Luận văn Pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai - Từ thực tiễn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk

Muốn đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp: Hoàn thiện các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo, quy định pháp luật về đất đai và các quy định pháp luật khác có liên quan. Bên cạnh đó, phải nâng cao năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của người có thẩm quyền trong giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai; nâng cao ý thức và nhận thức pháp luật cho người dân. Đồng thời, phải xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật về đất đai và vi phạm pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai. Từ những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành và tình hình thực tế phải giải quyết kịp thời những vụ việc khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai hiện nay đang rất bức xúc. Việc hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực đất đai là vô cùng hữu ích và cấp bách. Luận văn đã đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra. Luận văn đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận của pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, đánh giá được thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những bất cập, hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

pdf91 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Ngày: 21/08/2021 | Lượt xem: 329 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai - Từ thực tiễn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giải quyết thiếu khách quan, không công bằng, nhiều vụ việc kéo dài, khiếu nại vượt cấp. Hiện nay, chúng ta có rất nhiều cơ quan giải quyết việc khiếu nại hành 60 chính các cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương, cơ quan quản lý theo ngành, cơ quan thanh tra và Tòa án nhân dân. Hệ quả là: Công dân không biết gửi khiếu nại đến cơ quan nào thì đúng và được giải quyết và đâu mới là quyết định cuối cùng. Trong khi các cơ quan không biết giới hạn thẩm quyền của mình đến đâu, cho dù các cơ quan đều phải dành nhiều thời gian, công sức cho công việc này nhưng hiệu quả chưa cao. Vì vậy, tình trạng đùn đẩy, né tránh hoặc chồng chéo trong giải quyết các khiếu kiện là khó tránh khỏi. Theo quy định của Luật Khiếu nại, Bộ trưởng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch UBND cấp tỉnh có nội dung thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của bộ, ngành đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại. Do đó, trong lĩnh vực đất đai, người khiếu nại cố tình không hiểu, dựa vào quy định này để gửi đơn khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình hình, gọi là khiếu kiện vượt cấp lên Trung ương trong lĩnh vực đất đai xảy ra rất nhiều. Vì thế giải quyết khiếu nại hành chính không có điểm dừng. Việc mở rộng thẩm quyền để Tòa án xét xử khiếu nại hành chính là đúng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy người khiếu nại thường chọn con đường tiếp khiếu đến cơ quan hành chính cấp trên hơn việc khởi kiện ra Tòa án, vì ra Tòa án phải chịu án phí, các thủ tục chặt chẽ và qua các cấp của Tòa án xét xử nếu có kháng cáo, kháng nghị. Do đó, hầu hết người khiếu nại quyết định hành chính tiếp khiếu lên cơ quan hành chính có thẩm quyền của cấp trên, hết cấp tỉnh lên cấp Trung ương. Vậy nên cần có cơ chế đảm bảo giải quyết được khách quan, người giải quyết độc lập với người ra quyết định hành chính, tránh được tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, nó càng mở rộng dân chủ hơn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trước pháp luật, người khiếu nại chịu trách nhiệm trước pháp luật khi thực thi quyền khiếu nại, 61 đồng thời buộc cơ quan hành chính và cá nhân có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của chính mình mà phải nâng cao chất lượng khi ban hành các quyết định hành chính. Ba là: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về tố cáo, theo đó Luật Tố cáo cần sửa đổi, bổ sung các quy định cụ thể: Thẩm quyền, trình tự giải quyết tố cáo trong nội bộ các tổ chức, đơn vị ngoài khu vực nhà nước hoặc trong các doanh nghiệp nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; về tố cáo tiếp và giải quyết tố cáo tiếp; về bảo vệ người tố cáo, người cung cấp thông tin về vụ việc vi phạm pháp luật; về chế tài xử lý người cố ý tố cáo sai sự thật; về khen thưởng đối với người tố cáo 3.2.1.2. Hoàn thiện quy định pháp luật về đất đai Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo cần phải đi đôi với hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai được đầy đủ, hệ thống và đồng bộ; rà soát những quy định chưa phù hợp hoặc những vấn đề mới phát sinh, để kịp thời sửa đổi, bổ sung, tháo gỡ các vướng mắc, chú ý các quy định và ngôn ngữ của luật, văn bản dưới luật phải được thể hiện hoặc giải thích đầy đủ, rõ ràng, minh bạch, nhất là đối với các vấn đề có liên quan đến tranh chấp, khiếu nại; hướng dẫn để thống nhất nội dung giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai; và có tư vấn về pháp luật nhằm tạo cơ hội để mọi người tiếp cận với pháp luật đất đai hiểu biết, đồng thuận giữa người ra quyết định, người khiếu nại và người giải quyết khiếu nại, tố cáo. Sửa đổi quy định về phạm vi khiếu nại trong Luật Đất đai để đảm bảo tính thống nhất, tạo cơ sở cho việc áp dụng có hiệu quả pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai. Luật Đất đai phải có quy định cụ thể về những quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai bị khiếu nại thì được giải quyết theo Luật Khiếu nại. 3.2.1.3. Hoàn thiện các quy định pháp luật khác có liên quan 62 Quốc hội sớm hoàn thiện các quy định về cơ chế giám sát công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo để tạo cơ sở pháp lý đẩy mạnh hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp trong việc giám sát công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan hành chính nhà nước, nhất là trong lĩnh vực đất đai. Chính phủ sớm xây dựng và ban hành quy định cụ thể về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo, theo hướng xử lý nghiêm khắc, công khai đối với người ra quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo sai trái, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng thiếu trách nhiệm dẫn đến khiếu nại kéo dài và các trường hợp lợi dụng khiếu nại để gây rối. Các Bộ, ngành Trung ương chủ động tổng kết việc thực hiện các đạo luật chuyên ngành, rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc trình cấp có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung những chính sách không phù hợp với thực tiễn làm phát sinh khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là những chính sách trong quản lý, sử dụng đất, giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư... Riêng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng cần chủ trì, phối hợp với Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng, ban hành chính sách giải quyết những khiếu nại liên quan đến vấn đề đất đai, nhà ở do lịch sử để lại, để có cơ sở pháp lý giải quyết các vụ việc phức tạp, tồn đọng về đất đai, nhà ở từ nhiều năm qua. Hoàn thiện các quy định để tạo cơ sở pháp lý cho Thanh tra Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành liên quan hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc rà soát các vụ việc cụ thể ở từng địa phương, nghiên cứu đề xuất cơ chế, chính sách đặc thù để giải quyết dứt điểm các trường hợp khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng và kéo dài. Hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức làm công tác tư vấn, giúp việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính. Thanh tra Chính phủ, Bộ Nội vụ phối hợp để rà soát, sửa đổi, bổ sung, ban hành các quy định 63 về tiêu chuẩn làm căn cứ cho việc tuyển dụng, tiếp nhận, đề bạt, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất chính trị, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Rà soát, đánh giá sự thống nhất giữa quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước và giải quyết khiếu kiện hành chính tại Tòa án, để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Bởi vì, quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính có mối quan hệ mật thiết với các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu kiện hành chính tại tòa án. Vì vậy, để bảo đảm tính hợp hiến, thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật và khả năng thực hiện của pháp luật về khiếu nại, tố cáo hành chính nói chung, cần phải đảm bảo sự thống nhất giữa quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước và quy định về giải quyết khiếu kiện hành chính tại Tòa án. 3.2.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk 3.2.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đề cao trách nhiệm, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai là một yêu cầu quan trọng trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Điều này cần cụ thể hóa theo những nội dung sau đây: Một là: Các cấp ủy Đảng cần lãnh đạo, huy động cả hệ thống chính trị tham gia vào công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tiếp tục quán triệt đầy đủ, thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của nhà nước về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, trong đó trọng tâm là Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 26/5/2014 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ban 64 Tuyên giáo Huyện ủy chủ trì, phối hợp với các ban, ngành, đơn vị liên quan hướng dẫn, định hướng và xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể tổ chức tuyên truyền, phổ biến các đường lối, chủ trương của Đảng và pháp luật của nhà nước về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo để cán bộ, đảng viên, nhân dân nâng cao nhận thức và chấp hành nghiêm túc. Hai là: Cần nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phải xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng và thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Các cấp ủy Đảng lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật về đất đai, về hòa giải ở cơ sở, về tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ba là: Phát huy trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy Đảng, chính quyền, lấy hiệu quả của công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo làm tiêu chí đánh giá năng lực, kết quả công tác. Người đứng đầu cấp ủy phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong phạm vi địa bàn, lĩnh vực phụ trách. Ban Dân vận Huyện ủy chủ trì, phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, UBND huyện, các ban, ngành, đoàn thể, Đội công tác phát động quần chúng huyện và cơ sở tăng cường công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho các đoàn viên, hội viên và nhân dân chấp hành tốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước; thường xuyên xuống các cơ sở để nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, nắm bắt tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội, an ninh nông thôn, nhất là nguyên nhân và diễn biến các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, vượt cấp, qua đó tham mưu cho Ban Thường vụ Huyện ủy có kế hoạch, biện pháp xử lý, thành lập các tổ công tác để xử lý kịp thời ngay từ cơ sở, đảm bảo đúng quy định. Thứ tư: Lãnh đạo khắc phục những nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo bằng cách quan tâm lãnh đạo việc quản lý, quy hoạch đất đai, đặc biệt là 65 công tác thu hồi đất, đền bù giải phóng mặt bằng trên địa bàn khi thực hiện các dự theo kế hoạch của địa phương; lãnh đạo chấn chỉnh công tác quản lý kinh tế - xã hội của các cấp chính quyền tại địa phương, khắc phục những yếu kém, sai phạm, tiêu cực, tham nhũng để hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo. Ban Thường vụ, Bí thư Đảng ủy các cấp phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tìm ra nguyên nhân để có các chủ trương, giải pháp phù hợp nhằm giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Thứ năm: Lãnh đạo tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo của các tổ chức đảng và đảng viên, coi kết quả của công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền là một tiêu chí quan trọng để đánh giá hoạt động và xếp loại thi đua của mỗi cấp uỷ đơn vị và mỗi cán bộ đảng viên. Đảng ủy các cấp cần quan tâm bố trí cán bộ là đảng viên ưu tú, có phẩm chất chính trị vững vàng, tận tụy và chuyên môn phù hợp để làm công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ đảng viên trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. 