Luận văn Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã trên địa bàn huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

Quản lý nhà nước về hộ tịch là công việc của cơ quan hành chính nhà nước để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước ta vững bước vào thế kỉ XXI trong xu thế hòa nhập chung với thế giới. Thực tế cho thấy, trong mọi điều kiện và hoàn cảnh của đất nước, Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng tới quản lý hộ tịch, từng bước quan tâm xây dựng, đổi mới chế độ, chính sách đào tạo đối với đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý hộ tịch theo xu hướng không ngừng nâng cao vị thế, cũng như công tác quản lý hộ tịch trong xu thế phát triển, coi công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hộ tịch cấp xã là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng và củng cố chính quyền nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong những năm qua, công tác quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã đạt nhiều kết quả quan trọng, trong đó công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được đảm bảo, ý thức của người dân được nâng cao nhờ làm tốt công tác tuyên truyền về hộ tịch. Hoạt động thanh tra, kiểm tra hàng năm được coi trọng; công tác thống kê, báo cáo được thực hiện theo đúng quy định, mặt khác việc lưu trữ sổ sách được thực hiện kịp thời, đầy đủ, chính xác đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng, dân số và kế hoạch hóa gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn bộc lộ những yếu kém, bất cập cần khắc phục. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và qua thực tế tại huyện Phú Quốc, luận văn đã đề xuất những giải pháp cần hoàn thiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại huyện cũng như trên địa bàn cả nước trong thời gian tới là hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch; nâng cao năng lực bộ máy đăng ký và quản lý hộ tịch của chính quyền các cấp; tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về97 hộ tịch trên địa bàn các xã, thị trấn; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức hộ tịch; cải cách thủ tục hành chính trong việc thực hiện đăng ký quản lý hộ tịch; đẩy mạnh công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch. Bên cạnh đó, luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị với Đảng, Nhà nước và các cơ quan có liên quan. Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, mọi cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong đó có huyện Phú Quốc đang đứng trước những thách thức mới. Vấn đề đổi mới và nâng cao quản lý về hộ tịch trên địa bàn huyện có vị trí đặc biệt quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Việc thực hiện các giải pháp trong khuôn khổ luận văn nêu ra, sẽ góp phần hữu ích vào việc quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện cũng như cả nước ngày một hoàn thiện hơn.

pdf109 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Lượt xem: 498 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã trên địa bàn huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ỉ tiêu, giải pháp về phát triển kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. 72 Tuy nhiên, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều sai sót, hạn chế, tình trạng các cơ quan, tổ chức, đoàn thể chưa xác định đúng giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch, còn gây nhiều khó khăn cho công dân. Thực trạng trên có nguyên nhân xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch của một bộ phận cán bộ, công chức và nhân dân; sự phối hợp thiếu nhịp nhàng giữa các cơ quan hữu quan trong việc giải quyết những sai sót trong hồ sơ; giấy tờ cá nhân; công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý về đăng ký và quản lý hộ tịch chưa thực sự sâu rộng; trình độ của một số cán bộ Tư pháp – Hộ tịch còn hạn chế... Để thực hiện tốt và có hiệu quả công tác đăng ký, quản lý hộ tịch trong thời gian tới, cần tiếp tục phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những mặt còn tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn thực hiện các quy định về đăng ký, quản lý hộ tịch; tăng cường nâng cao về nhận thức cũng như hành động để tạo chuyển biến cơ bản, bền vững, đảm bảo công tác đăng ký hộ tịch được chính xác, đầy đủ, phục vụ đắc lực cho việc thực hiện các nhiệm vụ về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng trong thời gian tới cần thực hiện nghiêm những nội dung sau: 3.1.1. Đối với Ủy ban nhân dân huyện a) Chỉ đạo thực hiện tốt các quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn. Thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch đến từng khu phố, từng ấp... nhất là những nơi đặc biệt khó khăn, xã biên giới, đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số; đồng thời, tăng cường chỉ đạo chính quyền cấp xã trong việc tổ chức, thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. b) Chủ động phối hợp với Sở Tư pháp tổ chức bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ hộ tịch cho đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã; kiện toàn 73 Phòng Tư pháp đảm bảo đủ về số lượng, chất lượng; chỉ đạo Phòng Nội vụ thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho công chức Tư pháp - Hộ tịch; đảm bảo thường xuyên có người trực, tiếp nhận giải quyết kịp thời các yêu cầu đăng ký hộ tịch của người dân. c) Tiếp tục thực hiện chủ trương của tỉnh áp dụng công nghệ thông tin trong đăng ký, quản lý hộ tịch và xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, khắc phục tình trạng đăng ký và quản lý hộ tịch có sai sót, giảm thời gian thao tác, thuận tiện cho việc tra cứu, thống kê hộ tịch, tạo thuận lợi cho người dân, bảo đảm tiết kiệm, giảm chi phí khi thực hiện thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch. d) Tăng cường công tác kiểm tra về nghiệp vụ đăng ký và quản lý hộ tịch ở cấp xã, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý nghiêm các vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền, đặc biệt những trường hợp cải chính hộ tịch của cán bộ, công chức, viên chức. e) Chỉ đạo UBND cấp xã bố trí nơi làm việc, trang bị cơ sở vật chất, phương tiện để tiếp công dân và giải quyết các yêu cầu về hộ tịch. Đảm bảo kinh phí phục vụ cho công tác hộ tịch và công tác lưu trữ tài liệu, bảo quản sổ hộ tịch theo đúng quy định của pháp luật. 3.1.2. Đối với Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn a) Thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về thẩm quyền, hồ sơ, trình tự, thủ tục, thời hạn, lệ phí đăng ký hộ tịch; xử lý kịp thời, nghiêm minh các vi phạm về đăng ký và quản lý hộ tịch; thực hiện việc lưu trữ sổ sách, giấy tờ hộ tịch, sử dụng sổ hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch đúng theo quy định. b) Niêm yết công khai các thủ tục hành chính về đăng ký hộ tịch đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh công bố thuộc thẩm quyền giải quyết của Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã, theo Đề án 30 của Thủ tướng 74 Chính phủ tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã, chỉ đạo cán bộ, công chức thực hiện đúng trách nhiệm theo Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ về kiểm soát thủ tục hành chính. c) Tổ chức thực hiện tốt công tác đăng ký và quản lý hộ tịch; sắp xếp, bố trí cán bộ, công chức có đủ trình độ thực hiện việc tiếp nhận yêu cầu đăng ký hộ tịch; thường xuyên kiểm tra các hoạt động của công chức Tư pháp - Hộ tịch; định kỳ cử cán bộ xuống các ấp, khu phố... rà soát, nắm bắt các sự kiện hộ tịch để kịp thời đăng ký các sự kiện hộ tịch phát sinh ở địa phương; Công chức Tư pháp - Hộ tịch phải chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân cấp xã về những sự kiện hộ tịch phát sinh trên địa bàn xã, thị trấn mà không đăng ký. Uỷ ban nhân dân cấp huyện phải có kế hoạch tiến hành rà soát các trường hợp trẻ em sinh ra tại địa phương mà chưa được đăng ký khai sinh và các trường hợp người dân cư trú tại địa phương chết mà chưa đăng ký khai tử để tổ chức đăng ký theo quy định. Phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở địa phương; thực hiện nghiêm túc công tác báo cáo, thống kê số liệu hộ tịch theo quy định của pháp luật. 3.2. GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ HỘ TỊCH Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUY N PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG 3.2.1. Tăng cƣờng sự chỉ đạo của Đảng uỷ xã đối với Uỷ ban nhân dân xã về công tác hộ tịch Đây là giải pháp rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã. Xuất phát từ nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện trên các mặt trong đó có lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị- xã hội trong sạch, vững mạnh; chấp 75 hành đúng pháp luật và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Công tác lãnh đạo của Đảng không chỉ đạo chung chung trên giấy tờ, sổ sách mà cấp uỷ các cấp phải luôn quan tâm, kiểm tra sát sao công tác triển khai việc thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về hộ tịch, nhất là các chương trình trọng tâm về cải cách tư pháp một cách thường xuyên, liên tục. Đảng bố trí cán bộ có trình độ, năng lực vào vị trí lãnh đạo, phụ trách công tác Tư pháp, Hộ tịch. Cấp uỷ cần giữ vai trò gắn kết các cơ quan trong thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm công tác hộ tịch do cấp uỷ đã đề ra theo từng năm. Đảm bảo mọi hoạt động đều được thông tin, báo cáo kịp thời tới cấp uỷ để theo dõi, kiểm tra, chỉ đạo, đôn đốc, biểu dương, động viên các cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ đồng thời có hình thức kiểm điểm đối với các đơn vị không hoàn thành các nhiệm vụ đã đề ra. Có thể khẳng định, ở đâu có sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của cấp uỷ Đảng trong việc thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch, công tác cải cách tư pháp và tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân ở đó hiệu quả công tác hộ tịch thể hiện rõ nét và tạo sự đồng thuận cao trong thực thi nhiệm vụ. Thực tiễn những năm qua, cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch của xã, thị trấn đã phát huy vai trò, thường xuyên lãnh đạo công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức Tư pháp đạt những kết quả quan trọng. Tuy nhiên, vai trò, hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng vẫn còn hạn chế, chưa thực sự phát huy hết vai trò lãnh đạo của Đảng ủy xã về quản lý nhà nước về công tác hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã. Trong thời gian tới, nhiệm vụ của phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói chung, của công tác hộ tịch và quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã nói riêng rất nặng nề, phức tạp, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sâu sắc, kịp thời của Đảng ủy xã, thị trấn và tinh thần trách nhiệm ý chí quyết tâm học tập, rèn 76 luyện công tác tốt của cán bộ, đảng viên trong đảng bộ xã, thị trấn. Để tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong quản lý nhà nước về công tác hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn hiện nay cần tập trung vào một số yêu cầu sau: Một là, thống nhất nhận thức, tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức đảng, nâng cao trách nhiệm của cấp uỷ, cán bộ đảng viên, là yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với quản lý nhà nước về công tác hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn. Cấp ủy, tổ chức đảng và từng cấp ủy viên, đảng viên cần thấy rõ ý nghĩa, yêu cầu trong quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn đối với nhiệm vụ của phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của ủy ban nhân dân xã, thị trấn. Từ đó nêu cao tinh thần trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo và tiến hành có chất lượng, hiệu quả các nội dung, biện pháp quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn. Hai là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trên cơ sở quán triệt quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch, hướng dẫn của cấp trên trong quản lý nhà nước về hộ tịch. Đồng thời nội dung lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng phải thống nhất với kế hoạch của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, chỉ đạo hướng dẫn của Phòng Tư pháp, Sở Tư pháp phù hợp với đặc điểm tình hình thực tiễn địa bàn, đối tượng, nhiệm vụ cụ thể. Ba là, sự lãnh đạo, chỉ đạo phải kịp thời, cụ thể, nội dung sát đúng với yêu cầu nhiệm vụ và thực tiễn công tác hộ tịch của từng lĩnh vực. Do đó, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng cần cụ thể, sát với từng biện pháp quản lý, từng lĩnh vực, từng khu dân cư thì mới phát huy hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước về hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn. Bốn là, công tác lãnh đạo, chỉ đạo phải gắn với hướng dẫn, kiểm tra, 77 đôn đốc, uốn nắn, rút kinh nghiệm kịp thời. Hướng dẫn, triển khai thực hiện nghị quyết lãnh đạo; kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, rút kinh nghiệm là những khâu quan trọng trong quy trình lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng. Trên cơ sở nghị quyết lãnh đạo, chỉ thị, kế hoạch đã xác định, cấp ủy các cấp phân công cấp ủy viên phụ trách, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện của các cơ quan, ban ngành. Trên cơ sở kiểm tra, đôn đốc phải kịp thời rút kinh nghiệm, uốn nắn những sai lệch và điều chỉnh, bổ sung những nội dung phù hợp, yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo cho sát với thực tiễn quản lý nhà nước về công tác hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã. Cụ thể hóa nội dung, chương trình, kế hoạch quản lý nhà nước về công tác hộ tịch của Ủy ban nhân dân xã, thị trấn vào nghị quyết, kế hoạch lãnh đạo của Đảng ủy xã, thị trấn để quán triệt và tổ chức thực hiện; thường xuyên sơ tổng kết, rút kinh nghiệm việc thực hiện nghị quyết. 