013. Conceptually-Based Financial Reporting Quality Assessment. An Empirical Analysis on Quality Differences Between UK Annual Reports and US 10-K Reports. Nice working paper 13 – 106. 69. Gayle and Miller, 2009. Has Moral Hazard Become a More Important Factor in Managerial Compensation? repository.cmu.edu/cgi/viewcontent .cgi?article =1119 & context=tepper. 70. Gelinas, U. J., JR & Dull, R. B., 2008. Accounting Information Systems, Canada, Thomson South-Western. 71. Gul.F.A, Sidney Leung, 2004. Board leadership, outside directors expertise and voluntary corporate disclosures. Journal of Accounting and Public Policy, 23 (2004), 351-379. 171 72. Gulzar. M.A, Wang Zongjun, 2011. Corporate Governance Characteristics and Earnings Management: Empirical Evidence from Chinese Listed Firms. International Journal of Accounting and Financial Reporting, Vol. 1, No. 1. 73. Healy và Palepu, 2001. Information asymmetry, corporate disclosure, and the capital markets: A review of the empirical disclosure literature. Journal of Accounting and Economics 31 (2001) 405–440. 74. Hillman Amy.J, Dalziel Thomas, 2003. Boards of Directors and Firm Performance: Intergrating Agency and Resource Dependence Perspectives. Academy of Management Review, Vol 28, No.3, 383-396. 75. Ho Simon.S.M, Wong Kar Shun, 2001. A Study of Relationship between Corporate Governance Structures and the extent of Voluntary Discloure. Journal of International Accounting, Auditing and Taxation 10 (2001) 139- 156. 76. Huang Zhizhong, Zhang Juan, 2011. Does corporate governance affect restatement of financial reporting? Evidence from China. www .emeraldinsight.com/2040-8749.htm. 77. IASB, 2008, Exposure Draft on an improved Conceptual Framework for Financial Reporting: The objective of Financial Reporting and qualitative characteristics of Decision-useful Financial Reporting Information. London 78. IASB, 2010. The Conceptual Framework for Financial Reporting. London. 79. Iu.J, Clowes.C, 2004. Evaluating a Measure of Content Quality for Accounting Narratives. 80. Ienciu I.A, 2012. The Relationship between Environmental Reporting and Corporate Governance Characteristics of Romanian Listed Entities. Accounting and Management Information Systems Vol. 11, No. 2, pp. 267– 294. 81. Jason Zezhong Xiao, He Yang, Chee W. Chow, 2004. The determinants and characteristics of voluntary Internet-based disclosures by listed Chinese companies. Journal of Accounting and Public Policy, 23 (2004), 191-225. 172 82. Jensen M.C and Meckling W.H, 1976. Theory of the Firm: Managerial Behavior, Agency Costs and Ownership Structure. Journal of Financial Economics, V.3, No. 4, pp. 305-360. 83. Jonas.G.J and Jeannot Blanchet, 2000. Assessing Quality Financial Reporting, Accounting Horizons, 14(3), 353-363. 84. Jouini Fathi, 2013. Corporate Governance and the Level of Financial Disclosure by Tunisian Firm. Journal of Business Studies Quarterly 2013, Vol. 4, No. 3. 85. Julia Nasev, Bernard Black, Woochan Kim, 2012. Does Corporate Governance Affect Earnings Management? Evidence from an Exogenous Shock to Governance in Korea. . 86. Kalbers, Lawrence P; Fogarty, Timothy J, 1993. Audit committee effectiveness: An empirical investigation of the contribution of power. Report Information from ProQuest 01 December 2013 18:26. 87. Karamanou and Vafeas, 2005. The Association between Corporate Boards, Audit Committees, and Management Earnings Forecasts: An Empirical Analysis. Journal of Accounting Research Vol. 43 No. 3. 88. Katarina.Z, Lajos.Z, 2006. The role of Financial Information in Decision Making Process. /im_en_2006_03_ Zager.pdf. 89. Kim.J, Simunic.D, Stein.M, Yi.C, 2009. Voluntary Audits and the Cost of Debt Capital for Privately Held Firms: Korean Evidence. cfm?abstract_id=1680093. 90. Leila Hussein Amer, Naser Abdelkarim ,2012. Corporate Governance and Earnings Management: Empirical Evidence from Palestinian Listed Companies. 91. Lin Shu, Pizzini Mina, Vargus Mark, 2010. The Role of Internal Audit Function in the Disclosure of Material Weaknesses. =1592593. 173 92. Liu.Q, Lu,Z, 2007. Corporate governance and earnings management in the Chinese listed companies: A tunneling perspective. Journal of Corporate Finance 13, 881–906. 93. Lyle .N, 2008. Fianacial Reporting Supply Chain. Copyright © March 2008 by the International Federation of Accountants (IFAC). 