3.2.2.2. Tăng cường sự giám sát của Nhà nước, các cơ quan chức năng, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân Một là: Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các Đại biểu quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải dành thời gian thích đáng, đầu tư nhiều công sức trí tuệ hơn nữa cho công tác giám sát đối với hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai. Hoàn thiện quy chế để tăng cường, nâng cao hiệu qủa giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, và các tổ chức thành viên của Mặt trận trong việc giám sát hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai. Đổi mới, hoàn thiện cơ chế giám sát của các thiết chế chính trị xã hội khác, giám sát của các cơ quan báo chí, của các tổ chức xã hội, của nhân dân. 66 Hai là: Giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp thể hiện qua việc xem xét báo cáo của UBND về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; tổ chức đoàn giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiến nghị xử lý vi phạm pháp luật nếu có. Thường trực Hội đồng nhân dân các cấp kiểm tra, xem xét tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiến nghị xử lý vi phạm pháp luật nếu có; đề nghị cơ quan hành chính cấp trên trực tiếp xem xét, xử lý khiếu nại, tố cáo; đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo; các báo cáo về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; đôn đốc việc giải quyết... Vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân ở đây mang tính chất theo dõi, kiểm tra về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Hoạt động giám sát công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo đóng vai trò như là phương thức đảm bảo pháp chế đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như qua đó là cách thức để đảm bảo quyền khiếu nại, tố cáo của công dân. Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban Pháp chế Hội đồng nhân dân nên đưa nội dung giám sát việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo vào chương trình, kế hoạch công tác hàng quý, năm. Ba là: Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện: tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại, tố cáo; tiếp nhận đơn và chuyển đến người có thẩm quyền giải quyết; kiến nghị cơ quan, tổ chức cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên. Cấp ủy, chính quyền cần phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể để vận động, thuyết phục được hội viên, đoàn viên của tổ chức mình chấp hành các quyết định của pháp luật và thực hiện các quy định giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cấp có thẩm quyền. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện chủ trì, phối hợp với UBND huyện, các ban, ngành, đoàn thể liên quan, các tổ chức thành viên của mặt trận triển khai thực hiện nghiêm túc các quy định của Luật Mặt trận Tổ quốc 67 Việt Nam ngày 09/6/2015; Thông tri số 02/TTr-MTTW-BTT ngày 12/02/2015 của Ủy ban Trung ương Mặt trật Tổ quốc Việt Nam quy định và hướng dẫn việc tổ chức tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của Ủy ban Mặt trật Tổ quốc Việt Nam các cấp; Chương trình phối hợp công tác số 01/CTPH-TTCP-BTTUBTWMTTQVN ngày 25/11/2014 giữa Thanh tra Chính phủ và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong lĩnh vực tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân. Phát huy vai trò tập hợp sức mạnh đại đoàn kết, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội, giám sát, phản biện xã hội; thực hiện tốt trách nhiệm theo quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013. Bốn là: Tổ chức thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân tại cấp xã, phường, thực hiện hoạt động giám sát với phương thức: tiếp nhận đơn thư; chuyển đơn; kiến nghị việc giải quyết đơn thư với thủ trưởng cơ quan, đơn vị; phát hiện vi phạm pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Tăng cường giám sát của các tổ chức Đoàn thể này thể hiện tính dân chủ của nhà nước xã hội chủ nghĩa, là phương thức quan trọng để nhân dân - người chủ đích thực của quyền lực nhà nước tham gia quản lý nhà nước và kiểm soát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. 3.2.2.3. Tăng cường trách nhiệm của UBND các cấp, trách nhiệm của người đứng đầu, của các cơ quan tham mưu và phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo: Một là: UBND huyện chỉ đạo Thủ trưởng các phòng, ban và Chủ tịch UBND các xã có biện pháp khắc phục ngay những tồn tại, hạn chế trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và công tác quản lý, sử dụng đất đai tại địa phương trong thời gian qua. Chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghiêm túc các các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và pháp luật về đất đai. Tăng cường chỉ đạo tập trung rà soát, giải quyết đơn thư khiếu 68 nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh thuộc thẩm quyền, các vụ việc đông người, tồn đọng và kéo dài. Hai là: Nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền các cấp, Thủ trưởng các đơn vị trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, gắn trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, thường xuyên nắm tình hình và kiểm soát chặt chẽ tình hình khiếu nại, tố cáo ở địa phương ngay từ cơ sở. Coi kết quả và chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý là một tiêu chí đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của thủ trưởng cơ quan hành chính. Tăng cường công khai, minh bạch hoạt động của các cơ quan, đơn vị, các thủ tục hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước tại trụ sở các cơ quan hay trên cổng thông tin điện tử, nhất là các lĩnh vực dễ phát sinh sai phạm như: quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, tài chính Ba là: Phát huy vai trò của Chủ tịch UBND các cấp trong công tác tiếp công dân, đối thoại với công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân ngay tại địa phương nơi xảy ra vụ việc. Chú trọng tiếp công dân tại cơ sở, lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của người dân, giải quyết kịp thời những kiến nghị ban đầu của người dân tránh tình trạng giải quyết kéo dài, không đúng trọng tâm, trọng điểm dẫn đến người dân bức xúc và chuyển từ nội dung đơn kiến nghị sang khiếu nại, tố cáo và thậm chí là vượt cấp, phát sinh thành điểm nóng. Chủ động đối thoại, vận động, giải thích các quy định của pháp luật để người dân hiểu và chấp hành. Khi phát sinh khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, Chủ tịch UBND các cấp, Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị phải trực tiếp chỉ đạo làm rõ nội dung, nguyên nhân, xem xét toàn diện các khía cạnh pháp lý và thực tiễn; tổ chức đối thoại công khai với người khiếu kiện để giải quyết sát thực tế sự việc, thấu tình, đạt lý. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân trong tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, quyền khiếu nại, tố cáo để cố ý vi 69 phạm pháp luật. Bốn là: Tăng cường vai trò, trách nhiệm của cơ quan Thanh tra huyện, Phòng Tài nguyên và Môi trường cũng như các cơ quan, đơn vị liên quan trong việc phối hợp, tham mưu UBND huyện thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và các quy định pháp luật về đất đai. Thứ nhất: Thanh tra huyện có trách nhiệm là cơ quan tham mưu đắc lực cho UBND huyện trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, nhằm tháo gỡ những vụ việc phức tạp, hạn chế mức độ thấp nhất đơn thư vượt cấp, khiếu kiện đông người. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo phải đảm bảo trình tự, thủ tục, thẩm quyền; giải quyết phải khách quan, theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình tiếp công dân, xét giải quyết khiếu nại, tố cáo phải kết hợp chặt chẽ giữa thanh tra, kiểm tra với xử lý về kinh tế, tài chính và xử lý cán bộ có sai phạm; kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân thiếu trách nhiệm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, giải quyết kiến nghị, đề nghị hợp pháp của công dân; kiến nghị UBND cùng cấp hoặc cấp trên xử lý nghiêm các vi phạm phát hiện được, kể cả những vi phạm dẫn đến khiếu kiện của công dân. Thứ hai: Tăng cường sự phối hợp giữa lực lượng Công an, Viện kiểm sát và Thanh tra, bám sát địa bàn khiếu kiện, chủ động nắm chắc tình hình, tăng cường đối thoại với công dân nhằm nắm bắt đúng và đầy đủ nguyện vọng của nhân dân, ngăn chặn những hành vi quá khích gây mất ổn định trật tự xã hội. Cơ quan Thanh tra phải kết hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị, đoàn thể như Mặt trận Tổ quốc, Hội phụ nữ, đây chính là nguồn thông tin quý giá để lắng nghe ý kiến phản ánh, phát hiện sai phạm hay những bất cập trong quá trình thực hiện các chính sách pháp luật. Thứ ba: Tăng cường tập huấn về chuyên môn, nghiệp vụ, hướng dẫn các cán bộ, công chức trong ngành không chỉ nghiệp vụ về thanh tra, giải 70 quyết khiếu nại, tố cáo mà còn về công khai, minh bạch tài sản và nội dung phòng, chống tham nhũng. Ngoài ra, Thanh tra huyện còn phải thường xuyên đổi mới công tác tiếp công dân, cải tiến quy trình giải quyết đơn thư phù hợp với đặc thù của địa phương, tích cực giải quyết khiếu nại đến cùng, giảm bớt tình trạng tiếp khiếu và hướng dẫn nghiệp vụ, phổ biến trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo đến các phòng, ban chuyên môn, UBND các xã trực thuộc UBND huyện; hướng dẫn nghiệp vụ và tuyên truyền pháp luật đến cán bộ, công chức cấp dưới; lồng ghép công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đối với công dân vào ngay trong quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thứ tư: Để giải quyết dứt điểm vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, kéo dài của khoảng 500 hộ dân, hộ nhận khoán đối với các Công ty TNHH MTV Cà phê (như đã trình bày ở phần mở đầu và chương 2 của luận văn), đồng thời để giải quyết tốt các vấn đề bất cập, hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng đất đai hiện nay tại các Công ty TNHH MTV Cà phê, Nông trường cao su đóng chân trên địa bàn huyện, Thanh tra huyện phối hợp với các cơ quan, ban, ngành tham mưu UBND huyện báo cáo đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tổng Công ty Cà phê Việt Nam, UBND tỉnh Đắk Lắk tổng hợp, báo cáo các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương chỉ đạo giải quyết dứt điểm vụ việc, đồng thời tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp triển khai thực hiện nghiêm túc, quyết liệt, có chất lượng và hiệu quả việc rà soát, sắp xếp, đổi mới các nông, lâm trường theo tinh thần Nghị quyết số 30- NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị, Nghị định số 118/2014/NĐ-CP ngày 17/12/2014 của Chính phủ, Nghị quyết số 112/2015/QH13 ngày 27/11/2015 của Quốc hội và Công văn số 2252/TTg-ĐMDN ngày 10/12/2015 của Chính phủ về việc Phương án tổng thể sắp xếp, đổi mới Công ty nông nghiệp và tái cơ cấu Tổng Công ty Cà phê Việt Nam. Thứ năm: Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Thanh tra huyện hàng năm cần xây dựng kế hoạch thanh tra, kiểm tra việc chấp hành 71 pháp luật về đất đai tại UBND các xã thuộc huyện, gắn với các cuộc kiểm tra về bảo vệ tài nguyên đất, khoáng sản. Tham mưu UBND huyện chấn chỉnh và thực hiện công tác quản lý sử dụng đất đai tại địa phương đảm bảo đúng quy định của pháp luật và có hiệu quả. Thường xuyên chỉ đạo theo dõi, cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai, phát huy hiệu quả của hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai, thực hiện tốt công tác thống kê đất đai. Phòng Tài nguyên và Môi trường cần tập trung công tác tiếp nhận, xử lý và giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai của công dân trên địa bàn huyện. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra định kỳ, đột xuất việc chấp hành các quy định pháp luật về quản lý, sử dụng quỹ đất; tăng cường phối hợp với các đơn vị có liên quan trong việc thanh, kiểm tra đấu tranh phòng ngừa, xử lý kiên quyết các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai trên địa bàn. Thông qua việc tăng cường hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra nhằm phát hiện những yếu kém, hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng đất đai và trong các dự án đã triển khai trên địa bàn huyện; từ đó chấn chỉnh và kiến nghị xử lý kịp thời các sai phạm. Thứ sáu: Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan khối Nội chính trong công tác phối hợp và giải quyết khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện. Công an huyện chỉ đạo các đơn vị chức năng, Công an các xã triển khai thực hiện có hiệu quả các đợt cao điểm tấn công trấn áp, truy quét tội phạm xâm phạm trật tự xã hội, nhất là thời gian trước, trong và sau khi diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng của Đất nước, của địa phương. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác nắm bắt tình hình liên quan đến khiếu nại, tố cáo của công dân, các loại tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức tại địa bàn các cơ sở; kịp thời phát hiện, vận động giải thích để người dân chấp hành các quy định của pháp luật, không nghe, không tin lời xúi giục, dụ dỗ của kẻ xấu, không để tập trung khiếu kiện đông người, vượt cấp. Xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật. 72 Viện Kiểm sát nhân dân huyện chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xử lý, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến hoạt động tư pháp, nhất là các vụ việc phức tạp, có dấu hiệu oan sai, dư luận xã hội quan tâm. Tòa án nhân dân huyện chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan xử lý, giải quyết các vụ án, các khiếu kiện hành chính đảm bảo kịp thời, đúng quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hành chính. Năm là: UBND huyện và UBND các xã cần phối hợp với các Sở, ngành và các Phòng, ban, ngành chuyên môn chủ động làm việc trao đổi thông tin để nắm bắt rõ tình hình khiếu nại, tố cáo; thống nhất phương án giải quyết, không để dây dưa, kéo dài, để hết thời hiệu hoặc chỉ giải quyết cho hết trách nhiệm làm phát sinh thêm số vụ việc tồn đọng. Đối với vụ việc phức tạp, đông người thì Chủ tịch UBND các cấp trực tiếp chỉ đạo rà soát, giải quyết, tăng cường đối thoại với công dân và đưa ra các hướng chỉ đạo giải quyết đúng quy định pháp luật. Sáu là: Thường xuyên tổ chức Hội nghị, Báo cáo tổng kết việc thực hiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Việc tổng kết phải chỉ ra được các ưu điểm, nhược điểm trong các quy định pháp luật, nhất là các quy định về trách nhiệm, thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo; trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo và đưa ra cá sáng kiến, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo; tuyên dương các cá nhân, đơn vị, tổ chức có đóng góp trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu kiện của công dân. Song song với việc tổng kết phải tiến hành việc khảo sát thực tế hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo tại các địa phương, ban, ngành trong huyện để nắm bắt trình độ, nhận thức của nhân dân về pháp luật. 3.2.2.4. Hoàn thiện tổ chức bộ máy, phân công nhiệm vụ trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; nâng cao năng lực quản lý đất đai, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức làm nhiệm vụ tiếp công dân và 73 giải quyết khiếu nại, tố cáo Một là: Củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác tiếp dân, xử lý đơn thư và giải quyết khiếu nại, tố cáo; trong đó đặc biệt quan tâm bố trí cán bộ có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt và có chế độ, chính sách thỏa đáng để bộ phận này làm tốt nhiệm vụ được giao. Quan tâm đến công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ, công chức làm nhiệm vụ tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, cán bộ tiếp nhận và xử lý hồ sơ đất đai. Trong đó gồm các nội dung: phải trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng; phải thường xuyên nâng cao trình độ năng lực, chất lượng hiệu quả công việc; coi chất lượng hoàn thành nhiệm vụ chính là thước đo năng lực của người cán bộ. Thêm vào đó, phải có phong cách, tác phong công tác phù hợp. Đó là phong cách làm việc có kế hoạch, hiệu quả, chính xác, tỷ mỷ, sâu sát, cụ thể tránh đại khái, qua loa, quan liêu, hình thức trong hoạt động thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu; luôn luôn tôn trọng và lắng nghe ý kiến của quần chúng và cấp dưới để có quyết định đúng đắn kịp thời, chính xác. Rèn luyện kỹ năng làm việc, nếu kiến thức là sự hiểu biết về công việc thì kỹ năng chính là cách thức làm việc, là tổ chức triển khai công việc, nói cụ thể hơn chính là các kỹ năng trong việc tiếp công dân, đối thoại, cách triển khai thẩm tra, xác minh và kết luận vụ việc. Hai là: Kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Thanh tra huyện, theo đó tăng cường biên chế cho Thanh tra huyện, đảm bảo đội ngũ cán bộ thanh tra phải có đủ năng lực, trình độ chuyên môn và tâm huyết với nghề nghiệp; cán bộ thanh tra cần có những hiểu biết nhất định về các ngành, các lĩnh vực khác nhau, có như vậy mới có thể làm tốt nhiệm vụ trong môi trường làm việc đa dạng; đặc biệt là trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai vốn là lĩnh vực khó, phức tạp. Chỉ đạo kiện toàn, củng cố Ban Tiếp công dân của huyện và nơi tiếp công dân của xã, trang bị 74 các điều kiện cần thiết tại Trụ sở tiếp công dân theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo sự trang nghiêm, tôn trọng người dân; bố trí cán bộ tiếp công dân có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn, có thái độ tôn trọng và phục vụ nhân dân, có kỹ năng giao tiếp và đối thoại với công dân, tiếp nhận, phân loại và xử lý đơn thư theo đúng thẩm quyền. UBND huyện Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam huyện, Đảng ủy các xã chỉ đạo UBND các xã, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt nam xã, các tổ chức thành viên của mặt trận thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở, kiện toàn và củng cố đội ngũ hòa giải viên đảm bảo các điều kiện theo quy định, có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn để thực hiện có hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở. Ba là: Để nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất cho đội ngũ cán bộ, công chức này cần chú ý một cách toàn diện các yếu tố khác nhau như tổ chức, nhân sự, cơ chế, điều kiện vật chất kỹ thuật...; có sự đổi mới mạnh mẽ trong công tác tổ chức và cán bộ; tạo mọi điều kiện vật chất cần thiết cho hoạt động thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai. Bốn là: Hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy các cơ quan hành chính nhà nước đảm bảo tinh gọn, hiệu quả, có sự phân công, phân cấp, phân quyền giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương, giữa