3.2.2. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong công tác quản lý nhà nƣớc về hộ tịch tại cấp xã Một là, thực hiện thủ tục hành chính, phân cấp quản lý một cách hiệu quả, hợp lý hơn theo chủ trương cải cách bộ máy hành chính nhà nước. Đây là một mục tiêu quan trọng mà chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước hướng tới với lộ trình đã được xác định cụ thể. Trong lĩnh vực đăng ký và quản lý hộ tịch, từ Nghị định 83/1998/NNĐ- CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ đến Nghị định 158/2005/ NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ đã có bước tiến mạnh mẽ trong thủ tục, trong phân cấp quản lý về thẩm quyền thay đổi, cải chính hộ tịch (Đơn giản hơn giấy tờ về đăng ký hộ tịch, rút ngắn thời gian giải quyết và một số thủ tục trước chỉ cấp tỉnh mới thực hiện, nay phân cấp cho cấp huyện, cấp xã); nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, một trong những điểm mới được quy định trong Luật Hộ tịch năm 2014 là cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch nơi thường trú, 78 tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Tuy nhiên, do mở rộng thẩm quyền, nhu cầu đăng ký hộ tịch của cá nhân ngày càng nhiều, nên cần nâng cao hơn nữa trình độ chuyên môn và năng lực của công chức Tư pháp - Hộ tịch, điều kiện cơ sở vật chất phải được đầu tư đúng mức. Hai là, cần tăng cường tính chủ động và tính chịu trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch, người có thẩm quyền trong giải quyết công việc, tạo điều kiện để các chủ thể có thể linh hoạt vận dụng giải quyết các trường hợp phát sinh trong thực tiễn theo nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Đi kèm với đó là tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý cấp trên đối với cơ quan cấp dưới. Ba là, nâng cao tính phục vụ của quản lý nhà nước về hộ tịch tại các xã, thị trấn nhất là trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch với tính chất là một loại hình dịch vụ công bảo đảm cho người dân được phục vụ thuận tiện, nhanh chóng khi họ đến thực hiện quyền của mình, như việc cấp bản sao giấy tờ hộ tịch từ sổ gốc qua đường bưu điện. Bốn là, xây dựng mô hình “một cửa liên thông” tại cấp xã. Quy trình một cửa liên thông trong giải quyết hồ sơ hộ tịch: Khách hàng nộp hồ sơ và nhận kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND cấp xã, sau đó UBND cấp xã liên hệ Công an xã, Bảo hiểm xã hội, UBND huyện trong quá trình giải quyết hồ sơ: nhập khẩu cho trẻ em mới sinh, làm thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 06 tuổi, cấp lại bản chính giấy khai sinh, thay đổi cải chính hộ tịch Sơ đồ: Công dân, tổ chức Bộ phận TN&TKQ UBND xã, thị trấn Bộ phận một cửa: Công an; Bảo hiểm xã hội; UBND huyện Tiếp nhận và trả kết Liên hệ 79 + Trường hợp 1: Phối hợp thông tin để giải quyết thủ tục hành chính. UBND cấp xã là đầu mối lấy ý kiến, thông tin, xác nhận từ các cơ quan liên quan và quyết định kết quả giải quyết thủ tục hành chính, trả cho công dân, tổ chức. + Trường hợp 2: Liên thông để giải quyết thủ tục hành chính. UBND cấp xã là đầu mối giải quyết thủ tục hành chính, sau đó chuyển hồ sơ cho cơ quan liên quan (Công an, Bảo hiểm xã hội, UBND huyện) để thực hiện các thủ tục hành chính có liên quan tiếp theo. Sau khi có kết quả giải quyết thủ tục hành chính, cơ quan liên quan trả kết quả về UBND cấp xã để trả cho công dân, tổ chức. Thông qua hoạt động của bộ phận một cửa liên thông ở các xã, thị trấn tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân khi đến giao dịch, đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình giải quyết công việc, từng bước đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm sự đi lại, phiền hà của công dân khi phải thực hiện các thủ tục hành chính tại nhiều cơ quan. Thường xuyên sơ tổng kết việc thực hiện mô hình “một cửa” tại Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn duy trì hệ thống quản lý chất lượng (ISO) nhằm phục vụ quyền đăng ký của công dân một cách thuận tiện, nhanh chóng theo mô hình của một loại dịch vụ hành chính công thiết yếu. Năm là, thực hiện yêu cầu cải cách hành chính theo hướng đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian giải quyết, giảm bớt chi phí và phiền hà cho công dân khi có yêu cầu đăng ký hộ tịch. Tuy nhiên, để người dân thực sự được hưởng lợi từ yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, đòi hỏi trước hết là các công chức trực tiếp giải quyết yêu cầu đăng ký hộ tịch của công dân phải 80 là những người có đạo đức, có tâm với nghề; thực hiện đúng chức trách của cán bộ công chức nói chung và cán bộ làm công tác hộ tịch nói riêng đã được quy định cụ thể trong pháp luật. Cải cách thủ tục hành chính nhằm đảm bảo tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và công bằng trong khi giải quyết các công việc hành chính. Loại bỏ những thủ tục rườm rà chồng chéo dễ bị lợi dụng để tham nhũng, gây khó khăn cho nhân dân. Mẫu hóa thống nhất các loại giấy tờ mà công dân cần phải làm khi có yêu cầu giải quyết công việc về sản xuất, kinh doanh và đời sống... Để công tác đăng ký và quản lý hộ tịch thực hiện đúng quy định của pháp luật, ủy ban nhân dân cấp xã có sự quan tâm lãnh đạo nhiều hơn đến công tác tư pháp nói chung và công tác đăng ký và quản lý hộ tịch nói riêng. 3.2.3. Cải tiến phƣơng thức quản lý hộ tịch Xác định rõ chức năng nhiệm vụ của từng tổ chức bộ máy quản lý hộ tịch trong hệ thống quản lý nhà nước ở cơ sở, đồng thời xây dựng mối quan hệ đoàn kết, phối hợp giữa các tổ chức dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chi bộ cơ sở; đổi mới nội dung và phương thức hoạt động hướng vào phục vụ dân, sát với dân, được dân tin cậy. Thực hiện dân chủ thực sự trong tổ chức quản lý hộ tịch của hệ thống hành chính ở địa phương, theo nguyên tắc tập trung dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên cơ sở thực hiện quyền dân chủ trực tiếp, phát huy quyền dân chủ đại diện. Xây dựng hệ thống điện tử đánh giá mức độ hài lòng của người dân về chất lượng phục vụ của cán bộ, công chức, cải cách hành chính, hồ sơ, thủ tục ở từng xã, thị trấn trên địa bàn huyện. Từ đó, đánh giá, cải tiến phương thức quản lý, giải quyết công việc của UBND xã, thị trấn. Quy định cụ thể việc thực hiện quyền của dân giám sát tổ chức và cán bộ công chức Tư pháp – Hộ tịch ở cơ sở và thay thế người không đủ tín 81 nhiệm. Phát huy dân chủ phải đi liền với củng cố và nâng cao kỷ luật, kỷ cương theo pháp luật. Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức Tư pháp – Hộ tịch ở cấp xã có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm thạo việc, tận tụy với nhân dân, biết phát huy sức mạnh của dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân. Trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ hộ tịch cấp xã. Tiếp tục phân cấp mạnh mẽ thẩm quyền đăng ký hộ tịch: Cần tách bạch rõ ràng hơn chức năng quản lý nhà nước về hộ tịch (xây dựng thể chế, hướng dẫn, chỉ đạo thực hiện thể chế, kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm). Lập Sổ bộ hộ tịch và cấp Sổ hộ tịch cá nhân thay thế cho việc sử dụng giấy tờ hộ tịch rời. Hiệu quả sử dụng của các loại giấy tờ hộ tịch riêng lẻ bị hạn chế do sự cô lập thông tin về từng sự kiện riêng lẻ, trong khi đó mục đích quan trọng mà quản lý hộ tịch hướng tới là xâu chuỗi và phản ánh đầy đủ các sự kiện hộ tịch của một người theo thứ tự thời gian từ khi sinh ra đến khi chết. Sự cô lập thông tin này có thể đưa đến tình trạng khi tham gia vào một quan hệ pháp luật nhất định, người dân phải sử dụng nhiều loại giấy tờ khác nhau để chứng minh về tình trạng nhân thân của mình, gây ra sự bất tiện với người dân, góp phần khó sửa chữa căn bệnh quan liêu trong giải quyết công việc của dân trong nền hành chính. Bên cạnh đó, việc quản lý và sử dụng giấy tờ rời cũng đặt ra gánh nặng về chi phí xã hội, trong việc in ấn, phát hành, quản lý, lưu trữ, khó khăn cho cơ quan quản lý trong việc xác minh nhân thân khi công dân qua nhiều nơi cư trú khác nhau. Để khắc phục tình trạng trên thì cần cải tiến sổ hộ tịch và phương thức đăng ký, quản lý hộ tịch. Theo đó, cần lập Sổ bộ hộ tịch (do cơ quan nhà nước 82 quản lý) và cấp Sổ hộ tịch cá nhân (do cá nhân công dân giữ để sử dụng khi cần chứng minh tình trạng hộ tịch của mình). Sổ bộ hộ tịch được lập và Sổ hộ tịch cá nhân được cấp khi công dân đăng ký khai sinh và các sự kiện hộ tịch phát sinh sau khi đăng ký khai sinh như: kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch... cũng sẽ phải được ghi vào Sổ bộ hộ tịch và Sổ hộ tịch cá nhân. 3.2.4. Củng cố, kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực, phẩm chất đạo đức của công chức làm công tác Tƣ pháp - Hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân cấp xã Đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch có vai trò quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện công tác hộ tịch. Thực tế cho thấy, số lượng chưa đáp ứng được nhu cầu và năng lực chuyên môn yếu đã phần nào hạn chế chất lượng hoạt động của công chức Tư pháp - Hộ tịch. Về số lượng, hiện nay mỗi ủy ban nhân dân cấp xã được biên chế 2 công chức Tư pháp - Hộ tịch. Hiện tượng luân chuyển cán bộ sau mỗi nhiệm kỳ đã khiến cho công tác Tư pháp ở cấp xã gặp nhiều khó khăn. Về chất lượng, tỷ lệ công chức Tư pháp - Hộ tịch được đào tạo luật cũng cao, tuy nhiên do còn thiếu kinh nghiệm thực tế, kiến thức xã hội, kiến thức quản lý nhà nước và các kỹ năng về chuyên môn nghiệp vụ nên hiệu quả hoạt động chưa cao. Ngoài ra, các kiến thức hỗ trợ khác như ngoại ngữ hay tin học văn phòng chưa được công chức Tư pháp - Hộ tịch quan tâm nên phần nào hạn chế khả năng của họ. Bên cạnh đó, một bộ phận không nhỏ các công chức Tư pháp - Hộ tịch chưa có tinh thần chủ động sáng tạo trong công việc, chưa ý thức được đầy đủ về vai trò và nhiệm vụ của mình. Do vậy, việc nâng cao năng lực cho công chức Tư pháp - Hộ tịch không chỉ là nhu cầu của bản thân các công chức mà còn là đòi hỏi đặt ra của các đối tượng có liên quan - các đối tượng hưởng lợi trực tiếp trong hầu hết các hoạt động của công chức Tư pháp - Hộ tịch. 83 Công chức Tư pháp - Hộ tịch, lao động hợp đồng làm công tác Tư pháp là đối tượng, đồng thời là chủ thể của quá trình giáo dục bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ Tư pháp, về năng lực chuyên môn, phẩm chất đạo đức. Chất lượng, hiệu quả của công tác bồi dưỡng cán bộ công chức Tư pháp xét đến cùng phụ thuộc vào mức độ chuyển biến nhận thức, động cơ và quyết tâm thực hiện nhiệm vụ của công chức làm công tác Tư pháp. Hiện nay, động cơ học tập, tu dưỡng của đội ngũ công chức Tư pháp cấp xã đang chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó có sự chi phối của cơ chế kinh tế thị trường; tính chất, yêu cầu công việc ngày càng đòi hỏi cao. Vì vậy, cần làm tốt công tác giáo dục, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ, quyết tâm học tập, tu dưỡng đạo đức cho cán bộ Tư pháp trong quản lý nhà nước về công tác Tư pháp của ủy ban nhân dân xã càng trở nên hết sức quan trọng. Chỉ có xây dựng động cơ đúng đắn mới giúp họ tích cực, tự giác, nêu cao tinh thần trách nhiệm trong phục vụ nhân dân, ý chí quyết tâm, nỗ lực vượt mọi khó khăn, chủ động sáng tạo, làm chủ được kết quả và chất lượng công tác hộ tịch và biết đấu tranh với những biểu hiện sai trái. Tiếp tục củng cố, kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức Tư pháp - Hộ tịch xã, đủ về số lượng và tiêu chuẩn nghiệp vụ tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về tổ chức, cán bộ; chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, Tư pháp - Hộ tịch; tăng cường cơ sở vật chất, tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, công chức Tư pháp - Hộ tịch xã, thị trấn, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; góp phần hoàn thành nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, cải cải cách Tư pháp, xây dựng chính quyền cơ sở vững mạnh. Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng nghiệp vụ cán bộ Tư pháp - Hộ tịch. Tăng cường giáo dục, rèn luyện chính trị, tư tưởng, thái độ phục vụ nhân dân, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Công chức Tư pháp 84 - Hộ tịch và những người có thẩm quyền giải quyết công việc của dân phải là những người gương mẫu, tự giác trong chấp hành pháp luật, phải thực sự là những người công tâm, chuẩn xác, làm việc khoa học, mang tính chuyên nghiệp cao; đối với những vùng điều kiện đi lại khó khăn hoặc vì lý do khách quan khác, công chức Tư pháp - Hộ tịch phải tìm đến dân chứ không phải ngồi chờ dân đến. Phải biết lắng nghe ý kiến góp ý, trao đổi của dân. Phải tạo điều kiện thuận lợi cho người dân khi thực hiện quyền của mình nói chung và trong lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch nói riêng, phải thực sự là “công bộc” của dân. Có như vậy mới thực sự làm cho dân tin, thu hút đông đảo nhân dân tham gia quản lý hộ tịch, hiệu quả quản lý Nhà nước về hộ tịch mới được nâng cao. Các giải pháp giải quyết vấn đề biên chế và nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn của công chức Tư pháp - Hộ tịch gồm: - Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ theo hình thức tập trung hoặc không tập trung về quản lý hành chính, lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức pháp luật. Nội dung đào tạo thiết thực phù hợp với yêu cầu công việc mà công chức Tư pháp - Hộ tịch đảm nhiệm; - Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng theo chuyên đề để cập nhật các kiến thức, thông tin mới về văn bản quy phạm pháp luật về công tác Tư pháp và cải cách tư pháp, đặc biệt trong điều kiện mở rộng hội nhập hiện nay. Tăng cường tổ chức các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ như soạn thảo văn bản, phổ biến giáo dục pháp luật, hòa giải...