Luận văn Hoạch định chính sách công trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn Quảng Nam

Hoạch định chính sách công trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới là một vấn đề rất cấp bách trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn hiện nay ở nước ta. Các nhà khoa học ở Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn khi bàn vấn đề “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn thời kỳ hội nhập” cũng nhấn mạnh: “Nông thôn là mô hình chiếc ly với 1/2 nước. Phần có nước là xây dựng tổ chức nông thôn và đổi mới quản lý nhà nước; phần còn lại là khoan sức dân, tiếp sức dân. "Phần có nước” chú trọng cải cách hành chính, đổi mới dịch vụ công, phát triển kinh tế hợp tác, thu hút đầu tư về nông thôn. Phần còn lại là miễn thuế, phí cho nông dân; hỗ trợ dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng; hỗ trợ sản xuất; phát triển khoa học công nghệ” [35]. Đó cũng là những nhiệm vụ cơ bản trong xây dựng phát triển nông thôn Quảng Nam hiện nay.

pdf110 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 3570 | Lượt tải: 13download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Hoạch định chính sách công trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn Quảng Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Nam, ủy viên Trung ương Đảng Bí thư tỉnh ủy- Vũ Ngọc Hoàng nêu lên đặc điểm riêng của tỉnh và định hướng chiến lược phát triển nông thôn mới của địa phương dựa trên khai thác những tiềm năng về du lịch, trong đó chính sách khai thác những giá trị của nông thôn để phát triển du lịch và dịch vụ” [33]. Hay chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế có liên quan đến tình trạng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị; phát triển công nghiệp nông thôn phải giải quyết vấn đề môi trường,… nhận thức được tiềm năng của nông thôn để có thể khai thác, song cũng phải thấy được hạn chế của tỉnh để có hướng khắc phục nhằm phát triển bền vững là yêu cầu của quá trình hoạch định chính sách xây dựng nông thôn mới mà nhà hoạch định chính sách Quảng Nam phải quan tâm ở các khâu thiết kế, nghị trình chính sách, sự đổi mới nhận thức của Đảng và chính quyền thể hiện ở các nội dung: mở rộng mối liên kết giữa cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất về hoạch định chính sách (UBND tỉnh) với các chuyên gia, nhà tư vấn chính sách thuộc các cơ quan nghiên cứu khoa học, liên hiệp hội khoa học kỹ thuật, các trường cao Đẳng đại học Nông nghiệp trên cả nước, các nhà tư vấn tài trợ, các tổ chức quốc tế về lĩnh vực chính sách xã hội. Tranh thủ ý kiến đóng góp, các nghiên cứu phân tích chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn của chương trình đào tạo nghiệp vụ chính sách công tại trường Fubrigh. Tranh thủ tối đa công nghệ lập kế hoạch, xây dựng chiến lược, hoạch định chính sách tại các dự án tổ chức tài trợ nước ngoài. Nhận thức sâu hơn về đầu tư cho nghiên cứu khoa học chính sách, đây là bước chuẩn bị đầu vào trong hoạch định để chính sách đạt đến hiệu quả bền vững. Mở rộng hơn đối tượng tiếp nhận kiến thức về công nghệ hoạch định chính sách từ lãnh đạo Đảng và chính quyền các cấp, sở ban ngành, đoàn thể, tổ chức hoạch định và cả người dân thực thi cũng như trực tiếp hưởng lợi từ chính sách. Tổ chức điều tra xã hội học, lấy ý kiến rộng rãi đánh gía mức độ lợi ích đạt được so với dự kiến cũng như thăm dò ý tưởng chính sách sắp tới. Nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng, tiếng nói của Hội nông dân các cấp trong tư vấn đánh giá kết quả, đề xuất phương án, các kiến nghị chính sách. - Về nội dung chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn Quảng Nam: Trên cơ sở chủ trương, chính sách của tỉnh, các cấp, các ngành, địa phương cụ thể hoá thành các mục tiêu nhiệm vụ cụ thể. Nghiên cứu điều kiện từng địa phương để lựa chọn giải pháp cụ thể nhằm thực hiện dự án, quy hoạch đã đề ra như: quy hoạch sử dụng đất, phát triển làng nghề truyền thống, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khu dân cư, giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa, du lịch, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, cây trồng, sản xuất công nghiệp,.. Theo chúng tôi nên tập trung vào 5 vấn đề chính sách sau sau: - Đào tạo đội cán bộ cơ sở và cán bộ phát triển nông thôn của tỉnh, huyện, xã. tổ chức các lớp đào tạo,bồi dưỡng năng lực công tác cho cán bộ xã,thôn bản, cán bộ đoàn thể ở xã, thôn. Tập trung bồi dưỡng kiến thức kỹ năng lập, quản lý dự án phát triển nông thôn, kỷ năng kiến thức và kỷ năng phát hiện nhu cầu của cộng đồng thôn bản, phương pháp tham gia huy động sự tham gia của người dân, cộn đồng, bồi dưỡng nâng cao kiến thức cộng đồng... - Nâng cao năng lực cộng đồng, hỗ trợ các cộng đồng nâng cao thể chế quản lý, tự quản của cộng đồng như xây dựng và thực hiện các hương ước, nội quy về lễ, hội... Xây dựng phương pháp và hỗ trợ người nông dân nông thôn tổ chức các cuộc họp của cộng đồng để cùng nhau trao đổi thông tin, nhu cầu phát triển của cộng đồng. Từng bước nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị các nguồn lực nông thôn, bí quyết di sản văn hoá và chất lượng cuộc sống. nhờ vậy cộng đồng từng thôn, làng có thể xác định được bản sắc của mình. - Quy hoạch lại các khu dân cư nông thôn. Khi đã có kiến thức được đào tạo, bồi dưỡng, cộng đồng từng thôn tự quy hoạch, thiết kế bố trí lại dân cư, bao gồm nhà ở, các công trình công cộng, nhà ở, phúc lợi như: nhà trẻ, mẫu giáo, các thế chế văn hoá, thể thao, công viên, nhà văn hoá thôn, cổng làng... - Cải thiện điều kiện sinh hoạt của khu dân cư và nhà ở của hộ nông dân. Căn cứ quy hoạch nông thôn mà đơn vị cơ bản là làng - xã, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ một số nội dung như: đường làng, cấp nước sạch, thoát nước thải... - Nội dung phát triển các loại hình ngành nghề nông thôn. Đối với những thôn, làng đã có nghề nhưng chưa đạt tiêu chí làng nghề cần tập trung nguồn lực, có chính sách ưu đãi thích hợp, phát triển sản phẩm,xây dựng, quảng bá,tiếp thị, đăng ký thương hiệu, giới thiệu lên mạng internet. Đối với những thôn, làng chưa có nghề phi nông nghiệp nên lấy nghề phi nông nghiệp trên cơ sở tìm hiểu thị trường, liên kết, hợp tác, vệ tinh cho các cơ sở sản xuất, nhà máy để gia công. Cần hỗ trợ đào tạo thợ, cơ sở vật chất để có mặt bằng sản xuất gia công. Lưu ý nên đa dạng hoá các ngành nghề ở nông thôn, ưu tiên cho các