Trong thời gian thực tập tại công ty bánh kẹo Hải Hà, được sự giúp đỡ
của cán bộ, nhân viên công ty trong việc đánh giá thực trạng hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty. Trước tình hình thị trường bánh kẹo Việt Nam
luôn biến động và sự kiện Việt Nam ra nhập APTA. Vấn đề đặt ra đối với
công ty là cần thiết phải hoạch định một chiến lược sản phẩm hữu hiệu giúp
công ty ứng phó linh hoạt với những thay đổi của môi trường kinh doanh,
vượt qua thử thách, chiến thắng trong cạnh tranh chủ động hội nhập và đi lên
trong thời gian tới.
61 trang |
Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 7945 | Lượt tải: 1
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Luận văn Xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2006- 2008, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
oài. Mặc dù thị trường mua bán và chuyển giao công
nghệ đã phát triển nhưng nó chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho công ty đầu tư để
cạnh tranh với doanh nghiệp ở trong nước, còn để có thể cạnh tranh với các
công ty bánh kẹo nước ngoài, công ty phải chịu một sức ép về giá mua và
chuyển giao công nghệ rất lớn.
3.1.5. Các nhân tố tự nhiên
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều đã ảnh
hưởng rất lớn tới tính thời vụ của công nghệ sản xuất và tiêu dùng bánh kẹo.
Thứ nhất, bánh kẹo là một loại thực phẩm nên luôn phải đảm bảo vệ
sinh, an toàn thực phẩm nhưng nó cũng là loại sản phẩm khó bảo quản, dễ bị
hư hỏng. Do đó chi phí bảo quản và chi phí vận chuyển lớn làm tăng giá
thành sản phẩm.
Thứ hai, phần lớn NVL dùng cho sản xuất bánh kẹo là sản phẩm từ nông
nghiệp mà thời tiết nước ta diễn biến rất phức tạp như mưa bão, lũ lụt, hạn
hán rất nhiều làm cho thị trường cung cấp NVL không ổn định, chi phí dự
trữ NVL lớn.
Thứ ba, nhu cầu tiêu dùng bánh kẹo thay đổi rất lớn theo mùa, sản phẩm
bánh kẹo được tiêu dùng chủ yếu vào các tháng đầu năm và cuối năm cho
nên công tác nhân sự (quản lý, tuyển dụng lao động) và công tác điều đọ sản
xuất của công ty gặp nhiều khó khăn.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Ngoài những bất lợi trên, các công ty sản xuất bánh kẹo nước ta cũng có
nhiều thuận lợi. Với hoa quả, hương liệu đa dạng, nếu công ty có hướng
nghiên cứu thay thế NVL nhập ngoại thì công ty sẽ chủ động được NVL và
có thể tạo ra được NVL mới, công ty sẽ có được lợi thế cạnh tranh trên thị
trường.
3.1.6. Các nhân tố môi trường quốc tế
Trong xu hướng hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, ngày 28/7/1995,
Việt Nam troẻ thành thành viên chính thức của ASEAN, sự hình thành khối
mậu dịch tự do ASEAN (APTA- ASEAN free Trade Area) và việc ký hiệp
định ưu đãi thuế ưu đãi thuế quan (CEPT- Common Effective Preferential
Tariffs) đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển kinh tế của ASEAN,
trong đó có Việt Nam. Theo lịch trình cắt giảm thuế quan trong lộ trình gia
nhập APTA của Việt Nam: giai đoạn 2001- 2003 nếu mức thuế suất hiện
hành của dòng thuế nào cao hơn 20% thì sẽ giảm xuống mức dưới 20% và
tiếp tục giảm xuống còn 0- 5% trong giai đoạn 2003- 2006. Hàng hoá Việt
Nam sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi thấp hơn thuế suất tối huệ quốc mà các
nước ASEAN dành cho các nước thành viên của WTO, từ đó công ty có điều
kiện thuận lợi thâm nhập tất cả thị trường của các nước thành viên của
ASEAN_ một thị trường có hơn 500 triệu dân với tốc độ phát triển tương đối
cao. Nhưng đây cũng là thách thức đối với công ty, không chỉ đối mặt với
khó khăn khi xuất khẩu sang các nuớc thành viên mà phải cạnh tranh quyết
liệt ngay trên thị trường nội địa với chính những sản phẩm bánh kẹo của các
nước ấy, đặc biệt các mặt hàng này từ trước tới nay vẫn được bảo hộ với
mức thuế cao từ 50- 100%. Nếu công ty bánh kẹo Hải Hà không chịu theo
sát tiến trình thực hiện AFTA thì có thể đối đầu với những bất lợi không nhỏ.