các cấp, các ngành và giữa các địa phương; có sự phân công nhiệm vụ rõ ràng đối với các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo 3.2.2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo Một là: Tăng cường công tác thanh tra trách nhiệm của Thủ trưởng các phòng, ban và UBND các xã trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và pháp luật về đất đai, nhất là những nơi xảy ra nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo, chất lượng, hiệu quả giải quyết khiếu nại thấp Các cấp, các ngành, các cơ quan Thanh tra, cơ quan 75 Tài nguyên và Môi trường định hướng, rà soát, điều chỉnh, bổ sung, xây dựng kế hoạch thanh tra hàng năm có trọng tâm, trọng điểm, hạn chế chồng chéo, trong đó cần tập trung thanh tra trách nhiệm quản lý Nhà nước về đất đai, trách nhiệm thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo của Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, tại các địa phương nhằm phát hiện, chấn chỉnh những yếu kém, xử lý nghiêm, kịp thời, đúng pháp luật các trường hợp vi phạm. Hai là: Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tổ chức tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, nâng cao ý thức pháp luật, tinh thần trách nhiệm cho cán bộ, công chức làm công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tăng cường công tác phối hợp giữa cơ quan Thanh tra các cấp, các địa phương và các cơ quan liên quan trong công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là các vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp và kéo dài. Ba là: Tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về công tác thanh tra. Đảm bảo bố trí đủ kinh phí phục vụ cho công tác thanh tra, kiểm tra. Tăng cường chất lượng các cuộc thanh tra, hiệu lực các kết luận thanh tra, kiểm tra. Tăng cường kiểm tra, đôn đốc thực hiện nghiêm túc các kết luận thanh tra và quyết định xử lý về thanh tra. 3.3.2.6. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luât đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo nói riêng Một là: UBND huyện, UBND các xã thuộc huyện cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo trên toàn huyện bằng nhiều hình thức. Để công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo đạt kết quả tốt cần sử dụng kết hợp nhiều hình thức và biện pháp đồng bộ, phải được tiến hành trên nhiều phương diện, bằng nhiều phương pháp, đối với nhiều đối tượng khác nhau trong quản lý nhà nước về đất đai, để mọi người, mọi tổ chức tự giác chấp hành chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về đất 76 đai. Hai là: Hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước về công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trước hết phải củng cố, hoàn thiện cơ sở pháp lý đối với hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo. Kiện toàn lực lượng cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Đội ngũ này phải đủ về số lượng và có chất lượng tốt, đồng thời phải am hiểu tâm tư nguyện vọng thiết tha của nhân dân đối với pháp luật đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai. Đồng thời, tăng cường công tác rà soát các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác quản lý đất đai trên địa bàn tỉnh, huyện, đề xuất sửa đổi, bổ sung, ban hành mới cho phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và phù hợp với thực tiễn tại địa phương. Ba là: Động viên, khuyến khích và tổ chức cho quần chúng nhân dân tích cực tham gia vào các hoạt động pháp luật đất đai thực tiễn. Nhân dân sẽ hiểu biết pháp luật đất đai một cách sâu sắc đầy đủ hơn khi họ tự mình vận dụng nó. Vì vậy, cần phải mở rộng dân chủ, công khai trong hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật và giám sát kiểm tra việc thực hiện pháp luật theo nguyên tắc: Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, tạo điều kiện để nhân dân tham gia thảo luận, đóng góp ý kiến vào các văn bản pháp luật đất đai. Tổ chức cho nhân dân tham gia vào các hoạt động thực hiện, áp dụng pháp luật đất đai, khiếu nại, tố cáo về đất đai, có một cơ chế hợp lý để người dân sử dụng pháp luật đất đai để bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của mình và đấu tranh chống các biểu hiện vi phạm pháp luật đất đai. Bốn là: Tổ chức triển khai tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nội dung các văn bản pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo tới mọi tầng lớp nhân dân. Đồng thời, phải đa dạng hoá các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, với các hình thức phong phú, thiết thực, hiệu quả phù hợp 77 với đặc điểm và trình độ dân trí, tình hình thực tế ở từng khu vực, từng địa phương. Sử dụng triệt để các phương tiện thông tin đại chúng vào công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Tiếp tục cải tiến làm phong phú hơn các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật: phương tiện truyền thanh, truyền hình, các bài báo, ấn phẩm, trên panô, áp phích cơ động mở các chuyên trang, chuyên mục trên báo, đài, bản tin nội bộ, thông qua đội ngũ báo cáo viên... Tạo điều kiện cho người tham gia khiếu nại, tố cáo có sự hiểu biết nhất định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh trường hợp đi khiếu kiện vì thiếu hiểu biết. Năm là: Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, dịch vụ pháp lý, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đoàn thể quần chúng, trung tâm trợ giúp pháp lý, văn phòng luật sư, đặc biệt là tư vấn pháp luật về đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo. Hoạt động tư vấn và dịch vụ pháp lý cần được tổ chức sắp xếp lại, đổi mới phương thức hoạt động, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu và phục vụ có hiệu quả hơn những đòi hỏi của xã hội như giới thiệu các văn bản pháp luật mới về đất đai, các quy định mới về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai. Sáu là: Sử dụng có hiệu quả các tủ sách pháp luật. Tủ sách pháp luật phục vụ cho mọi nhà, phục vụ thuận lợi cho đông đảo quần chúng nhân dân. Muốn vậy, các địa phương phải thường xuyên cập nhật những văn bản pháp luật về đất đai để nhân dân có thể tự mình nghiên cứu tại đây. Thường xuyên, liên tục đưa báo chí đến các trung tâm văn hoá cơ sở, chú ý đối với các vùng sâu, vùng xa. Đề cao vai trò của các tổ chức, đoàn thể, các cuộc thi tìm hiểu pháp luật ở từng địa phương trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại, tố cáo. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật phải gắn trực tiếp vào hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, coi đây là biện pháp hết sức hiệu quả. 3.2.2.7. Thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo; tămg cường 78 đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ thông tin Một là: UBND huyện, các cơ quan, đơn vị, địa phương phải thực hiện nghiêm túc công tác tổng hợp, báo cáo công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo định kỳ và đột xuất theo đúng quy định, đảm bảo nghiêm túc, kịp thời và có chất lượng. Tăng cường công tác phối hợp, báo cáo của các cấp, các ngành, các địa phương để trao đổi, báo cáo xin ý kiến về hướng giải quyết các vụ việc, nhất là các vụ việc khiếu nại, tố cáo về đất đai đông người, phức tạp và kéo dài. Hai là: Tăng cường đầu tư khoa học công nghệ, điều kiện vật chất cho công tác quản lý đất đai, từng bước hiện đại hoá hệ thống quản lý đất đai bằng công nghệ tin học trên cơ sở xây dựng hệ thống dữ liệu địa chính quốc gia. Hỗ trợ kinh phí, tạo điều kiện về thời gian cho cán bộ theo học các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học... để họ khai thác hiệu quả khoa học công nghệ và các thông tin đã được trang bị. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý nhà nước, xây dựng hệ thống dữ liệu và tăng cường việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc theo dõi, tích hợp, khai thác, sử dụng các thông tin, dữ liệu về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Ba là: Quan tâm và bố trí kinh phí, đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cho các cơ quan chuyên môn để phục vụ tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng như phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai. Quan tâm giải quyết chế độ bồi dưỡng, hỗ trợ cho cán bộ tiếp công dân và xử lý đơn thư theo đúng quy định, tạo sự thu hút, khuyến khích và động viên nhằm góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho Trụ sở Tiếp công dân và cơ quan Thanh tra, hiện đại hóa điều kiện làm việc, đời sống đảm bảo cho cán bộ thực hiện công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo luôn vững vàng, khách quan, chí công vô tư. 79 KẾT LUẬN Qua quá trình nghiên cứu đề tài “Pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai - Từ thực tiễn huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk”, có thể rút ra một số kết luận chủ yếu như sau: Đất đai là vấn đề lớn, phức tạp và rất nhạy cảm, tác động trực tiếp đến kinh tế, chính trị, xã hội, sự ổn định và phát triển của Đất nước. Khiếu nại, tố cáo nói chung và khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng không chỉ là quyền công dân mà còn là quyền con người, được quy định trong Hiến pháp và pháp luật, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi bị xâm phạm, là biểu hiện của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai là một kênh thông tin khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, phản ánh tình hình thực hiện công vụ của cán bộ, công chức trong lĩnh vực đất đai. Do đó, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai không những có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, mà còn thể hiện mối quan hệ máu thịt, gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Thông qua giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về đất đai do mình ban hành, từ đó có cơ sở thực tiễn để nâng cao vai trò sự lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật, hiệu lực quản lý nhà nước. Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai được hiểu là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, đánh giá đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai có đúng pháp luật hay không, từ đó đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp. Thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và bảo 80 vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các cá nhân và tổ chức, góp phần to lớn vào việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Vì vậy, về nhận thức các chủ thể thực hiện pháp luật phải coi công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của cả hệ thống chính trị. Công tác quản lý và sử dụng đất đai, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế và vi phạm, tình hình đơn thư ngày càng diễn biến phức tạp, tình trạng khiếu nại, tố cáo tồn đọng, đông người, kéo dài vẫn còn nhiều, nhất là trong lĩnh vực đất đai. Do đó, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng, thì việc khắc phục những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đảm bảo cho các quy định của pháp luật về đất đai, pháp luật về khiếu nại, tố cáo được đi vào thực tiễn cuộc sống, có hiệu quả, giảm bớt tình trạng khiếu nại, tố cáo nói chung và khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng, là một trong những yêu cầu mang tính cấp thiết tại huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk hiện nay. Sự ra đời của Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Đất đai năm 2013 và hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hành, là một bước ngoặt quan trọng trong sự phát triển của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và pháp luật về đất đai. Các đạo luật ra đời đã hạn chế những tồn tại, thiếu sót trong quy định về khiếu nại, tố cáo nói chung và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, qua thực tiễn cho thấy bên cạnh ưu điểm, kết quả đạt được, các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai hiện hành đã bộc lộ nhiều bất cập và hạn chế cần 81 phải sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện. Pháp luật về đất đai, pháp luật về khiếu nại, tố cáo còn một số nội dung chưa cụ thể, chưa phù hợp, các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai được ban hành nhiều nhưng còn thiếu đồng bộ, có mặt còn chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu thống nhất giữa pháp luật đất đai với các pháp luật khác. Nội dung khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai cũng phần lớn liên quan đến việc thực hiện các chính sách, quy định của pháp luật, bắt nguồn từ những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật. Muốn