ngành nghề giữ mang bản sắc văn hoá, truyền thống, thích nghi với thị trường. Sử dụng nguyên liệu truyền thống và áp dụng công nghệ mới, kỹ xão để có sản phẩm phong phú, chất lượng cao, giá thành hạ, mẫu mạ đẹp, mở rộng tiêu thụ và xuất khẩu cạnh tranh được. Để làm tốt khâu lựa chọn, xây dựng, quyết định chính sách cần phải có: Thông tin đầy đủ nhiều chiều, thăm dò điều tra xã hội học, thăm dò dư luận, số liệu chính xác. Năng lực tập thể lãnh đạo: Ban thường vụ, Thường trực như: Bí thư, Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND và vai trò thủ trưởng người đứng đầu, chủ trì quyết định. Phát huy trí tụê tập thể các ban ngành, đoàn thể, đóng góp vào dự thảo đề án, dự thảo Nghị Quyết chính xác khoa học, đúng đắn, rõ ràng dễ thực hiện sẽ phát huy cao hiệu lực chính sách. 2.3.4. Ban hành chính sách Khi đã có Quyết định chính sách như Nghị Quyết của Tỉnh Uỷ, Nghị Quyết HĐND Tỉnh, UBND Tỉnh có đề án hoặc Quyết Định để ban hành và có hiệu lực khi được áp dụng. Có thể ban hành chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới dưới hình thức tổng hợp các văn bản đã ban hành nhưng vẫn còn đúng, còn hiệu lực; bổ sung những vấn đề còn thiếu và cần thiết cho mô hình nông thôn mới. Để chính sách được thực hiện, khắc phục các hạn chế vừa qua cần có hướng dẫn thực hiện của các sở liên quan, UBND các cấp triển khai thực hiện. - Trước hết ngành chủ quản như Sở Nông nghiệp, thuỷ sản, tài nguyên môi trường, Sở Kế hoạch, Sở Tài chính liên quan có hướng dẫn cho các cấp rõ ràng nơi nào chủ trì đầu mối tổ hợp làm kế hoạch, hướng dẫn thực hiện, giải quyết vướng mắc, hậu quả xảy ra. Yêu cầu các sở, các ngành, UBND huyện, thị phải có văn bản hướng dẫn kịp thời, công khai, rõ ràng dễ thực hiện, không đánh đố, khó hiểu hoặc nước đôi làm phai mờ chính sách. - Cải cách thủ tục hành chính mạnh hơn nữa nhất là khâu lập dự án, thanh toán, quyết toán phiền hà, nhiều khâu, nhiều nấc hàng chục con dấu sẽ làm đối tượng không thể thực hiện được nhất là các ngành đất đai, xây dựng, tài chính, kho bạc... - Để làm tốt khâu ban hành chính sách cần có đội ngũ cán bộ tham mưu, sở, ngành, huyện, thị giỏi, năng động, nhiệt tình hướng dẫn, tuyên truyền, vận động, giải quyết công bằng cho đối tượng hưởng lợi. - Cần kiểm tra, giám sát của cơ quan kiểm tra, thanh tra giám sát của HĐND, các đoàn thể về thực hiện chính sách. - Xử lý kỷ luật nghiêm minh với các tổ chức, cá nhân làm sai quyết định, chính sách... - Phát huy dân chủ, giám sát của nhân dân trong việc chống tiêu cực, tham ô khi triển khai chính sách. 2.3.5. Tổng kết, đánh giá, điều chỉnh chính sách - Để chính sách đáp ứng yêu cầu đề ra cần chỉ đạo sơ kết, tổng kết đánh giá theo quy định để rút ra được những thuận lợi, khó khăn khi triển khai, thực hiện hay khi quyết định chính sách. - Kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoặc huỷ bỏ những nội dung không phù hợp hoặc ban hành chính sách mới, hỗ trợ các địa phương khó khăn (nếu có). - Muốn có hiệu quả trong việc tổng kết đánh giá thì từ xã, huyện, sở, ban ngành của tỉnh, phải sơ kết tổng kết với số liệu trung thực, báo cáo đầy đủ, đồng thời có ý kiến, kiến nghị của người được hưởng lợi từ chính sách. - Kịp thời khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt chính sách. - Phê bình, xử lý các cá nhân không triển khai thực hiện hoặc làm khó khăn trong việc thực hiện chính sách. 2.4. Phương hướng giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạch định và nội dung chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới ở tỉnh Quảng Nam 2.4.1. Phương hướng Một là, hoạch định chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới trên cơ sở Quyết định 2614/QĐ/BNN-HTX ngày 8/9 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chiến lược phát triển kinh tế- xã hội vùng, miền và tỉnh Quảng Nam; đồng thời khai thác được sức mạnh vùng kinh tế biển, vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, phù hợp với chiến lược biển đến năm 2020 theo quan điểm chỉ đạo NQ TW 4 khóa X; đáp ứng mục tiêu chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2006-2010 do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đề ra tháng 02/ 2006. Ngoài ra, hoạch định chính sách xây dựng nông thôn mới phản ánh tầm nhìn xa, khả năng nắm bắt nhanh nhạy những vấn đề bức xúc trong thực tiễn nền kinh tế nông nghiệp thời hội nhập. Theo ông Nguyễn Quốc Vọng (Bộ Nông nghiệp New South Wales - ôxtrâylia): “WTO mang đến cho nông nghiệp Việt Nam khoảng 5 tỷ khách hàng và kim ngạch nhập khẩu 635 tỷ USD /năm, nhưng đồng thời cũng bắt buộc nông dân phải đối diện với bốn luật chơi cực kỳ khó khăn. Đó là: Vệ sinh an toàn thực phẩm, nông sản phải có Chứng chỉ nông nghiệp an toàn (GAP-Good Agricultural Practices); chất lượng hàng nông sản phải bảo đảm (về nguồn gốc xuất xứ, hàm lượng prôtêin, chống ôxy hóa, vitamin, đồng bộ về giống, độ chín, kích cỡ và màu sắc...) [35]; số lượng đủ cung cấp cho thị trường lớn; giá cả đủ sức cạnh tranh”. Trước yêu cầu đó, các chiến lược chính sách nông nghiệp nông thôn của một tỉnh thuần nông như Quảng nam cần được xây dựng trên tinh thần xác định rõ những ưu thế và hạn chế của tỉnh để có sự lựa chọn phương án, giải pháp chính sách hợp lý. Hai là, hoạch định chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn Quảng Nam theo hướng bền vững, bảo vệ cảnh quan, cân bằng sinh thái, phát triển toàn diện mọi mặt xã hội. Ngoài ra, chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn còn mở rộng sự liên kết giữa các làng nghề, nghệ nhân, thợ thủ công và các doanh nghiệp nhằm truyền nghề, cấy nghề, cung cấp thông tin thi trường, tiêu thụ sản phẩm. Có cơ chế chính sách giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông dân và nhà máy để ổn định nguyên liệu cho sản xuất, tránh tình trạng sản xuất cầm chừng với nguyên liệu có nguồn gốc không rõ ràng, không ổn định gây thiệt hại cho người dân. Thúc đẩy chính sách khai thác thị trường trong nước và xuất khẩu đối với các sản phẩm chất lượng kiểu dáng sản phẩm đồng đều từ các ngành nghề nông thôn. Kiện toàn công tác đăng ký thương hiệu, thiết kế cải tiến chất lượng sản phẩm, mẫu mã bao bì, kiểu dáng công nghiệp. Chính sách khai thác tiềm năng du lịch kết hợp quảng bá và tiêu thụ sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống. Có kế hoạch nâng cao năng lực thiết kế mẫu mã sản phẩm, hiểu biết về bản sắc văn hoá dân tộc, vùng, địa phương của đội ngũ thợ nhằm tôn vinh