Luận văn Quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường - Từ thực tiễn tỉnh Hải Dương

1. Môi trường và vấn đề bảo vệ môi trường đang là vấn đề cấp bách của nhân loại. Các hiện tượng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường và sự biến đổi khí hậu là những tác nhân gây cản trở sự phát triển bền vững của loài người, ảnh hưởng đến sự sống trên trái đất. Điều này buộc con người phải quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trường được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm và là một nội dung cơ bản trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương. Để thực hiện hiệu quả vấn đề bảo vệ môi trường, Nhà nước phải sử dụng tổng hợp các biện pháp như chính trị, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, giáo dục và pháp luật, trong đó biện pháp pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, pháp luật chi phối và điều chỉnh các quan hệ xã hội, đảm bảo cho mọi hành vi xử sự của con người không gây tác động xấu đến môi trường. 2. Đặt trong bối cảnh đó, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường - Từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” làm luận văn thạc sĩ. Luận văn đã đi vào nghiên cứu và làm rõ thêm những vấn đề về cơ sở lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường thông qua việc phân tích các khái niệm, đặc điểm về bảo vệ môi trường, quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường; bình luận về nội dung, vai trò và điều kiện đảm bảo quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường. Từ đó, luận văn đưa ra nhận định là quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường là một hoạt động thường xuyên, liên tục và mang tính lâu dài của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng để điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân trong khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trường tự nhiên vào mục đích kinh tế nhưng làm tổn thương, gây thiệt hại đối với môi trường. Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường bằng pháp luật, luận văn đi sâu đánh giá nội dung và thực trạng thi hành quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường của tỉnh Hải Dương trên các khía cạnh như90 kết quả đạt được, những hạn chế, khiếm khuyết và nhận diện nguyên nhân của những hạn chế, khiếm khuyết (nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan) trên cơ sở tham chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường do Quốc hội, Chính phủ, Bộ, ngành có liên quan và do UBND tỉnh Hải dương ban hành. Từ đó, luận văn đưa ra một số nhận định cơ bản sau: Một là, kết quả tổng quát của quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở tỉnh Hải Dương đạt được là công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này ngày càng đi vào nề nếp và từng bước nâng cao hiệu quả đã góp phần tích cực vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương trong thời gian qua, bảo đảm cho sự phát triển bền vững; Hai là, bên cạnh kết quả đạt được, quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường ở tỉnh Hải Dương còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém như đội ngũ thanh tra chuyên ngành về môi trường còn thiếu về số lượng, yếu về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành của tỉnh Hải Dương trong bảo vệ môi trường còn chưa chặt chẽ và hiệu quả; chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường chưa đủ sức răn đe, giáo dục v.v.

pdf101 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Ngày: 24/08/2021 | Lượt xem: 331 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường - Từ thực tiễn tỉnh Hải Dương, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
anh tra, kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng . - Sự phối hợp, điều hành công tác giữa các cấp, các ngành của tỉnh chƣa chặt chẽ, chƣa chủ động, thiếu qui chế, qui trình phối hợp. Chƣa có sự phối hợp chặt chẽ giữa thanh tra môi trƣờng với thanh tra các ngành công, nông nghiệp, giao thông, y tế và chính quyền sở tại dẫn đến khó khăn cho công tác thực hiện quyết định xử 71 phạt. Sự phối hợp giải quyết vi phạm giữa Sở Tài nguyên và Môi trƣờng và chính quyền địa phƣơng còn thiếu đồng bộ, chƣa kịp thời. Việc xử lý vi phạm chậm, không kiên quyết, có biểu hiện né tránh, đùn đẩy giữa chính quyền địa phƣơng và thanh tra môi trƣờng. Nhìn chung, việc quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng của tỉnh Hải Dƣơng trong những năm qua còn nhiều bất cập, hạn chế. Công tác tổ chức, triển khai quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng chƣa tƣơng xứng với yêu cầu thực tế. Song, cũng không thể phủ nhận, công tác thanh tra môi trƣờng đang vấp phải không ít khó khăn từ cơ chế, chính sách tới nguồn nhân lực và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, đơn vị. Vì vậy, thời gian tới, tỉnh Hải Dƣơng phải thực hiện nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng trên địa bàn tỉnh. 72 Chƣơng 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM, NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG Ở TỈNH HẢI DƯƠNG HIỆN NAY 3.1. QUAN ĐIỂM BẢO ĐẢM VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG Ở TỈNH HẢI DƢƠNG 3.1.1. Quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng phải dựa trên quan điểm phát triển bền vững Bảo vệ môi trƣờng là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong đƣờng lối, chủ trƣơng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dƣơng, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi định hƣớng phát triển của tỉnh. Quan điểm phát triển bền vững đƣợc khẳng định trong các Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh với tiêu chí phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững; tăng trƣởng kinh tế phải đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trƣờng. Đó là nhiệm vụ lâu dài, thƣờng xuyên, cần có quyết tâm cao, đòi hỏi tập trung các nguồn lực đầu tƣ của chính quyền và nhân dân địa phƣơng. Bên cạnh đó phải lấy phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm môi trƣờng, suy thoái môi trƣờng là chính, kết hợp từng bƣớc xử lý, khắc phục những điểm nóng về ô nhiễm môi trƣờng; đẩy mạnh xã hội hoá, phát huy nội lực kết hợp với tăng cƣờng quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng; ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến và phát huy các giải pháp truyền thống để giữ sạch môi trƣờng sống của từng hộ gia đình và cộng đồng dân cƣ trên địa bàn tỉnh. Để bảo đảm phát triển bền vững, tỉnh Hải Dƣơng cần xây dựng các chƣơng trình phát triển bền vững của từng địa phƣơng, khu vực cụ thể trên địa bàn tỉnh. Các chƣơng trình phải có tính định hƣớng thống nhất, kết hợp với điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù của từng địa phƣơng để đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả của phát triển. Dƣới góc độ pháp lý, để quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng vì 73 sự phát triển bền vững trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng vấn đề đặt ra là không chỉ thực hiện pháp luật về môi trƣờng mà còn thực hiện đồng thời cả pháp luật về kinh tế, văn hóa, xã hội 3.1.2. Quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng ở tỉnh Hải Dƣơng phải xuất phát từ đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội và thực trạng môi trƣờng của Tỉnh. Pháp luật về bảo vệ môi trƣờng đƣợc Nhà nƣớc xây dựng và ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình khai thác, sử dụng các thành phần của môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng của các nhân, tổ chức và mọi thành phần kinh tế trong xã hội. Tuy nhiên khi tổ chức thực hiện ở từng địa phƣơng, từng ngành cụ thể, để phát huy hiệu quả và đảm bảo tính hiệu lực của pháp luật đòi hỏi phải chú ý tới tính đặc thù của tình hình kinh tế - xã hội và môi trƣờng của địa phƣơng. Để áp dụng phù hợp với tình hình cụ thể tại tỉnh Hải Dƣơng thì lãnh đạo tỉnh cần phân tích các tiềm năng tự nhiên, nguồn nhân lực, lợi thế so sánh và những khó khăn đối với sự phát triển, phân tích thực trạng phát triển kinh tế - xã hội; trên cơ sở đó xác định mục tiêu, phƣơng hƣớng, nội dung phát triển và đề ra các giải pháp chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trƣờng. Tỉnh cũng cần chỉ đạo xây dựng chiến lƣợc, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, bền vững; đánh giá tác động môi trƣờng của các dự án phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn. Các dự án phát triển công nghiệp, xây dựng, năng lƣợng, giao thông vận tải, nông - lâm nghiệp, thủy sản; vấn đề dân số, dịch chuyển dân cƣ cộng với quá trình đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng luôn gây ra áp lực không nhỏ đối với môi trƣờng nhƣ khai thác quá mức các nguồn tài nguyên thiên nhiên, tạo ra khối lƣợng các loại chất thải vƣợt quá sự phân hủy của tự nhiên. Vì vậy, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng là phải phân tích, dự báo các chỉ số về ô nhiễm từ các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội gây ra làm căn cứ đánh giá, xem xét những tác nhân gây ô nhiễm môi trƣờng để đƣa ra chính sách quản lý phù hợp, hiệu quả; giảm thiểu tác động tiêu cực đến đời sống xã hội, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. 74 3.1.3. Quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng phải đi đôi với việc nâng cao ý thức và trách nhiệm bảo vệ môi trƣờng của mọi chủ thể Môi trƣờng sống bị suy thoái chủ yếu là do sự tác động của con ngƣời. Chính con ngƣời trong quá trình khai thác các yếu tố của môi trƣờng đã làm mất cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm. Vì vậy, muốn quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng, trƣớc hết phải nâng cao ý thức và trách nhiệm của mỗi chủ thể trong việc tuân thủ pháp luật về môi trƣờng; cụ thể: Thứ nhất, đối với lãnh đạo các cấp, ngành và chính quyền địa phƣơng cần nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trƣờng là trách nhiệm chung, trách nhiệm cấp thiết chứ không chỉ là trách nhiệm của riêng ngành tài nguyên và môi trƣờng. Lãnh đạo các cấp, ngành và chính quyền địa phƣơng phải quản lý chặt chẽ và chỉ đạo sát sao, quyết liệt các vấn đề về môi trƣờng, kịp thời phát hiện những vụ việc vi phạm. Chính quyền cấp cơ sở phải phát huy vai trò chủ động trong kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm về bảo vệ môi trƣờng. Ngoài ra, chính quyền cơ sở cũng cần phối hợp chặt chẽ, đồng bộ với các cấp, ngành, các cơ quan chức năng để quản lý và bảo vệ môi trƣờng một cách hiệu quả tại địa phƣơng mình. Thứ hai, đối với doanh nghiệp. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại đỏi hỏi phải sử dụng một lƣợng lớn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là nguyên liệu cho các ngành kinh tế, công nghiệp mũi nhọn. Việc khai thác, tận dụng tối đa mọi nguồn lực tài nguyên thiên nhiên sẵn có làm cho các chủ thể nói chung và doanh nghiệp nói riêng trên địa bàn tỉnh thu về nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng phải tuân thủ pháp luật về bảo vệ môi trƣờng bằng hình thức lập báo cáo ĐTM, KBM và đảm bảo thực hiện đúng các báo cáo đó v.v. Doanh nghiệp phải đầu tƣ xây dựng hệ thống xử lý chất thải (nƣớc thải, rác thải, khí thải) với công nghệ, thiết bị tiên tiến, hiện đại phù hợp với qui chuẩn qui định để không gây tác hại cho môi trƣờng, đảm bảo phát triển bền vững Thứ ba, đối với cộng đồng. Vai trò của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trƣờng là vô cùng to lớn. Cộng đồng (nhất là cộng đồng làng, bản) có mối liên hệ mật thiết với môi trƣờng với nhiều lợi ích ràng buộc. Sự thống nhất và ràng buộc 75 bởi lợi ích chung này là nền tảng quan trọng cho việc huy động cộng đồng tham gia vào bảo vệ môi trƣờng. Vì vậy, tăng cƣờng các biện pháp tuyên truyền, truyền thông, giáo dục về bảo vệ môi trƣờng , chú trọng những hành động tập thể tại cộng đồng về bảo vệ môi trƣờng cần đƣợc đặc biệt chú trọng thực hiện. Thứ tư, đối với ngƣời dân. Cần nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trƣờng của mỗi cá nhân, xây dựng thói quen tự giác bảo vệ môi trƣờng bằng hành động thiết thực bắt đầu từ những việc làm nhỏ nhất. Điển hình nhƣ không khai thác tài nguyên bừa bãi, không vứt rác làm mất vệ sinh nơi công cộng, không sử dụng các biện pháp mang tính hủy diệt trong khai thác thủy sản, đánh bắt, buôn bán và tiêu thụ động vật quý hiếm.Các hành động có ý thức của ngƣời dân có thể góp phần bảo vệ môi trƣờng nhƣng cũng có thể làm tổn hại đến môi trƣờng nếu thực hiện hành động thiếu ý thức, vì vậy phải thực hiện thƣờng xuyên, liên tục, kiên trì và lâu dài các biện pháp tuyên truyền, giáo dục để ngƣời dân nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của môi trƣờng. 