94. Mahdi Salehi, Farzaneh Nassirzadeh, 2012. Perceptions on Qualitative Characteristics in Financial Reporting: Iranian Evidence. archieves17.webs.com/92-107.pdf. 95. Maines.L, Wahlen.J, 2003. The Nature of Accounting Information Reliability: Inferences from Archival and Experimental Research. /content /M0034/M003421831.pdf . 96. McDaniel, Martin.R, Maines.L, 2002. Evaluating Financial Reporting Quality: The Effects of Financial Expertise vs. Financial Literacy. /3203330. 97. McFie, 2006. High Quality Financial Reporting: The Case the Nairobi Stock Exchange (Doctoral thesis). University of Strathclyde, United Kingdom. 98. McMullen, Dorothy.A; Raghunandan.K, 1996. Enhancing audit committee effectiveness. Journal of Accountancy; Aug 1996; 182, 2; ProQuest Central pg. 79. 99. Men and Wang, 2008. Analysis on the Quality of Strategy Information Disclosure in Listed Steel Companies - Based on Annual Report. seiofbluemountain.com/upload/product/201009/2010cwjrhy07a8.pdf 100. Miettinen, J. , 2008. The effect of audit quality on the relationship between audit committee effectiveness and financial reporting quality. Universitas Wasaensis. 101. Miller and Sardais, 2011. Angel Agents: Agency Theory Reconsidered. Academy of Management Perspectives. 102. Mohammady.A, 2010. Earnings Quality Constructs and Measures. http:// ssrn.com/abstract=1678461. 174 103. Mohamed Akhtaruddin, Monirul Alam Hossain, Mahmud Hossain, Lee Yao, 2009. Corporate Governance and Voluntary Disclosure in Corporate Annual Reports of Malaysian Listed Firms. 104. Moradi. M, Salehi.M, Bighi.S.J.H, Najari.M, 2012. A Study of Relationship between Board Characteristics and Earning Management: Iranian Scenario. Universal Journal of Management and Social Sciences, Vol. 2, No.3. 105. Nadia Smaili, Réal Labelle, 2009. Preventing and Detecting Accounting Irregularities:The Role of Corporate Governance. =1324143. 106. Nichols and Wahlen, 2004. How do Earning Numbers Relate of Stock Return? A Review of Classic Accounting Research with update Evidence. Accounting Horizon. Vol.18, No.4, pp 263 – 286. 107. Nicholson and Kiel, 2007. Can Directors Impact Performance? A case-based test of three theories of corporate governance. Journal compilation, Blackwell Publishing Ltd. Vol. 15, No. 21, pp 585 – 608. 108. Norwani.N.M, Mohamad.Z.Z, Chek.I.T, 2011. Corporate Governance Failure and Its Impact on Financial Reporting within selected Companies. International. Journal of Business and Social Science, Vol. 2 No. 21. 109. Noubbigh.N.A, Chokri Mamoghli.C, 2013. Internal Audit Characteristics, Financial Reporting Quality: Tunisian Case. csafc2013. 110. Nurwati Ashikkin, Ahmad Zaluki, Wan Nordin Wan Hussin, 2009. Corporate Boards, Audit Committees and Quality of Financial Disclosure in IPOs. Ashikin- Corporate _ Boards. pdf. 111. Omaima Hassan and Claire Marston, (2010), Disclosure measurement in the empirical accounting literature – a review article, abstract=16405498. 175 112. Persons. O.S, 2006. Corporate Governance and Non-Financial Reporting Fraud. The Journal of Business and Economic Studies; Spring 2006; 12, 1; ProQuest Central, pg.27. 113. Popa Adina and Peres Ion , 2008. Aspects Regarding Corporate Mandatory and Voluntary Disclosure, v3-finances - banks-accountancy/256.pdf. 114. Rezaee.Z, 2002. Corporation Governance Role in Financial Reporting 115. Rezaee.Z, 2003. High Quality Financial Reporting: The six Legged Stool. 116. Robert M. Bushman, Smith.A, 2001. Financial Accounting Information and Corporate Governance. www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0165 410101000271. 117. Romlah Jaffar, Sabariah Jamludin, Mara Rudian Che Abdun Rahman, ( 2007), Determinant Factors Affecting Quality of Reporting in annual report of Malaysia Companies, Malaysia Acconting Review Volume 06, No. 2. 118. Rusmin, 2011. Internal Governance Monitoring and Earnings Quality. 119. Ryan Davidsona, Jenny Goodwin-Stewart, Pamela Kent, 2005. Internal governance structures and earnings management. sol3/papers.cfm? Abstract _id=729470. 120. Sandeep Nabar, Yongtae Kim, William G. Heninger, 2007. Earnings Misstatements, Restatements and Corporate Governance. research/2006-07-papers/upload/wp07- 01-kim-y-earnings-misstate.pdf. 121. Schipper, Katherine;Vincent, Linda, 2003. Earnings Quality. Accounting Horizons; 2003; 17, ProQuest Central pg. 97. 