Luận văn Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam

Hoạt động cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN ở các bộ/ngành, địa phương có một quá trình và đến nay đã đạt được những kết quả nhất định: xây dựng và phát triển được một mạng lưới; tạo lập tiềm lực thông tin quốc gia ở mức độ nhất định; hình thành đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp; tạo lập được hệ thống dịch vụ cơ bản bước đầu phục vụ cho nhiều đối tượng dùng tin (cán bộ quản lý các cấp, cán bộ nghiên cứu, phát triển công nghệ, các nhà sản xuất, kinh doanh, đông đảo tầng lớp nhân dân). Thực tế cho thấy, nhu cầu tin của cán bộ tại tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương là rất đa dạng và phong phú. Trong khi đó nguồn lực thông tin hiện có tại đây cũng như cơ sở vật chất hiện nay còn nhiều bất cập và bị hạn chế dẫn đến hoạt động của các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành và địa phương chưa đáp ứng được nhiệm vụ cung cấp thông tin nhanh, đầy đủ, chính xác và kinh tế theo nhu cầu của xã hội và cộng đồng người dùng tin. Để có thể đáp ứng được một cách đầy đủ nhu cầu tin của người dùng tin thì việc hoàn thiện và phát triển dịch vụ thông tin của cơ quan bộ/ngành, địa phương phải có một sự chuyển biến căn bản và có những giải pháp đồng bộ nhằm phát huy tiềm năng và sức mạnh của mình. Đối với việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN, về phía các tổ chức thông tin KH&CN cần phải nỗ lực nhiều mặt, cần phải có những lựa chọn và bước đi thích hợp, đặc biệt là tập trung phát triển các hướng hoạt động tiềm năng, nâng cao chất lượng sản phẩm sẵn có, tạo sản phẩm mới, làm tốt hoạt động marketing, lấy thị trường là trung tâm của mọi hoạt động, nâng cao uy tín, thương hiệu của tổ chức thông tin KH&CN thông qua các dịch vụ. Cần phải tạo ra một sự thay đổi nhận thức về88 vai trò, tầm quan trọng của công tác phối hợp, chia sẻ nguồn lực thông tin. Chỉ khi có sự phối hợp, chia sẻ thường xuyên giữa các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương cùng lĩnh vực thì sẽ giải quyết được những bất cập trong công tác tạo nguồn hiện nay. Việc phối hợp bổ sung phải được thực hiện bằng cách phân chia rõ ràng, cũng như trách nhiệm thu thập từng loại hình tài liệu theo từng chuyên ngành cụ thể, với mục đích tránh bổ sung trùng lặp gây nên tình trạng lãng phí và cũng tránh được tài liệu cần lại bị bỏ sót Trên bình diện quốc gia (toàn mạng lưới), Nhà nước ta cần đầu tư xây dựng và phát triển ở mức "đủ ngưỡng": Hạ tầng thông tin quốc gia; Tiềm lực thông tin quốc gia; Đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp. Ngoài ra, Nhà nước đảm bảo khung khổ pháp lý cho phát triển hoạt động thông tin KH&CN trong giai đoạn mới, nhất là phát triển theo hướng "năng xuất, chất lượng, hiệu quả" với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; lấy nhu cầu tin và thị trường thông tin KH&CN làm trung tâm của mọi hoạt động; đảm bảo môi trường pháp lý cho việc tiếp cận, khai thác thông tin của các đối tượng dùng tin. Việc thực hiện các giải pháp được đề xuất trong đề tài sẽ góp phần vào hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN. Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin, nâng cao chất lượng khai thác thông tin là biện pháp tích cực để tiếp tục hoàn thiện và đa dạng hóa hoạt động các dịch vụ thông tin ở các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương. Với những mục tiêu và hướng phát triển đưa ra, tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương cần thiết phải xây dựng một kế hoạch tổng thể với những giải pháp và bước đi thích hợp đã được trình bày trong luận văn này, nhằm nâng cao hiệu quả của dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ

pdf104 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Lượt xem: 561 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
quan quản lý KH&CN tại các cơ quan Bộ, biên chế và tổ chức của các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN được quan tâm và củng cố, đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ ngày càng được tăng cường. Hàng năm, cơ quan bộ/ngành và các địa phương thường xuyên cử cán bộ tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn. Đội ngũ cán bộ của thông tin những năm gần đây được trẻ hoá, tăng lên cả về số lượng và chất lượng, có thể đảm nhận được nhiều nhiệm vụ mới của thư viện trong giai đoạn hiện nay. 63 Qua điều tra cho thấy, tinh thần thái độ phục vụ của cán bộ thông tin được 90 % người dùng tin đánh giá là tốt. Số lượng tài liệu được bổ sung cũng tăng lên đáng kể, phong phú về nội dung, đa dạng về loại hình, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tin của người dùng tin, 85% người dùng tin đánh giá mức độ đáp ứng tài liệu là tốt. Việc thu thập các nguồn tin tư liệu ngày càng được mở rộng. Điều này bảo đảm tính đầy đủ cho kho tư liệu. 2.3.2. Yếu điểm Mặc dù những người làm công tác dịch vụ thông tin tại cơ quan bộ/ngành, địa phương đã có những cố gắng không nhỏ trong suốt nhiều năm, song hoạt động của cơ quan bộ/ngành, địa phương trong đó đặc biệt là dịch vụ thông tin được tổ chức và triển khai tại đây vẫn còn một số tồn tại không nhỏ. Nhiều vấn đề lớn, phức tạp vẫn còn thách thức đội ngũ lãnh đạo và cán bộ thông tin, trong đó, có không ít vấn đề đã trở nên quá quen thuộc đã làm cản trở con đường phát triển của công tác thông tin tại hệ thống thông tin toàn quốc. Qua khảo sát điều tra, chúng tôi rút ra một số vấn đề cần quan tâm sau đây từ việc tổ chức, sử dụng và khai thác các DV tại cơ quan bộ/ngành, địa phương: - Thứ nhất, về phương thức phục vụ, thực tế cho thấy, hiện nay dịch vụ thông tin của cơ quan bộ/ngành, địa phương vẫn còn đơn sơ, mang nặng tính truyền thống, chậm đổi mới, chủ yếu dừng lại ở ngưỡng bị động và cung cấp, chưa ngang tầm với đòi hỏi của thực tiễn nên chưa tương xứng với yêu cầu thực tiễn đặt ra, chưa thu hút đông đảo người dùng tin đến sử dụng thông tin. - Thứ hai, về chất lượng, các dịch vụ thông tin mới chỉ đáp ứng nhu cầu của người dùng tin ở mức độ thông thường, chưa thoả mãn được các dạng yêu cầu chuyên sâu, cụ thể là: 64 + Hệ thống dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ thông tin hiện đại còn mờ nhạt, chưa thể hiện được vai trò của mình. + Tính chính xác của thông tin trong CSDL còn hạn chế, chưa bảo đảm được đầy đủ yêu cầu khi khai thác một CSDL (hiện tượng biểu ghi trùng lặp, từ khóa không thống nhất, sai lỗi chính tả, còn xảy ra nhiều trong quá trình tìm kiếm thông tin). + Phần mềm quản trị CSDL chưa thoả mãn hết các yêu cầu trong việc tìm kiếm thông tin. - Thứ ba, vốn tài liệu của các cơ quan bộ/ngành, địa phương chưa ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ quản lý ngành của các cơ quan. Một số địa phương không được cung cấp kinh phí để thực hiện cung cấp các dịch vụ thông tin. + Số lượng sách phổ biến, giải trí còn chiếm khá nhiều về mặt cơ cấu trong các thành phần vốn tài liệu. + Một khối lượng lớn sách xuất bản từ trước những năm 80 quá lớn nhưng chưa có điều kiện để thanh lọc. + Là các cơ quan mang tính chất chuyên ngành và tổng hợp nhưng không bao quát được các nguồn tài liệu có hàm lượng thông tin cao. - Thứ tư, nhiều hạn chế trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin: Với tốc độ phát triển công nghệ như hiện nay, hệ thống máy tính đã bộc lộ rất nhiều điểm lạc hậu so với nhu cầu sử dụng của người dùng tin, cụ thể là: + Cấu hình các máy thấp nên không thể cài đặt các chương trình ứng dụng phục vụ cho công tác tạo lập các dịch vụ thông tin đa phương tiện. Tốc độ máy chậm. + Các phần mềm trang bị ban đầu cho hệ thống máy đã lạc hậu, các phần mềm có khả năng vận hành một số chức năng cơ bản không có bản quyền. 65 + Với đặc thù của các dữ liệu có dung lượng lớn, không được trang bị những thiết bị ngoại vi cần thiết như màn hình cỡ lớn, thiết bị nghe nhìn, thiết bị đọc chuyên dụng, các thiết bị vào ra, ... không thể triển khai được các thông tin dạng số đến người dùng tin một cách đầy đủ và hiệu quả. + Hệ thống máy tính tra cứu lạc hậu, số lượng ít, có cấu hình thấp, tốc độ xử lý thông tin chậm. + Đường truyền mạng không ổn định ảnh hưởng đến việc tra cứu. + Các trang thiết bị không sử dụng hết công suất. -Thứ năm, các chương trình, đề án quy định cụ thể chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN còn ít, đa số còn phân tán trong các văn bản quy phạm pháp luật về thông tin, KH&CN nói chung, hoặc lồng ghép với các chính sách phát triển hoạt động thư viện KH&CN. * Nguyên nhân của hạn chế: - Thứ nhất, chưa có chiến lược hoạch định lâu dài cho việc phát triển dịch vụ thông tin Chưa có hoạch định được một chương trình tổ chức, xây dựng dịch vụ thông tin một cách toàn diện, tổng thể, có hệ thống, để có những căn cứ khoa học, thực tiễn cho việc hoạch định các giải pháp cụ thể về tổ chức triển khai xây dựng và hoàn thiện hệ thống dịch vụ thông tin. Quy trình xây dựng, biên soạn tổ chức thực hiện chưa được đầu tư thích đáng về thời gian, công sức, điệu kiện về tài chính; chưa thu hút được sự quan tâm trước hết của lãnh đạo cấp trên, sự tham gia đông đảo của các nhà chuyên môn, các nhà khoa học và chưa có một sự khảo sát đầy đủ điều kiện thực để đẩy mạnh hoạt động thông tin của cơ quan bộ/ngành, địa phương nói chung, dịch vụ thông tin nói riêng vào mọi hoạt động thực tiễn của bộ/ngành, địa phương. - Thứ hai, về năng lực trình độ của cán bộ thông tin: + Trình độ và năng lực nghiệp vụ chuyên môn nói chung của các cán bộ tại tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CNbộ/ngành, địa phương 66 chưa theo kịp yêu cầu phát triển của KH&CN, nhu cầu ngày càng đa dạng và nâng cao của người dùng tin. + Đội ngũ cán bộ trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm công tác trong việc phục vụ, xử lý, khai thác thông tin khó có thể đáp ứng những nhu cầu tin chuyên sâu. + Số cán bộ lớn tuổi, tuy rất nhiệt tình, tâm huyết với công việc, có kinh nghiệm trong các hoạt động Thư viện truyền thống, song còn rất nhiều hạn chế trong việc tiếp cận với công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin. + Hiện tại, do năng lực vận hành và khai thác các trang thiết bị của cán bộ còn thấp nên chưa khai thác một cách có hiệu quả các dịch vụ mà tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương có. + Thiếu cán bộ xử lý thông tin chuyên trách, do vậy, tuy các sản phẩm của tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương đã đi vào hoạt động nhưng số lượng không nhiều, chưa đủ để cung cấp những thông tin chuyên sâu, mang tính dài hơi. + Trình độ tin học và ngoại ngữ của cán bộ phục vụ và cán bộ xử lý thông tin còn hạn chế. + Khả năng khai thác và sử dụng thông tin điện tử trên mạng còn nhiều hạn chế. - Thứ ba, về cơ sở vật chất, trang thiết bị: Chiến lược đầu tư, chế độ bảo dưỡng trang thiết bị phục vụ thông tin chưa phù hợp: trang thiết bị chưa được đầu tư đồng bộ, nguồn kinh phí đầu tư còn hạn chế. Không ít các thiết bị đã lạc hậu, không còn phù hợp với yêu cầu sử dụng nhưng không được nâng cấp, thay thế. - Thứ tư, còn thiếu một số công cụ hỗ trợ trong quá trình xử lý thông tin: Chưa có bộ từ khoá theo các chuyên ngành để xử lý các tài liệu liên quan, do vậy, các từ khoá chuyên ngành chủ yếu được đánh một cách tự do, dẫn đến 67 tình trạng một thuật ngữ nhưng có nhiều cách đánh từ khoá khác nhau, không thống nhất, gây ra không ít khó khăn trong việc tra cứu thông tin. - Thứ năm, về đào tạo người dùng tin: Công tác tập huấn, hướng dẫn người dùng tin nhằm nâng cao kỹ năng sử dụng thông tin chưa được tổ chức thường xuyên, kịp thời đã làm cho đông đảo người dùng tin chưa thật sự tích cực tham gia vào quá trình thông tin 68 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Với quan điểm giáo dục đào tạo và KH&CN là quốc sách hàng đầu, Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề phát triển thông tin và dịch vụ thông tin KH&CN. Nhưng do xuất phát điểm kinh tế nghèo nàn, đất nước chịu hậu quả nặng nề do chiến tranh và do cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung bao cấp kéo dài nên kết quả thực tế thông qua các chính sách về tài chính, phát triển nhân lực và nguồn lực thông tin KH&CN chưa đồng bộ, để thúc đẩy dịch vụ thông tin KH&CN phát triển. Chính sách về dịch vụ thông tin KH&CN chưa đổi mới theo kịp yêu cầu phát triển KH&CN để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, hoạt động KH&CN còn tách rời với kinh tế, xã hội và ngược lại, vì các chính sách đổi mới quản lý KH&CN trên thực tế chưa được xây dựng đồng bộ, hệ thống và mang tính thực thi cao. Tại chương 2 này, tác giả tập trung đánh giá thực trạng dịch vụ thông tin KH&CN và thực thi chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN tại Việt Nam để chỉ ra những ưu điểm, yếu điểm đối với kết quả thực thi chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN ở Việt Nam. 69 Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 3.1. Quan điểm phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam Trước hết, để phát triển dịch vụ thông tin KH&CN, Nhà nước ta đã đưa ra một số quan điểm phát triển KH&CN như sau: Phát triển khoa học và công nghệ cùng với giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Khoa học và công nghệ phải đóng vai trò chủ đạo để tạo được bước phát triển đột phá về lực lượng sản xuất, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tập trung thực hiện đồng bộ 3 nhiệm vụ chủ yếu: Tiếp tục đổi mới cơ bản, toàn diện và đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học và công nghệ; tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ quốc gia; đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, gắn nhiệm vụ phát triển khoa học và công nghệ với nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội ở các cấp, các ngành. Nhà nước tăng mức đầu tư và ưu tiên đầu tư cho các nhiệm vụ khoa học và công nghệ quốc gia, các sản phẩm quốc gia. Đẩy mạnh xã hội hóa, huy động mọi nguồn lực, đặc biệt là của các doanh nghiệp cho đầu tư phát triển khoa học và công nghệ. Phát triển thị trường khoa học và công nghệ gắn với thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, khuyến khích sáng tạo khoa học và công nghệ. Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ là mục tiêu đồng thời là giải pháp quan trọng để góp phần đưa khoa học và công nghệ Việt Nam sớm 70 đạt trình độ quốc tế. Hội nhập quốc tế về khoa học và công nghệ phải được thực hiện tích cực, chủ động, sáng tạo, bảo đảm độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, bình đẳng và cùng có lợi. Đối với riêng dịch vụ thông tin KH&CN, Nhà nước nhấn mạnh một số nhiệm vụ trọng điểm: Phát triển mạnh mẽ dịch vụ cung cấp, tổng hợp - phân tích thông tin, số liệu thống kê khoa học và công nghệ bảo đảm chất lượng, đáp ứng nhu cầu lãnh đạo, quản lý, dự báo, hoạch định chiến lược, chính sách phát triển, sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Tăng cường cập nhật, chia sẻ và cung cấp thông tin phục vụ đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ tại các trường đại học, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Nhân rộng và tăng cường mô hình phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới tại các địa phương 3.2. Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ ở Việt Nam 3.2.1. Phát triển hạ tầng thông tin ở qui mô quốc gia, tăng cường tiềm lực thông tin khoa học và công nghệ ở bộ/ngành, địa phương 3.2.1.1. Phát triển hạ tầng thông tin ở quy mô quốc gia Các nước đều muốn tạo lập một hạ tầng kỹ thuật thông tin quốc gia giá rẻ và hiệu quả để mọi cá nhân và các tổ chức dễ dàng liên lạc với nhau. Nhờ hạ tầng thông tin này, người ta dễ dàng thiết lập và mở rộng phạm vi ứng dụng của các dịch vụ căn bản như: trao đổi thư điện tử, truyền tệp, tìm kiếm thông tin, trao đổi thông tin, Hạ tầng thông tin quốc gia hiện tại bao gồm: 71 - Hạ tầng mạng thông tin KH&CN của trung ương, bộ ngành là phần xương sống cho mọi hoạt động thông tin KH&CN trong phạm vi toàn quốc; - Đảm bảo kiến trúc hạ tầng: tuân thủ tiêu chuẩn chung về tổ chức tài nguyên thông tin; có những phần mềm tích hợp các tiêu chuẩn chung, và có phần nguồn tài nguyên thông tin chung, chia sẻ được; - Đảm bảo các chuẩn liên kết, trao đổi thông tin tiên tiến: từ các chuẩn nghiệp vụ trong hoạt động thông tin-thư viện như các chuẩn mô tả, trình bày, trao đổi dữ liệu; - Sự hỗ trợ và chế độ ưu đãi của Nhà nước, của các mạng viễn thông quốc gia đối với hoạt động thông tin KH&CN (chế độ thuê bao, hỗ trợ kỹ thuật,). Tóm lại, Nhà nước đảm bảo cho việc xây dựng và phát triển mạng thông tin KH&CN ở phạm vi bộ/ngành, địa phương với mức độ đáp ứng được yêu cầu của thực tế. Việc xây dựng chương trình đầu tư được thể hiện cụ thể ở phạm vi quốc gia, bộ ngành (trong đó có các dự toán chi tiết các hạng mục, lộ trình đối với từng phạm vi, từng cấp, từng nhóm tổ chức thông tin). Ở mỗi phạm vi đó giao cho một cơ quan chủ trì xây dựng trình duyệt. Cụ thể là: ở phạm vi quốc gia là Cục Thông tin KH&CN quốc gia; ở phạm vi Bộ, ngành là các tổ chức thực hiện chức năng đầu mối thông tin KH&CN; ở địa phương là các Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN. 3.2.1.2. Tạo lập tiềm lực thông tin khoa học và công nghệ ở bộ/ngành, địa phương Do hạn chế về nguồn lực, để thoả mãn nhu cầu thông tin của xã hội, các quốc gia, nhất là những nước đang phát triển, đều phải giải quyết cùng một số vấn đề, như: phần tự làm (đối với nguồn tin trong nước) và phần nhập mua (nguồn tin, CSDL nước ngoài). Đặc biệt là phải xác lập được những lĩnh vực, 72 những nguồn tin ưu tiên (nhất thiết phải có) cũng như cơ chế hỗ trợ tài chính cho các tổ chức để tạo ra các dịch vụ thông tin một cách phù hợp, hiệu quả. Đối với nhiều nước trong khu vực, phát triển thông tin trong những năm đầu của giai đoạn chuyển sang xã hội thông tin đều dựa vào việc nhập khẩu có chọn lọc các sản phẩm thông tin mà đầu tiên là các CSDL từ các cường quốc thông tin như Hoa kỳ, Anh, Pháp, Nga, để phổ biến và khai thác trong các cơ quan. Ví dụ như khai thác Mạng STN (Liên kết giữa Hoa Kỳ, CHLB Đức và Nhật Bản), mua các CSDL toàn văn online: EBSCO, Host, Blackwell, và gần đây là Science@Direct, Proquest Central, Ebrary, Springer Online, Asme,. Tuy nhiên, vế thứ hai, quan trọng hơn, và là chủ đạo trong việc phát triển tiềm lực thông tin cũng như hệ thống dịch vụ thông tin, hình thành thị trường thông tin KH&CN, đó là tạo lập và phát triển các dịch vụ, các CSDL nội sinh về các nguồn tin KH&CN trong nước. Ở đây, xây dựng tiềm lực thông tin quốc gia, bao gồm việc đảm bảo đầy đủ những nguồn tin có giá trị (tạp chí, sách báo, ấn phẩm thông tin, CSDL,....) và phù hợp ở phạm vi quốc gia, ngành nhất là nguồn tin số hóa. Có cơ chế trao đổi, liên kết trong khai thác, sử dụng, đặc biệt là đối với các tài nguyên thông tin được tạo ra bằng ngân sách nhà nước. Ở mỗi phạm vi quốc gia, bộ/ngành, địa phương, Nhà nước cần: - Đảm bảo những nguồn tin hạt nhân (đối với cả nguồn tin trong nước và nước ngoài), cụ thể là cấp kinh phí để mua hoặc thuê bao online đối với các tạp chí, tài liệu chuyên dạng, CSDL có giá trị, phù hợp nhất. Các tổ chức thông tin KH&CN ở mỗi cấp cần xây dựng và thuyết minh cụ thể các Danh mục và các Danh mục đó phải được các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt sau đó triển khai; 73 - Tạo lập và phát triển những CSDL nòng cốt, đặc thù. Các tổ chức thông tin KH&CN xây dựng Danh mục cụ thể các CSDL. Danh mục đó phải được các cơ quan thẩm quyền phê duyệt sau đó triển khai. Danh mục nguồn tin hạt nhân cũng như Danh mục CSDL cần được bổ sung, hiệu chỉnh định kỳ, tùy theo yêu cầu của thực tế và sự chỉ đạo của cơ quan quản lý. - Quy định cơ chế chia sẻ, khai thác, sử dụng các nguồn tin được tạo lập, phát triển bằng kinh phí Nhà nước một cách cụ thể, đảm bảo cho người dùng tin tiếp cận, khai thác, sử dụng các nguồn tin đó dễ dàng. Trên quy mô quốc gia, việc thiết lập hệ thống các sản phẩm thông tin là việc làm cần thiết song cũng tốn kém. Để tránh sự lãng phí do trùng lặp, tổ chức thiếu khoa học cần xây dựng dự án hình thành các tổ hợp chia sẻ và trao đổi các sản phẩm thông tin. Để đảm bảo chia sẻ thành