bản sắc văn hoá dân tộc trong từng sản phẩm truyền thống. Hoạch định chính sách dự báo được nhu cầu của thị trường và đòi hỏi sẵn sàng đối phó với thách thức trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, mất đất sản xuất nông nghiệp của người dân nông thôn để nâng cao chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo nghề; tư vấn, cung cấp thông tin, kỹ năng làm việc cho những hộ dân sử dụng hiệu quả khoản tiền được bồi thường, tìm việc làm ở các doanh nghiệp. Như vậy, chú ý đến khía cạnh kinh tế-nông nghiệp của chính sách song hoạch định chính sách phải xem xét nông thôn như một xã hội tổng thể. Trước hết qui hoạch, xây dựng nhà cửa, các công trình công cộng chú ý đúng mức đến cảnh quan nông thôn, bản sắc của từng vùng. Có giải pháp chính sách khắc phục, ngăn ngừa những tác hại môi trường đặc biệt tại các làng nghề, khu công nghiệp trong phát triển sản xuất nông nghiệp, ngành nghề ở nhiều vùng nông thôn. Hoạch định chính sách phải tính đến định hướng văn hoá, phát huy phong tục tập quán lành mạnh, khôi phục các lễ hội văn hoá truyền thống, bài trừ hủ tục lạc hậu, các biểu hiện tiêu cực trong sinh hoạt văn hoá ảnh hưởng không tốt đời sống tinh thần người dân, làm nảy sinh thách thức xã hội mới, các tệ nạn xã hội (ma tuý, cờ bạc, mại dâm) cần phải loại trừ ra khỏi đời sống cộng đồng. Ba là, hoạch định chính sách xây dựng nông thôn mới theo hướng huy động tối đa nội lực, sử dụng có hiệu qủa nguồn lực bên ngoài. Trong đó, chú trọng vấn đề nguồn lực con người, nguồn lực tài chính nhằm chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, nâng cao đời sống nhân dân. Chính sách phát triển nông thôn khuyến khích mọi tiềm năng, thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân nhằm tạo ra tổng hợp phục vụ xây dựng nông nghiệp nông thôn, ưu tiên giải quyết các vấn đề xã hội khai thác thế mạnh nội sinh của tỉnh. Do đó, chính sách bảo đảm tính liên ngành, tạo ra sự liên kết nhiệm vụ kinh tế với các vấn đề xã hội nông thôn; giải quyết tốt mối quan hệ giữa nghèo với các vấn đề y tế, giáo dục, môi trường (văn hoá, sinh thái) ở nông thôn. Có kế hoạch sử dụng các nguồn vốn vay ODA, WB, đầu tư phát triển cho chương trình kiên cố hoá kênh mương và giao thông nông thôn, chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, chương trình 134, 135, và các chương trình mục tiêu quốc gia khác, vốn đối ứng cho một số dự án ODA,…một cách hiệu quả. Ngoài ra, khắc phục tình trạng hoạch định chính sách chung của Việt Nam: “Các hoạt động hoạch định vẫn bị tác động bởi mô hình lập kế hoạch tập trung trước đây nơi mà các nguồn lực được phân bổ theo quá trình từ trên xuống (top- down process) để hỗ trợ đạt được chỉ tiêu ưu tiên mà hầu hết chúng đều có liên quan đến CNH nhanh chóng do Nghị Quyết của Đảng Cộng sản đề ra” [28]. Huy động trí tuệ, nguồn lực từ trong dân, xây dựng chính sách phát triển nông thôn theo phương châm: lấy sức dân chăm lo cho dân. Ngoài ra, trên cơ sở huy động đóng góp trí tuệ của các nhà khoa học, nhà tư vấn nghiên cứu, thiết kế chính sách; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, hội nghề nghiệp, các tổ chức quần chúng ở nông thôn. Làm thay đổi hoàn toàn từ tập quán canh tác củ vươn lên làm giàu, xoá bỏ điều kiện hình thành tâm lý tự ti, để họ thực sự làm chủ. Bốn là, hoạch định chính sách xây dựng nông thôn trên cơ sở phân tích nguyên nhân cơ bản và các khung chiến lược giúp thực hiện các kế hoạch chính sách nghiên cứu một cách toàn diện các dữ kiện đầu vào và đầu ra của chính sách. Ưu tiên tập trung vào các hướng (nguyên nhân kìm hãm sự phát triển nông nghiệp nông thôn Quảng Nam) như sau: Hình thành và phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp chất lượng cao; các vùng nguyên liệu tập trung gắn với phát triển công nghiệp chế biến; bảo quản sau thu hoạch gắn với các đầu mối tiêu thụ lớn. Tiếp tục thực hiện công tác "dồn điền đổi thửa" phù hợp với từng vùng, các hoạt động khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khả năng phòng, chống thiên tai dịch bệnh. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, nhất là sản xuất giống có chất lượng. Tăng nhanh tỷ trọng chăn nuôi và nuôi trồng trong cơ cấu nông lâm ngư nghiệp. Nền nông nghiệp phát triển theo hướng các trang trại, các vùng sản xuất hàng hoá tập trung sẽ đóng vai trò ngày càng lớn, do đó khoa học, công nghệ càng được xem trọng. Vấn đề chất lượng công tác đào tạo cán bộ, đào tạo nghề nhất là đối với các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần được chú trọng hơn. Hỗ trợ sản xuất đối với các ngành nghề truyền thống, ngành nghề nông thôn, các dịch vụ liên quan trực tiếp đến phát triển nông nghiệp nông thôn. Đầu tư thoả đáng vào phát triển ngành nghề, công nghiệp nông thôn, dịch vụ và các vấn đề văn hoá - xã hội, thể hiện nội dung dân chủ hoá, nội dung nâng cao năng lực cho cán bộ xã và người dân thực thi, làm nổi bật các trọng tâm để tập trung triển khai thực hiện. Đặc biệt chú trọng kết quả chính sách trong hoạch định. Đây là phương hướng vừa mang tính kỹ thuật vừa mang tính chính trị, tư tưởng trong hoạch định. Năm là, hoạch định chính sách xây dựng nông thôn mới phải phát huy vai trò chủ đạo của người dân và cộng đồng trong phát triển nông thôn. Công tác hoạch định chính sách phát triển nông thôn trong giai đoạn hiện nay cần phải được dựa trên cơ sở nghiên cứu khoa học liên ngành, được thảo luận một cách rộng rãi để tiếp thu nhiều ý kiến khác nhau. Trong đó, vai trò chủ đạo của người trực tiếp hưởng lợi, thực thi chính sách vô cùng quan trọng. Trong những năm qua, kinh tế nông thôn cũng như khả năng tích luỹ trong dân đã có bước tăng trưởng, đặc biệt các hộ khá giả. Huy động sự đóng góp của người dân cũng là cách để nâng cao ý thức trách nhiệm của họ trong việc sử dụng, bảo quản cơ sở hạ tầng của thôn. Do vậy, chính sách tạo cơ hội để huy động một cách có hệ thống, minh bạch nội lực của người dân xây dựng thôn, xã đóng góp vào công cuộc phát triển ở địa phương. Có cơ chế phù hợp vận động người dân gắn bó đoàn kết với nhau trong thôn, làng. Bên cạnh thu hẹp khoảng cách thu nhập, mức sống giữa đô thị và nông thôn, cần tuyên truyền giáo dục nhằm xóa bỏ tâm lý tự ti, cam chịu đói nghèo, không đủ mạnh dạn tự vươn lên làm giàu ngay cả khi có cơ hội, làm thui chột bản chất cần cù, nhạy bén, sáng tạo ở người nông dân. Theo hướng này, tác động chính sách sẽ có tác dụng hạn chế tâm lý ỷ lại vào hỗ trợ bên ngoài (ngân sách Nhà nước, tổ chức quốc tế) hoặc trông chờ vào thoát nghèo, vươn lên làm giàu nhanh chóng khi thoát ly khỏi địa phương, làm việc tại các thành phố hoặc đi lao động xuất khẩu,....của người dân nông thôn. Chính sách nông nghiệp nông thôn hướng đến xây dựng cộng đồng như một thể chế bền vững để tổ chức và hỗ trợ người dân thực hiện các biện pháp tập thể, cải thiện điều kiện sản xuất và sinh hoạt. 2.4.2. Giải pháp hoạch định chính sách công về xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Một là, đổi mới nhận thức của Đảng, chính quyền các cấp từ tỉnh quận, huyện, thị xã về các quá trình chính sách, biểu hiện ở qúa trình hoạch định và thiết kế nội dung chính sách. Đổi mới nhận thức về qúa trình chính sách là vấn đề mấu chốt tạo ra bước đột phá trong định hướng, thiết kế hệ các giải pháp kiện toàn chất lượng hoạch định chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới. Coi thực hiện các chu trình hoạch định là hoạt động có ý nghĩa quyết định trong quản lý nhà nước, xa hơn là trong sự lãnh đạo của Đảng. Biểu hiện trước hết là đổi mới cách thức ra nghị quyết của Hội đồng nhân dân các cấp theo hướng dân chủ, khoa học, đại chúng (tính đối tượng). Do vậy, phương thức ban hành nghị quyết được xem là có gía trị thực tiễn và tính chính trị cao trong thời đại hôm nay là phải tập hợp được ý kiến chuyên gia, nhà khoa học, các cơ quan tham mưu tư vấn chính sách kể cả những góp ý rất cảm tính của người nông dân về chính sách đang được triển khai. Về mặt nhận thức, phải xác định vấn đề gì là ưu tiên đối với từng địa phương để có lộ trình và bước đi thích hợp nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới. Đổi mới nhận thức của Đảng trong các quá trình chính sách theo hướng tăng cường trách nhiệm và tính khả quy trách nhiệm của từng tổ chức Đảng, đảng viên giải quyết những bức xúc trong cuộc sống người dân. Kịp thời tiến hành sơ kết tổng kết thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm cả thất bại và thành công để bổ sung tư duy lý luận. Tích cực nghiên cứu lý luận, lý thuyết mô hình nông thôn mới ở các nước, các địa phương khác để bổ sung hoàn thiện chính sách. Cần thiết phải đổi mới cách thức tuyên truyền Nghị quyết, đưa pháp luật vào cuộc sống nhằm tạo ra sự thống nhất nhận thức về mục đích chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, quan điểm giải quyết những vấn đề lớn của tỉnh để có sự nhất trí hành động. Đổi mới nhận thức còn ở chỗ nhà hoạch định chính sách thấy được tính hai mặt của vấn đề để từ đó đó dự liệu được các phương án biện pháp chính sách. Ví dụ nếu chiến lược du lịch tại Quảng Nam không mang tính toàn diện thì nguy cơ đánh mất các giá trị văn hóa nông thôn sau khi được triển khai cũng như sự ảnh hưởng ngược lại tới chính người dân nông thôn ở đây là tất yếu. Hay chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế có liên quan đến tình trạng di dân tự do từ nông thôn ra thành thị; phát triển công nghiệp nông thôn phải giải quyết vấn đề môi trường,… nhận thức được tiềm năng của nông thôn để có thể khai thác, song cũng phải thấy được hạn chế của tỉnh để có hướng khắc phục nhằm phát triển bền vững là yêu cầu của quá trình hoạch định chính sách xây dựng nông thôn mới mà nhà hoạch định chính sách Quảng Nam phải quan tâm. Mở rộng hơn đối tượng tiếp nhận kiến thức về công nghệ hoạch định chính sách từ lãnh đạo Đảng và chính quyền các cấp, sở ban ngành, đoàn thể, tổ chức hoạch định và cả người dân thực thi cũng như trực tiếp hưởng lợi từ chính sách. Tổ chức điều tra xã hội học, lấy ý kiến rộng rãi đánh gía mức độ lợi ích đạt được so với dự kiến cũng như thăm dò ý tưởng chính sách sắp tới. Nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng, tiếng nói của Hội nông dân các cấp trong tư vấn đánh giá kết quả, đề xuất phương án, các kiến nghị chính sách. Đổi mới hoạt động lập pháp (của HĐND và UBND tỉnh) theo hướng vừa mang tính sáng tạo vừa mang tính giải phóng. Phân định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, các cấp chính quyền trong việc tổ chức chỉ đạo, triển khai, theo dõi và đánh giá chương trình. Trong đó, tăng cường giám sát độc lập, đầu tư vật chất, con người cho công tác nghiên cứu phục vụ hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn. Cụ thể hoá chương trình thực hiện Quyết định số 15/2003/QĐ-UB của UBND tỉnh về hoạt động tư vấn phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật tỉnh Quảng Nam đóng góp vào việc nâng cao chất lượng hoạch định chính sách. Chủ động lập kế hoạch kiểm tra giám sát (định kỳ, bất thường) việc tổ chức triển khai nghị quyết của các cấp uỷ Đảng về vấn đề nông dân nông nghiệp nông thôn. Trên cơ sở đó, tiến hành sơ kết tổng kết đánh giá mức độ thành công (lợi ích đạt được của các bên tham gia: người dân, Nhà nước) khi triển khai chủ trương chính sách. Về nội dung chính sáchxây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn Quảng Nam: Lãnh đạo Đảng và chính quyền nhận thức đầy đủ hơn về mô hình nông thôn mới, thể hiện ở việc đề ra quan điểm, mục tiêu phát triển nông nghiệp nông thôn, phương hướng phát triển các ngành và lĩnh vực xã hội, định hướng phát triển không gian lãnh thổ, các chương trình phát triển và các dự án trọng điểm. Trên cơ sở chủ trương, chính sách của Tỉnh, các cấp, các ngành, địa phương cụ thể hoá thành các mục tiêu nhiệm vụ cụ thể. Nghiên cứu điều kiện từng địa phương để lựa chọn giải pháp cụ thể nhằm thực hiện dự án, quy hoạch đã đề ra như: quy hoạch sử dụng đất, phát triển làng nghề truyền thống, cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, khu dân cư, giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa, du lịch, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, cây trồng, sản xuất công nghiệp,.. Định hướng phát triển kinh tế-xã hội Quảng Nam phải đặt trọng tâm vào một số dự án như: nuôi cá tra, du lịch Phú Ninh, du lịch làng quê, các dịch vụ phục vụ du lịch, một số khu, cụm công nghiệp, làng nghề nông thôn,...nhằm khai thác thế mạnh của mỗi vùng với đất đai, tiềm lực khác nhau trong tỉnh. Trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, tiến hành quy hoạch và phân vùng sản xuất. Tỉnh có chính sách đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, điện, hệ thống kênh mương, xí nghiệp chế biến, trung tâm giống... để phục vụ cho sản xuất hàng hóa trong vùng. Trực tiếp chỉ đạo, giao nhiệm vụ cho các đơn vị, cơ sở liên quan hướng dẫn về kỹ thuật cũng như