để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức quản lý hộ tịch. - Tích cực biên soạn các tài liệu nghiệp vụ, kiến thức pháp luật phổ thông cấp phát cho đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch; - Cải thiện chế độ tiền lương, thưởng đồng thời giáo dục ý thức và tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch. 85 Không chỉ tập trung vào công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, để có nguồn nhân lực đảm bảo cho công tác hộ tịch hoạt động hiệu quả thì cần thu hút được đội ngũ cán bộ ấp, khu phố, cộng tác viên tại các Tổ dân phố, Tổ nhân dân tự quản tạo thành mạng lưới rộng khắp là những người có trình độ pháp luật, có tâm huyết, có kĩ năng pháp lý, nhất là lực lượng luật sư, luật gia Điều này cũng là cách để xây dựng lòng tin, trợ giúp pháp lý cho người dân. Để làm được điều này cần tổ chức rà soát để lựa chọn được những người có trình độ pháp luật, có tâm huyết đang công tác tại các cơ quan, địa phương trong xã, thị trấn. Đồng thời bố trí được mức thù lao hợp lý cho đội ngũ này. Xây dựng quan hệ bình đẳng, xây dựng cơ chế hoạt động thật sự hiệu quả sẽ phát huy sức mạnh của đội ngũ này. Có chính sách khuyến khích động viên, hỗ trợ cán bộ Tư pháp cấp xã học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đồng thời có chính sách đào tạo nguồn cán bộ tại chỗ và thu hút những người đào tạo trung cấp luật, đại học luật về làm việc tại các xã, thị trấn. Trong công tác quy hoạch cán bộ, do chưa có một quy hoạch cán bộ hoàn chỉnh do đó nhiều khi còn lúng túng, bị động nhất là vào thời kỳ bầu cử. Nguồn cán bộ bổ sung cho đội ngũ cán bộ hộ tịch chính quyền cấp xã thiếu và không ổn định, đặc biệt là thiếu cán bộ trẻ có trình độ và uy tín trong nhân dân. Vì vậy, cần đổi mới quan điểm đánh giá cán bộ, tránh hình thức, chỉ căn cứ vào quá trình công tác, tuổi tác, bằng cấp; không hẹp hòi, định kiến về lý lịch gia đình và xuất thân của cán bộ; phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương; lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của từng chức danh làm căn cứ nhận xét, đánh giá và lấy tiêu chuẩn cán bộ làm chuẩn mực. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức. Môi trường làm việc của người công chức hàng ngày gắn liền với quyền lực và các 86 công cụ chuyên chế, cho nên nếu không được kiểm tra, giám sát sẽ dễ dẫn đến quyền lực bị lạm dụng, công cụ chuyên chế không được sử dụng đúng mục đích gây ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân địa phương vào chính quyền và lớn hơn nữa là chế độ. Nguy cơ này càng dễ dàng xảy ra trong cơ chế thị trường nơi đồng tiền chi phối được nhiều thứ. Vì vậy, có thể xem công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, công chức là khâu có tính chất quyết định trong việc giữ gìn sự trong sạch của bộ máy tổ chức xã, thị trấn. Kiểm tra, giám sát qua nhiều kênh thông tin, đặc biệt là qua sự phản ánh của nhân dân, đánh giá mức độ hài lòng của người dân, dựa vào thông tin của nhân dân để phát hiện, giám sát, kiểm tra công chức thường xuyên. 3.2.5. Tăng cƣờng đầu tƣ cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác hộ tịch của Uỷ ban nhân dân xã và có chế độ đãi ngộ, khen thƣởng đối với công chức Tƣ pháp - Hộ tịch cấp xã Một trong những điều kiện đảm bảo cho hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch là vấn đề kinh phí và cơ sở vật chất. Đối với người tổ chức thực hiện công tác hộ tịch thì vấn đề này không những đảm bảo sự yên tâm trong công tác, tạo môi trường, điều kiện làm việc thoải mái từ đó tạo nên hiệu quả công việc. Để tạo điều kiện cho hoạt động hộ tịch ổn định, đảm bảo hiệu quả các hoạt động pháp lý thì Nhà nước cần tiếp tục đầu tư, tăng cường về kinh phí và cơ sở vật chất như trụ sở làm việc và các máy móc, phương tiện đi lại Đồng thời có chế độ hỗ trợ để đội ngũ làm công tác Tư pháp - Hộ tịch xã có thể yên tâm công tác; có chế độ hỗ trợ về tiền lương nhằm thu hút những nhân sự có trình độ và năng lực vào công tác, bổ sung vào nguồn biên chế còn thiếu tại địa bàn xã. Cơ sở hạ tầng bao gồm việc cung cấp tài liệu, thông tin văn bản pháp luật cũng như cơ sở vật chất và phương tiện làm việc chưa đáp ứng được yêu 87 cầu hiện tại là một trong những nguyên nhân hạn chế tính hiệu quả và chủ động của công chức Tư pháp - Hộ tịch trong quá trình hoạt động. Hiện nay, phần lớn Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn của huyện Phú Quốc đều trang bị cho bộ phận Tư pháp - Hộ tịch 01 máy vi tính và đã nối mạng internet giúp cho công chức tiếp cận, hệ thống hóa dữ liệu về hộ tịch, tra cứu và nghiên cứu pháp luật, nâng cao kiến thức pháp luật cho bản thân. Tuy nhiên, tại một số xã vẫn còn tình trạng thiếu phòng làm việc độc lập, thiếu phòng lưu trữ hồ sơ, sổ sách của bộ phận Tư pháp - Hộ tịch. Thực trạng đó đòi hỏi Uỷ ban nhân dân các xã, thị trấn cần tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc, phấn đấu 100% công chức Tư pháp - Hộ tịch xã, thị trấn có phòng làm việc độc lập, phòng lưu trữ tài liệu, hồ sơ để thực hiện thống nhất quản lý chuyên ngành bằng công nghệ thông tin. Bên cạnh đó cần kịp thời động viên, khuyến khích cán bộ Tư pháp - Hộ tịch ở cơ sở phát huy được khả năng và trí tuệ phục vụ công việc được giao, Nhà nước cần có những chính sách đãi ngộ cho phù hợp, bảo đảm quyền lợi cho cán bộ làm công tác Tư pháp - Hộ tịch. Theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP: “Công chức cấp xã, phường tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên phù hợp với chuyên môn của chức danh đảm nhiệm, thực hiện xếp lương như công chức hành chính quy định tại bảng lương số 2 (Bảng lương chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước), bảng lương số 4 (Bảng lương nhân viên thừa hành, phục vụ trong các cơ quan nhà nước và các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước) ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP; Đây là một bước cải cách lớn đáp ứng yêu cầu thực tế thu hút nhân tài vào các cơ quan