công, phải chuẩn bị các điều kiện và các yếu tố cần thiết. Nhà nước cần có sự quản lý, điều phối và có thể xây dựng Chương trình hợp tác, tổ chức các Liên hiệp với sự thống nhất về những nguyên tắc cơ bản như: mục tiêu, quyền lợi, nghĩa vụ, phương thức hợp tác; phạm vi và khả năng mở rộng hợp tác, có Ban/Hội đồng điều hành am hiểu về tổ chức hoạt động thông tin, ứng dụng công nghệ thông tin, đủ năng lực điều chỉnh kịp thời trước những biến động,. Việc tổ chức triển khai ở phạm vi Bộ, ngành, địa phương là do tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương đứng đầu chịu trách nhiệm thực hiện. 3.2.1.3. Đảm bảo ngưỡng thông tin Nhà nước đảm bảo cho việc tạo lập, phát triển tiềm lực thông tin đạt "ngưỡng" tương ứng với mức độ, phạm vi của mỗi tổ chức. Cụ thể là: - Những nội dung cần được Nhà nước đảm bảo: + Đảm bảo cho việc mua các nguồn tin cơ bản, ổn định (nguồn tin hạt nhân) như các tạp chí, tài liệu chuyên dạng, ấn phẩm thông tin, sách chuyên 74 ngành,. trong nước và nước ngoài (nhằm thực hiện nhiệm vụ duy trì, phát triển thư viện); Xây dựng các CSDL phản ánh đầy đủ các nguồn tin của thư viện; Tạo lập Thư viện điện tử; + Đảm bảo các điều kiện cho việc bảo quản, lưu giữ các nguồn tin được đưa về bằng kinh phí Nhà nước, nhất là nguồn tin quí hiếm; + Đảm bảo cho việc xây dựng và cập nhật những CSDL chủ chốt, đặc thù của tổ chức đó. Đây cũng chính là các CSDL nội sinh của tổ chức thông tin KH&CN. + Đảm bảo hỗ trợ mua hoặc truy cập (thuê bao online) một số CSDL thiết thực nhất của nước ngoài cũng như trong nước phục vụ trực tiếp cho các bộ/ngành. - Chia sẻ nguồn tin: Tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương phải có trách nhiệm tham gia, chia sẻ những nguồn tin được tạo ra bằng ngân sách Nhà nước theo những quy định thống nhất đối với từng phạm vi, đối tượng cụ thể (thông qua các quy chế khai thác, sử dụng,...). 3.2.2. Đảm bảo tài chính cho dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ Đảm bảo môi trường pháp lý cho phát triển, tiếp cận, sử dụng các dịch vụ thông tin KH&CN được tạo ra bằng cả 2 nguồn: ngân sách Nhà nước và ngoài ngân sách Nhà nước đều cần được xem xét. 3.2.2.1. Nguyên tắc điều chỉnh tổng thể Hiện trạng các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương cho thấy, để tiếp tục phát triển dịch vụ thông tin cần có những điều chỉnh về mặt chính sách. Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với tinh thần đổi mới cơ chế và hoạt động thông tin KH&CN trong Luật KH&CN, trong Nghị định 11. Những nguyên tắc cần điều chỉnh ở phạm vi tổng thể đó là: Thứ nhất, cần có định hướng ưu tiên cụ thể và có cơ chế hỗ trợ phù hợp, kịp thời đối với từng nhóm tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa 75 phương (về hình thức, lộ trình và mức độ đầu tư từ phía Nhà nước). Tức là chính sách đầu tư, hỗ trợ để nâng cao năng lực của các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương một cách đồng bộ xét từ khía cạnh toàn hệ thống/mạng lưới. Thứ hai, việc phát triển các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương phải gắn kết hữu cơ với chính sách KH&CN của quốc gia nói chung và chính sách thông tin KH&CN nói riêng. Tinh thần chung là: các dịch vụ thông tin phải định hướng vào góp phần làm tăng "năng suất, chất lượng, hiệu quả" của công việc của các bộ/ngành, địa phương và phải dần đưa chúng thành hàng hóa, đáp ứng được nhu cầu của xã hội nói chung, của phát triển KH&CN nói riêng. Thứ ba, chính sách và nguồn lực tài chính phải được sử dụng thật sự hiệu quả để tạo ra tính đa dạng, chất lượng và có sự cạnh tranh trong các dịch vụ thông tin KH&CN. Do vậy, phải xác định rõ cơ chế hỗ trợ phù hợp với mục tiêu, tính chất của các dịch vụ thông tin, của từng loại tổ chức thông tin bộ/ngành. Trên bình diện toàn mạng lưới các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN quốc gia, cần phải nhìn nhận theo 3 mức hỗ trợ như sau: - Hỗ trợ toàn phần; - Hỗ trợ một phần ; - Tự trang trải. 3.2.2.2. Nguyên tắc đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, tuỳ theo lĩnh vực và trường hợp cụ thể, Nhà nước áp dụng cơ chế hỗ trợ cho phù hợp. Nguyên tắc chung của việc đầu tư và hỗ trợ của nhà nước cho thông tin là: - Thứ nhất: Nhà nước có trách nhiệm đầu tư tạo lập và phát triển hạ tầng thông tin cũng như tài nguyên thông tin quốc gia; Đảm bảo cơ chế chia 76 sẻ, tiếp cận, khai thác sử dụng tài nguyên thông tin (ở phạm vi quốc gia, ngành, địa phương), nhất là đối với những phần thông tin được tạo ra bằng ngân sách nhà nước. - Thứ hai: Nhà nước chỉ hỗ trợ cho dịch vụ thông tin phục vụ cho những lĩnh vực về chính trị, chiến lược, chính sách, quản lý nhà nước, nghiên cứu cơ bản và số ít các ngành công nghệ mũi nhọn, mang tính đột phá. - Thứ ba: Dịch vụ thông tin phục vụ nhu cầu trực tiếp cho nghiên cứu, đổi mới công nghệ, sản phẩm, phát triển sản xuất kinh doanh, phục vụ nhu cầu tin cá nhân,. đều phải chuyển sang cơ chế tự trang trải theo cơ chế thị trường với đúng nghĩa thông tin là một loại sản phẩm hàng hóa. 3.2.2.3. Đảm bảo kinh phí hoạt động +) Nguyên tắc chung: - Cấp và sử dụng đúng nguồn kinh phí. Cũng như các tổ chức KH&CN, các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương được Nhà nước cấp qua hai nguồn: + Nguồn kinh phí đầu tư cơ bản; + Nguồn kinh phí hoạt động sự nghiệp. Việc đảm bảo cấp và sử dụng kinh phí từ trước đến nay (kể cả theo cơ chế mới) luôn phải đúng nguồn. Các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành đều phải tuân thủ nguyên tắc sử dụng đúng nguồn, đúng mục đích. - Phương thức: Nhà nước giao khoán nhiệm vụ, sản phẩm, dịch vụ cụ thể với kinh phí tương ứng thông qua hình thức ký hợp đồng hàng năm (đối với nhiệm vụ thường xuyên) hoặc đặt hàng đột xuất (đối với nhiệm vụ đột xuất). +) Đảm bảo kinh phí đầu tư cơ bản (nguồn 1) Nhà nước đảm bảo kinh phí cho việc thực hiện các nhiệm vụ theo những đề án đầu tư cơ bản đã được các cơ quan thẩm quyền phê duyệt theo 77 đúng quy định. Vấn đề là, để được đầu tư, các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương phải biết tiếp cận và xây dựng đề án đúng mục đích, đúng mẫu và lộ trình. Trong những năm qua, nhìn chung, các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương ít được đầu tư từ nguồn này, một phần cũng do các tổ chức thông tin ít xây dựng đề án. Ngoài ra, tình trạng sử dụng kinh phí không đúng mục địch cũng vẫn thường xảy ra. +) Đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên (Nguồn 2) Những nội dung hoạt động được đảm bảo kinh phí thường xuyên phải bao gồm: - Đảm bảo nguồn tư liệu (ở ngưỡng quốc gia, ngành), tức là kinh phí để mua những tài liệu hạt nhân/tài liệu cơ bản của một tổ chức thông tin bộ/ngành. Ở đây, ta tạm coi khái niệm "Ngưỡng tài liệu" là những nguồn tài liệu cần thiết nhất, cần được mua một cách ổn định. Nhờ vào "ngưỡng" đó, tổ chức thông tin có khả năng đáp ứng nhu cầu tin (ít nhất ở mức độ trung bình) trong phạm vi, lĩnh vực được giao. Các nguồn đó được thể hiện bằng các danh mục và dự trù kinh phí tương ứng, được Nhà nước (Bộ, ngành, địa phương) phê duyệt. Trong đó gồm: tài liệu nội sinh và tài liệu nước ngoài. Phương thức mua và tổ chức khai thác: có sự liên kết, chia sẻ ở phạm vi quốc gia, ngành và theo lĩnh vực dưới sự điều phối của cơ quan quản lý nhà nước. - Duy trì và phát triển kho thư viện cũng như các CSDL về tư liệu của thư viện để làm công cụ tra tìm, khai thác. Những nội dung chủ yếu là: + Xử lý biên mục, xây dựng và duy trì, cập nhật các CSDL về tư liệu của thư viện, tạo lập các danh mục, công cụ tra cứu; + Tổ chức các kho tài liệu (tạo lập, duy trì, phát triển, kể cả kho mở hiện đại). 