tổ chức kiểm tra, giám sát và hợp đồng tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Giải quyết tận gốc tình trạng phá sản liên kết nhà nông và doanh nghiệp trong thu mua sản phẩm nguyên liệu. Tạo lập và khuyến khích các doanh nghiệp đủ sức mạnh về tài chính, tổ chức quản lý để đầu tư vào quá trình sản xuất, tổ chức thu mua chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho hộ gia đình nông dân, sản xuất hàng hóa trong vùng đã được quy hoạch, tạo ra sự gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với hộ gia đình nông dân, thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển. Nhận thức về vị trí vai trò người dân nông thôn với tư cách là chủ thể thực thi chính sách tác động tới nông thôn, học tập các mô hình một số nơi đã làm, biến nông dân trở thành cổ đông của các nhà máy. Thực hiện nghiêm các cam kết chính sách dịch chuyển cơ cấu cây trồng, vật nuôi giữa tỉnh với nông dân. Có biện pháp thiết thực như: khuyến khích thành lập doanh nghiệp nông nghiệp dưới dạng công ty cổ phần, người nông dân góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất và góp sức trong quá trình hoạt động của công ty, hoặc chuyển quyền sử dụng ruộng đất cho công ty thuê thời gian dài và được nhận hợp đồng lao động vào lam việc tại doanh nghiệp. Thực chất của giải pháp này là tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác nông dân nông thôn nhằm hiện thực hoá lợi ích của người nông dân, đảm đảm trên thực tế năng lực cầm quyền của Đảng. Hai là, kiện toàn cơ chế chính sách phát trỉển nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy thể chế nông thôn phát triển phù hợp kinh tế, giải quyết các xung đột trong cộng đồng, các vấn đề về nông dân-nông nghiệp-nông thôn và mối quan hệ biện chứng giữa chúng. Cam kết WTO cho phép trợ cấp khuyến nông và phục vụ phát triển nông nghiệp. Do vậy, tỉnh cần có cơ chế giúp nông dân gia nhập vào sân chơi lớn này thông qua việc xây dựng chiến lược đầu tư, hỗ trợ về vốn, công nghệ kỹ thuật và con người nhằm quy trình hoá sản xuất an toàn; hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ lao động. Xây dựng cơ chế hợp tác giữa nhà hoạch định chính sách với sở Khoa học công nghệ, các chuyên gia nghiên cứu khoa học phục vụ hoạch định chính sách nông nghiệp nông thôn. Phát huy hết công năng của Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh Quảng Nam để đưa vào sử dụng nhằm thực hiện tốt công tác chỉ đạo, điều hành, các quận huyện trong tỉnh; cung cấp thông tin kịp thời đến mọi tầng lớp nhân dân. Đây còn là một văn phòng “số” để UBND tỉnh Quảng Nam quảng bá du lịch, kêu gọi và xúc tiến đầu tư, thương mại. Ngoài chế độ báo cáo trong cơ quan Nhà nước, cơ quan Đảng, cần xây dựng cơ chế thông tin rộng rãi các vấn đề, kết quả chính sách đến tổ chức cá nhân có nhu cầu. Trong điều kiện thông tin đa chiều và mang tính chất dân chủ, điều đó giúp thúc đẩy công tác phản biện chính sách mang lại lợi ích cao nhất cho người dân, làm tăng tính thời sự trong đề xuất vấn đề chính sách cho các cấp lãnh đạo. Xây dựng cơ chế chính sách động viên tối đa hoạt động "hiến kế", sáng kiến kinh nghiệm của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt sáng kiến trong lĩnh vực quản lý điều hành xã hội, trong nghiên cứu các đề tài phát triển nông thôn. Mặt khác, đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định số 29/2004/QĐ-UB ngày 18/5/2004 của UBND “Quy định về xác định các nhiệm vụ khoa học cấp tỉnh trên địa bàn Quảng nam” huy động tối đa chất xám cộng đồng. Những ý kiến đóng tâm huyết của các chuyên gia, các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức và cá nhân đặc biệt là đối tượng hưởng lợi chủ yếu-người nông dân là một cơ sở quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông thôn sắp tới. Phân cấp quản lý để nâng cao tính chủ động, sáng tạo của từng ngành, từng cấp; đề cao trách nhiệm cá nhân, những người đứng đầu trong các cơ quan quản lý nhà nước. Cụ thể hoá tinh thần Nghị quyết số 65/2003/NQ-HĐND Tỉnh ban hành ngày 22/ 5/2003 về chủ trương giải pháp nâng cao hiệu lực bộ máy quản lý điều hành các cấp, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ công chức thực thi nhiệm vụ. Có chế tài, biện pháp ngăn chặn và xử lý các trường hợp cán bộ, công chức lợi dụng chức vụ, quyền hạn nhũng nhiễu, phiền hà nhân dân. Thể chế hóa bằng văn bản sự phân công, phân nhiệm trong giải quyết các vấn đề chính sách giữa UBND tỉnh với Sở Tài nguyên - Môi trường, Sở Kế hoạch Đầu tư, Sở Tài chính Vật giá, các ban ngành chuyên trách trực tiếp thực hiện; các chủ đầu tư quản lý và khai thác các dự án, các ban chuyên môn của đảng, HĐND, các tổ chức đoàn thể trong nghiên cứu đề xuất lựa chọn phương án phù hợp thực tế khách quan, đề cao lợi ích chung. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cụ thể hóa thành quy trình giải quyết từng vụ việc liên quan đến nhiệm vụ của từng ngành, cấp chính quyền. bảo đảm tính khoa học và trách nhiệm pháp lý của chính sách. Phát huy vai trò sở tư pháp trong rà soát, hệ thống hoá văn bản quy phạm pháp luật, bãi bỏ những quy định không gắn với thực tiễn cuộc sống. Thể chế hóa hoạt động giám sát, phản biện của các tổ chức CT-XH, các hội quần chúng. Đưa Nghị quyết số 71/2003/NQ-HĐND tỉnh về vai trò, hoạt động xây dựng và giám sát của nhân dân thông qua UBMTTQ và các tổ chức thành viên đối với chính quyền địa phương đi vào thực chất, tạo thêm một kênh phản hồi đủ mạnh, thúc đẩy dân chủ ở nông thôn. Ba là, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước: - Phân trách nhiệm cụ thể, thực hiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các sở, ngành và các địa phương (huyện, xã) về phát triển nông thôn. - Kiện toàn hệ thống cơ quan chuyên ngành về phát triển nông thôn tạiáở Nông nghiệp, phòng kinh tế (nông nghiệp), ban nông nghiệp xã. - Tăng cường năng lực cán bộ quản lý nhà nước về phát triển nông thôn của tỉnh, huyện, xã. Đào tạo cán bộ có chuyên môn thuộc lĩnh vực hoạch định chính sách, có kỹ năng nghiên cứu, phân tích, đề xuất phương án chính sách, có trách nhiệm tăng cường giáo dục lý luận hình thành thế giới quan phương pháp luận khoa học, lý tưởng mục tiêu và quyết tâm xây dựng tỉnh giàu đẹp cho cán bộ. Nâng cao ý thức công dân, ý thức xã hội, ý thức pháp luật, đặc biệt là ý thức trách nhiệm với dân, với nước. Cán bộ có năng lực trình độ am hiểu rõ đối tượng tác động của chương trình, dự án, chính sách (người dân nông thôn), nắm