3.1.4. Quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng phải đảm bảo tính tƣơng thích của pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trƣờng Ngày nay, đứng trƣớc xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa, một quốc gia không thể tồn tại và phát triển một cách biệt lập mà không có quan hệ với các quốc gia khác. Trong quá trình toàn cầu hóa, một hành động hay một quyết định của một quốc gia - ngay cả khi nó mang tính chất nội bộ - cũng tạo ra các hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp tác động, ảnh hƣởng đến quốc gia khác và cộng động quốc tế. Điều này nói lên quan hệ hợp tác quốc tế không chỉ là nhu cầu nội tại thiết thực của bản thân mỗi quốc gia nhằm thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế - xã hội, mà còn là trách nhiệm, nghĩa vụ của các quốc gia xét dƣới góc độ pháp luật quốc tế. Pháp luật về bảo vệ môi trƣờng có tầm quan trọng đặc biệt đối với con ngƣời cũng nhƣ sự phát triển của các quốc gia và cộng động quốc tế, “môi trƣờng là ngôi nhà chung của nhân loại”, không có giới hạn về không gian. Do đó, bảo vệ môi trƣờng là việc làm không của riêng ai. Hiện nay, Việt Nam đã tham gia trên 20 76 Công ƣớc quốc tế đa phƣơng về bảo vệ môi trƣờng và liên quan đến môi trƣờng. Chúng ta đang từng bƣớc nội luật hóa những nội dung của các công ƣớc quốc tế này vào pháp luật về bảo vệ môi trƣờng của Việt Nam trên tinh thần tôn trọng và thực hiện nghiêm túc các cam kết với cộng đồng quốc tế về môi trƣờng. Đồng thời, Việt Nam cần ƣu tiên mở rộng quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trƣờng trong phạm vi khu vực dƣới hình thức thiết lập các chƣơng trình, dự án hợp tác quốc tế đa phƣơng và song phƣơng. Việc bảo đảm tính tƣơng thích của pháp luật quốc gia với pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trƣờng không chỉ góp phần tạo thuận lợi cho công tác quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng ở tỉnh Hải Dƣơng mà còn thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trƣờng giữa địa phƣơng này với các đối tác nƣớc ngoài. Tỉnh Hải Dƣơng đã tham gia vào Dự án Môi trƣờng Việt Nam - Canada (VCEP). Dự án nhằm cung cấp và trợ giúp về kỹ thuật, đào tạo cán bộ và trang thiết bị văn phòng và quan trắc, phân tích môi trƣờng để nâng cao năng lực quản lý và bảo vệ môi trƣờng của địa phƣơng. Dự án đã tăng cƣờng kỹ năng và nhận thức cho các cán bộ làm công tác quản lý môi trƣờng trên địa bàn tỉnh cũng nhƣ đƣa ra một số chƣơng trình hành ðộng cụ thể nhý chýõng trình về sản xuất sạch hơn tại các cơ sở công nghiệp, chƣơng trình quản lý ô nhiễm công nghiệp tỉnh Hải Dƣơng; ... 3.2. GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM ĐẢM BẢO VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC BẰNG PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG Ở TỈNH HẢI DƢƠNG HIỆN NAY Từ nghiên cứu lý luận quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng, đánh giá thực trạng quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng ở tỉnh Hải Dƣơng đƣợc đề cập tại Chƣơng 1 và Chƣơng 2, tác giả luận văn mạnh dạn đƣa ra một số giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng tại tỉnh Hải Dƣơng trong thời gian tới. 3.2.1. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng 3.2.1.1. Đối với lĩnh vực pháp luật về bảo vệ môi trường Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trƣờng. Hiện nay, tiêu chuẩn môi trƣờng đối với chất thải, đặc biệt là nƣớc thải và khí thải chỉ áp dụng cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh với quy mô 77 lớn mà không phù hợp với các cơ sở sản xuất, kinh doanh với quy mô nhỏ và quy mô hộ gia đình trong các làng nghề truyền thống hoặc nằm xen kẽ trong khu dân cƣ. Chính vì vậy, việc thanh tra, kiểm tra cũng nhƣ xác định mức độ ô nhiễm đối với các đối tƣợng này hầu nhƣ chƣa thể triển khai. Vấn đề này vẫn tiếp tục tồn tại trong quy định của Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014. Vì vậy, theo tác giả cần bổ sung các quy định về tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trƣờng áp dụng cho khu vực nông thôn kết hợp với việc quản lý, xử lý chất thải (nƣớc thải, chất thải rắn) của các cơ sở sản xuất - kinh doanh vừa và nhỏ; việc phân định trách nhiệm và phân cấp trong quản lý môi trƣờng nông thôn; vấn đề thu phí và lệ phí trong quản lý chất thải nông nghiệp, làng nghề;... Thứ hai, cần hoàn thiện các quy định về ĐTM. Bổ sung quy định nhằm xác định rõ trách nhiệm của các thành viên trong Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM, góp phần tăng cƣờng chất lƣợng công tác thẩm định báo cáo ĐTM. Bên cạnh đó, cần qui định về việc lấy ý kiến nhân dân, cộng đồng dân cƣ nơi có dự án về báo cáo ĐTM theo hƣớng đảm bảo sự tham gia thực chất và có hiệu quả của ngƣời dân vào quá trình này. Sau khi báo cáo ĐTM đƣợc phê duyệt cần phải công khai hóa với mục đích đảm bảo sự tham gia của ngƣời dân vào quá trình giám sát thực hiện các báo cáo ĐTM đó. Do hiện nay nhiều báo cáo ĐMT đƣợc coi nhƣ một thủ tục nhằm hợp thức hóa quá trình thẩm định và phê duyệt các dự án và các hoạt động đầu tƣ; nên việc thẩm định các báo cáo ĐMT phải hết sức chuyên nghiệp, có sự tham gia của cán bộ quản lý chuyên môn về môi trƣờng và các nhà khoa học, các chuyên gia trong lĩnh vực môi trƣờng để đảm bảo tính chính xác, ngăn ngừa những tác động xấu đến môi trƣờng trong tƣơng lai. Bên cạnh đó cũng nên qui định rõ những trƣờng hợp cụ thể nào thì một cá nhân không đƣợc quyền tham gia Hội đồng thẩm định để đảm bảo tính khách quan, khoa học của hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM. Thứ ba, cần có văn bản hƣớng dẫn cụ thể vấn đề công khai hóa thông tin theo Điều 131 Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014. Để thực hiện qui định về công khai hóa thông tin, nhiều nội dung cần phải đƣợc hƣớng dẫn cụ thể nhƣ phân loại 78 các thông tin xem thông tin nào đƣợc tiếp cận công khai, thông tin nào cần đảm bảo bí mật; qui định về mức độ công khai thông tin trên website, công báo, cổng thông tin điện tử v.v để doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu đƣợc tiếp cận thuận tiện, dễ dàng; quy định rõ những loại tài liệu, thông tin lƣu trữ nào chỉ đƣợc tiếp cận hạn chế. Bên cạnh đó, Nhà nƣớc cũng cần quy định cụ thể các biện pháp chế tài xử lý đủ sức giáo dục, răn đe đối với các chủ thể có hành vi không thực hiện nghĩa vụ công khai hóa các thông tin về môi trƣờng mà pháp luật về bảo vệ môi trƣờng đã quy định. Thứ tư, về vấn đề cung cấp thông tin. Trong bối cảnh lực lƣợng cán bộ chuyên trách quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng ở Việt Nam còn hạn chế cả về số lƣợng và chất lƣợng thì việc huy động sự tham gia rộng rãi, đông đảo của ngƣời dân và các tổ chức xã hội vào quá trình quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng là điều cấp thiết. Để huy động hiệu quả nguồn lực giám sát từ cộng đồng xã hội, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội thì Nhà nƣớc cần xây dựng cơ chế và quy định hƣớng dẫn cụ thể, rõ ràng việc cung cấp thông tin, tiếp nhận và phản hồi giữa cơ quan quản lý nhà nƣớc với doanh nghiệp và ngƣời dân trong vấn đề bảo vệ môi trƣờng. 