Luận văn Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông trong đổi mới giáo dục ở tỉnh Bến Tre hiện nay

Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, đội ngũ giáo viên còn bộc lộ nhiều yếu kém, chưa đồng bộ; chưa hợp lý; một bộ phận giáo viên năng lực còn hạn chế, thiếu cố gắng rèn luyện; phương pháp giáo dục chậm đổi mới. Từ đó hạn chế trong quá trình thực hiện vai trò của mình. Việc phân tích, đánh giá nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đã cho thấy: Trong xu thế phát triển hiện nay cuả tỉnh và đất nước hơn lúc nào hết chúng ta cần phấn đấu thực hiện việc đổi mới sự nghiệp GD&ĐT để tạo ra một thế hệ giáo viên trẻ năng động, có cách dạy, cách học tác động sâu sắc đến học sinh THPT. Vì thế, vai trò của đội ngũ giáo viên trong qúa trình đổi mới giáo dục cần phải được phát huy và nâng cao hơn nữa.

pdf99 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 3064 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông trong đổi mới giáo dục ở tỉnh Bến Tre hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thực tế nhân cách con người hoàn thiện theo hướng nào là do sự ảnh hưởng môi trường giáo dục gia đình và nhà trường rất lớn. Đúng như Bác Hồ đã nói: “Hiền dữ đâu phải là tính sẵn, phần lớn do giáo dục mà nên”. Mặt khác, đội ngũ giáo viên phải tạo được uy tín đối với học sinh. Uy tín giáo viên có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh dẫn dắt cho học sinh đi theo. Những lời nói, hành vi của giáo viên sẽ đi theo các em trong suốt cuộc đời. Có những lời nói hành vi giúp con người hoàn thiện, dẫn con người đến cái đẹp và nhân văn. Nhưng cũng có những lời nói hành vi sẽ khiến cho các em bi quan, có cái nhìn và cách sống tiêu cực. Có rất nhiều giáo viên với nhân cách của chính mình đã trở thành hình tượng lý tưởng với học sinh. “Con đường chủ yếu nhất để giáo dục con người là niềm tin và chỉ có bằng niềm tin mới có thể tác động đến niềm tin" [48, tr.150]. Để đảm bảo cho sự nghiệp giáo dục phát triển tốt đẹp Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Vấn đề then chốt, quyết định chất lượng giáo dục là phải xây dựng được đội ngũ đông đảo những người làm công tác giáo dục, yêu nghề, yêu trường, hết lòng thương yêu chăm sóc, giáo dục học sinh, không ngừng trau dồi đạo đức, tự bồi dưỡng nâng cao tay nghề để thật sự là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Đạo đức bao giờ cũng là cái “gốc” của mỗi con người, như Bác Hồ đã từng dạy chúng ta; có tài nhưng không có đức tất sinh kiêu căng, sinh tật. Trình độ chuyên môn và tài năng sư phạm của mỗi giáo viên cần được phát huy cao độ để mang lại hiệu quả giáo dục tốt đẹp khi nó được sinh ra và được nuôi dưỡng từ cái “gốc” đạo đức, lành mạnh và bền vững. Trước yêu cầu mới của đất nước, mỗi giáo viên phải thật sự nổ lực rèn luyện để nâng cao cả đức và tài nhưng trước hết và xuyên suốt phải là đức độ cao cả và trong sáng. Trong sự phát triển đầy phức tạp của đời sống kinh tế-xã hội hiện nay trước những tiêu cực, những tệ nạn xã hội đang len lõi và gây tác hại ngay cả chốn học đường thì đội ngũ giáo viên phải trở thành lực lượng chống lại những tiêu cực, những tệ nạn đó để bảo vệ chính mình và bảo vệ thế hệ trẻ khỏi những hiểm họa và sai lầm. Giáo viên phải qua dạy chữ để dạy người, dạy học sinh biết sống, biết yêu quí cái đẹp. Cái đức, cái “tâm” phải là phẩm chất hàng đầu của giáo viên. Vì vậy, với nhà sư phạm, nếu xảy ra một điều gì đó bất ổn và tiêu cực qua dư luận xã hội, cũng phải trách mình trước hết “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Trên đây là bốn quan điểm cơ bản làm cơ sở để tác giả đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục trong các trường THPT tỉnh Bến Tre. 3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU Từ yêu cầu đổi mới giáo dục ở các trường THPT tỉnh Bến Tre, trong thời gian tới; từ những quan điểm cơ bản về nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong quá trình đổi mới giáo dục ở các trường THPT sát thực tiễn tỉnh Bến Tre, luận văn nêu ra ba nhóm giải pháp chủ yếu. 3.2.1. Nhóm giải pháp đổi mới về nhận thức của xã hội về xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu các môn học và chất lượng cao Sự phát triển của đất nước ta, dân tộc ta trong tương lai phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức mới của xã hội về vai trò và trách nhiệm đối với giáo dục và đào tạo. Nâng cao được nhận thức của xã hội về vai trò của đội ngũ giáo viên trong các trường THPT là chúng ta đã tạo được môi trường xã hội thuận lợi, tạo ra động lực tinh thần to lớn để phát huy mọi tiềm năng của xã hội đối với việc nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong quá trình đổi mới ở các trường THPT ở Bến Tre. Để nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của đội ngũ giáo viên cần khắc phục kịp thời một số quan niệm chưa đúng, chưa đầy đủ về vai trò của đội ngũ giáo viên đang tồn tại khá phổ biến trong đời sống xã hội từ trong các cấp ủy Đảng, chính quyền, các bậc phụ huynh đếncác em học sinh, các lực lượng giáo dục kể cả các giáo viên. 3.2.1.1. Nâng cao nhận thức của các cơ quan quản lý giáo dục, các cấp ủy Đảng và chính quyền về vai trò của đội ngũ giáo viên trong đổi mới giáo dục trung học phổ thông Những hạn chế thường thấy là sự quan tâm tới đội ngũ giáo viên chưa được thường xuyên và còn mang tính bất bình đẳng. Mặc dù trong những năm gần đây sự quan tâm đó đã được cải thiện rất nhiều nhưng trong quá trình thực hiện vẫn mang tính hình thức, do đó chưa thật sự giải quyết được sự suy thoái chất lượng giáo dục trên nhiều mặt, kể cả mặt đạo đức nghề nghiệp của giáo viên cũng như đạo đức, nhân cách của học sinh. Cần thống nhất quán triệt sâu sắc hơn nữa đầu tư cho đội ngũ giáo viên là đầu tư cho một lực lượng lao động có ý nghĩa lớn đối với sự thành bại của nền giáo dục trong giai đoạn mới chứ không thể như một thứ phúc lợi đơn thuần, đầu tư đến đâu hay đến đó, càng không thể là ban ơn, chiếu cố với giáo viên. Hiện nay, căn bệnh thành tích trong giáo dục Bến Tre bước đầu đã được khắc phục. Song vẫn còn, đó là vấn đề bức xúc, có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, cần nhanh chóng chữa trị tận gốc căn bệnh này. Các cơ quan quản lý giáo dục, các nhà trường không chỉ lo nâng cao đội ngũ giáo viên một số môn học, chất lượng học để thi cử, để có tỷ lệ đỗ cao, có nhiều học sinh giỏi đạt giải của tỉnh, của quốc gia mà ít đầu tư công sức vào việc đào tạo đội ngũ giáo viên