bắt được những thách thức đối với nông dân trong thời hội nhập để có kế hoạch chủ động. Cán bộ hoạch định chính sách phải nhận thấy được hạn chế của hoạch định chính sách xây dựng nông thôn theo mô hình truyền thống là tiếp cận chính sách dựa vào nhu cầu, mang tính chất bù đắp sự thiếu hụt cho nông dân nông thôn. Tâm lý đó có ở cả cấp hoạch định cũng như người chấp hành chính sách, xem dự án đầu tư là của nhà nước, cơ hội đầu tư chỉ được chờ đợi từ bên ngoài (nhà nuớc, tổ chức quốc tế). Do đó đào tạo cán bộ hiểu được yêu cầu qui hoạch mô hình nông thôn mới phải đáp ứng được sự phù hợp, khả thi, phản ánh đúng nhu cầu thiết thực của người dân. Tăng chi phí quản lý, đầu tư các hoạt động như nghiên cứu thực tế, làm nền tảng cho mọi hoạt động chính sách; Cần đầu tư mạnh vào công tác nghiên cứu đối tượng thực thi chính sách để hiểu toàn diện, nắm được đặc điểm, tâm lý, văn hóa, đặc biệt là nhu cầu, nguyện vọng của họ để có hướng chính sách tác động phù hợp. Tăng chi ngân sách cho hoạt động điều tra (xã hội học, nghiên cứu thực tế ở cơ sở, nghiên cứu tài liệu,...) về ý thức pháp luật, mức độ dân chủ cơ sở, đặc biệt ý kiến đánh giá chính sách ở những vùng nông thôn miền núi, ven biển. Ngoài ra, nghiên cứu về tài nguyên vùng, địa phương để tìm ra lợi thế so sánh, đặc điểm văn hóa, phong tục, tâm lý,...là cơ sở thực tiễn để làm luận cứ khoa học ban hành chính sách. Đây là hoạt động rất tốn kém cả về nhân lực và kinh phí nếu đầu tư thực sự. Đòi hỏi phải chuẩn bị, đào tạo cán bộ làm công tác này, thu hút các tổ chức, cá nhân trong cả nước tham gia. Kết quả của nó sẽ làm căn cứ cho các quyết sách của tỉnh. Ngoài ra, chú trọng đầu tư trang thiết bị hiện đại cho công tác hoạch định chính sách phải được xem là chi phí điều hành và quản lý chính quyền của tỉnh, trang thiết bị máy móc và cả một hệ thống nhân lực vận hành nó. Tập trung có trọng điểm ngân sách đầu tư cho giáo dục đào tạo cán bộ ngành nông lâm nghiệp. Thực tế, người dân và cán bộ cơ sở đóng vai trò chủ yếu và quan trọng quyết định sự thành bại của mô hình phát triển nông thôn mới. Trên tinh thần thực hiện đề án Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức cơ sở của tỉnh Quảng Nam (theo Quyết định số 130 ngày 23/2/2003 của UBND tỉnh), triển khai chương trình phát triển nông thôn (dự án về khuyến nông, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn) lồng ghép một số chương trình đào tạo cán bộ. Thường xuyên làm tốt công tác cử cán bộ tham gia hoạch định và thực thi chính sách đi tập huấn bồi dưỡng, nhằm nâng cao nhận thức về nông thôn mới và các nội dung nhiệm vụ xây dựng mô hình tại địa phương. Cùng với đào tạo bồi dưỡng, xây dựng nội dung tuyên truyền giáo dục chuẩn mực đạo đức mới, đạo đức của nền hành chính công- đạo đức công vụ để qua đó làm tiêu chuẩn đánh giá cán bộ nhằm mục tiêu thay đổi ý thức xã hội tiến tới cải tạo hành vi của các cán bộ công chức. Rõ ràng cũng cần phải tạo dư luận lên án, chế độ xử phạt nặng với những hành vi vi phạm đạo đức công vụ, tắc trách, nhũng nhiễu dân trong thực thi chính sách. Bốn là, tuyên truyền nâng cao nhận thức xây dựng mô hình nông thôn mới. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền sâu rộng về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước cho người nông dân hiểu biết về chính sách phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và thách thức trong sản xuất nông sản đáp ứng quy định WTO mà Việt Nam cũng như Quảng Nam đang thiếu: “Số lượng hàng hóa lớn, kích cỡ, màu sắc, bao bì đồng bộ, thời gian giao hàng chính xác; chất lượng có chứng chỉ xác nhận nguồn gốc giống; giá rẻ để có thể cạnh tranh, yếu tố quyết định; có chứng chỉ nông nghiệp an toàn- nông nghiệp tốt đảm bảo vệ sinh và an toàn sản phẩm” [34]. Trang bị cho người dân nông thôn những kỹ năng cơ bản về họp cộng đồng, trao đổi ý kiến, cách thức xây dựng và đề xuất giải pháp chính sách để họ thụân lợi trong tham gia xây dựng kế hoạch phát triển làng xã của mình, thực hiện tốt vai trò theo dõi, giám sát đối với các công trình, dự án được đầu tư tại nơi mình sinh sống. Tăng cường các hoạt động tuyên truyền với nhiều hình thức phong phú như: thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, phát hành tờ rơi,... Thực hiện các biện pháp tuyên truyền tác động và làm thay đổi nhận thức, trách nhiệm của mỗi người dân và cộng đồng đối với phát triển nông thôn mới nhằm khơi dậy phong trào tự vận động phát triển trong cộng đồng dân cư nông thôn. Huy động sự tham gia của các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội để vận động hội đoàn viên, hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông thôn, tích cực tham gia cùng chính quyền các cấp để thực hiện xây dựng mô hình nông thôn mới ở làng, thôn, bản... Năm là, nội dung chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn Quảng Nam. Như trình bày ở các phần trên với thực tiễn ở Quảng Nam để xây dựng mô hình nông thôn mới với đơn vị làng, thôn cần tập trung vào các nội dung: - Về quy hoạch phát triển nông thôn mới: Căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch ngành của Tỉnh các địa phương triển khai quy hoạch làng, thôn giai đoạn 2007-2020 để trình xã phê duyệt. - Tổng kết đánh giá, hệ thống lại các cơ chế chính sách hiện hành rút ra kinh nghiệm thành công và không thành công ở từng chính sách để rút ra nguyên nhân Từ từng khâu quy trình hoạch định chính sách, tìm ra trong đó nguyên nhân thành công, thất bại chính, để điều chỉnh khắc phục. - Đề suất các chính sách về thu hút cán bộ có trình độ về công tác tại các cơ quan chuyên môn của tỉnh, huyện, xã. Chính sách đào tạo nghề cho người dân nông thôn, chính sách hỗ trợ nông dân thay đổi nghề, chính sách phát huy vai trò cộng đồng trong phát triển nông thôn, chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn. Sáu là, giải pháp về vốn. Ngoài ngân sách đầu tư phát triển của địa phương hằng năm ưu tiên bố trí vốn cho các chính sách đã được ban hành đồng thời lồng ghép các chương trình dự án, chương trình mục tiêu của Chính phủ trên địa bàn, đảm bảo tăng nguồn lực đầu tư cho các chương trình xây dựng mô hình nông thôn mới. Huy động cac nguồn tài trợ từ bên ngoài, kêu gọi và đề nghị sự hỗ trợ của các tổ chức Quốc tế như: WB, ADB... các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước. Khai thác các dự án quỹ đất để đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn, huy động các doanh nghiệp đóng trên