hành chính cấp xã. Tuy nhiên, thực tế mức lương của công chức Tư pháp - Hộ tịch so với mức sống và thu nhập của tầng lớp trí thức vẫn 88 còn khoảng cách và đây cũng là khó khăn chung trong công cuộc cải cách tiền lương trong mọi ngành nghề, lĩnh vực. Kinh phí hoạt động cũng là một trong những khó khăn của công chức Tư pháp - Hộ tịch. Thực tế cho thấy kinh phí công tác hạn hẹp đã phần nào hạn chế tính chủ động của công chức Tư pháp - Hộ tịch trong quá trình triển khai các hoạt động như phổ biến, giáo dục pháp luật... Đặc biệt các cuộc đi xuống dân để trực tiếp tư vấn, tìm hiểu nguyện vọng của dân đòi hỏi kinh phí hỗ trợ thì thực tế hầu như công chức Tư pháp - Hộ tịch không được hỗ trợ. Vì vậy, tăng cường kinh phí công tác là yếu tố cần được ưu tiên nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công chức Tư pháp - Hộ tịch tại địa phương. Trước thực tế như vậy, cần thiết đề xuất bên cạnh nâng mức lương tối thiểu chung còn là xây dựng cơ chế phụ cấp hợp lý và chế độ khen thưởng xứng đáng nhằm hỗ trợ cho hoạt động của công chức Tư pháp - Hộ tịch. Việc điều chỉnh lương là kế hoạch dài hạn trong khi đó cơ chế phụ cấp và hỗ trợ hoàn toàn có thể được triển khai nếu có sự quan tâm và nhận thức đúng đắn về vai trò của công chức Tư pháp - Hộ tịch của chính quyền địa phương. Tập trung các nguồn thu của địa phương được trích để lại, thực hiện tiết kiệm văn phòng phẩm, điện thoại, điện thắp sáng để tạo nguồn hỗ trợ, phụ cấp thêm cho các cán bộ, công chức. Công khai, minh bạch các nguồn trích để lại phục vụ công vụ, chi tiêu ngân sách; tăng cường phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí nhằm tránh thất thoát, lãng phí cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động. Đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng đối với công chức Tư pháp. Căn cứ vào nhiệm vụ của xã và yêu cầu giải quyết của nhân dân về lĩnh vực hộ tịch cùng các cuộc vận động và phong trào thi đua ở địa phương để xây dựng kế hoạch thi đua hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của công tác hộ tịch và quản lý nhà nước về công tác hộ tịch. Tổ chức tốt phát động thi đua; làm tốt việc giao ước thi đua nhằm cổ vũ động viên cán bộ, công chức hăng hái, thúc 89 đẩy lẫn nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ. Thường xuyên tiến hành tuyên truyền, cổ động trong thi đua, trong thực hiện các cuộc vận động. Nội dung tuyên truyền, cổ động thi đua cần tập trung vào gương người tốt, việc tốt, tuyên truyền những sáng kiến mới, những kinh nghiệm hay. Yêu cầu bình xét khen thưởng trong thi đua phải chính xác, trung thực. Khen thưởng kịp thời những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác hộ tịch. Đề phòng và khắc phục hiện tượng cục bộ, bảo thủ, động cơ thi đua không đúng, ganh tị, ăn thua hoặc bệnh thành tích trong thi đua. 3.2.6. Xây dựng môi trƣờng làm việc, tạo điều kiện và động lực cho cán bộ Tƣ pháp - Hộ tịch phát huy năng lực công tác Xây dựng môi trường làm việc khoa học, hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ Tư pháp - Hộ tịch phát huy năng lực sở trường, cống hiến, sáng tạo vừa là giải pháp quan trọng vừa là yêu cầu đặt ra mang tính cấp thiết nhằm phát huy năng lực công tác đội ngũ cán bộ Tư pháp các xã, thị trấn ở thành phố. Thực chất của giải pháp này là thông qua môi trường làm việc thúc đẩy tính tích cực, tự giác, hình thành ở cá nhân những nhu cầu, động cơ hoạt động. Hoạt động của người công chức Tư pháp - Hộ tịch chịu sự ràng buộc của cơ chế chính sách, đường lối chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật nhà nước nhưng đồng thời họ còn chịu sự tác động không nhỏ của môi trường sống và làm việc. Môi trường rộng chính là môi trường kinh tế xã hội của đất nước. Còn môi trường theo nghĩa hẹp chính là môi trường làm việc, môi trường công sở nơi công chức thực hiện các hoạt động hàng ngày của họ. Thông thường thì công chức chịu ảnh hưởng của môi trường trong việc hình thành động cơ, thái độ và nhu cầu của họ. Nếu môi trường lành mạnh, nhân văn sẽ có ảnh hưởng tích cực, thúc đẩy ý thức học tập rèn luyện, tinh thần hăng say lao động, cống hiến của đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch. Ngược lại nếu môi trường làm không lành mạnh, thiếu tính nhân văn thì đội 90 ngũ công chức sẽ không yên tâm phấn đấu rèn luyện, thậm chí còn bị tha hóa, biến chất do ảnh hưởng xấu từ môi trường làm việc, công tác. Vì vậy, xây dựng môi trường làm việc trong sạch, lành mạnh là yếu tố quan trọng giúp cho đội ngũ công chức nói chung, công chức Tư pháp - Hộ tịch nói riêng nhanh chóng trưởng thành, phát huy được năng lực, sở trường, hoàn thành chức trách nhiệm vụ được giao. Để xây dựng môi trường làm việc trong sạch lành mạnh cần tập trung làm tốt những nội dung biện pháp sau đây: - Xây dựng và thực hiện tốt văn hóa công sở tại nơi làm việc bao gồm việc xây dựng các quy định về thực hiện nếp sống văn minh nơi công sở, những quy định về mang mặc, chấp hành thời gian, quy chế làm việcvv. Các quy định sau khi được ban hành cần phổ biến sâu rộng để mọi người thực hiện. Cán bộ chủ chốt nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cơ sở phải gương mẫu thực hiện đồng thời phải thường xuyên nhắc nhở, chấn chỉnh mọi cán bộ, công chức để tạo thành thói quen tuân thủ các quy tắc trong sinh hoạt nơi công sở. - Xây dựng tập thể cấp ủy trong sạch vững mạnh, có sức chiến đấu cao, tiến hành tự phê bình và phê bình thường xuyên bảo đảm nghiêm túc, trên tình đồng chí theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) gắn với thực hiện Chỉ thị 03/BCT và 05/BCT đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Xây dựng tập thể đoàn kết gắn bó, thương yêu, giúp đỡ, chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi lẫn nhau, tháo gỡ khó khăn trong công tác và đời sống sẽ giúp cho công chức Tư pháp - Hộ tịch nhanh chóng tích lũy được kinh nghiệm mọi mặt, hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. - Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá công chức, hỗ trợ chế độ theo kết quả thực hiện công việc. Đánh giá đúng thực chất năng lực thực thi công vụ của 91 công chức, tạo động lực làm việc cho công chức, làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, tạo sự công bằng trong việc hỗ trợ chế độ theo thực lực. Bên cạnh đó, luôn giáo dục đội ngũ công chức Tư pháp - Hộ tịch về phương pháp công tác, cách thức, phong cách ứng xử, sống chan hòa, đoàn kết trong tập thể, không tự cao, tự đại, cũng không tự ti trong công tác và xử lý các mối quan hệ hàng ngày. Chăm lo xây dựng nề nếp làm việc khoa học, dân chủ, đoàn kết, có tính kỷ luật cao. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở đã được ban hành, công khai, minh bạch các nội dung hoạt động của cấp ủy, chính quyền. Thực hiện đoàn kết, tôn trọng lẫn nhau giữa các thế hệ cán bộ ở cơ sở. 3.2.7. Tăng cƣờng sự kiểm tra, hƣớng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của Phòng Tƣ pháp huyện kết hợp với thực hiện tốt công tác tự kiểm tra và chế độ thông tin, báo cáo, thống kê; định kỳ sơ kết, tổng kết Kiểm tra là một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá kết quả không chỉ tác động trực tiếp tới ý thức tích cực, tự giác của các tổ chức và cá nhân, mà còn đánh giá đúng nhận thức, động cơ trách nhiệm, qua đó sẽ phát hiện khâu yếu, mặt yếu để kịp thời khắc phục; đồng thời là cơ sở điều chỉnh bổ sung nội dung, lựa chọn hình thức phù hợp, ngăn ngừa, phòng ngừa từ xa những vi phạm có thể xảy ra. Công tác kiểm tra cần được tiến hành thường xuyên nhưng cũng có thể đột xuất, khi có những biểu hiện tiêu cực, có khiếu nại, tố cáo. Các hoạt động này cần đảm bảo chặt chẽ, khách quan, tạo động lực và điều kiện thuận lợi cho đội ngũ công chức Tư pháp nỗ lực phấn đấu vươn lên trong tự học tập, tự giáo dục. Việc kiểm tra, đánh giá phải dựa trên các tiêu chí khoa học, cụ thể, đảm bảo cả định tính và định lượng đầy đủ, chính xác. 92 Mối quan hệ giữa Phòng Tư pháp cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã là mối quan hệ giữa cơ quan quản lý chuyên môn cấp trên và cơ quan quản lý hành chính cấp dưới. Với vai trò là cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện công tác Tư pháp ở địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã phải định kỳ hoặc đột xuất báo cáo công tác Tư pháp được giao với Ủy ban nhân dân cấp huyện và Phòng Tư pháp; báo cáo tình hình đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn; phát hiện, đề xuất biện pháp giải quyết những khó khăn vướng mắc với Phòng Tư pháp cấp huyện trong quá trình quản lý hộ tịch; tổng hợp tình hình và số liệu thống kê hộ tịch, báo cáo theo định kỳ 6 tháng và hàng năm. Để tăng cường nhiệm vụ kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ công tác hộ tịch, Phòng Tư pháp huyện phải thường xuyên kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất hồ sơ đăng ký, hoạt động quản lý hộ tịch do Ủy ban nhân dân xã, thị trấn thực hiện trong năm; chỉ đạo việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản lý hộ tịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã; tổ chức hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về đăng ký và quản lý hộ tịch cho công chức Tư pháp - Hộ tịch; theo dõi, nắm bắt kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai các văn bản về công tác hộ tịch; kịp thời chỉ đạo, hướng dẫn cho ủy ban nhân dân xã, thị trấn giải quyết các khó khăn, vướng mắc đó theo quy định của pháp luật. Tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn của huyện đối với xã thông qua việc cử trưởng, phó trưởng phòng cấp huyện xuống dưới cơ sở, thậm chí xuống tận các tổ dân phố, tổ nhân dân tự quản để tham gia các cuộc sinh hoạt, các cuộc hội, họp của chính quyền, đoàn thể, các cuộc sơ, tổng kết các công tác cơ sở. Một hình thức khác, rất đáng lưu ý là thường xuyên duy trì họp báo, họp giao ban định kì giữa cán bộ quản lý Phòng Tư pháp cấp huyện với các công chức quản lý Tư pháp - Hộ tịch cấp xã. Qua đó, lãnh đạo huyện trực tiếp 93 nghe các xã, ngành báo cáo tình hình chung, những khó khăn, vướng mắc, để có hướng chỉ đạo tiếp theo. 3.2.8. Tăng cƣờng sự phối hợp giữa Uỷ ban nhân dân cấp xã với các cơ quan, tổ chức, đoàn thể quần chúng tại địa phƣơng trong quản lý nhà nƣớc về hộ tịch Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương trong việc củng cố, kiện toàn đội ngũ công chức quản lý hộ tịch và trong công tác phối hợp tổ chức quản lý hộ tịch. Thông qua việc triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng về cải cách hành chính, cải cách tư pháp, đặc biệt là Nghị quyết số: 08/NQ-TW của Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác Tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ chính trị về cải cách tư pháp đến năm 2020, các cấp ủy Đảng và chính quyền các cấp đã nâng cao sự nhận thức rõ về vị trí, vai trò của hoạt động đội ngũ cán bộ, công chức quản lý hộ tịch cấp xã trong sự nghiệp xây dựng đất nước hiện nay, thống nhất triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ này cũng như hoạt động quản lý hộ tịch cấp xã. Hoạt động quản lý hộ tịch ở cấp xã ngoài tính chất hành chính, chuyên môn còn mang tính xã hội rộng rãi, kết hợp giữa quản lý nhà nước với sự tham gia của nhân dân. Do đó, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn mà trực tiếp là công chức Tư pháp - Hộ tịch phải phối hợp chặt chẽ với đại diện của các tổ chức quần chúng nhân dân tại địa phương như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh nhằm đảm bảo chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý hộ tịch ở cơ sở. Thông qua các hoạt động như tổ chức sinh hoạt “ Câu lạc bộ tiền hôn nhân” , “ Câu lạc bộ phụ nữ với pháp luật”, “ Câu lạc bộ thanh niên với pháp luật” để kịp thời tuyên truyền đến đoàn viên, hội viên các quy định của pháp luật, góp phần thực hiện 94 tốt các quy định của pháp luật cũng như xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Do đó, cần tăng cường công tác phối hợp hoạt động giữa các ban ngành, đoàn thể và cần có biện pháp cụ thể để đảm bảo cho sự phối hợp, thông tin, trao đổi với nhau trong các hoạt động chuyên môn thông qua các quy chế phối hợp, để từ đó trong mọi hoạt động đều có sự gắn kết, phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ tạo hiệu quả trong công tác của mỗi đơn vị nói riêng và của Tư pháp nói chung. Để bảo đảm sự phối hợp này cần chú ý: - Uỷ ban nhân dân cấp xã thường xuyên quan tâm, chỉ đạo sự phối hợp giữa các tổ chức quần chúng nhân dân, giữa các ban, ngành, tổ chức ở địa bàn, phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị ở cơ sở để tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả hoạt động quản lý hộ tịch, góp phần thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển, giữ ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. - Công chức Tư pháp - Hộ tịch với vai trò là đầu mối triển khai công tác Tư pháp, quản lý hộ tịch ở cấp xã cần tranh thủ sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân xã, thị trấn trong việc thực hiện nhiệm vụ thông qua việc xây dựng chương trình, kế hoạch công tác cụ thể, xác định rõ nội dung công việc, trách nhiệm, thời gian thực hiện, báo cáo Uỷ ban nhân dân cấp xã phê duyệt. Căn cứ vào chương trình, kế hoạch công tác đã được Uỷ ban nhân dân phê duyệt để tổ chức thực hiện, huy động và thu hút sự tham gia của các tổ chức quần chúng nhân dân, đại diện các tổ chức, đoàn thể ở địa phương. Mối quan hệ giữa công chức Tư pháp - Hộ tịch và các công chức chuyên môn khác ở cấp xã