môn giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ và nghề nghiệp … khắc phục kịp thời việc coi nhẹ một số môn học không thi, không nên quan niệm có môn học chính, môn học phụ, đặc biệt là đối với môn học lịch sử. Phải có sự quan tâm đầu tư như nhau đối với tất cả giáo viên đang làm nhiệm vụ “trồng người”. Các cơ quan quản lý giáo dục, các cấp ủy Đảng và chính quyền cần quán triệt quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta, về giáo viên, chính sách đào tạo, đãi ngộ, sử dụng giáo viên, có tính đến những kinh nghiệm của cha ông ta về vai trò của giáo viên “Quân-Sư-Phụ” Đẩy mạnh việc trang bị những kiến thức về quản lý nhà nước, về pháp luật, về công tác Thi đua khen thưởng, về nghệ thuật quản lý để tăng thêm hiệu quả của công tác quản lý. Hoạt động của người cán bộ quản lý giáo dục phải tuân theo những nguyên tắc mang tính pháp quy và những hiểu biết đầy đủ về đối tượng quản lý. 3.2.1.2. Nâng cao nhận thức của các bậc cha mẹ học sinh về giáo viên và vai trò của đội ngũ giáo viên trong đổi mới giáo dục trung học phổ thông Cha mẹ học sinh, phải thấy được trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con cái, phải nhận thức được vai trò của đội ngũ giáo viên sẽ bị hạn chế rất nhiều nếu không có sự quan tâm, phối hợp, hỗ trợ, về tinh thần và trách nhiệm của bậc làm cha mẹ. Trong giáo dục con trẻ, cả cha mẹ học sinh và đội ngũ giáo viên đều có chung một mục đích trách nhiệm và nghĩa vụ là giáo dục, đào tạo nhân cách làm người cho các em. Lời nói và việc làm cần phải tế nhị để thể hiện sự tôn trọng của các bậc cha mẹ học sinh đối với thầy cô giáo. Tình trạng cha mẹ học sinh xúc phạm thô bạo đến nhà trường, đến thân thể và nhân cách của thầy cô giáo ở một số nơi mà trên các phương tiện thông tin đã đưa cần chấm dứt bằng những qui định của pháp luật và sự lên án của dư luận xã hội. Giáo viên phải được tôn trọng và bảo vệ. Ở các nước tư bản, khi kinh tế thị trường đã phát triển cao người ta luôn luôn khẳng định vai trò to lớn không thể thiếu được của giáo viên trong quá trình giáo dục học sinh. Cho nên không thể thương mại hóa lĩnh vực giáo dục, không thể có sự mua bán nào của thầy và trò mà lại có thể mang lại những sản phẩm hữu ích cho xã hội. Phải lên án mạnh mẽ những quan điểm, coi nhà trường là nơi có thể dùng tiền để mua bán chữ nghĩa, văn bằng, phẩm giá con người. “Trong các nghề buôn đừng bao giờ làm nghề buôn chữ”. Những quan niệm sai lầm đó là nguyên nhân chủ yếu gây nên những tiêu cực hiện nay trong ngành giáo dục dẫn đến sự suy thoái đạo đức, nhân cách của một số giáo viên, sự coi thường trật tự kỷ cương trong nhà trường. Để khắc phục cần: Trong các buổi họp chung hoặc tiếp xúc với cha mẹ học sinh phải thường xuyên tuyên truyền các chủ trương đường lối của Đảng về vấn đề giáo dục, về truyền thống “Tôn sư trọng đạo” “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Các phương tiện thông tin đại chúng, báo của ngành giáo dục đào tạo cần có những bài, tin nêu bật những gương điển hình tiên tiến, những tập thể và cá nhân giáo viên có nhiều thành tích, vượt khó, tận tụy với nghề giáo, đóng góp cho sự nghiệp GD&ĐT thế hệ trẻ, để mỗi người dân có thể nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn về vai trò của đội ngũ giáo viên. Không nên đưa tin một cách tràn lan, một chiều các vụ việc, sự kiện về những hiện tượng tiêu cực về ngành giáo dục. Chúng ta không thể né tránh sự thật, nhưng những sự thật phản tác dụng giáo dục, xa rời định hướng mục tiêu giáo dục thì cần phải có sự hướng dẫn, phân tích, đánh giá, bình luận một cách đúng đắn, khách quan và phải thấm nhuần tính nhân văn. Pháp luật cần xử lý nghiêm minh những hành vi xúc phạm đến uy tín nhà trường, giáo viên dù dưới bất cứ hình thức nào. Thường xuyên tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa thầy cô giáo và cha mẹ học sinh thông qua các buổi họp phụ huynh. Tiếp tục phát huy hiệu quả hoạt động của Hội cha mẹ học sinh trong nhà trường. 3.2.1.3. Nâng cao nhận thức của chính bản thân đội ngũ giáo viên trung học phổ thông Không thể là một giáo viên với nghĩa cao quí nhất của từ ấy nếu người giáo viên đó không có ý thức đầy đủ về trách nhiệm cao cả mà họ tự gánh vác. Bởi lẽ, bản thân họ còn không nhận thức đầy đủ về vai trò của mình thì làm sao họ có thể tuyên truyền vai trò đó một cách hiệu quả trong xã hội. Trong đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Bến Tre hiện nay còn bộc lộ một cơ cấu chưa đồng bộ, chưa hợp lý; một bộ phận giáo viên năng lực còn hạn chế, thiếu cố gắng rèn luyện; phương pháp giáo dục chậm đổi mới. Một bài giảng được lặp đi lặp lại nhiều lần một cách khô cứng, thiếu sáng tạo, chưa quan tâm đến “dạy người” đến rèn luyện đạo đúc, rèn luyện sức khoẻ cho học sinh. Giáo viên có thể không phải là người khám phá ra kiến thức nhưng nhất thiết phải là người sáng tạo ra con đường đi tới kiến thức tốt nhất để giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức. Khắc phục nhận thức sai lầm trong các giáo viên tuy không dễ nhưng không phải là không làm được. Đội ngũ giáo viên cần không ngừng học tập sáng tạo; phải làm việc với học sinh bằng tri thức bằng cả cảm xúc, tâm hồn, trái tim yêu thương và tấm lòng nhân hậu thiết tha đối với nghề nghiệp mình đang theo đuổi: dạy chữ-dạy người. Đội ngũ giáo viên THPT dạy các môn học khác nhau cần phải có sự phối hợp để tổ chức các hoạt động giáo dục một cách thống nhất, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi các mục tiêu giáo dục toàn diện. Trong các trường THPT mỗi môn học đều có một nhiệm vụ riêng nhưng lại hỗ trợ cho nhau, thống nhất với nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung là hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho học sinh. Các mặt giáo dục trong nhà trường cần được các giáo viên quan tâm và thực hiện một cách nhất quán, không thể để tư tưởng coi trọng “dạy chữ” mà xem nhẹ “dạy người” tồn tại trong suy nghĩ của chính những người có vai trò quyết định chất lượng giáo dục toàn diện. 3.2.2. Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và tạo động lực để đội ngũ giáo viên nâng cao vai trò của mình trong đổi mới giáo dục trung học phổ thông 3.2.2.1. Đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên theo hướng chuẩn hoá và hiện đại Chủ tịch Hồ Chí minh đã từng nói: “Thầy tốt thì ảnh hưởng tốt, thầy xấu thì ảnh hưởng xấu” [24, tr.467-468]. Gần nữa thế kỷ nay chúng ta luôn ghi nhớ và làm theo lời dạy của Bác Hồ với “sứ mệnh trồng người”. Để làm được điều này, cần đổi mới công tác đào tạo giáo viên ở ba giai đoạn: - Giai đoạn hướng nghiệp sư phạm trước đào tạo. - Giai đoạn đào tạo cơ bản trong trường sư phạm. - Giai đoạn bồi dưỡng, hoàn thiện trình độ nghề nghiệp sau đào tạo. Giai đoạn hướng nghiệp sư phạm: Hướng nghiệp là hướng dẫn con người chọn một nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích của mình khi là học sinh phổ thông trung học. Cả thực tiễn và lý luận không ai phủ nhận vai trò quan trọng của giáo viên trong xã hội, nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên rất ít học sinh sau khi tốt nghiệp phổ thông trung học thật sự có nguyện vọng làm nghề dạy học. Vì thế công tác hướng nghiệp sư phạm thật sự cần thiết và công tác này cần được đổi mới bằng việc làm cho mọi người hiểu biết cơ bản về nghề dạy học; những hiểu biết về nhu cầu của xã hội, của địa phương đối với lao động sư phạm; những hiểu biết về đặc điểm nhân cách cơ bản của giáo viên. Những biện pháp để cơ quan quản lý giáo dục trong tỉnh cung cấp những hiểu biết đó là: Thông báo về ý nghĩa vai trò, các điều kiện lao động, các yêu cầu, nhu cầu của xã hội, của tỉnh đối với phát triển nghề dạy học, các phương thức và con đường tiếp cận dạy học, những đòi hỏi về phẩm chất tâm sinh lý cá nhân, các chính sách đầu tư, giải quyết việc làm, các phương thức và con đường tiếp cận nghề dạy học. Tuyên truyền nghề nghiệp qua các phương tiện thông tin đại chúng qua gia đình, nhà trường, bè bạn, các tổ chức, toàn thể xã hội nhằm hình thành thái độ tự giác đối với việc lựa chọn nghề dạy học. Tư vấn nghề nghiệp với hệ thống chỉ dẫn thực tế nhằm bồi dưỡng lý tưởng, tình cảm, hứng thú nghề nghiệp, giúp học sinh tự mình quyết định và lựa chọn nghề thích hợp với những đặc điểm nhân cách cá nhân của mình. Giai đoạn đào tạo cơ bản trong trường sư phạm. Hiện nay, việc đào tạo đội ngũ giáo viên THPT, trong đó có giáo viên THPT tỉnh Bến Tre chủ yếu do các trường đại học sư phạm đảm nhiệm. Những kiến thức được trang bị, được học trong trường sư phạm là nền móng vững chắc để sau khi tốt nghiệp ra trường những giáo viên trẻ tự tin bước vào nghề và thực hiện vai trò của mình. Vì thế, đào tạo cơ bản trong các trường sư phạm được coi là then chốt, quyết định chất lượng của đội ngũ giáo viên sau này. Do đó, việc củng cố và đổi mới công tác đào tạo cơ bản trong hệ thống trường đại học sư phạm là hết sức cần thiết. Trước hết, đầu tư cho các trường đại học sư phạm về cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, chính sách ưu đãi đối với giáo viên và sinh viên. Thứ hai, đổi mới nhận thức và thực hiện tốt vấn đề kết hợp giữa đủ về số lượng với cơ cấu hợp lý và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Cần có qui hoạch đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy cho từng trường, từng ngành học trong trường đại học sư phạm. Chú trọng đào tạo trình độ trên đại học cho đội ngũ giảng dạy. Sở Giáo dục và đào tạo Bến Tre cũng đã xây dựng kế hoạch số 02/KH-SGD&ĐT về việc đào tạo giáo viên có trình độ thạc sĩ từ nay đến năm 2010 là 210 thầy cô giáo, kế hoạch này đã được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và đã tiến hành giao chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng tại đơn vị có phân kỳ theo từng năm. Tổ chức những thông tin khoa học trong trường sư phạm để đội ngũ này được tiếp cận những vấn đề khoa học mới nhất. Tuyển chọn những sinh viên ưu tú trong các khóa đào tạo để tạo nguồn bổ sung vào đội ngũ cán bộ giảng dạy ở các trường đại học sư phạm. Thứ ba, đổi mới nội dung, chương trình cập nhật kiến thức chuyên ngành, có cơ chế chính sách trong biên soạn chương trình, viết và xuất bản giáo trình theo nội dung đã được hiện đại hóa và thường xuyên cập nhật; đảm bảo đủ giáo trình, tài liệu học tập cho sinh viên. Đối với phương pháp giảng dạy và học tập theo hướng tạo điều kiện để tăng cường tính chủ động của sinh viên, biến quá trình đào tạo thành quá trình “tự đào tạo”. Đổi mới phương pháp đánh giá theo hướng đề cao tính sáng tạo của sinh viên, đánh giá không chỉ đơn thuần dựa vào kết quả của các môn học mà phải dựa cả vào kết quả rèn luyện các mặt đạo đức, tư cách của sinh viên. Thứ tư, đổi mới giáo dục năng lực sư phạm cho sinh viên: Trường đại học sư phạm có vai trò quyết định trong việc tổ chức, điều khiển, hướng dẫn kiểm tra, đánh giá quá trình hình thành và phát triển nhân cách của các giáo viên tương lai thông qua các hình thức học tập, rèn luyện nghiệp vụ; xu hướng sư phạm sẽ dần trở thành tình cảm, hứng thú, lý tưởng nghề nghiệp. Những tình cảm ấy cần phải được xây dựng ngay từ khi các giáo viên tương lai mới bước chân vào trường thông qua các môn khoa học cơ bản và các môn khoa học giáo dục, qua các hoạt động thực tập sư phạm, sinh hoạt tập thể, sinh hoạt truyền thống,… Tăng cường giáo dục thế giới quan Mác-Lênin, tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, tính tích cực công dân, tinh thần lao động vì xã hội, tinh thần tương trợ tập thể, tinh thần đấu tranh không khoan nhượng chống các hiện tượng tiêu cực trong nhà trường và ngoài xã hội. Làm cho những giáo viên tương lai biết tôn trọng và bảo vệ những giá trị chân chính, cố gắng tự giác rèn luyện để trở thành giáo viên, để dạy chữ, dạy người; xây dựng một môi trường giáo dục tích cực. Đổi mới nội dung bồi dưỡng, hoàn thiện trình độ nghề nghiệp sau đào tạo: Những năm được đào tạo ở trường đại học sư phạm thực sự rất quan trọng nhưng cũng chỉ có thể cung cấp cho giáo viên vốn chuyên môn nghiệp vụ rất cơ bản. Vì vậy, việc đội ngũ giáo viên cần được đào tạo tiếp bằng con đường bồi dưỡng thường xuyên là yêu cầu khách quan giúp họ nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cập nhật tri thức, đáp ứng yêu cầu đổi mới của xã hội, chuẩn hoá đội ngũ theo tinh thần học tập suốt đời, dưới nhiều hình thức học tập trung, học tại chức, học từ xa… Để công tác này đạt hiệu quả cần áp dụng tốt nguyên tắc chuyên môn hóa trong bồi dưỡng nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các nhóm đối tượng, tránh kiểu bồi dưỡng đồng loạt, ồ ạt, bình quân. Vận dụng nhiều hình thức bồi dưỡng phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của giáo viên, đặc biệt là những giáo viên ở những vùng khó khăn. Chú trọng việc bồi dưỡng phẩm chất chính trị, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và khả năng tiếp cận công nghệ thông tin, sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học hiện đại để có thể đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập. 3.2.2.2. Đổi mới công tác bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên Việc bố trí sử dụng đối với đội ngũ giáo viên có ảnh hưởng to lớn đến việc phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên. Nếu bố trí, sử dụng hợp lý đúng khả năng chuyên môn và điều kiện thuận lợi để đội ngũ giáo viên đạt hiệu quả lao động cao và phát huy được tính tích cực, sáng tạo trong quá trình thực hiện vai trò của mình. Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã ghi rõ: “Sử dụng giáo viên đúng năng lực, đãi ngộ đúng công sức và tài năng với tinh thần ưu đãi và tích cực nghề dạy học” [7, tr.109-110]. Hiện nay, giáo viên ở các bậc học còn rất thiếu, nhưng để bảo đảm chất lượng giáo dục đào tạo và vì lợi ích lâu dài của sự nghiệp trồng người, Đảng ta kiên quyết yêu cầu: “Không bố trí người kém phẩm chất làm giáo viên, kể cả giáo viên hợp đồng” [7, tr.39]. Ở Bến Tre hiện nay sinh viên đã tốt nghiệp các trường đại học sư phạm nhưng chưa được bố trí công tác còn khá nhiều, trong đó có người phải dạy hợp đồng hoặc phải đến một số tỉnh lân cận để tìm trường dạy - phần lớn là ở dạng hợp đồng, số được vào biên chế còn khiêm tốn. Một trong những nguyên nhân đó là qui mô trường, lớp, học sinh và nhu cầu giáo viên giảm mạnh; việc đào tạo giáo viên các môn học không hợp lý nên nhiều trường trong tình trạng thừa giáo viên các môn văn, toán, lý, hóa nhưng lại thiếu giáo viên các môn giáo dục công dân, thể dục, giáo dục quốc phòng, công nghệ tin học… nguồn đào tạo từ các trường đại học sư phạm chưa đáp ứng kịp thời. Ở một số trường THPT tỉnh Bến Tre việc bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên chưa hợp lý: Một số giáo viên được bố trí không đúng với ngành nghề đào tạo và khả năng chuyên môn (giáo viên môn lịch sử dạy giáo dục công dân), việc bố trí sử dụng lực lượng lao động trí tuệ bất hợp lý và không đúng mục đích đã dẫn đến tình trạng lãng phí, kém hiệu quả trong đội ngũ giáo viên. Thực trạng đó cần khắc phục bằng những biện pháp sau đây: Các cấp quản lý giáo dục phải đổi mới sự đánh giá đúng về năng lực, phẩm chất của từng giáo viên, quan điểm đánh giá phải khách quan, toàn diện, khoa học, trung thực, dân chủ, hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của giáo viên, mà mình đánh gía và đặc biệt phải kiên quyết, dám nghỉ dám làm. Từng trường làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến học tập thông suốt tất cả các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến ngành giáo dục và đào tạo cho toàn thễ cán bộ viên chức của ngành. Đặc biệt phải tạo cho được sự nhận thức nhất quán sâu sắc về mục đích, ý nghĩa của việc sắp xếp bố trí đội ngũ giáo viên. Từng giáo viên đổi mới quan điểm và cách tự đánh giá, tự đề xuất hướng bố trí sắp xếp lại cho bản thân, đề xuất hướng giải quyết. Ban chỉ đạo sắp xếp, bố trí căn cứ danh sách báo cáo để kết luận phân loại lại và đề ra phương án giải quyết từng trường hợp cụ thể. Đối với môn thể dục thể thao: tuyển mới sử dụng giáo viên THCS có trình độ đại học sư phạm môn thể dục thể thao; đưa sinh viên có trình độ cao đẳng môn thể dục thể thao đi đào tạo đạt chuẩn. Đối với môn Giaó dục quốc phòng: Tuyển mới sinh viên có trình độ Cao đẳng sư phạm môn Thể dục thể thao đưa đi bồi dưỡng kiến thức giáo dục quốc phòng để giảng dạy môn Giáo dục quốc phòng ở trường THPT. Tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp Đại học sư phạm môn Lý, môn Sinh, bố trí chuyên trách chức danh thí nghiệm thiết bị. 3.2.2.3. Tạo lập hệ thống động lực cho việc nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong quá trình đổi mới giáo dục ở các trường trung học phổ thông Những yếu tố động lực được hình thành từ xã hội và trực tiếp gắn với con người là tổng hợp những nhu cầu, lợi ích, khát vọng chính đáng của con người. Hệ thống động lực để nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên bao gồm động lực lý tưởng - tình cảm, động lực trí tuệ - tinh thần, và động lực kinh tế - vật chất. Về động lực lý tưởng - tình cảm của đội ngũ giáo viên thể hiện ở tình yêu quê hương, yêu CNXH, ý thức và trách nhiệm công dân, tinh thần vì mọi người, lòng tự trọng và danh dự … Những giá trị này được kết lại trong khái niệm “Nhà Giáo”, “Thầy Giáo”. “Nhà sư phạm”, “Kỹ sư tâm hồn”, “Nhà mô phạm”. Vì vậy, Đảng, chính quyền và các cấp quản lý giáo dục tỉnh Bến Tre cần phát huy bồi dưỡng trang bị cho đội ngũ giáo viên THPT về thế giới quan Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng ta về giáo dục. Tích cực tuyên truyền và giáo dục truyền thống của quê hương “Đồng khởi”, nhất là thực hiện chủ trương của Tỉnh uỷ về cuộc "Đồng khởi mới" nhằm khơi dậy trong đội ngũ giáo viên niềm tự hào của quê hương Bến Tre. Về động lực trí tuệ - tinh thần của đội ngũ giáo viên là những nhu cầu nhận thức để khám phá, nắm bắt tiếp cận tri thức mới, mong muốn hoàn thiện trí tuệ, năng lực, khát vọng tự do sáng tạo và có nhu cầu được mọi người đánh gía đúng về mình. Vì vậy, các cấp ủy Đảng, Chính quyền và các cấp quản lý giáo dục tỉnh Bến Tre phải làm tốt công tác đào tạo, bố trí, sử dụng đội ngũ giáo viên có việc làm, đúng ngành chuyên môn. Khuyến khích và tạo điều kiện để đội ngũ giáo viên tiếp tục học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Động viên, khen thưởng kịp thời những giáo viên có thành tích cao, có sáng kiến hay, hiệu quả trong công tác giảng dạy và giáo dục. Về động viên kinh tế - vật chất của đội ngũ giáo viên bao gồm những nhu cầu lợi ích thiết thực cuộc sống của mỗi giáo viên. Có chính sách đãi ngộ hợp lý hơn, thể hiện đúng mức sự trọng dụng với lao động sáng tạo của đội ngũ giáo viên. Tạo điều kiện khuyến khích đội ngũ giáo viên có thu nhập chính đáng, đúng pháp luật, bằng năng lực, chất xám của chính bản thân và không hạn chế mức độ. Tạo điều kiện cao nhất để hỗ trợ giáo viên về chổ ở, nhà công vụ để giáo viên an tâm làm việc. Tỉnh Bến Tre hiện nay vẫn là tỉnh nghèo, song việc tạo lập hệ thống động lực để góp phần nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong các trường THPT cần được thực hiện tích cực theo tinh thần: “Coi trọng thầy giáo, có nghĩa là phải coi trọng sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, coi trọng hệ thống trường sư phạm. Coi trọng thầy giáo, cô giáo cũng có nghĩa là tìm mọi cách để cải thiện đời sống cho họ, để hôm nay họ có thể theo học ở trường sư phạm thì ngày mai ra trường họ có thể sống bằng nghề dạy học” [44, tr.6], “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”. 