3.2. Môi trường cạnh tranh nội bộ ngành
3.2.1. Khách hàng
Khách hàng là nhân tố quyết định sự thành công hay thất bại của chiến
lược sản phẩm. Nếu như sản phẩm của công ty đưa ra thị trường mà không
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
có nhu cầu hoặc ít có nhu cầu thì giá có thấp tới đâu mà quảng cáo có hấp
dẫn tới mức nào thì cũng không có ý nghĩa gì hết. Cũng như vậy nếu sản
phẩm có chất lượng, mẫu mã tuyệt hảo nhưng giá lại quá cao không phù hợp
với túi tiền người tiêu dùng thì nó sẽ không được thị trường chấp nhận. Vì
thế khi hoạch định chiến lược sản phẩm, công ty cần nghiên cứu phong tục
tập quán, lối sống, thị hiếu, động cơ mua hàng của từng khu vực thị trường.
Có thể phân chia khách hàng của công ty thành hai loại đối tượng: khách
hàng trung gian (các đại lý) và người tiêu dùng cuối cùng.
Đối với các đại lý, mục đích của họ là lợi nhuận và động lực thúc đẩy họ
là hoa hồng, chiết khấu bán hàng, phương thức thanh toán thuận lợi của công
ty trả cho họ. Với hơn 200 đại lý, hệ thống phân phối của công ty được đánh
giá mạnh nhất trong ngành sản xuất bánh kẹo, nhìn trung các đại lý tương
đối trung thành, hệ thống đại lý của công ty chủ yếu tập trung ở các tỉnh phía
Bắc sẽ tạo những điều kiện thuận lợi cho công ty kinh doanh ở thị trường
này. Nhưng hệ thống đại lý ở các tỉnh miền Trung và phía Nam lại có nhiều
hạn chế, gây khó khăn khi công ty xâm nhập thị trường.
Đối với người tiêu dùng cuối cùng, nó có tính quyết định sự thành công
của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Công ty cần phải nghiên
cứu, phân tích chính xác nhu cầu, khả năng thanh toán… của nhóm khách
hàng này.
3.2.2. Đối thủ cạnh tranh
Thị trường bánh kẹo ở nước ta hiện nay có sự cạnh tranh khá quyết liệt.
Bên cạnh hơn 30 nhà máy sản xuất bánh kẹo có quy mô vừa và lớn còn hàng
trăm cơ sở sản xuất nhỏ. Có thể kể một số đối thủ cạnh tranh chủ yếu của
công ty như:
Công ty bánh kẹo Hải Châu
Đây là công ty sản xuất bánh kẹo đứng thứ 2 trên cả nước chỉ sau công ty
bánh kẹo Hải Hà với số vốn đầu tư hơn 60 tỷ đồng và sản lượng 6.000 tấn/
năm. Trong thời gian qua Hải Châu rất chú ý đến vấn đề đa dạng hoá và
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
nâng cao chất lượng sản phẩm, công ty đã đầu tư hơn 15 tỷ đông nhập dây
chuyền sản xuất bánh kem xốp phủ sôcôla của Đức, Hà Lan. Đồng thời tổ
chức lại hệ thống đại lý với hơn 200 đại lý và siêu thị trên toàn quốc. Điểm
mạnh của Hải Châu là: công ty có uy tín lâu năm trong ngành sản xuất bánh
kẹo, danh mục sản phẩm rộng, hệ thống phân phối rộng chủ yếu ở miền Bắc,
giá cả tương đối rẻ.
Tuy nhiên phần lớn sản phẩm của Hải Châu có chất lượng trung bình,
mẫu mã chưa thật hấp dẫn, chỉ có mặt hàng bánh kem xốp là mặt hàng chủ
lực có chất lượng tốt.
Mục tiêu của công ty là tiếp tục giữ vững thị trường miền Bắc, mở rộng
thị trường trong nước, hướng tới các phân đoạn thị trường có thu nhập cao và
từng bước thâm nhập thị trường nước ngoài.
Như vậy công ty Hải Châu cạnh tranh với công ty Hải Hà chủ yếu diễn ra
ở thị trường miền Bắc với các sản phẩm bình dân.
Công ty bánh kẹo Tràng An
Đây là một công ty sản xuất bánh kẹo tương đối mạnh ở thị trường miền
Bắc. Sản phẩm của công ty Tràng An cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm của
công ty bánh kẹo Hải Hà, các sản phẩm cạnh tranh chủ yếu là: kẹo cứng, kẹo
mềm và đặc biệt là kẹo hương cốm, sản phẩm này của công ty Tràng An rất
đa dạng với giá rẻ, hương vị cốm đặc trưng phù hợp với người tiêu dùng
miền Bắc.
Công ty đường Quảng Ngãi và công ty đường Biên Hoà
Công ty đường Quảng Ngãi với chức năng ban đầu là sản xuất đường và
cồn. Với ưu thế sẵn có công ty đã đầu tư 50 tỷ đồng nhập các dây chuyền sản
xuất bánh kẹo của Đài Loan, Đan Mạch để đa dạng hoá sản phẩm.