3.2.1.2. Đối với lĩnh vực pháp luật hình sự liên quan đến vấn đề môi trường Thứ nhất, cần thể chế hóa trách nhiệm hình sự của pháp nhân đối với hành vi gây thiệt hại với môi trƣờng. Trong Bộ luật hình sự năm 1999 chƣa quy định về vấn đề này. Đây là một khiếm khuyết của pháp luật hình sự. Bởi lẽ, trên thực tế, phần lớn những vụ việc vi phạm môi trƣờng nghiêm trọng đƣợc phát hiện trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng nhƣ Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài Tung Kuang huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dƣơng (2010), Công ty Xuất nhập khẩu khoáng sản Việt Nam ở thị trấn Phú Thứ, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dƣơng (2013) xả nƣớc thải có chƣa chất độc hại ra nguồn nƣớc công cộng đều do các pháp nhân thực hiện. Vì vậy, nếu quy định trách nhiệm cho ngƣời đứng đầu hoặc ngƣời thực hiện hành vi theo yêu cầu của cấp trên là chƣa thực sự hợp lý và công bằng. Việc quy định trách nhiệm hình sự của pháp nhân sẽ phần nào giúp giải quyết những vƣớng mắc hiện nay về chủ thể chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm môi trƣờng. Để khắc phục 79 hạn chế này, Bộ luật hình sự năm 2015 đã bổ sung quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân. Tuy nhiên, Bộ luật này bị phát hiện các lỗi sai sót nên Quốc hội khóa XIII đã ra nghị quyết về lùi thời hạn có hiệu lực thi hành (sau 01 năm kể từ ngày 01/10/2017) để sửa chữa nâng cao chất lƣợng về nội dung các quy định. Thứ hai, việc chứng minh yếu tố gây hậu quả trong tội phạm về môi trƣờng là khó khăn và phải mất một thời gian dài. Để phòng chống có hiệu quả các loại tội phạm về môi trƣờng, tác giả luận văn đề nghị trong tất cả các điều luật của Bộ luật hình sự quy định tội phạm về môi trƣờng xây dựng theo cấu thành hình thức, ngƣời phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng nguy hiểm cho xã hội (xả nƣớc thải, khí thải, chất thải rắn thông thƣờng, chất thải nguy hại, phát tán bức xạ) ở mức độ nghiêm trọng là đủ yếu tố cấu thành tội phạm (cấu thành cơ bản), không cần yếu tố gây hậu quả. Việc gây hậu quả “nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng” nên quy định trong các cấu thành tăng nặng của từng điều luật. Đồng thời, các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cần ban hành văn bản hƣớng dẫn, định lƣợng cụ thể cho từng loại hình vi phạm để phân biệt rõ nhƣ thế nào là “nghiêm trọng”, “rất nghiêm trọng”, và “đặc biệt nghiêm trọng” nhằm tạo thuận lợi cho công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về môi trƣờng đạt hiệu quả. Thứ ba, Nhà nƣớc cần xem xét, nghiên cứu sửa đổi hình phạt đối với các tội phạm về môi trƣờng, theo hƣớng tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hình phạt hiện hành đối với các tội phạm về môi trƣờng còn quá nhẹ nên chƣa đủ tác dụng răn đe, phòng chống tội phạm. Trong khi đó, hậu quả của vi phạm môi trƣờng rất nguy hiểm và nặng nề, không chỉ ảnh hƣởng đến môi trƣờng sống trƣớc mắt mà còn phát tán, lƣu trữ, tác động trong suốt một thời gian dài sau đó. Do đó, trong thời gian tới việc sửa đổi, bổ sung theo hƣớng tăng nặng hình phạt đối với các tội phạm về môi trƣờng là rất cần thiết. 3.2.1.3. Đối với lĩnh vực pháp luật dân sự liên quan đến vấn đề môi trường Thứ nhất, cần xây dựng cơ chế bồi thƣờng thiệt hại đặc thù cho lĩnh vực môi trƣờng. Đối với bồi thƣờng thiệt hại về tài sản, cần hoàn thiện cơ chế trung gian để hỗ 80 trợ ngƣời bị thiệt hại trong đàm phán và thoả thuận đền bù. Ngoài ra, các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cần bổ sung quy định về ghi nhận kết quả thỏa thuận về bồi thƣờng thiệt hại về môi trƣờng đạt đƣợc làm căn cứ cho việc thực hiện và cƣỡng chế khi cần thiết. Đối với bồi thƣờng thiệt hại về sức khỏe do hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng gây ra, Việt Nam nên nghiên sử dụng phƣơng pháp dịch tễ học để chứng minh cho nguyên nhân thiệt hại thay cho việc chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng và thiệt hại về sức khỏe do hành vi này gây ra cho con ngƣời. Ngoài ra, Nhà nƣớc nên nghiên cứu áp dụng cơ chế bảo hiểm về môi trƣờng để đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc bồi thƣờng thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng gây ra. Thứ hai, cần điều chỉnh quy định về chủ thể có trách nhiệm xác định thiệt hại về môi trƣờng. Theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự, ngƣời yêu cầu bồi thƣờng thiệt hại có trách nhiệm cung cấp các căn cứ và chứng minh tính hợp pháp của yêu cầu bồi thƣờng. Với đặc thù của lĩnh vực môi trƣờng, việc xác định thiệt hại thƣờng rất phức tạp và yêu cầu chi phí lớn, vƣợt quá khả năng tài chính của ngƣời bị thiệt hại. Cơ quan quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng nên đóng vai trò là chủ thể có trách nhiệm xác định thiệt hại chung về môi trƣờng làm cơ sở cho các cá nhân và tổ chức trong việc xác định thiệt hại của mình do hành vi gây ô nhiễm môi trƣờng, sự cố môi trƣờng gây ra. 3.2.1.4. Đối với lĩnh vực xây dựng và hoàn thiện văn bản về quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường tại tỉnh Hải Dương Thứ nhất, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản về quản lý nhà nƣớc đối với việc bảo vệ môi trƣờng nhƣ ban hành văn bản hƣớng dẫn thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trƣờng. Đồng thời, các cơ quan chức năng của tỉnh tập trung kiểm tra, rà soát các văn bản pháp luật có liên quan về lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng đang có hiệu lực thi hành để phát hiện những mâu thuẫn, bất cập và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ các văn bản này bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ, phù hợp các quy định của Luật bảo vệ môi trƣờng năm 2014. Thứ hai, cần có văn bản qui định rõ trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn trƣớc UBND tỉnh trong việc bảo vệ môi trƣờng đối với lĩnh vực mình phụ trách. 81 Qui định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong công tác quản lý và bảo vệ môi trƣờng; bao gồm trách nhiệm trong công tác quản lý môi trƣờng, trong công tác bảo vệ môi trƣờng và trong phối hợp với các cơ quan, ban, ngành khác để thực hiện quản lý môi trƣờng. Quy định rõ chế tài đối với các Sở, ngành, các cấp để xảy ra các vấn đề môi trƣờng nghiêm trọng do không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trƣờng hoặc vi phạm các quy định về bảo vệ môi trƣờng trong phê duyệt, cấp phép các dự án đầu tƣ. 3.