3.2.2.4. Tạo lập môi trường giáo dục, môi trường xã hội thuận lợi để đội ngũ giáo viên trung học phổ thông nâng cao vai trò của mình trong đổi mới giáo dục Trong các trường THPT tỉnh Bến Tre phải tạo được môi trường xã hội thuận lợi để tiến hành công tác giáo dục, làm cơ sở cho đội ngũ giáo viên thực hiện vai trò của mình. Môi trường xã hội đó là: - Phát huy dân chủ trong các trường THPT ở tỉnh Bến Tre cần: Ban lãnh đạo nhà trường phải biết lắng nghe ý kiến, tâm tư nguyện vọng của tập thể giáo viên, tiếp thu và điều chỉnh hợp lý những nhận xét và kiến nghị của giáo viên, coi giáo viên là nhân vật có vai trò quyết định đến chất lượng giáo dục trong nhà trường, là đối tượng cần có sự quan tâm và đầu tư thỏa đáng. Phải đảm bảo tính công bằng, công khai trong nhận xét, đánh giá giáo viên, đánh giá học sinh, trong kiểm tra thi cử, thi đua trong thực hiện nghiêm túc các nội qui, qui chế, các chế độ chính sách đối với giáo viên và học sinh. Thầy cô giáo không áp đặt suy nghĩ của mình đối với học sinh, khuyến khích học sinh tìm tòi sáng tạo và tiếp thu chân lý; học sinh kính trọng lễ phép, biết ơn và yêu qúi thầy cô giáo của mình. Mọi thành viên trong trường phải có ý thức tôn trọng kỹ luật, kỹ cương, giữ gìn của công, làm sạch đẹp môi trường, coi công việc nhà trường là công việc của mình, coi trường học là nhà mà mình gắn bó. - Đổi mới nhận thức và thực thi xã hội hóa giáo dục vào chiều sâu. Xã hội hoá giáo dục sẽ góp phần tạo ra một môi trường giáo dục rộng rãi, tác động giáo dục đúng hướng và thống nhất mục tiêu giáo dục. Bởi lẽ, công tác xã hội hóa giáo dục, ngoài việc đem lại sự đẩu tư về kinh phí cho tác động dạy và học trong nhà trường mà còn lôi cuốn được sự tham gia tích cực, sự giúp đỡ nhiệt tình, cộng đồng trách nhiệm của chính quyền các cấp, của cha mẹ học sinh, của các lực lượng xã hội khác tạo thành một liên kết chặt chẽ giữa các lực lượng cùng với đội ngũ giáo viên làm tốt nhiệm vụ trồng người và từ đó tất cả mọi người được đều được hưởng thành quả của giáo dục ngày càng nhiều hơn với chất lượng tốt hơn.. Các trường THPT tỉnh Bến Tre đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục bằng cách tạo mọi điều kiện cho các chủ động sáng tạo, tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Một mặt báo cáo tình hình của nhà trường về qui hoạch, nhu cầu phát triển, tình hình học tập và rèn luyện của học sinh, chất lượng các hoạt động học tập và giáo dục. Mặt khác, có sự phối hợp, giúp đỡ đầu tư của các cấp, các ngành, các đơn vị kinh tế, các tổ chức đoàn thể xây dựng mối quan hệ kết nghĩa với các doanh nghiệp, các đơn vị kinh tế, các nhà hảo tâm để thu hút các nguồn đầu tư cho việc xây dựng nhà trường. Nhưng phải quán triệt Nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 2 khoá VIII (1996) là: “Phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục đào tạo”. - Tăng cường các hoạt động nhằm ngăn chặn các tệ nạn xã hội, không cho chúng xâm hại vào trường học. Hiện nay, sự gia tăng các hiện tượng tiêu cực, các tệ nạn xã hội đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường giáo dục của nhà trường và tác động xấu với tư tưởng, ý thức, tình cảm, đạo đức, hành vi và lối sống của học sinh. Tệ nạn xã hội thực sự là nỗi lo lắng cho các cấp, các ngành, các bậc cha mẹ học sinh, là sự cản trở rất lớn cho quá trình thực hiện vai trò của đội ngũ giáo viên. Nhà trường các thầy cô giáo không thể tự đóng cửa cách ly công việc của mình với các hoạt động ngoài xã hội, ngăn chặn các tệ nạn xã hội bằng hành động pháp lý an toàn, bằng sự hợp lực của lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trừơng và khả năng tự vệ của học sinh. Các cơ quan chức năng, nhất là các ngành pháp luật của tỉnh cần tăng cường các hoạt động và biện pháp đủ mạnh để giái quyết các tệ nạn xã hội như: băng nhóm, hút, chích, mua bán ma tuý, tụ điểm mua bán băng đĩa xấu, sách báo, tranh ảnh có nội dung không phù hợp với học sinh, kiểm tra giám sát, kiểm soát chặt chẽ các quán, nhất là quán Karaoke, quán Internet và hết sức quan tâm đến việc giải quyết những tiêu cực trong ngành giáo dục. Các trường THPT cần có chương trình hoạt động, tổ chức sân chơi lành mạnh, bổ ích cho học sinh. Đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hoá, tuyên truyền nêu gương những cá nhân, tập thể có hành vi, việc làm, xử sự có văn hoá. Có biện pháp, hiệu quả việc giải quyết việc làm cho thanh niên, nhất là số học sinh đã tốt nghiệp tú tài ; tư vấn, đào tạo nghề nhằm tạo động lực để thanh niên, học sinh phấn đấu học tập, tạo cơ hội, điều kiện xây dựng một lực lượng trẻ có năng lực, đạo đức phẩm chất tốt xây dựng phát triển quê hương. 3.2.3. Nhóm giải pháp nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện về trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm và nhân cách của đội ngũ giáo viên Bác Hồ nói: “Tất cả tiến bộ rất nhanh. Cán bộ và giáo viên cũng phải tiến bộ cho kịp thời đại thì mới làm được nhiệm vụ. Chớ tự kiêu, tự mãn, cho là giỏi rồi thì dừng lại, mà dừng lại là lùi bước, là lạc hậu, mình tự đào thải trước cho nên, phải cố gắng học tập để cải tạo mình, cải tạo tư tưởng của mình, cải tạo con em và giúp vào việc cải tạo xã hội”. Rõ ràng, giáo viên cũng phải thường xuyên được giáo dục. Họ không những là một người thầy mà còn là một học trò, họ cống hiến trí tuệ cho học sinh, cho nhân dân, đồng thời họ cũng phải học những gì tốt đẹp nhất trong nhân dân, trong đời sống, trong sự tiến bộ của khoa học, để rồi tiếp tục cống hiến nhiều hơn tốt hơn cho học sinh. Ở Bến Tre hiện nay, đội ngũ giáo viên các trường THPT trong việc tự học, tự rèn còn có phần hạn chế. Một bộ phận giáo viên ngại đi học, ít cập nhật kiến thức, sự chuyển biến về nhận thức còn chậm, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, thiếu cố gắng, rèn luyện… Khắc phục kịp thời và có giải pháp tốt nhất, hiệu quả nhất đó là số giáo viên này phải phấn đấu tích cực, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi kinh nghiệm, đổi mới phương pháp giảng dạy, nắm bắt thông tin. 3.2.3.1. Đội ngũ giáo viên tự học, tự rèn luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và nhân cách của một giáo viên Ý thức tự học tự rèn nâng cao khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, phải bảo đảm mỗi giáo viên là một tấm gương sáng cho học sinh noi theo là một yêu cầu đối với giáo viên trong quá trình thực hiện đổi mới