78 - Đảm bảo điều kiện cho thư viện hoạt động tốt, thường xuyên (các phòng đọc, kể cả phòng đa phương tiện), trong đó có: + Phục vụ thư viện tại chỗ, trong đó có sự ưu tiên phục vụ cho những độc giả đặc biệt - cán bộ lãnh đạo (Trung ương, Bộ, ngành, địa phương), các nhà khoa học, cán bộ quản lý chủ chốt,. + Phục vụ từ xa và liên thư viện (hỗ trợ kinh phí truy cập mạng, ưu tiên sử dụng các mạng dùng chung, các mạng được tạo lập bằng kinh phí Nhà nước,.). - Phục vụ thông tin cho lãnh đạo, quản lý bằng các hình thức khác nhau như ấn phẩm định kỳ (tổng quan, bản tin chọn lọc, bản tin điện tử, cập nhật báo cáo số liệu) hoặc theo chế độ phân phối tin chọn lọc. - Hỗ trợ cập nhật, nâng cấp các CSDL nòng cốt (các CSDL đã có, được xây dựng theo các đề án từ trước, hoặc xây dựng theo nhiệm vụ đột xuất-không thuộc kinh phí hoạt động thường xuyên). Đó là các CSDL tầm quốc gia hay đặc thù của bộ,ngành, nhưng giao cho tổ chức thông tin cụ thể. Danh mục các CSDL này phải được Nhà nước phê duyệt, trên cơ sở đó đầu tư, phát triển. - Đảm bảo hỗ trợ cập nhật thông tin, nâng cấp Trang chủ/Website/Cổng thông tin của tổ chức thông tin. Đảm bảo kinh phí hỗ trợ thuê bao đường truyền. Việc xây dựng, tạo lập ban đầu theo đề án đầu tư hoặc nhiệm vụ đột xuất. - Nhà nước đảm bảo hỗ trợ chủ yếu trong việc đào tạo cán bộ và hợp tác quốc tế. Kinh phí hợp tác quốc tế với những đối tác truyền thống được cụ thể hóa bằng kế hoạch hàng năm như trước (đoàn ra, đoàn vào, niên liễm, đối ứng). Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao trình độ (cử cán bộ đi học chuyên môn, nghiệp vụ) cũng được đưa vào kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm. 79 - Đảm bảo cấp kinh phí thực hiện những nhiệm vụ đột xuất (Nguồn 2). Nhà nước đảm bảo kinh phí thực hiện những nhiệm vụ đột xuất cần thiết (theo phương thức đặt hàng giao nhiệm vụ của Nhà nước, bộ, ngành) theo hai hình thức là giao từ trên xuống (đặt hàng) hoặc đề xuất từ dưới lên. - Thực hiện nhiệm vụ đột xuất theo cơ chế hợp đồng giao nhiệm vụ, sản phẩm, có kiểm tra định kỳ, đột xuất, có nghiệm thu, thanh lý đúng theo quy định. - Điều kiện: Nhà nước phải có những định mức, định giá hoặc quy chiếu tương xứng cho mỗi nhiệm vụ, sản phẩm, dịch vụ để có cơ sở xây dựng hợp đồng. Việc thực hiện những nhiệm vụ đột xuất là cơ hội cho tổ chức thông tin KH&CN có thêm việc làm và tăng thu nhập cho cán bộ. Tổ chức nào có tiềm lực, được tổ chức tốt, có uy tín sẽ có nhiều cơ hội nhận những nhiệm vụ đột xuất. 3.2.3. Xã hội hóa dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ Không phải ngẫu nhiên mà giải pháp xã hội hóa đã được đề ra trong nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Hiện nay, một số dịch vụ công trong lĩnh vực KH&CN đang dần được đẩy mạnh xã hội hóa, qua đó sẽ đáp ứng được nhu cầu của xã hội và giảm tình trạng độc quyền của các đơn vị sự nghiệp công lập. Đã có nhiều dịch vụ được xã hội hóa, như việc Bộ KH&CN cho phép gần 250 tổ chức ngoài công lập cung ứng dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường. Xã hội hóa dịch vụ thông tin, một giải pháp mang tính đột phá cao, sẽ làm gia tăng tính cạnh tranh của các dịch vụ thông tin, tạo ra sự quan tâm đối với những người dùng tin đại chúng, tạo ra các dịch vụ hấp dẫn hơn, tăng nguồn thu cho chính các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN. Vấn đề chính là tìm được doanh nghiệp sẵn sàng đầu tư cho dịch vụ thông tin KH&CN. 80 3.2.4. Kiện toàn bộ máy tổ chức và thống nhất mô hình hoạt động Hiện tại, trong mạng lưới các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương có nhiều mô hình tổ chức, kết hợp các mảng công việc liên quan chức năng, nhiệm vụ tương ứng được giao. Tên gọi các Trung tâm cũng có những khác nhau nhau (chẳng hạn như: Trung tâm Thông tin tư liệu, Trung tâm Tin học và Thông tin KH&CN, Trung tâm Thông tin và ứng dụng KH&CN,.). Số ít (chủ yếu là những tổ chức thông tin KH&CN chưa mạnh, tiềm lực nhỏ và có xu hướng tổ chức gọn nhẹ) lựa chọn mô hình đơn giản: Thông tin + Thư viện là mô hình truyền thống . Ngoài ra, còn có vài mô hình do các tổ chức thông tin KH&CN đề xuất, đó là: - Thông tin + Thư viện + Thống kê KH&CN + Sở hữu trí tuệ; - Thông tin + Thư viện + Thống kê KH&CN + Dịch vụ KH&CN; - Thông tin + Thư viện + Sở hữu trí tuệ + Công nghệ thông tin. Tiếp cận đề xuất này cũng liên quan tới bản thân đơn vị đó đang có mảng hoạt động này tương đối tốt, ví dụ như đơn vị đó hiện đang có mảng Sở hữu trí tuệ hay mảng tin học là mặt mạnh của đơn vị. Trong số này, mô hình Thông tin + Thư viện + Dịch vụ KH&CN cũng là mô hình đáng lưu ý. Theo mô hình này, tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương có định hướng tập trung triển khai mạnh các dịch vụ KH&CN khác (không phải là thông tin). Cũng phải lưu ý một vấn đề cốt lõi, làm thế nào để tổ chức thông tin KH&CN, ngoài việc thực hiện tốt nhiệm vụ được giao bằng kinh phí của Nhà nước còn có điều kiện đưa dịch vụ của mình ra thị trường thông tin một tốt hơn. Trên cơ sở phân tích thực tế, có thể đưa ra nguyên tắc để lựa chọn mô hình tổ chức tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương như sau: 81 - Không trùng lắp chức năng, nhiệm vụ với đơn vị khác (trong phạm vi một cơ quan chủ quản Bộ, ngành, địa phương) vì nếu không tổ chức công việc sẽ bị chồng chéo và đương nhiên không hiệu quả; - Phối hợp và phát huy được những tiềm lực đã và sẽ có của các mảng hoạt động (cơ sở vật chất kỹ thuật, cán bộ, tư liệu, sản phẩm tiềm năng,.). Tóm lại, việc lựa chọn mô hình tổ chức tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương phải có cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học và thực tiễn, đảm bảo tính hiệu quả. Hiện nay, sau khi Thông tư 29/2015/TT-BKHCN ngày 15/10/2014 hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn về KH&CN thuộc UBND cấp tỉnh, cấp huyện ra đời, các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN ở bộ/ngành, địa phương đã và đang thay đổi mô hình tổ chức, đảm bảo sự thống nhất từ trung ương đến địa phương. 