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách về bảo vệ môi trƣờng 3.2.2.1. Giải pháp về chính sách phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường Thứ nhất, thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế theo hƣớng ƣu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực ít ô nhiễm môi trƣờng, tiết kiệm và sử dụng hiệu quả tài nguyên. Ƣu tiên việc tiết kiệm và hiệu quả trong phát triển kinh tế. Nâng cao vị trí quan trọng của việc tiết kiệm tài nguyên trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên. Tiết kiệm năng lƣợng, nƣớc, nguyên vật liệu thông qua việc khuyến khích các cơ sở thực hiện áp dụng triệt để sản xuất sạch hơn trong hoạt động sản xuất - kinh doanh (cần xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ thỏa đáng cho các cơ sở). Hƣớng tới nền kinh tế xanh, đảm bảo phúc lợi cao nhất, đạt mục tiêu công bằng về mặt xã hội và hạn chế tối đa những rủi ro cho môi trƣờng và hệ sinh thái. Xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tƣ thu hút các dự án có hàm lƣợng công nghệ cao, công nghệ sạch, không tiếp nhận các dự án có công nghệ lạc hậu, một số ngành nhậy cảm không thân thiện với môi trƣờng nhƣ tái chế phế liệu, mạ cơ khí, luyện kim, giặt nhuộm, sản xuất giấy,... Thứ hai, khuyến khích áp dụng mô hình quản lý môi trƣờng theo tiêu chuẩn ISO 14000, sản xuất sạch hơn, các mô hình quản lý môi trƣờng tiên tiến trong sản xuất, kinh doanh. Thứ ba, thực hiện lộ trình chuyển đổi các làng nghề sang mô hình khu, cụm công nghiệp làng nghề hợp lý có hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trƣờng. Đƣa công nghệ mới, tiên tiến vào các làng nghề, đặc biệt là công nghệ thân 82 thiện với môi trƣờng; hình thành các tổ chức, đơn vị cung cấp dịch vụ xử lý môi trƣờng trong các làng nghề. Thành lập các tổ chức tự quản về bảo vệ môi trƣờng trong các làng nghề và ban hành các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ môi trƣờng, đóng góp thuế, phí, tài chính cho việc xử lý, khắc phục ô nhiễm môi trƣờng, cải thiện môi trƣờng. Thứ tư, tiếp tục quy hoạch, xử lý tình trạng bức xúc về rác thải ở khu vực nông thôn hiện nay; đẩy mạnh phong trào giữ gìn vệ sinh hộ gia đình, đƣờng làng, ngõ xóm; có giải pháp tích cực khắc phục ô nhiễm môi trƣờng do hoạt động chăn nuôi ở nông thôn gây ra. Tập trung xây dựng các công trình bảo vệ môi trƣờng nông thôn nhƣ: thu gom, xử lý rác thải; hệ thống tiêu, thoát nƣớc; nghĩa trang; ao hồ sinh thái; thúc đẩy mạnh mẽ phong trào trồng cây xanh; lồng ghép có hiệu quả tiêu chí bảo vệ môi trƣờng vào Chƣơng trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Thứ năm, tuyên truyền, vận động kết hợp với áp dụng các công cụ kinh tế nhằm hình thành thói quen phân loại chất thải rắn, rác thải tại nguồn trong gia đình, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, công sở và khu vực công cộng. Thúc đẩy xã hội hóa, hình thành mạng lƣới các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, hợp tác xã thu gom, vận chuyển chất thải rắn, liên kết trong mạng lƣới với các cơ sở tái chế, các bãi chôn lấp. 3.2.2.2. Giải pháp về chính sách cải tạo, phục hồi môi trường các khu vực đã bị ô nhiễm, suy thoái; đẩy mạnh cung cấp nước sạch và dịch vụ vệ sinh môi trường Thứ nhất, tập trung bảo vệ, duy trì, nâng cấp, các hồ, ao, kênh, mƣơng, đoạn sông trong đô thị, khu dân cƣ; đẩy nhanh tiến độ kè bờ, xác định ranh giới diện tích các ao, hồ, kênh, mƣơng, đoạn sông trong các đô thị, khu dân cƣ, chấm dứt tình trạng lấn chiếm, san lấp trái phép. Thực hiện các chƣơng trình, dự án cải tạo, phục hồi hồ, ao, kênh, mƣơng, đoạn sông trong các đô thị, khu dân cƣ. Thứ hai, thực hiện nghiêm các yêu cầu về bố trí đất cho công viên, cây xanh, không gian thoáng trong việc thực hiện quy hoạch phát triển, chỉnh trang đô thị; tăng cƣờng kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chỉ tiêu này đối với các dự án xây dựng, chỉnh trang đô thị, khu dân cƣ; kiên quyết xử lý các trƣờng hợp vi phạm. 83 Thứ ba, thúc đẩy hoạt động tái sử dụng, tái chế chất thải. Thiết lập hệ thống thu gom và xử lý chất thải tập trung theo cụm huyện. Đẩy nhanh tiến độ xử lý triệt để và kiểm soát chặt chẽ các cơ sở gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng. 3.2.2.3. Giải pháp về chính sách khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học Thứ nhất, khuyến khích áp dụng các biện pháp canh tác, sử dụng đất bền vững trong nông nghiệp, hạn chế sử dụng hóa chất, phân bón vô cơ trong sản xuất nông nghiệp. Thứ hai, kiểm soát chặt chẽ các cơ sở khai thác nƣớc mặt, nƣớc ngầm, đặc biệt là vào mùa khô. Xây dựng các chƣơng trình, dự án đầu tƣ phục hồi, phát triển các hệ sinh thái, loài sinh vật trong các khu bảo tồn thiên nhiên. Khai thác các giá trị của khu bảo tồn, kết hợp bảo tồn với phát triển du lịch sinh thái và thực hiện chính sách chi trả dịch vụ môi trƣờng để tạo nguồn thu đầu tƣ nhằm phục hồi và phát triển đa dạng sinh học trong các khu bảo tồn thiên nhiên. 3.2.2.4. Giải pháp về chính sách xây dựng năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu, giảm nhẹ phát thải khí nhà kính Thứ nhất, điều tra, tổng kết các mô hình, kinh nghiệm tốt về phòng, chống, ứng phó với thiên tai, bổ sung hoàn thiện cho phù hợp với bối cảnh biến đổi khí hậu để phổ biến, nhân rộng. Thƣờng xuyên tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, sáng tác phim, ảnh... về biến đổi khí hậu, đƣa nội dung biến đổi khí hậu vào chƣơng trình sinh hoạt của các tổ chức, cộng đồng, đoàn thể. Thứ hai, thúc đẩy sử dụng năng lƣợng hiệu quả trong xây dựng, giao thông, chiếu sáng, thiết bị điện, sản xuất, dịch vụ; khuyến khích đầu tƣ thu hồi năng lƣợng, nhiệt trong sản xuất, tiêu dùng để tái sử dụng. 3.2.2.5. Giải pháp về chính sách tăng cường công tác xã hội hóa về bảo vệ môi trường Xây dựng và ban hành các văn bản hƣớng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về các chính sách ƣu đãi về đất đai, vốn, thuế, cho các hoạt động bảo vệ môi trƣờng cụ thể. Thƣờng xuyên tổ chức tuyên truyền tới các tổ chức, cá nhân về các chính sách 84 ƣu đãi của Nhà nƣớc đối với các hoạt động bảo vệ môi trƣờng. Cần có chính sách phù hợp để phát huy đƣợc vai trò của các tổ chức chính trị, xã hội, của cộng đồng trong các hoạt động bảo vệ môi trƣờng. Quy định và có hƣớng dẫn cụ thể đối với các hoạt động truyền thông môi trƣờng. Có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp và cộng đồng tham gia vào công tác bảo vệ môi trƣờng. 3.2.3. Nhóm giải pháp về tăng cƣờng tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trƣờng Để quản lý, tổ chức thực hiện hiệu quả pháp luật bảo vệ môi trƣờng vì mục tiêu phát triển bền vững cần tăng cƣờng hiệu lực và hiệu quả của hệ thống quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng từ cấp tỉnh đến cấp xã bằng các hình thức: Thứ nhất, tăng cƣờng tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trƣờng; không ngừng nâng cao chất lƣợng công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật, các điều ƣớc quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trƣờng, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động về bảo vệ môi trƣờng và biến đổi khí hậụ tới mọi tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động xây dựng lối sống thân thiện với môi trƣờng, tiêu dùng bền vững, hình thành ý thức bảo vệ môi trƣờng, giữ gìn vệ sinh trong nhân dân, tiến tới xây dựng một xã hội ít chất thải, hài hòa, thân thiện với môi trƣờng. Tuyên truyền sâu, rộng đến các cấp, các ngành và nhân dân về tầm quan trọng của công tác ứng phó với biến đổi khí hậu; phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai. Thƣờng