giáo dục THPT. Thầy giáo, người thầy của nền giáo dục mới là phải có tinh thần sáng tạo, chủ động, dám đấu tranh với cái sai trái, cái lạc hậu lỗi thời, phải biết bảo vệ chân lý, đặt lợi ích của Đảng, của giai cấp, của dân tộc lên trên hết. Tránh tư tưởng ba phải, xuôi chiều, mù quáng tuân theo sách vỡ, chống chủ nghĩa cá nhân, công thần, địa vị. Hồ Chí Minh căn dặn: “phải gắn chính trị với chuyên môn, chính trị là linh hồn, chuyên môn là cái xác. Có chuyên môn mà không có chính trị thì chỉ còn cái xác không hồn. Chính trị là đức, chuyên môn là tài, có tài mà không có đức là hỏng. Đức phải có truớc tài. Trước hết phải dạy cho trẻ yêu Tổ quốc, yêu lao động, yêu đồng bào, yêu CNXH” [27, tr.492]. Vì vậy, dạy bộ môn nào, giáo viên phải có kiến thức chuyên sâu bộ môn đó. Phải có sự trung thực trong tri thức, không gian dối, không bóp méo sự thật, không lừa dối mình, đồng nghiệp của mình và mọi người khác. Do vậy, giáo viên có phẩm chất trong sáng, ngay thẳng, lời nói đi đôi với việc làm. Đây là điều cực kỳ quan trọng, thầy giáo phải dạy cho học trò của mình tránh xa những điều trái ngược mà chúng ta thường thấy một cách đau lòng trong hành vi của một số ít người tri thức, người làm khoa học ở nước ta. Lao động sư phạm là loại lao động đặc biệt vì nó tạo ra những sản phẩm đặc biệt là nhân cách học sinh; giáo viên giáo dục học sinh bằng chính nhân cách của mình… Cho nên việc xây dựng đội ngũ giáo viên có đủ chuẩn về nhân cách là vấn đề then chốt, quyết định nhất đến chất lượng giáo dục, bởi “nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục” [28, tr.184]. Uy tín của giáo viên chỉ có thể là kết quả của quá trình tu dưỡng văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ, hoàn thiện nhân cách; là sự kiên trì sáng tạo, tinh thần trách nhiệm của giáo viên; là từ niềm tin, sự say mê với nghề nghiệp. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “nghề thầy giáo là rất quan trọng, rất là vẻ vang”, rèn luyện nhân cách đội ngũ giáo viên cần: Thứ nhất: đội ngũ giáo viên cần củng cố niềm tin với sự nghiệp trồng người. Trong sự nghiệp đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo, hiện nay luôn đặt trước giáo viên những thách thức, cạm bẫy, đòi hỏi từng giáo viên phải biết tự mình phân tích, đánh giá, lựa chọn và tự quyết định. Nếu không có niềm tin vững chắc thì giáo viên không đủ tỉnh táo, không đủ bản lĩnh để đấu tranh, để chiến thắng, để những thử thách của xã hội, để tự khẳng định mình. Niềm tin đó sẽ là động lực để từng giáo viên tích cực học tập, rèn luyện, tu dưỡng để nâng cao trình độ chính trị, trình độ hiểu biết, các vấn đề của đất nước, địa phương từ tấm lòng yêu trẻ và tự chính lòng tự trọng của giáo viên. Thứ hai, tiếp tục hình thành, củng cố những tính cách, phẩm chất cần có của nghề dạy học, từng bước loại bỏ những thói quen tật xấu, là loại bỏ những tiêu cực, cản lối, những gì làm tổn hại đến uy tín giáo viên, nhà trường. Đó là cách thức tốt nhất để phấn đấu rèn luyện tính cách, phẩm chất nghề nghiệp đáp ứng yếu cầu ngày càng cao về chất lượng giáo dục. Thứ ba, nhân cách của giáo viên được phát triển liên tục trong lao động sư phạm một phần nhờ quan hệ qua lại thường xuyên liên tục và trực tiếp với đồng nghiệp, với các em học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng khác. Trong đó luôn luôn giữ mối quan hệ với cha mẹ học sinh, làm cho cha mẹ học sinh không những có lòng mong muốn con cái thành đạt mà còn có biện pháp tốt dạy dỗ con cái, cùng góp phần cho môi trường học tập được hoàn thiện. Việc xây dựng củng cố mối quan hệ lành mạnh, trong sáng với đồng nghiệp với học sinh và các lực lượng giáo dục khác trong xã hội sẽ giúp giáo viên không lẽ loi, không đơn độc khi thực hiện vai trò của mình. Thứ tư, mỗi giáo viên phải quan tâm đến vấn đề xây dựng tập thể học sinh, thông qua đó để hình thành nhân cách, để hoàn thành mục tiêu dạy học. Ngoài ra, tạo cho các em học sinh có niềm tin trong học tập, trong thi cử-nhất là học sinh lớp 12. Thầy, cô giáo kiên trì giảng dạy để học sinh hiểu được bài, làm được bài và thấy được sự tiến bộ trong từng bài kiểm tra. Giáo viên cần có đủ quyết tâm và nghị lực vượt qua những khó khăn, thiếu thốn của cuộc sống, không thể vì khó khăn đó mà làm bất kể công việc để kiếm tiền, không thể vì tiền mà coi nghề dạy học chỉ là phương tiện sống. Lương tâm và trách nhiệm kể cả sự hy sinh lợi ích vì học sinh khi cần thiết, là yếu tố đáng quí nhất của giáo viên, có nó thì sẽ có tất cả và giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của giáo dục và được xã hội tôn vinh. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Hỡi anh chị em làm khoa học ở nước ta! Hỡi anh chị em làm giáo dục ở nước ta! Hãy đoàn kết lại, đoàn kết một lòng, đoàn kết vì sự nghiệp lớn, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, lẽ sống của chúng ta” [14]. 3.2.3.2. Đội ngũ giáo viên phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học và phương pháp giáo dục cho học sinh Lý luận sư phạm đã khẳng định rằng, phương pháp dạy học phương pháp giáo dục vừa mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan. Nghĩa là phương pháp dạy học phải tùy thuộc vào nội dung dạy học và đối tượng học tập, được qui định bởi quan điểm, nhận thức tài nghệ của giáo viên là sử dụng phương pháp hướng dẫn, động viên, thuyết phục bằng tình cảm, giáo viên phải có khả năng hiểu biết nắm vững đặc điểm tâm lý của học sinh, phải yêu thương, tôn trọng, quí mến học sinh, tạo đuợc mối quan hệ nhân ái, giàu tình người giữa thầy và trò. Hồ Chí Minh cũng đã nói: “phải thương yêu học sinh như những người ruột thịt của mình”. Trong trường cần có dân chủ, đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận, ai có ý kiến gì đều thật thà phát biểu, điều chưa thông suốt thì hỏi, bàn cho thông suốt. Đây là quan điểm rất quan trọng trong việc lựa chọn phương pháp dạy học, phương pháp dạy học truyền thống nặng về lý thuyết, áp đặt, mất dân chủ đã khiến cho quan hệ thầy trò nặng nề, học sinh trở nên thụ động, sợ sệt, triệt tiêu sự hồn nhiên vốn có cùng với sự chủ động và sáng tạo cần phải có. Đội ngũ giáo viên các nhà quản lý giáo dục ở Bến Tre cần phải thấm nhuần quan điểm là hãy tập trung cao vào người học, lấy sự phát triển người học làm mục đích cho việc dạy học và trên cơ sở đó lựa chọn được phương pháp dạy học thích hợp mới tạo lập được không chỉ dân chủ, cởi mở giữa thầy và trò, trong đó học sinh cần được và phải được thực hiện cái quyền học