3.2.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ thông tin chuyên nghiệp Nhà nước đảm bảo và hỗ trợ việc đào tạo cán bộ thông tin cho toàn mạng lưới các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành và địa phương thông qua hình thức hỗ trợ đầy đủ hoặc một phần, trực tiếp hoặc gián tiếp. Kinh nghiệm cho thấy, hình thức hỗ trợ trực tiếp có hiệu quả hơn. Nhà nước quy định thống nhất chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ thông tin, quy định về tiêu chuẩn lựa chọn và hỗ trợ các hình thức (cấp kinh phí, cung cấp tài liệu,.) cho một số tổ chức có năng lực để tiến hành tổ chức các khoá đào tạo, tập huấn, nâng cao trình độ nghề nghiệp cho cán bộ thông tin trong phạm vi toàn mạng lưới bộ, ngành. Như vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng này được phân cấp triển khai ở phạm vi quốc gia, bộ/ngành, địa phương thông qua hình thức giao nhiệm vụ bằng phương thức Nhà nước ký hợp đồng với các tổ chức đào tạo (đối với cả 82 nhiệm vụ thường xuyên và nhiệm vụ đột xuất). Các tổ chức đào tạo chủ yếu được ưu tiên trước hết là tổ chức thông tin KH&CN. Ngoài ra, mỗi tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương đều được Nhà nước đảm bảo một khoản kinh phí hàng năm (trong kinh phí hoạt động thường xuyên) cho công tác đào tạo, tập huấn, nâng cao trình độ chuyên môn, chẳng hạn như để cử cán bộ tham gia các khóa học, các lớp tập huấn, các hội thảo khoa học cần thiết. Phương thức triển khai: Nhà nước phân cấp và giao khoán kinh phí đào tạo cùng các kế hoạch, nhiệm vụ tương ứng cho các tổ chức đào tạo hoặc tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương được phân công chức năng. Kinh phí này nằm trong kinh phí đảm bảo hoạt động thường xuyên. Ngoài ra, khi có những yêu cầu của thực tế thì Nhà nước giao kinh phí đào tạo theo nhiệm vụ đột xuất (trên cơ sở: từ phía Nhà nước thấy cần thực hiện hoặc từ những đề xuất ở dưới lên và được Nhà nước chấp thuận). Nhà nước cấp kinh phí cho việc xây dựng, biên soạn giáo trình, tài liệu giảng dạy thông qua phương thức hợp đồng giao nhiệm vụ cụ thể (có thể là nhiệm vụ thường xuyên hay nhiệm vụ đột xuất). 3.2.6. Đầu tư về cơ sở vật chất kỹ thuật Đối với mỗi tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, Nhà nước cần đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật ở mức đủ "ngưỡng", bao gồm: - Trụ sở hoặc diện tích làm việc ở mức độ đủ để hoạt động (theo một số tiêu chuẩn của Nhà nước, ngành hay tổ chức thông tin đề xuất); - Điều kiện làm việc, trang thiết bị văn phòng (theo tiêu chuẩn chung của Nhà nước, Bộ, ngành); - Tạo lập, duy trì và phát triển hạ tầng mạng (Intranet kết nối Internet, Cổng thông tin,). 83 - Hỗ trợ phí đường truyền Internet (toàn bộ hay một phần, tùy theo điều kiện cụ thể của tổ chức thông tin); - Chế độ ưu tiên trong tạo lập và khai thác các mạng dùng chung (những mạng tạo lập bằng Ngân sách Nhà nước); Nguồn kinh phí và phương thức thực hiện: - Đối với những hạng mục đầu tư lớn: Nguồn đầu tư cơ bản theo đề án, theo đó tổ chức thông tin KH&CN phải xây dựng đề án trình Bộ/ngành chủ quản, sau đó trình Bộ KH&CN và Bộ Kế hoạch và Đầu tư phê duyệt. - Đối với việc duy trì, sửa chữa nhỏ: sử dụng Nguồn 2 đưa vào nhiệm vụ cần được thực hiện bằng kinh phí hoạt động thường xuyên. 3.2.7. Tăng cường tiếp thị (marketing) dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ Xuất phát từ nhu cầu thị trường, các tổ chức thông tin KH&CN theo khả năng thực hiện tiến hành tất cả các dịch vụ thông tin khi có thể thực hiện và có lãi. Muốn vậy, tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương phải làm tốt khâu marketing dịch vụ. Các tổ chức thông tin KH&CN đều cần đặc biệt quan tâm tăng cường cán bộ có kiến thức về kinh tế và marketing. Vấn đề này lâu nay ít được các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành chú trọng. Ở Việt Nam thị trường thông tin KH&CN vẫn chưa thực sự phát triển. Nhiều người dùng tin không biết tìm tin ở đâu, nhất là đối với thông tin tổng hợp, liên ngành và đặc thù. Qua khảo sát cho thấy, đa số tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành chưa chú trọng khâu marketing sản phẩm, vẫn còn tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương chưa có Trang Web riêng (mà dùng chung Trang Web của cơ quan chủ quản), và có tới trên 60% tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN chưa giới thiệu dịch vụ của mình trên Web. Đặc biệt, 100% tổ chức thông tin chưa có trang Web chào bán sản phẩm (công cụ chào bán tự động). 84 Từ kinh nghiệm nước ngoài, xuất phát từ sự cần thiết thực tế, đặc biệt là ảnh hưởng từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương cần sớm tăng cường công tác marketing, từ đó nắm bắt thị trường và có cơ sở để điều chỉnh hoạt động, nâng cao chất lượng dịch vụ một cách kịp thời, hiệu quả. Việc cho phép truy cập mở đối với các nhiệm vụ KH&CN là cách tiếp thị dịch vụ thông tin KH&CN hiệu quả đối với công chúng. Để hoàn thiện dịch vụ thông tin KH&CN của các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương và hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN tác giả đưa ra những kiến nghị sau: Về ban hành văn bản, chương trình hành động: - Đề nghị Bộ KH&CN xây dựng và ban hành các chương trình, kế hoạch hành động để triển khai những nội dung của Nghị định 11/2014/NĐ-CP đối với dịch vụ thông tin KH&CN. - Đề nghị tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động của Bộ KH&CN nhằm thực hiện mục tiêu phát triển dịch vụ KH&CN, dịch vụ thông tin KH&CN. Về tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn: - Bộ KH&CN phối hợp với tất cả các Bộ, các ngành chỉ đạo sâu sát, mạnh mẽ hơn nữa đối với các tổ chức thông tin KH&CN bộ/ngành. - Cục Thông tin KH&CN quốc gia có trách nhiệm hướng dẫn và hỗ trợ các tổ chức thông tin KH&CN tại địa phương về các mặt: + Văn bản, hành lang pháp lý: giới thiệu, cung cấp văn bản; tuyên truyền sâu rộng về chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN, đặc biệt là các văn bản mới được ban hành liên quan đến dịch vụ thông tin KH&CN. + Tổ chức xây dựng và trình (Bộ KH&CN, Chính phủ) phê duyệt và triển khai hàng loạt các văn bản, tài liệu định mức kỹ thuật, cụ thể là: 85 - Các danh mục nguồn tin hạt nhân, danh mục các CSDL ở tầm quốc gia, Bộ, ngành (để Nhà nước phê duyệt, đảm bảo kinh phí); - Các khung định mức, định giá đối với các dịch vụ thông tin KH&CN (để Nhà nước giao khoán nhiệm vụ); Các chế độ ưu đãi đường truyền, giảm thuế, - Chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thông tin KH&CN 86 TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 Nhà nước đang tiến hành nhiều chính sách đổi mới cơ chế quản lý theo hướng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các tổ chức dịch vụ KH&CN công lập. Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 và xa hơn, hoạt động thông tin KH&CN chắc chắn sẽ phải chuyển đối theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Đây sẽ là một thách thức không nhỏ đối với hoạt động thông tin KH&CN, đòi hỏi các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN KH&CN cũng như dịch vụ thông tin KH&CN để tạo ra các dịch vụ có thể tiêu thụ được trong xã hội. Chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN đòi hỏi phải có chiều sâu và hiệu quả. Việc mở rộng đối tượng phục vụ của dịch vụ thông tin KH&CN tới các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (start up) chính là chìa khóa để phát triển chất lượng dịch vụ thông tin KH&CN trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tại chương 3, tác giả đề cập tới một số quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN ở Việt Nam trên cơ sở đánh giá thực trạng, và ưu điểm, hạn chế ở chương 2. 87 KẾT LUẬN Hoạt động cung cấp dịch vụ thông tin KH&CN ở các bộ/ngành, địa phương có một quá trình và đến nay đã đạt được những kết quả nhất định: xây dựng và phát triển được một mạng lưới; tạo lập tiềm lực thông tin quốc gia ở mức độ nhất định; hình thành đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp; tạo lập được hệ thống dịch vụ cơ bản bước đầu phục vụ cho nhiều đối tượng dùng tin (cán bộ quản lý các cấp, cán bộ nghiên cứu, phát triển công nghệ, các nhà sản xuất, kinh doanh, đông đảo tầng lớp nhân dân). Thực tế cho thấy, nhu cầu tin của cán bộ tại tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương là rất đa dạng và phong phú. Trong khi đó nguồn lực thông tin hiện có tại đây cũng như cơ sở vật chất hiện nay còn nhiều bất cập và bị hạn chế dẫn đến hoạt động của các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành và địa phương chưa đáp ứng được nhiệm vụ cung cấp thông tin nhanh, đầy đủ, chính xác và kinh tế theo nhu cầu của xã hội và cộng đồng người dùng tin.. Để có thể đáp ứng được một cách đầy đủ nhu cầu tin của người dùng tin thì việc hoàn thiện và phát triển dịch vụ thông tin của cơ quan bộ/ngành, địa phương phải có một sự chuyển biến căn bản và có những giải pháp đồng bộ nhằm phát huy tiềm năng và sức mạnh của mình. Đối với việc tổ chức thực hiện chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN, về phía các tổ chức thông tin KH&CN cần phải nỗ lực nhiều mặt, cần phải có những lựa chọn và bước đi thích hợp, đặc biệt là tập trung phát triển các hướng hoạt động tiềm năng, nâng cao chất lượng sản phẩm sẵn có, tạo sản phẩm mới, làm tốt hoạt động marketing, lấy thị trường là trung tâm của mọi hoạt động, nâng cao uy tín, thương hiệu của tổ chức thông tin KH&CN thông qua các dịch vụ. Cần phải tạo ra một sự thay đổi nhận thức về 88 vai trò, tầm quan trọng của công tác phối hợp, chia sẻ nguồn lực thông tin. Chỉ khi có sự phối hợp, chia sẻ thường xuyên giữa các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương cùng lĩnh vực thì sẽ giải quyết được những bất cập trong công tác tạo nguồn hiện nay. Việc phối hợp bổ sung phải được thực hiện bằng cách phân chia rõ ràng, cũng như trách nhiệm thu thập từng loại hình tài liệu theo từng chuyên ngành cụ thể, với mục đích tránh bổ sung trùng lặp gây nên tình trạng lãng phí và cũng tránh được tài liệu cần lại bị bỏ sót Trên bình diện quốc gia (toàn mạng lưới), Nhà nước ta cần đầu tư xây dựng và phát triển ở mức "đủ ngưỡng": Hạ tầng thông tin quốc gia; Tiềm lực thông tin quốc gia; Đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp. Ngoài ra, Nhà nước đảm bảo khung khổ pháp lý cho phát triển hoạt động thông tin KH&CN trong giai đoạn mới, nhất là phát triển theo hướng "năng xuất, chất lượng, hiệu quả" với cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm; lấy nhu cầu tin và thị trường thông tin KH&CN làm trung tâm của mọi hoạt động; đảm bảo môi trường pháp lý cho việc tiếp cận, khai thác thông tin của các đối tượng dùng tin. Việc thực hiện các giải pháp được đề xuất trong đề tài sẽ góp phần vào hoàn thiện chính sách phát triển dịch vụ thông tin KH&CN. Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin, nâng cao chất lượng khai thác thông tin là biện pháp tích cực để tiếp tục hoàn thiện và đa dạng hóa hoạt động các dịch vụ thông tin ở các tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương. Với những mục tiêu và hướng phát triển đưa ra, tổ chức thực hiện chức năng thông tin KH&CN bộ/ngành, địa phương cần thiết phải xây dựng một kế hoạch tổng thể với những giải pháp và bước đi thích hợp đã được trình bày trong luận văn này, nhằm nâng cao hiệu quả của dịch vụ thông tin khoa học và công nghệ. 89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1. Triệu Văn Cường (2016), Quản lý quy trình chính sách thông qua nghiên cứu tình huống, Nxb. Lao động xã hội, Hà Nội. 2. Nguyễn Hữu Hải (2014), Chính sách công – những vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 3. Nguyễn Hữu Hải, Trần Anh Tuấn (2015), Quản lý công, Nxb. Chính trị quốc gia – sự thật, Hà Nội. 4. Nguyễn Lê Hằng (2011), Nâng cao năng lực đảm bảo thông tin phục vụ xây dựng chính sách khoa học và công nghệ, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội 5. Lê Văn Hòa (2016), Quản lý thực thi chính sách công theo kết quả, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 6. Nguyễn Hữu Hùng (2005), Thông tin: Từ lý luận tới thực tiễn, Nxb.Văn hóa thông tin, Hà Nội. 7. Nguyễn Hữu Hùng (2008), Một số vấn đề về chính sách phát triển sản phẩm và dịch vụ thông tin tại Việt Nam, Tạp chí Thông tin và tư liệu. 8. Tạ Bá Hưng (2011), Công tác thông tin, thống kê khoa học và công nghệ Việt Nam, Hiện trạng, định hướng chiến lược đến năm 2020 và trọng tâm công tác giai đoạn 2011-2015, Hội nghị ngành thông tin KH&CN lần thứ VI, 2011 9. Tạ Bá Hưng (2003), Bước đầu tăng cường cung cấp thông tin KHCN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng sâu, vùng xa, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ 10. Nguyễn Thị Mơ (2005), Lựa chọn bước đi và giải pháp để Việt Nam mở cửa về dịch vụ thương mại, Nxb. Lý luận chính trị. 90 11. Vũ Dương Thúy Ngà (2013), Nghiên cứu hoàn thiện một số chính sách cơ bản của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp thư viện ở Việt Nam. Đề tài nghiên cứu khoa học. 12. Nghị định số 11/2014/NĐ-CP ngày 18/02/2014 của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN. 13. Luật Khoa học và công nghệ, 2013. 