xuyên tổ chức hội thảo, tập huấn, hƣớng dẫn các văn bản mới về bảo vệ môi trƣờng cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh và cộng đồng dân cƣ. Thứ hai, tăng cƣờng quan trắc môi trƣờng định kỳ và đột xuất nhằm phát hiện và xử lý kịp thời các cơ sở sản xuất - kinh doanh, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh; khắc phục, phòng tránh các sự cố có nguy cơ gây ô nhiễm môi trƣờng. Tập trung đầu tƣ trang thiết bị hiện đại cho Trung tâm Quan trắc và Phân tích môi trƣờng của Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh Hải Dƣơng để phục công tác quản lý nhà nƣớc về môi trƣờng. Thứ ba, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng và các quy định của UBND tỉnh, kiên quyết đình chỉ các cơ sở 85 gây ô nhiễm môi trƣờng nghiêm trọng kéo dài không đầu tƣ xử lý đạt quy chuẩn môi trƣờng cho phép theo tiến độ quy định của UBND tỉnh. Tăng nguồn nhân lực và kinh phí cho công tác thanh tra, kiểm tra (đặc biệt là kiểm tra việc thực hiện kết luận sau thanh tra). Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng. Tăng cƣờng sự phối hợp giữa các đơn vị phòng chống tội phạm về bảo vệ môi trƣờng thuộc lực lƣợng công an với các cơ quan quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng. 3.2.4. Nhóm giải pháp về kiện toàn và nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức thực thi chính sách, pháp luật trong quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng Cán bộ, công chức nhà nƣớc có một vai trò đặc biệt quan trọng trong bộ máy nhà nƣớc. Bộ máy nhà nƣớc hoạt động có hiệu quả hay không, chất lƣợng đến đâu đều do đội ngũ này quyết định. Mặc dù tỉnh Hải Dƣơng đã kiện toàn hệ thống tổ chức, cán bộ làm công tác bảo vệ môi trƣờng từ cấp thành phố đến cấp phƣờng, xã thị trấn. Nhƣng có thể nhận thấy đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trƣờng của tỉnh chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay. Với sự phức tạp và yêu cầu kỹ thuật chuyên môn nghiệp vụ cao trong công tác bảo vệ môi trƣờng, tình trạng môi trƣờng ngày càng xuống cấp nhƣ hiện nay, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trƣờng phải am hiểu pháp luật về bảo vệ môi trƣờng, có trình độ hiểu biết về khoa học - kỹ thuật, công nghệ môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng. Đồng thời, phải có phẩm chất và bản lĩnh chính trị, bản lĩnh nghề nghiệp vững vàng khi thực thi nhiệm vụ bảo vệ môi trƣờng và phải dám đối mặt với khó khăn thử thách. Tỉnh Hải Dƣơng cần củng cố và kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng; đặc biệt là củng cố và kiện toàn các cán bộ, công chức nhà nƣớc cấp huyện và cấp xã, chấm dứt việc bố trí cán bộ kiêm nhiệm công tác bảo vệ môi trƣờng cấp xã nhƣ hiện nay. Mặt khác, tỉnh cần tăng cƣờng các khóa tập huấn, bồi dƣỡng, cập nhật kiến thức ngắn hạn, sát hạch kiến thức, trình độ hiểu biết 86 pháp luật về bảo vệ môi trƣờng cho đôi ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc làm nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng các cấp. Muốn xây dựng pháp luật và tổ chức thực thi chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trƣờng đạt hiệu quả thì trƣớc hết đội ngũ cán bộ, công chức nhà nƣớc phải am hiểu pháp luật, nắm chắc pháp luật; đồng thời phải có trình độ chuyên môn về lĩnh vực tài nguyên và môi trƣờng. Bên cạnh đó, tỉnh Hải Dƣơng cần quan tâm đến công tác tuyển dụng, bổ nhiệm và quy hoạch cán bộ quản lý về bảo vệ môi trƣờng theo hƣớng công khai các điều kiện, tiêu chí tuyển dụng, đối tƣợng tuyển dụng, phải ƣu tiên tuyển dụng những cán bộ tuyển có bằng đại học chuyên ngành về lĩnh vực tài nguyên môi trƣờng. Công tác cán bộ có một vai trò to lớn trong tổ chức bộ máy nhà nƣớc, bởi lẽ, mọi chính sách, pháp luật đều do con ngƣời làm ra và tổ chức thực hiện. Nếu muốn có chính sách, pháp luật tốt, cũng nhƣ việc triển khai chính sách, pháp luật hiệu quả thì phải có con ngƣời có trình độ, năng lực hiểu biết chính sách, pháp luật và phải có phẩm chất đạo đức trong sáng. 3.2.5. Nhóm giải pháp về tăng cƣờng sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng trong công tác quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng ở Tỉnh Hải Dƣơng Tăng cƣờng sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với nhiệm vụ bảo vệ môi trƣờng nhằm bảo đảm cho chính quyền các cấp của tỉnh Hải Dƣơng thực hiện tốt các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng về chiến lƣợc bảo vệ môi trƣờng và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng ở tỉnh Hải Dƣơng. Để tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng, Đảng bộ tỉnh cần thực hiện các nhiệm vụ sau: Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến rộng rãi, thƣờng xuyên các quy định của pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cƣờng quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, qua đó nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức nhà nƣớc, viên chức nhà nƣớc trong Đảng bộ Khối dân, chính, đảng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trƣờng. 87 Hai là, trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ, các cuộc họp, hội nghị của cơ quan, đơn vị, các cấp ủy cơ sở kịp thời cung cấp thông tin về tình hình biến đổi khí hậu, hậu quả, thách thức nghiêm trọng của hiện tƣợng này gây ra đối với đời sống con ngƣời và với sự phát triển kinh tế - xã hội; thực trạng về tình hình khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên của địa phƣơng; sự cần thiết phải sử dụng, khai thác tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài nguyên và môi trƣờng trong chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phƣơng, đất nƣớc cho cán bộ, đảng viên, công chức nhà nƣớc, viên chức nhà nƣớc để nâng cao ý thức bảo vệ môi trƣờng. Ba là, phối hợp với thủ trƣởng cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện có hiệu quả các chiến lƣợc, chƣơng trình mục tiêu quốc gia, các chƣơng trình, dự án, kế hoạch, quy hoạch đã đƣợc ban hành, theo chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; lồng ghép, phối hợp thực hiện có hiệu quả với các nội dung công việc có liên quan đến tài nguyên, môi trƣờng, biến đổi khí hậu; nhất là triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong Chƣơng trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 07 Ban Chấp hành Trung ƣơng (khóa XI) của tỉnh về „„Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cƣờng quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng giai đoạn 2013 - 2020“ theo nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị. Bốn là, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, các cấp ủy đảng tăng cƣờng chỉ đạo, lãnh đạo cán bộ, đảng viên không ngừng nâng cao kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn, tích cực nghiên cứu để nâng cao hiệu quả, chất lƣợng công tác tham mƣu cho lãnh đạo, thủ trƣởng đơn vị trong việc tham mƣu cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cƣờng quản lý tài nguyên và môi trƣờng cho phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phƣơng. Năm là, chỉ đạo các đoàn thể xã hội tiếp tục phát động và thực hiện tốt các phong trào xây dựng cơ quan văn hóa không khói thuốc, công sở xanh, sạch đẹp, văn minh công sở; khuyến khích, động viên cán bộ, đảng viên phát huy tính tiên phong gƣơng mẫu thực hiện tốt các chính sách về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trƣờng, hình thành lối sống và thói quen tiêu dùng bền vững, hài hòa với thiên nhiên và thân thiện với môi trƣờng. 