tập theo một phương pháp đúng đắn: học - hỏi - hiểu - hành, được trao đổi tranh luận cùng thầy cùng bạn … có thể nói việc xây dựng mối quan hệ nhân văn, dân chủ giữa giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học là mục tiêu, cũng là bản chất nhân văn của phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên mối quan hệ dân chủ không chỉ có một chiều, càng không phải tự do vô tổ chức mà phải luôn luôn đi liền với kỷ cương, kỷ luật, dân chủ nhưng trò phải kính thầy. Đối với đội ngũ giáo viên, các trường PHTH tỉnh Bến Tre hiện nay, trước hết cần phải có phương pháp giáo dục đúng đắn mới chuyển hóa được nội dung giáo dục toàn diện và hài hòa ở thế hệ trẻ, từ đó mới hiện thực hóa được mục tiêu giáo dục. Một phương thức đúng đắn sẽ chỉ đạo hợp lý việc dạy và học của giáo viên và học sinh, nhằm làm cho học sinh hoạt động một cách tự giác, tích cực sáng tạo trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, thái độ và bồi dưỡng niềm tin trong nhân cách thế hệ trẻ. Đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực độc lập của học sinh, tránh lối truyền thụ một chiều, tiến tới dạy học theo năng lực, thực hiện đổi mới phương pháp cần định hướng vào việc tăng cường khả năng hoạt động độc lập cho người học. Thực hiện định hướng này, đội ngũ giáo viên Bến Tre cần thực hiện kết hợp phương pháp thuyết trình, giảng giải với phương pháp nêu vấn đề và đối thoại, giao cho học sinh tài liệu học tập, tài liệu tham khảo hướng dẫn học sinh tự nghiên cứu, tự đánh giá kết quả và cuối cùng do giáo viên nhận xét đánh giá; từng bước chuyển dần việc sử dụng phương pháp dạy học với mục đích trang bị kiến thức cho học sinh sang phương pháp dạy học nhằm hình thành các năng lực cần thiết cho học sinh ứng dụng công nghệ thông tin và các phương pháp dạy học hiện đại vào quá trình dạy học làm cho bài học sinh động, tạo sức thu hút, lôi cuốn học sinh, khâu kiểm tra, đánh giá kết quả đào tạo cần tăng cường tỷ lệ sử dụng hình thức thi vấn đáp hoặc thi trắc nghiệm và coi trọng việc đánh giá của học sinh. Việc kiểm tra đánh giá phải dựa trên nguyên tắc khách quan. Ngày nay trong bối cảnh giáo dục nước ta nói chung, ở tỉnh Bến Tre nói riêng đang đổi mới toàn diện và mạnh mẽ theo định hướng của Đảng nhằm khắc phục những yếu kém, bất cập, đặc biệt là khắc phục sự trì trệ, lạc hậu trong phương pháp dạy học, thì đội ngũ giáo viên tỉnh Bến Tre cần thấy rõ tính sư phạm, tính hiện đại mà không ngừng tự đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục thể hiện trong thực tế vai trò của giáo viên, người quyết định đến chất lượng của công tác giáo dục đào tạo. KẾT LUẬN Sau hơn 20 mươi năm đổi mới, thực hiện mục tiêu đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, giáo dục nước ta đã có những bước tiến rất quan trọng, xã hội nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của giáo dục, từ đó có trách nhiệm cao hơn đối với sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ. Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục có nhiều chuyển biến; chất lượng giáo dục được kiểm định khách quan hơn. Đại bộ phận giaó viên có phẩm chất đạo đức tốt, tận tụy với nghề nghiệp có ý thức vươn lên, có tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ của mình. Vì thế Nhà nước cần tiếp tục dành sự ưu tiên về nguồn ngân sách và con người cho giáo dục; song cũng đòi hỏi mọi cấp, mọi ngành trong đó nồng cốt là ngành giáo dục phải nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm, chủ động tích cực hơn, tự đổi mới để tạo ra bước ngoặc chuyển biến toàn diện và thực chất cho sự nghiệp giáo dục. Thời gian qua đã có những chuyển biến mạnh mẽ, nhưng chưa đạt kết quả mong muốn, chưa tương xứng vớu yêu cầu. Muốn nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trước hết lại bắt đầu từ việc đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng từng bậc học. Với chương trình và sách giáo khoa mới có nhiều ưu điểm, đã có cung ứng thiết bị giáo dục hiện đại, nhưng nếu trình độ và đạo đức nghề nghiệp của giáo viên không được nâng cao thì chính chủ thể của đổi mới sẽ trở thành rào cản đầu tiên, làm chậm tiến trình của ngành. Đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Bến Tre đã thông qua việc giảng dạy các môn học và hoạt động giáo dục khác để đào tạo các em học sinh THPT thành những con người phát triển toàn diện cả về tri thức, sức khỏe, đạo đức, thẩm mỹ và hướng nghiệp giúp các em có đủ yếu tố cần thiết để tham gia xây dựng quê hương đất nước. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, đội ngũ giáo viên còn bộc lộ nhiều yếu kém, chưa đồng bộ; chưa hợp lý; một bộ phận giáo viên năng lực còn hạn chế, thiếu cố gắng rèn luyện; phương pháp giáo dục chậm đổi mới. Từ đó hạn chế trong quá trình thực hiện vai trò của mình. Việc phân tích, đánh giá nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế đã cho thấy: Trong xu thế phát triển hiện nay cuả tỉnh và đất nước hơn lúc nào hết chúng ta cần phấn đấu thực hiện việc đổi mới sự nghiệp GD&ĐT để tạo ra một thế hệ giáo viên trẻ năng động, có cách dạy, cách học tác động sâu sắc đến học sinh THPT. Vì thế, vai trò của đội ngũ giáo viên trong qúa trình đổi mới giáo dục cần phải được phát huy và nâng cao hơn nữa. Bản thân mỗi giáo viên cần hiểu rõ việc nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thực hiện triệt để đổi mới phương pháp dạy học là điều kiện tốt nhất để nâng cao hiệu qủa giảng dạy, góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của ngườ giáo viên. Những vấn đề đang được đặt ra về vai trò của đội ngũ giáo viên THPT ở Bến Tre trong luận văn có căn cứ từ thực trạng thực hiện vai trò cũng như những yếu tố tác động đến quá trình đội ngũ giáo viên thực hiện vai trò của mình. Đđó là cơ sở khách quan để đề xuất những giải pháp mang tính định hướng nhằm góp phần nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên trong quá trình đổi mới giáo dục các trường THPT ở tỉnh Bến Tre trong thời gian tới. Mặt khác ba nhóm giải pháp được đề xuất còn căn cứ vào dựa trên 4 quan điểm chỉ đạo cơ bản như giáo dục toàn diện, giáo dục là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và nhân dân, phải kết hợp giáo dục với tự giáo dục và sự nêu gương của đội ngũ giáo viên. Nâng cao vai trò của đội ngũ giáo viên THPT trong quá trình đổi mới giáo dục là vấn đề hết sức mới mẻ, do đó luận văn chắc chắn còn nhiều hạn chế. Tác giả luận văn xin tiếp nhận những góp ý của các thầy cô, các nhà khoa học trong Hội đồng trước hết trong công tác thực tiễn của mình và có thể cả trong công tác nghiên cứu sau này. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Như Ất (2004), "Vai trò xã hội và chức năng của nhà giáo dưới ánh sáng tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh", Tạp chí Quản lý giáo dục, (79). 2. Nguyễn Thị Bình (1998), “Bài phát biểu tại Hội thảo nghiên cứu, phát triển tự học- tự đào tạo”, Tạp chí Nghiên cứu giáo dục, (2). 3. Bộ Giáo dục và Đào tạo ( ), Điều lệ trường Trung học ban hành kèm theo Quyết định số 23/QĐ-BGD&ĐT. 4. Nguyễn Hữu Chí (2008), "Một số vấn đề về phương pháp luận đánh giá chất lượng giáo dục", Tạp chí Tuyên giáo. 5. Nguyễn Hữu Chí (2008), "Về giải pháp khắc phục tình hình học sinh bỏ học", Tạp chí Tuyên giáo. 6. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 7. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 8. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ II BCHTW (khoá VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ VII BCHTW (khoá VIII), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, Hà Nội. 13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 14. Phạm Văn Đồng (1999), Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thành những người chiến sĩ cách mạng dũng cảm, thông minh, sáng tạo, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 15. Phạm Văn Đồng (1999), "Giáo dục quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc", Báo Sài Gòn-Giải phóng. 16. Lê Văn Giạng (2001), Những vấn đề lý luận cơ bản của khoa học giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 17. Phạm Minh Hạc (2001), Về phát triển toàn diện con người trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 18. Phạm Minh Hạc (2003), Về giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 19. Phạm Minh Hạc (2008), "Xã hội hoá giáo dục", Tạp chí Tuyên giáo. 20. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2007), Quán triệt, vận dụng quan điểm đại hội Đảng lần thứ X vào giảng dạy các môn lý luận chính trị, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Hà Nội. 21. C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin, I.V.Xtalin (1978), Về thanh niên, Nxb Sự thật, Hà Nội. 22. C.Mác - Ph.Ăngghen (1996), Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Hồ Chí Minh (1990), Về vấn đề giáo dục con người mới, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 24. Hồ Chí Minh (1999), Về đạo đức, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 25. Hồ Chí Minh (1995), Về xây dựng con người mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Hồ Chí Minh (2000),Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Hồ Chí Minh (2000),Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Hồ Chí Minh (2000),Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Hồ Chí Minh (2000)), Toàn tập, Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Hồ Chí Minh (1999), Toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 31. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 32. Bùi Thị Ngọc Lan (2006), “Điểm mới về chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ X”, Tạp chí thông tin Chủ nghĩa xã hội - lý luận và thực tiễn, (12). 33. Trần Viết Lưu (2008), "Một số vấn đề về giáo dục Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới", Tạp chí Tuyên giáo. 34. Nguyễn Tấn Phát (chủ biên) (2004), Giáo dục cách mạng ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 35. Trần Hồng Quân (1996), Kế hoạch phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 1996- 2000 và định hướng đến năm 2020, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước. 36. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1998), Luật giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 37. Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005), Luật giáo dục, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội. 38. Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Bến Tre (2006), Báo cáo tổng kết năm học 2005-2006 và triển khai nhiệm vụ năm học 2006-2007. 39. Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Bến Tre (2007), Báo cáo tổng kết năm học 2006-2007 và triển khai nhiệm vụ năm học 2007-2008. 40. Sở Giáo dục và đào tạo tỉnh Bến Tre (2008), Báo cáo tình hình giáo dục đào tạo tỉnh Bến Tre. 41. Đỗ Thị Thạch (chủ biên) (2004), Tìm hiểu môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 42. Trần Thành (chủ biên) (2007), Triết học với đổi mới và đổi mới nghiên cứu giảng dạy triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 43. Tỉnh ủy Bến Tre (2002), Chương trình hành động về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) “Phương hướng phát triển giáo dục-đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay đến năm 2005-đến năm 2010” theo Kết luật Hội nghị lần thứ 6 của BCHTW Đảng (khoá IX), 2002. 44. Tỉnh ủy Bến Tre (2004), Chương trình hành động thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW của Ban bí thư “về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục”. 45. Tỉnh ủy Bến Tre (2007), Báo cáo sơ kết 3 năm thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW của Ban bí thư “Về xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục”. 46. Tỉnh ủy Bến Tre (2008), Báo cáo sơ kết 6 năm thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 6 (khoá IX) “về giáo dục đào tạo". 47. Nguyễn Kim Trường (2004), Phương pháp lãnh đạo và quản lý nhà trường hiệu quả, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 48. K.Đ.Usinxki (1953), Tác phẩm sư phạm chọn lọc, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 49. Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre (2007), Kế hoạch sắp xếp đội ngũ cán bộ viên chức ngành học phổ thông công lập đến năm 2010. 50. Về chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1998), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 51. Viện Nghiên cứu và Phát triển giáo dục, Trung tâm Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực (2002), Từ chiến lược phát triển giáo dục đến chính sách phát triển nguồn nhân lực, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 52. Dương Vũ (2001), "Nhìn lại chặng đường xã hội hoá giáo dục ở nước ta", Tạp chí Cộng sản, (24). 53. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2001), Từ điển tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLUẬN VĂN- Phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông trong đổi mới giáo dục ở tỉnh Bến Tre hiện nay.pdf