là mối quan hệ phối hợp dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân cấp xã. Là một bộ phận của công tác quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, quản lý nhà nước về hộ tịch có mối quan hệ thường xuyên, chặt chẽ với các nhiệm vụ khác như công tác quản lý an ninh trật tự, 95 an toàn xã hội, quản lý đất đai, quản lý tài nguyên môi trường, quản lý an sinh xã hội... ở địa phương, do đó, sự phối hợp giữa công chức Tư pháp - Hộ tịch và các công chức chuyên môn có liên quan khác ở cấp xã cũng có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về hộ tịch. 96 KẾT LUẬN Quản lý nhà nước về hộ tịch là công việc của cơ quan hành chính nhà nước để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đưa đất nước ta vững bước vào thế kỉ XXI trong xu thế hòa nhập chung với thế giới. Thực tế cho thấy, trong mọi điều kiện và hoàn cảnh của đất nước, Đảng và nhà nước ta luôn chú trọng tới quản lý hộ tịch, từng bước quan tâm xây dựng, đổi mới chế độ, chính sách đào tạo đối với đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý hộ tịch theo xu hướng không ngừng nâng cao vị thế, cũng như công tác quản lý hộ tịch trong xu thế phát triển, coi công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ hộ tịch cấp xã là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong xây dựng và củng cố chính quyền nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong những năm qua, công tác quản lý hộ tịch trên địa bàn huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang đã đạt nhiều kết quả quan trọng, trong đó công tác đăng ký và quản lý hộ tịch được đảm bảo, ý thức của người dân được nâng cao nhờ làm tốt công tác tuyên truyền về hộ tịch. Hoạt động thanh tra, kiểm tra hàng năm được coi trọng; công tác thống kê, báo cáo được thực hiện theo đúng quy định, mặt khác việc lưu trữ sổ sách được thực hiện kịp thời, đầy đủ, chính xác đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng, dân số và kế hoạch hóa gia đình. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn bộc lộ những yếu kém, bất cập cần khắc phục. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận và qua thực tế tại huyện Phú Quốc, luận văn đã đề xuất những giải pháp cần hoàn thiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại huyện cũng như trên địa bàn cả nước trong thời gian tới là hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch; nâng cao năng lực bộ máy đăng ký và quản lý hộ tịch của chính quyền các cấp; tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về 97 hộ tịch trên địa bàn các xã, thị trấn; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức hộ tịch; cải cách thủ tục hành chính trong việc thực hiện đăng ký quản lý hộ tịch; đẩy mạnh công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch. Bên cạnh đó, luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị với Đảng, Nhà nước và các cơ quan có liên quan. Đất nước ta đang trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, mọi cấp chính quyền từ Trung ương đến địa phương trong đó có huyện Phú Quốc đang đứng trước những thách thức mới. Vấn đề đổi mới và nâng cao quản lý về hộ tịch trên địa bàn huyện có vị trí đặc biệt quan trọng góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Việc thực hiện các giải pháp trong khuôn khổ luận văn nêu ra, sẽ góp phần hữu ích vào việc quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn huyện cũng như cả nước ngày một hoàn thiện hơn. 98 TÀI LI U THAM KHẢO 1. Bộ Tư pháp (2000), Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật về quốc tịch và đăng ký hộ tịch ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2. Bộ Tư pháp (1995), Chuyên đề thông tin khoa học pháp lý về hộ tịch, Hà Nội, 1995 3. Bộ Tư pháp (2007), Công chứng, hộ tịch và quốc tịch: phần 2 hộ tịch và quốc tịch 4. Bộ Tư pháp, Chuyên đề hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu cây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa 5. Bộ Tư pháp, Thông tư số 15/2015/TT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2015 Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hộ tịch và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch 6. Chính phủ, Nghị quyết số 30c/NQ-CP của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, ngày 8 tháng 11 năm 2011 7. Chính phủ, Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình; 8. Chính phủ, Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch; 9. Phạm Trọng Cường (2001), Hôn nhân biên giới và những vướng mắc trong thủ tục đăng ký kết hôn, Tập san Biên giới và lãnh thổ, số 9 10. Phạm Trọng Cường (2007), Từ quản lý đinh đến quản lý hộ tịch, Nxb. Tư Pháp, Hà Nội 99 11. Phạm Trọng Cường (2004), Về quản lý hộ tịch, NXB. Chính trị quốc gia 12. Đảng cộng sản Việt Nam ( 2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội 13. Nguyễn Hữu Lạc, Giáo trình quản lý Nhà nước về hộ tịch 14. Đàm Thị Kim Hạnh, Tư pháp Hà Nội không khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh, tác giả, tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 03 năm 2008; 15. Học viện Hành chính quốc gia (2006), Giáo trình Hành chính công – dùng cho nghiên cứu học tập và giảng dạy sau đại học 16. Học viện Hành chính quốc gia, Chuyên đề “Quản lý Hành chính – Tư pháp” trong chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính 17. Học viện hành chính quốc gia, Giáo trình quản lý học đại cương, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 2009 18. Đại học Quốc gia Hà Nội (2001), Giáo trình Luật Hành chính Việt Nam 19. Nguyễn Thị Hồng Liên: Quản lý hộ tịch ở thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ luật học, 1996; 20. Quốc Hội, Luật Nuôi con nuôi năm 2010; 21. Quốc Hội, Luật Hộ tịch năm 2014; 22. Quốc Hội, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 23. Quốc Hội, Bộ luật Dân sự năm 2015 24. Quốc Hội, Luật trẻ em năm 2016 25. Trần Văn Quảng (2006), Nâng cao năng lực đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch trong giai đoạn hiện nay, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9 năm 2006 100 26. Lê Thị Hoàng Yến: Đăng ký hộ tịch thực tiễn và hướng hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ luật học, 2002; 27. Ủy ban nhân dân huyện Phú Quốc, Báo cáo thống kê công tác đăng ký hộ tịch của Phòng Tư pháp huyện Phú Quốc từ năm 2013 – 2016; 28. Website Cải cách hành chính – Bộ nội vụ 29. ( http//www.caicachhanhchinh.gov.vn) 30 . Website Bộ Tư pháp (http//www.moj.gov.vn) 31. Website Chính Phủ (http//www.chinhphu.vn) 32. Website tỉnh Kiên Giang (http//www.kiengiang.gov.vn) 33. Website huyện Phú Quốc (http//phuquoc.gov.vn) 101

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_van_quan_ly_nha_nuoc_ve_ho_tich_o_cap_xa_tren_dia_ban_h.pdf
Luận văn liên quan