88 Sáu là, đối với Đảng bộ Sở Tài nguyên và Môi trƣờng tỉnh cần tăng cƣờng lãnh đạo, chỉ đạo cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc tham mƣu, đề xuất có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trƣờng cho thủ trƣởng cơ quan, đơn vị, cho Tỉnh ủy, UBND tỉnh đáp ứng tình hình thực tiễn của địa phƣơng; phối hợp với thủ trƣởng cơ quan, đơn vị quan tâm đầu tƣ nâng cấp các trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý tài nguyên và môi trƣờng; quan tâm đào tạo, bồi dƣỡng đội ngũ cán bộ của đơn vị làm công tác quản lý nhà nƣớc về quản lý tài nguyên và môi trƣờng về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; thực hiện tốt Luật phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực tài nguyên và môi trƣờng. Bảy là, Đảng bộ Sở Tài nguyên và Môi trƣờng cần tăng cƣờng lãnh đạo cán bộ, đảng viên tích cực nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật tiến tiến trong lĩnh vực ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trƣờng nhằm đề xuất và thực hiện có hiệu quả hơn các nhiệm vụ, giải pháp trong ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cƣờng công tác quản lý tài nguyên và môi trƣờng của tỉnh; phối hợp với thủ trƣởng cơ quan, đơn vị có các hình thức phù hợp để khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện ISO 14000 và áp dụng quy trình sản xuất sạch trong công nghiệp. Tám là, Đảng bộ Báo Hải Dƣơng, Đảng bộ Đài Phát thanh và truyền hình tỉnh cần tiếp tục chỉ đạo cán bộ, đảng viên tăng cƣờng các hoạt động tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trƣờng trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng theo nhiệm vụ, chức năng của đơn vị mình. Chín là, tăng cƣờng hƣớng dẫn, kiểm tra việc thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng. Hƣớng dẫn việc lồng ghép các tiêu chí về bảo vệ môi trƣờng vào việc bình xét các danh hiệu thi đua hàng năm của cơ quan, đơn vị và cá nhân. Chú trọng tổng kết thực tiễn, phổ biến những kinh nghiệm về nghiệp vụ công tác bảo vệ môi trƣờng tới các cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trên địa bàn tỉnh. 89 KẾT LUẬN 1. Môi trƣờng và vấn đề bảo vệ môi trƣờng đang là vấn đề cấp bách của nhân loại. Các hiện tƣợng ô nhiễm môi trƣờng, suy thoái môi trƣờng và sự biến đổi khí hậu là những tác nhân gây cản trở sự phát triển bền vững của loài ngƣời, ảnh hƣởng đến sự sống trên trái đất. Điều này buộc con ngƣời phải quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trƣờng. Ở Việt Nam, vấn đề bảo vệ môi trƣờng đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đặc biệt quan tâm và là một nội dung cơ bản trong đƣờng lối, chủ trƣơng và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc và từng địa phƣơng. Để thực hiện hiệu quả vấn đề bảo vệ môi trƣờng, Nhà nƣớc phải sử dụng tổng hợp các biện pháp nhƣ chính trị, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, giáo dục và pháp luật, trong đó biện pháp pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, pháp luật chi phối và điều chỉnh các quan hệ xã hội, đảm bảo cho mọi hành vi xử sự của con ngƣời không gây tác động xấu đến môi trƣờng. 2. Đặt trong bối cảnh đó, tác giả lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước bằng pháp luật về bảo vệ môi trường - Từ thực tiễn tỉnh Hải Dương” làm luận văn thạc sĩ. Luận văn đã đi vào nghiên cứu và làm rõ thêm những vấn đề về cơ sở lý luận quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng thông qua việc phân tích các khái niệm, đặc điểm về bảo vệ môi trƣờng, quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng; bình luận về nội dung, vai trò và điều kiện đảm bảo quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng. Từ đó, luận văn đƣa ra nhận định là quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng là một hoạt động thƣờng xuyên, liên tục và mang tính lâu dài của các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng, các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền áp dụng để điều chỉnh hành vi của các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân trong khai thác, sử dụng các yếu tố của môi trƣờng tự nhiên vào mục đích kinh tế nhƣng làm tổn thƣơng, gây thiệt hại đối với môi trƣờng. Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lý luận về quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng bằng pháp luật, luận văn đi sâu đánh giá nội dung và thực trạng thi hành quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng của tỉnh Hải Dƣơng trên các khía cạnh nhƣ 90 kết quả đạt đƣợc, những hạn chế, khiếm khuyết và nhận diện nguyên nhân của những hạn chế, khiếm khuyết (nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan) trên cơ sở tham chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng do Quốc hội, Chính phủ, Bộ, ngành có liên quan và do UBND tỉnh Hải dƣơng ban hành. Từ đó, luận văn đƣa ra một số nhận định cơ bản sau: Một là, kết quả tổng quát của quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng ở tỉnh Hải Dƣơng đạt đƣợc là công tác quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực này ngày càng đi vào nề nếp và từng bƣớc nâng cao hiệu quả đã góp phần tích cực vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dƣơng trong thời gian qua, bảo đảm cho sự phát triển bền vững; Hai là, bên cạnh kết quả đạt đƣợc, quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng ở tỉnh Hải Dƣơng còn bộc lộ một số hạn chế, yếu kém nhƣ đội ngũ thanh tra chuyên ngành về môi trƣờng còn thiếu về số lƣợng, yếu về năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ; sự phối hợp giữa các sở, ban, ngành của tỉnh Hải Dƣơng trong bảo vệ môi trƣờng còn chƣa chặt chẽ và hiệu quả; chế tài xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trƣờng chƣa đủ sức răn đe, giáo dục v.v. Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng bằng pháp luật tại tỉnh Hải Dƣơng để nhận diện những yếu kém, hạn chế, luận văn đƣa ra một số quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng. Trong đó luận văn nhấn mạnh để thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân; đồng thời, đảm bảo thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đòi hỏi các cấp chính quyền tỉnh Hải Dƣơng phải thực hiện đồng bộ các giải pháp; theo đó, một là, giải pháp lâu dài là thực hiện tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trƣờng và ý thức hiểu biết, chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trƣờng của cộng đồng xã hội, của giới doanh nghiệp, nhà đầu tƣ và các tổ chức khác; chủ động ngăn ngừa các hành vi gây tác động xấu đến môi trƣờng; hai là, giải pháp trƣớc mắt là quan tâm chỉ đạo giải quyết các vấn đề của ô nhiễm môi trƣờng, suy thoái môi trƣờng, biến đổi khí hậu v.v. Muốn vậy, các cấp chính quyền tỉnh Hải Dƣơng cần phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nƣớc bằng pháp luật về bảo vệ môi trƣờng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội một cách hài hòa, bền vững. 91 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lê Huy Bá (2004), Môi trường, Nxb Đại học Quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Lƣu Đức Hải - Phạm Thị Việt Anh - Nguyễn Thị Hoàng Liên (2010), Cẩm nang quản lý môi trường, Nxb Giáo dục Việt Nam. 3. Nguyễn Trần Điện (2016), Thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường làng nghề ở các tỉnh đồng bằng Sông Hồng - Luận án Tiến sĩ – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh – Hà Nội 4. Nguyễn Văn Minh (2014), Phòng ngừa, phát hiện tội phạm và vi phạm pháp luật môi trường khu vực Đồng bằng sông Hồng theo chức năng của lực lượng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, luận án Tiến sĩ – Học viện Cảnh sát nhân dân – Hà Nội 5. Nguyễn Thị Ngọc (2016), Quản lý môi trường đô thị Nhật Bản và khả năng ứng dụng ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia. 6. Hoàng Phê (2011), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, Nxb, Đà Nẵng. 7. Nguyễn Hoàng Phƣợng, Trần Thanh Thủy, Trịnh Lê Nguyên (2015), Thực thi chính sách pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam nhìn từ khía cạnh tư pháp, Nxb Hồng Đức. 8. Nguyễn Lệ Quyên (2012), Quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Đà Nẵng, luận văn thạc sĩ – Đại học Đà Nẵng – Đà Nẵng 9. Nguyễn Cửu Việt (2013), Giáo trình Luật Hành chính, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội 10. Trần Hồng Hà (Tháng 2/2009), “Quản lý nhà nước về môi trường - thực trạng và giải pháp ”, Tạp chí Quản lý nhà nƣớc ”, số 157. 11. Bộ tài nguyên và môi trƣờng (2014), Báo cáo môi trường Quốc gia - Môi trường nông thôn, Hà Nội. 92 12. Chính phủ (2013) Nghị định 179/2013/NĐ-CP Qui định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Hà Nội. 13. Chính phủ (2015), Nghị định 18/2015/NĐ-CP CP Qui hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường, Hà Nội. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 16. Đảng bộ tỉnh Hải Dƣơng (2015), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2015-2020) ngày 28/10/2015, Hải Dƣơng. 17. Đảng bộ tỉnh Hải Dƣơng (2013), Kế hoạch Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Hải Dƣơng. 18. Hội đồng biên soạn từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), Từ điển bách khoa, Tập 2 (E -M), Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 19. Quốc hội (2013), Hiến pháp năm 2013, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 20. Quốc hội (2005), Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 21. Quốc hội (2016), Bộ luật dân sự năm 2015, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 22. Quốc hội (2005), Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Quốc hội (2015), Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Quốc hội (2010), Luật Hình sự năm 1999 ( sửa đổi bổ sung năm 2009), Nxb Tƣ pháp, Hà Nội. 25. Quốc hội (2014), Luật tổ chức Chính phủ năm 2014, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Quốc hội (2014), Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2014, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 27. Sở Tài nguyên và Môi trƣờng (2014), Báo cáo Kết quả công tác năm 2014 và phƣơng hƣớng, nhiệm vụ công tác năm 2015, Hải Dƣơng 93 28. Sở Tài nguyên và Môi trƣờng (2015), Báo cáo Kết quả công tác năm 2015, nhiệm vụ và giải pháp năm 2016, Hải Dƣơng 29. Thủ tƣớng Chính phủ (2003), Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội. 30. Thủ tƣớng Chính phủ (2004), Quyết định số 153/2004/QĐ/TTg ngày 17/8/2004 phê duyệt Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chƣơng trình nghị sự 21 Việt Nam), Hà Nội. 31. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Luật Môi trường, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 32. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2015), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 33. Trung tâm Đào tạo từ xa - Đại học Huế (2013), Giáo trình Luật Môi trường, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội. 34. UBND tỉnh Hải Dƣơng (2015), Kế hoạch và Dự toán ngân sách sự nghiệp môi trường tỉnh Hải Dương năm 2016, Hải Dƣơng. 35. UBND tỉnh Hải Dƣơng (2014), Báo cáo Việc thực hiện chính sách, pháp luật về phòng chống biến đổi khí hậu trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Hải Dƣơng. 36. UBND tỉnh Hải Dƣơng (2014), Báo cáo Việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường giai đoạn 2005 đến nay, Hải Dƣơng. 37. UBND tỉnh Hải Dƣơng (2014), Báo cáo Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Hải Dƣơng. 38. UBND tỉnh Hải Dƣơng (2015), Báo cáo tình hình thực hiện chương trình MTQG giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Hải Dƣơng. 39. UBND tỉnh Hải Dƣơng (2015), Báo cáo theo dõi tình hình thi hành pháp luật năm 2015 trên địa bàn tỉnh Hải Dương, Hải Dƣơng. 40. UBND tỉnh Hải Dƣơng (2011), Quyết định số 3155/ QĐ-UBND Phê duyệt Quy hoạch vùng tỉnh Hải Dƣơng đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, Hải Dƣơng. 94 41. Ban cán sự Đảng ủy tỉnh Hải Dƣơng (2014), Kết quả 5 năm (2009 - 2013) thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về việc “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Hải Dƣơng. 42. Bộ Chính trị (2013), Nghị quyết số 24- NQ/TW ngày 03/06/2013 về “Chủ động ứng phó với với biến đổi khí hậu, đẩy mạnh quản lý tài nguyên và môi trường“, Hà Nội. 43. Chính phủ (2015), Nghị quyết số 35/NQ-CP, ngày 18/03/2013 về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Hà Nội. 44. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết số 41-NQ/TW, ngày 15/11/2004 về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Hà Nội. CÁC WEBSITE 45. Báo cáo quốc gia tại Hội nghị cấp cao của Liên Hợp Quốc về Phát triển bền vững (RIO+20) (2012). 46. Hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Cập nhật ngày 09 Tháng 5 2016 17:31 .

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_quan_ly_nha_nuoc_bang_phap_luat_ve_bao_ve_moi_truon.pdf
Luận văn liên quan