đảm bảo cho việc thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp: Hoàn thiện các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo, quy định pháp luật về đất đai và các quy định pháp luật khác có liên quan. Bên cạnh đó, phải nâng cao năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của người có thẩm quyền trong giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai; nâng cao ý thức và nhận thức pháp luật cho người dân. Đồng thời, phải xử lý nghiêm minh những vi phạm pháp luật về đất đai và vi phạm pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai... Từ những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật hiện hành và tình hình thực tế phải giải quyết kịp thời những vụ việc khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai hiện nay đang rất bức xúc. Việc hoàn thiện pháp luật và đảm bảo thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại tố cáo trong lĩnh vực đất đai là vô cùng hữu ích và cấp bách. Luận văn đã đạt được mục đích nghiên cứu đặt ra. Luận văn đã hệ thống hóa những cơ sở lý luận của pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, đánh giá được thực trạng, chỉ ra nguyên nhân của những bất cập, hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp cụ thể góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ Chính trị (2014), tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo, Chỉ thị số 35/CT-TW ngày 26/5/2014, Hà Nội. 2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2016), Báo cáo công tác khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, Hà Nội. 3. Chính phủ (2013), quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012, Nxb Lao động, Hà Nội. 4. Chính phủ (2013), quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tố cáo, Nghị định số 76/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012, Nxb Lao động, Hà Nội. 5. Chính phủ (2014), quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nxb Lao động, Hà Nội. 6. Chính phủ (2014), quy định về giá đất, Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nxb Lao động, Hà Nội. 7. Chính phủ (2014), quy định về thu tiền sử dụng đất, Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nxb Lao động, Hà Nội. 8. Chính phủ (2014), quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nxb Lao động, Hà Nội. 9. Chính phủ (2014), quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nxb Lao động, Hà Nội. 10. Chính phủ (2014), quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiếp công dân, Nghị định số 64/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014, tại trang [truy cập ngày 25/01/2017]. 11. Võ Nguyên Chương (2015), Thi hành pháp luật giải quyết khiếu 83 nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 12. Nguyễn Ngọc Linh (2014), Thực thi pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI (2005), Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, tại trang [truy cập ngày 30/12/2016]. 14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X (1998), Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, tại trang [truy cập ngày 30/12/2016]. 15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII (2014), Luật Thanh tra năm 2010, Nxb Lao động, Hà Nội. 16. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII (2013), Luật Khiếu nại năm 2011, NXb Lao động, Hà Nội. 17. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII (2013), Luật Tố cáo năm 2011, Nxb Lao động, Hà Nội. 18. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII (2012), tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân đối với các quyết định hành chính về đất đai, Nghị quyết số 39/2012/QH13 ngày 23/11/2012, tại trang [truy cập ngày 07/11/2016]. 19. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII (2014), Luật Tiếp công dân năm 2013, Nxb Lao động, Hà Nội. 20. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII (2014), Luật Đất đai năm 2013, Nxb Lao động, Hà Nội. 21. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII (2014), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb 84 Lao động. 22. Thanh tra Chính phủ (2013), về quy trình giải quyết tố cáo, Thông tư số 06/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013, tại trang [truy cập ngày 30/12//2016]. 23. Thanh tra Chính phủ (2013), về quy trình giải quyết khiếu nại, Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 30/9/2013, tại trang [truy cập ngày 30/12/2016]. 24. Thanh tra Chính phủ (2016), sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP về quy trình giải quyết khiếu nại, Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016, tại trang [truy cập ngày 02/01/2017]. 25. Thanh tra Chính phủ (2016), Báo cáo công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo giai đoạn 2012-2015 và nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới, Hà Nội 26. Thanh tra Chính phủ (2011), Khiếu nại, tố cáo hành chính, cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp, Đề tài Khoa học cấp Nhà nước, Hà Nội. 27. Viện Khoa học Thanh tra, Thanh tra Chính phủ (2016), Thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về thu hồi đất ở Việt Nam hiện nay, những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội. 28. Ủy ban nhân dân huyện Cư Kuin (2012), Công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2012, Báo cáo số 246/BC-UBND ngày 13/12/2012, Cư Kuin. 29. Ủy ban nhân dân huyện Cư Kuin (2013), Công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2013, Báo cáo số 249/BC-UBND ngày 06/12/2013, Cư Kuin. 30. Ủy ban nhân dân huyện Cư Kuin (2014), Công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2014, Báo cáo số 282/BC-UBND ngày 03/12/2014, Cư Kuin. 85 31. Ủy ban nhân dân huyện Cư Kuin (2015), Công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2015, Báo cáo số 262/BC-UBND ngày 10/12/2015, Cư Kuin. 32. Ủy ban nhân dân huyện Cư Kuin (2016), Công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2016, Báo cáo số 215/BC-UBND ngày 08/12/2016, Cư Kuin. 33. UBND huyện Cư Kuin (2016), Thuyết minh tổng hợp kế hoạch sử dụng đất năm 2017 huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk, Báo cáo thuyết minh năm 2016, Cư Kuin.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_phap_luat_ve_giai_quyet_khieu_nai_to_cao_trong_linh.pdf
Luận văn liên quan