14. Nguyễn Trọng Phượng (2015), “Nghiên cứu phát triển nguồn lực thông tin của hệ thống thư viện công cộng Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ, Đại học Văn hóa Hà Nội. 15. Phan Huy Quế (2011), Nghiên cứu cơ sở lỹ luận và thực tiễn phát triển công tác thông tin – thư viện, thống kê khoa học và công nghệ Việt Nam đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. 16. Quyết định số 418/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011-2020 17. Quyết định số 2431/QĐ-BKHCN ngày 30/8/2016 của Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành Chương trình hành động của Bộ KH&CN thực hiện Nghị quyết số 64/NQ-CP ngày 22/7/2016 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng 18. Quyết định số 2453/QĐ-BKHCN ngày 31/8/2016 của Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành Chương trình hành động của Bộ KH&CN thực hiện Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 22/7/2016 của Chính phủ về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội 5 năm 2016-2020 19. Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội,1995, tr.475 20. Từ điển Tiếng Việt,NXB Đà Nẵng, 2004, tr.256 91 21. Văn Tất Thu (2014), Năng lực thực hiện chính sách công – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Tạp chí Tổ chức nhà nước 2014, số 12, tr.31-35 22. Trần Thị Hải Yến (2015), Nghiên cứu đề xuất định hướng quốc gia về phát triển nguồn tin khoa học và công nghệ, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ. Tiếng Anh 23. Millicent Addo (2011), Externally Assisted Development Projects in Africa: Implementation and Public Policy, Dissertation for the Degree of Doctor of Philosophy in Nelson Mandela School of Public Policy and Urban Affairs, pp1. 24. William N.Dunn (2007), Public Policy Analysis: An Introduction, Fourth Edition, Prentice Hall, pp.277-278. 25. Nayanee Gupta (2013), Innovation Policies of South Korea, Institute for Defense Analyse. Phụ lục PHIẾU ĐIỀU TRA Đề nghị Quý cơ quan điền thông tin hoặc chọn và đánh dấu (X) vào các mục tương ứng Xin chân thành cảm ơn! A. NHỮNG THÔNG TIN CƠ BẢN  Tên cơ quan (ghi đầy đủ): ....................................................................................... Địa chỉ: ................................................................................................................... Điện thoại:............................ Fax: ....................................................................... Website: .................................................................................................................. Thủ trưởng: .............................................................................................................  Người điền phiếu (đầu mối liên hệ):........................................................................ Điện thoại:............................ Di động:..........................Email:.............................  Ngày tháng ghi thông tin (điền phiếu): .........../........./. B. THÔNG TIN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG I. Các thông tin chung 1. Hiện trạng cơ cấu tổ chức, cán bộ - Đơn vị độc lập có con dấu, tài khoản riêng Có Không - Tính ổn định về tổ chức Ổn định Không ổn định - Tổng số cán bộ: Biên chế:........ Hợp đồng:......... - Tự đánh giá về cán bộ: + Về số lượng: Đủ Thiếu + Về trình độ: Đáp ứng Chưa đáp ứng 2. Kinh phí (tính trung bình trong 3 năm gần đây): - Kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm do nhà nước cấp: - Kinh phí (có được) do thu từ sản phẩm và dịch vụ thông tin: Có Không Nếu có trung bình ........................triệu đồng/năm - Kinh phí có được từ hoạt động khác Có Không Nếu có trung bình ........................triệu đồng/năm 3. Hạ tầng cơ sở a. Trụ sở, diện tích - Đã được đầu tư xây dựng từ kinh phí đầu tư phát triển: Đã Chưa Nếu đã được thì dự án khoảng: ............triệu đồng - Tổng diện tích sử dụng: ............m2 - Trụ sở riêng: Có Chưa có - Đánh giá diện tích sử dụng: Đủ Thiếu Rất thiếu b. Tiềm lực Mạng và thiết bị/Website  Có Mạng (LAN, WAN, INTRANET), kết nối INTERNET: Có Không  Có Website riêng: Có Không  Kết nối INTERNET qua: ADSL: Telephone:  Tự đánh giá về Mạng: - Đảm bảo tốt cho hoạt động của cơ quan: Tốt Chưa tốt - Có khả năng hỗ trợ cho cơ quan khác : Có Không  Những vấn đề đặt ra cần có giải pháp (kiến nghị): Trang thiết bị (Mạng, phần cứng) Phần mềm 4. Hợp tác quốc tế Không Có Nếu có thì với cơ quan tổ chức nào: ......................................................... ..........................................triệu đồng/năm II. Hoạt động dịch vụ có thu 1. Dịch vụ thông tin có thu TT Dịch vụ thông tin Đủ trang trải Có lãi 1 Phân phối thông tin chọn lọc (phục vụ trọn gói; phục vụ theo chuyên đề đặt trước) 2 Thông tin chuyển giao công nghệ/môi giới công nghệ 3 Tổ chức hội nghị, hội thảo, triển lãm (quốc tế, trong nước); Kể cả dịch vụ cho thuê Hội trường, trang âm. 4 Dịch tài liệu/sách 5 In ấn, xuất bản, sao, quét tài liệu 6 Làm video, phim khoa học 7 Dịch vụ quảng cáo, nhận quảng cáo (trên XB phẩm, Mạng/Website...) 8 Dịch vụ đào tạo (Về nghiệp vụ TT, TV, tin học văn phòng, quản trị mạng, các vấn đề khác...) 9 Dịch vụ tin học (Thiết kế CSDL, Mạng, Website, Cho thuê mạng chủ...) 10 Dịch vụ tìm tin/phục vụ thông tin online 11 Phân phối thông tin chọn lọc (phục vụ trọn gói; phục vụ theo chuyên đề đặt trước) Các dịch vụ cụ thể khác (mô tả nếu có): ....................................................................................................................................... Quý cơ quan đã giới thiệu quảng bá dịch vụ thông tin trên mạng Internet: Đã Chưa 2. Đánh giá tổng thể về các dịch vụ thông tin Đủ trang trải Có lãi - Tổng kinh phí thu được từ dịch vụ: ...................triệu đồng/năm - Chiếm khoảng: ..........% tổng kinh phí hoạt động (không kể chi bộ máy) III. Đề xuất các giải pháp 1. Đầu tư cơ bản; Kinh phí thường xuyên; Thuê bao đường truyền TT Đầu tư cơ bản/hạ tầng cơ sở Cần Không 1 Xây dựng, nâng cấp trụ sở/diện tích làm việc 2 Tăng cường trang thiết bị, nâng cấp Mạng Đảm bảo kinh phí thường xuyên 3 Mua những tài liệu hạt nhân/tài liệu cơ bản thuộc lĩnh vực phục vụ 4 Đảm bảo hoạt động thường xuyên của Thư viện khoa học 5 Hỗ trợ xây dựng CSDL/Ngân hàng dữ liệu nòng cốt, đặc thù của cơ quan (nhất là tạo lập ban đầu) Hỗ trợ kinh phí 6 Thuê bao đường truyền khai thác INTERNET 7 Có chế độ ưu tiên khai thác các mạng công cộng/dùng chung 2. Hỗ trợ đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ cơ quan thông tin (Miễn phí hoặc giảm phí): Cần Không

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_chinh_sach_phat_trien_dich_vu_thong_tin_khoa_hoc_va.pdf
Luận văn liên quan