122. Sergio Beretta, Saverio Bozzolan, 2004. A framework for the analysis of firm risk communication. The International Journal of Accounting 39 (2004) 265– 288. 176 123. Shamsul Nahar Abdullah et al (2010), Financial Restatements and corporate governance among Malaysian Listing Companies, 15021/1/ Financial_restatements[1]_15201.pdf. 124. Shireenjit K. Johl, Satirenjit Kaur Johl, 2013. Internal audit function, board quality and financial reporting quality: evidence from Malaysia. Managerial auditing journal, vol. 28, no. 9, pp. 780-814. 125. Sloan.R, 2001. Financial accounting and corporate governance: a discussion. http:// papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=284171. 126. Sori, Z. M, et al. 2007. Audit committee authority and effectiveness: The perceptions of Malaysian senior managers. International Research Journal of Finance and Economics, Vol. 8, pp. 41-56. 127. Stergios Tasios, Bekiaris.M, 2012. Auditor’s perceptions of financial reporting quality: the case of Greece. International Journal of Accounting and Financial Reporting2012, Vol. 2, No.1. 128. Supawadee.S, Subba.Y, Omar.F, 2013. Earnings Management and Board Characteristics in Thai Listed Companies. ibea2013/ejournal/116. 129. Tuggle et al, 2010. Commanding Board of Director Attention: Investigating How Organizational Performance and CEO Duality affect Board Members’ Attantion to Monitoring. Strategic Management Journal. 31: 946–968. 130. Udi Hoitash, Rani Hoitash, 2008. Corporate Governance and Internal Control over Financial Reporting: A Comparison of Regulatory Regimes. =954057. 131. Wan Adibah Wan Ismail, Keitha Dunstanb, Tony van Zijl, 2010. Earnings Quality and Corporate Governance Following the Implementation of Malaysian Code of Corporate Governance. keitha_dunstan/5/. 177 132. Wan Nordin Wan-Hussin, Noor Marini Haji-Abdullah, 2009. Audit Committee Attributes, Financial Distress and The Quality of Financial Reporting in Malaysia. 133. Watson, Shrives và Marston, 2002. Voluntary disclosure of accounting ratios in the UK. Bristish Accounting Review, Vol.34, pp, 289-313. 134. Werner R. Murhadi, 2009. Good Corporate Governance and Earning Management Practices: An Indonesian Cases. abstract=1680186. 135. Xie. B, Davidson.W.N, 2001. Earning Management and Corporate Governance: The Roles of The Board and The Audit Committee. abstract_id=304195. 136. Yang Jing, 2008, Causes and Solutions for Information Asymmetry in Stock Market, jrhy07a13 .pdf. 137. Yan Zhang, Jian Zhou, Nan Zhou, 2006. Audit Committee Quality, Auditor Independence, and Internal Control Weaknesses. sciencedirect.com/science /article/pii/S0278425407000208. 138. Yatim.P, Kent.P, Clarkson.P, 2006. Governance Structures, Ethnicity, and Audit Fees of Malaysian Listed Firms. .au/cgi/viewcontent.cgi?article =1012. 178 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 1. Ha Xuan Thach and Nguyen Trong Nguyen (2015). Board Characteristics and Financial Reporting Quality: an Empirical Evidence From HOSE Listed Companies. International Conference on Accounting, ICOA 2015, 22 May 2015, Danang, Vietnam. 2. Hà Xuân Thạch, Nguyễn Trọng Nguyên (2015). Đánh giá sự tác động của nhân tố bên trong doanh nghiệp đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính của các công ty niêm yết tại SGDCK TPHCM. Đại học Kinh tế TPHCM, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường. 3. Hà Xuân Thạch, Nguyễn Trọng Nguyên (2014). Các nhân tố bên trong tác động đến chất lượng thông tin báo cáo tài chính. Kỷ yếu hội thảo khoa học , Đại học Kinh tế TPHCM. 4. Nguyễn Trọng Nguyên, 2014. Vai trò của Ban kiểm soát đối với báo cáo tài chính các công ty niêm yết. Tạp chí tài chính số 8, 2014. 5. Nguyễn Trọng Nguyên, 2011. Vai trò của Kiểm toán nội bộ trong việc nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của công ty niêm yết. Tạp chí kế toán số 7, 2011. 6. Nguyễn Trọng Nguyên, 2010. Nâng cao chất lượng báo cáo tài chính các công ty niêm yết thông qua quản trị công ty. Tạp chí kế toán số 4, 2010.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_tac_dong_cua_qtct_den_chat_luong_thong_tin_bctc_tai.pdf
  • pdfMoi-E.pdf
  • pdfMoi-V.pdf
  • pdfTomTat-E.pdf
  • pdfTomTat-V.pdf
Luận văn liên quan