địa bàn gốp một phần vào đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi của địa phương. Tuỳ theo điều kiện và khả năng của từng địa phương để xây dựng cơ chế đóng góp phù hợp bằng sức người, sức của, phát huy tối đa tính sáng tạo và sự tham gia đóng góp của người dân địa phương. Bảy là, tổ chức thực hiện. Mọi chính sách được triển khai thực hiện tốt hay không tuỳ thuộc vào việc phân công thực hiện. Trước hết Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn Tỉnh Quảng Nam có trách nhiệm phối hợp với các sở ban ngành địa phương, căn cứ vào sự phân công của UBND tỉnh, để tổ chức thực hiện từng dự án, từng chính sách. Tham mưu cho UBND tỉnh lựa chọn triển khai một số mô hình thí điểm, sơ kết, tổng kết có đề suất bổ sung hoàn chỉnh từng chính sách. Chỉ đạo kiểm tra, giám sát, thực hiện theo đúng kế hoạch mà chính sách đã ban hành. Kết luận chương 2 Hoạch định chính sách công trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn Quảng Nam cơ bản bảo đảm tính khoa học, tính chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập. Mặc dù còn những hạn chế về chất lượng chính sách, quy trình hoạch định song nhìn chung các chính sách được hoạch định ở Quảng Nam thời gian qua trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã phát huy tác dụng. Nhờ đó, cơ cấu kinh tế nông thôn có bước chuyển dịch, hệ thống hạ tầng, giao thông nông thôn được kiện toàn, các mặt y tế giáo dục, văn hoá, xã hội có được cải thiện, đời sống nhân dân được nâng lên. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển tỉnh Quảng Nam trong hiện tại và thời gian tới, chất lượng chính sách nông nghiệp nông thôn, xây dựng mô hình nông thôn mới cần phải có bước đột phá. Cần phải thực hịên một hệ các giải pháp hoạch định chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới theo hướng khoa học, hiện đại, gắn với nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Quảng Nam, phù hợp chiến lược phát triển vùng, miền và lợi thế kinh tế biển, kinh tế vùng trọng điểm miền trung của Quảng Nam. Để đạt được mục tiêu đó, trước hết cần có sự phối kết hợp thực hiện các giải pháp một cách đồng bộ nhằm thúc đẩy hoàn thiện, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách. Do đó cần phát huy các nguyên nhân thành công từ chương trình thực hiện chính sách, đồng thời rút ra được các khâu còn yếu kém dẫn đến không thành công. Nguyên nhân không thành công có thể nhận thấy từ những thiếu sót như: Không thực hiện đúng quy trình hoạch định, bộ máy Nhà nước, cơ chế nhà nước, cán bộ nhân viên Nhà nước còn yếu, các cơ quan quyền lực; cán bộ thừa hành công vụ vì lợi ích cục bộ, vì cá nhân làm lệch hướng chính sách, thiếu tổng kết, kiểm tra, chống tiêu cực, tham nhũng, công bằng xã hội, dân chủ chưa được phát huy đó là những nguyên nhân dẫn đến không thành công của một số chính sách nông nghiệp, nông thôn ở một số địa phương và một số chính sách ở ngành, địa phương thực hiện được, trong khi ngành hoặc địa phương khác lại không. Từ đó, có thể đưa ra giải pháp hoạch định chính sách công trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn Quảng Nam; lãnh đạo tỉnh cần có đầy đủ thông tin chính xác trước khi quyết định chính sách, từ Quốc tế, từ Trung ương, từ nhân dân và thực tiễn địa phương. Để hoạch định chính sách tốt hơn cần phân cấp về chính sách, tài chính, thủ tục hành chính.... Và vấn đề cốt lõi là cán bộ cần được đào tạo, thu hút bồi dưỡng cán bộ giỏi, vừa chuyên vừa hồng cho các cơ quan hoạch định và thực thi chính sách, tiền lương, thu nhập chính đáng đảm bảo cuộc sống và tạo điều kiện công tác cống hiến cho nhân dân, phục vụ nhân dân tốt hơn. Kết luận Hoạch định chính sách công trong quá trình xây dựng mô hình nông thôn mới là một vấn đề rất cấp bách trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn hiện nay ở nước ta. Các nhà khoa học ở Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn khi bàn vấn đề “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn thời kỳ hội nhập” cũng nhấn mạnh: “Nông thôn là mô hình chiếc ly với 1/2 nước. Phần có nước là xây dựng tổ chức nông thôn và đổi mới quản lý nhà nước; phần còn lại là khoan sức dân, tiếp sức dân. "Phần có nước” chú trọng cải cách hành chính, đổi mới dịch vụ công, phát triển kinh tế hợp tác, thu hút đầu tư về nông thôn. Phần còn lại là miễn thuế, phí cho nông dân; hỗ trợ dịch vụ; xây dựng kết cấu hạ tầng; hỗ trợ sản xuất; phát triển khoa học công nghệ” [35]. Đó cũng là những nhiệm vụ cơ bản trong xây dựng phát triển nông thôn Quảng Nam hiện nay. Thời gian qua, hoạch định chính sách công trong quá trình xây dựng nông thôn mới của tỉnh Quảng Nam đạt được một số thành công trên những nét lớn như: Xác định rõ mục tiêu, thiết kế nội dung chính sách phù hợp, gắn với thực tiễn địa phương, khơi dậy được tính tích cực chấp hành chính sách ở người dân. Nhận thức lãnh đạo, cán bộ hoạch định chính sách về mô hình nông thôn mới có rõ hơn, hiểu biết về khoa học chính sách có tiến bộ. Nhờ sự tác động đúng hướng của hệ thống chính sách của tỉnh, Quảng Nam đã đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các mặt kinh tế-xã hội, củng cố lòng tin của dân vào Đảng, vào chủ trương chính sách nhà nước. Trong điều kiện chia tách tỉnh sau 10 năm, những kết quả đạt được trên nhiều mặt, song rõ nhất là thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, y tế, văn hóa, giáo dục phát triển, lối sống, điều kiện canh tác của người nông dân được thay đổi,...thu nhập của người dân có tăng lên, đời sống của nông dân ngày một khá. Bộ mặt nông thôn Quảng Nam nhìn chung có khởi sắc. Hiệu lực cầm quyền của Đảng và Nhà nước qua đó được tăng cường. Từ những thành công đó có thể khẳng định quá trình hoạch định chính sách xây dựng nông nghiệp nông thôn Quảng Nam dựa trên tinh thần tôn trọng khách quan, đáp ứng mục tiêu chính trị, phù hợp nguyện vọng nhân dân, khơi dậy ở người dân tính tích cực chính trị xã hội, tích cực lao động sản xuất. Song, từ kết quả chính sách vẫn còn khiêm tốn so với yêu cầu, tiềm năng của tỉnh, hội nhập vùng, quốc tế, cần nhận thức và khắc phục một số hạn chế sau: Chưa thật sự tôn trọng tính khách quan trong xây dựng phương án chính sách, giải pháp tổ chức thực thi chính sách còn mang tính chủ quan. Sự phối kết hợp liên ngành, ngành dọc, giữa lãnh đạo chỉ đạo của Đảng với chính quyền, giữa UBND và các cơ quan thực thi (sở, ban, ngành, huyện, xã) chưa đi vào nề nếp, chưa có biện pháp chính sách hữu hiệu kịp thời điều chỉnh giảm nhẹ thiệt thòi cho nông dân khi có vướng mắc, trở ngại. Trong tình hình mới hiện nay, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế nông nghiệp khu vực và quốc tế, hoạch định chính sách Quảng Nam cần chú ý các vấn đề sau: Tập trung nguồn lực, trí tuệ và sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy thuận lợi về điều kiện tự nhiên- kinh tế- xã hội, đặc biệt tranh thủ sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của TW, học tập kinh nghiệm mô hình nông thôn mới ở các nước và địa phương để kiện toàn công tác hoạch định chính sách. Bên cạnh đó, cần có hệ các giải pháp, chú trọng giải pháp đổi mới nhận thức của lãnh đạo Đảng về công tác hoạch định chính sách, giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hoạch định chính sách, cơ chế chính sách, bộ máy, nhân lực,... tạo ra sự hợp lực nhằm hiện thực hóa cao nhất lợi ích nhân dân, thực hiện mục tiêu xây dựng mô hình nông thôn mới. Đặc biệt chú ý giải pháp tăng cường sự tham gia của người dân trong hoạch định chính sách. Nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới được dựa trên niềm tin của chính những người dân, những người hiểu rất rõ thực tế của vùng đất của mình và họ có thể và cần phải hợp tác một cách tích cực trong việc đưa ra giải pháp cho những vấn đề của chính người dân nông thôn. Xem công cuộc hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là đòn bẩy đưa Quảng Nam trở thành tỉnh động lực miền Trung, CNH-HĐH trước năm 2015 như Nghị quyết Đại hội lần thứ XIX của đảng bộ tỉnh đề ra. Trong đó phải bắt đầu từ hướng hoạch định chính sách xây dựng mô hình nông thôn mới trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, vốn được xác định là chiến lược, bước đột phá. danh mục tài liệu tham khảo 1. Ban Dân vận Trung ương (2000), Một số vấn đề về công tác vận động nông dân nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2002), Tài liệu nghiên cứu các nghị quyết hội nghị lần V, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 3. GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên) (2004), Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hịên nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 4. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2006-2010. 5. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Quyết định số 2614/QĐ/BNN- HTX ngày 08/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Đề án thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới. 6. PGS.TS Trần Thị Minh Châu (chủ biên) (2006), Về chính sách nông nghiệp ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc qia, Hà Nội. 7. Cục Thống kê Quảng Nam (2006), Niên giám thống kê 2005, Quảng Nam. 8. Cục Thống kê tỉnh Quảng Nam (2007), Kinh tế-xã hội Quảng Nam 10 năm, Quảng Nam. 9. PGS.TS. Trần Đức Cường (2000), Quá trình hình thành chính sách nông nghiệp của Việt Nam trong công cuộc đổi mới đất nước”, Tiểu luận tốt nghiệp chương trình lí luận cao cấp, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. 10. TS. Lê Vinh Danh (2001), Chính sách công của Hoa Kỳ giai đoạn 1930-2001, Nxb Thống kê, Hà Nội. 11. Đảng bộ tỉnh Quảng Nam (2006), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XIX, Quảng Nam. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội 14. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu tòan quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. GS Nguyễn Điền, Vũ Hạnh, Nguyễn Thu Hằng (1999), Nông nghiệp thế giới bước vào thế kỷ XXI, Trung tâm kinh tế Châu á - Thái Bình Dương, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Chính trị học (2004), Tập bài giảng chính trị. 19. 20. 21. 29.0136876594). 22. 23. 24. 25. &c=45. 26. 152682 27. 29 28. ietnam_Country_Review-VT.pdf). 29. dien_tu/nong_thon_doi_moi/2005/2005_00004/MItem.2005-01- 24.3649/MArticle.2005-01-25.3735 30. 31. 32. 33. 34. ) 35. dien_tu/nong_thon_doi_moi/2007/2007_00019/MItem.2007-05- 09.1222/MArticle.2007-05-09.1256. 36. Vũ Trọng Khải (chủ biên) (2004), Phát triển nông thôn Việt Nam từ làng xã truyền thống đến văn minh thời đại, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. 37. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. Thang Văn Phúc (chủ biên) (2002), Vai trò của các hội trong đổi mới và phát triển đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 39. PGS,TSKH Phan Xuân Sơn (2003), Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 40. PGS,TSKH Phan Xuân Sơn - Th.S Lưu Văn Quảng (2006), Những vấn đề cơ bản của chính sách dân tộc ở nước ta, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 41. Sở Văn hoá Thông tin Quảng Nam (2005), Quảng Nam xây dựng đời sống văn hoá, Quảng Nam. 42. Sở Văn hoá thông tin (2007), Hội nghị biểu dương gia đình văn hoá tiêu biểu xuất sắc tỉnh Quảng Nam lần thứ nhất - năm 2007, Quảng Nam. 43. GS.TS Lưu Văn Sùng (2004), Một số kinh nghiệm điển hình về phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 44. GS. Hồ Văn Thông (chủ biên) (2005), Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 45. TS Nguyễn Từ (2004), Quá trình nhận thức của Đảng ta về công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn thời kỳ đổi mới, Nxb Lý luận, Hà Nội. 46. Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính (2002), Nxb Đà Nẵng. 47. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (2005), Báo cáo số 92-UBND ngày 16-11về tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế - xã hội năm 2006 và định hướng phát triển kinh tế - xã hội năm 2007, Quảng Nam. 48. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (2007), Chương trình hành động về thực hiện Nghị Quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ XIX, Nghị Quyết HĐND tỉnh khóa VII và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, Quảng Nam. 49. Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Nam (2007) Báo cáo về cung cấp số liệu phục vụ cho việc áp dụng thực hiện cơ chế theo Quyết định số 120/2003/QĐ-TTg nhằm nhằm phát triển kinh tế- xã hội đối với các xã, huyện thuộc tuyến biên giới Việt - Lào, Quảng Nam. 50. www.rced.com.vn/?page=tintuc&code=news&id=476. 51. www.baoquangnam.com.vn/index.php?option=com_content&task=view&id= 5725&Itemid=130. 52. www2.vietnamnet.vn/xahoi/2007/06/703256. 53. www.povertyenvironment.net/pep/?q=filestore2/download/224/PRSP_Vietna m_Country_Review-VT.pdf

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf133_9093.pdf
Luận văn liên quan