Công ty đường Biên Hoà ban đầu sản xuất đường, một vài năm gần đây
công ty nhập các máy móc thiết bị sản xuất bánh kẹo của Đan Mạch, Pháp,
Italy. Các mặt hàng như kẹo cứng, kẹo dẻo Jelly, sôcôla, bánh biscuit cạnh
tranh khá mạnh với Hải Hà về giá cả.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Công ty TNHH Kinh Đô
Đây là công ty mới tham gia vào thị trường bánh kẹo nước ta với các dây
chuyền công nghệ, thiết bị hiện đại của các nước hàng đầu thế giới. Danh
mục sản phẩm của công ty tương đối rộng (trên 60 chủng loại sản phẩm) với
chất lượng cao, mẫu mã đẹp đủ sức cạnh tranh với bánh kẹo ngoại. Sản
phẩm chủ yếu của Kinh Đô là bánh tươi, bánh mặn, snack, kẹo sôcôla
nhân… cung cấp cho những người có thu nhập cao. Bên cạnh chất lượng sản
phẩm cao, mẫu mã đẹp, hấp dẫn người tiêu dùng, công ty rất chú trọng
quảng cáo nhằm xây dựng hình ảnh của công ty. Công ty Kinh Đô là một đối
thủ cạnh tranh rất lớn của Hải Hà trong quá trình thâm nhập thị trường bánh
kẹo cao cấp.
Công ty liên doanh Hải Hà- Kotobuki
Là công ty liên doanh với hả Hà chuyên sản xuất bánh kẹo, tách ra hạch
toán độc lập theo giấy phép 489/CP ngày 24/12/1992.
So với các công ty khác Hải Hà- Kotobuki có ưu thế về công nghệ, sản
phẩm chủ yếu của công ty gồm: snack, bánh tươi, sôcôla, kẹo cứng, bimbim
và các loại bánh hộp khác. Sản phẩm của công ty hết sức đa dạng, chất lượng
cao, mẫu mã đẹp nhưng giá còn cao.
Điều này được thể hiện rõ hơn qua bảng so sánh các đối thủ cạnh tranh
chủ yếu (Bảng 16)
3.2.3. Nguồn cung cấp nguyên vật liệu
Các loại nguyên vật liệu chính dùng trong sản xuất của công ty như:
đường, sữa, cà phê, gluco, nước hoa quả, bột ngô, bột gạo được mua chủ yếu
từ các nhà sản xuất trong nước. Còn các loại NVL mà trong nước không đáp
ứng được hoặc chất lượng trong nước không đảm bảo cho yêu cầu sản xuất
sản phẩm công ty phải nhập ngoại như: bột mì, bơ, cacao, sữa bột, short,
phẩm mầu và các loại hương liệu. Để tăng tính chủ động nguồn cung cấp
NVL, giảm bớt sự phụ thuộc vào các nhà cung ứng. Công ty đã lựa chọn ký
kết hợp đồng kinh tế với các nhà cung ứng truyền thống có uy tín trong nước
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
và quốc tế với số lượng nhà cung ứng hợp lý sao cho có thể đảm bảo được số
lượng, chất lượng NVL khi có sự biến động từ phía nhà cung ứng nào đó,
đồng thời công ty cũng có được những lợi thế khi mua với số lượng lớn.
Hiện nay, ngành mía đường, ngành sữa Việt Nam đang phát triển mạnh
tạo ra nhiều thuận lợi cho công ty trong việc lựa chọn nhà cung ứng. Tuy
nhiên hiện nay giá đường trong nước còn cao hơn các nước trong khu vực
như: Trung Quốc, Thái Lan, Inđônêxia và xuất hiện xu hướng sát nhập xuôi
theo chiều dọc của các nhà máy đường sẽ tạo sức ép rất lớn cho công ty
trong việc cạnh tranh về giá với các công ty này.
3.2.4. Các đối thủ tiềm ẩn
Ngành công nghiệp sản xuất bánh kẹo có quy trình công nghệ kỹ thuật
khá đơn giản, vốn đầu tư tương đối ít so với một số ngành công nghiệp khác.
Mặt khác hiện nay những pháp lệnh, quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm
cũng như sự quản lý của Nhà nước và các cơ quan ban ngành đối với ngành
sản xuất bánh kẹo còn lỏng lẻo, thiếu chặt chẽ. Do vậy rào cản ra nhập ngành
sản xuất bánh kẹo còn thấp.
Vì vậy ngành bánh kẹo rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc quy
hoạch đầu tư, quan tâm đến quá trình sản xuất, lưu thông và sử dụng các sản
phẩm bánh kẹo đảm bảo các vấn đề về dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực
phẩm, sức khoẻ cho người dân và đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh
giữa các nhà sản xuất.
Đối với các công ty bánh kẹo cần tổ chức hiệp hội bánh kẹo để có những
biện pháp hữu hiệu bảo vệ thị trường trong nước chống lại sự xâm nhập của
các công ty nước ngoài khi lịch trình cắt giảm thuế quan (CEPT) đến gần.
Với lợi thế về quy mô sản xuất, công nghệ chế biến, ngành bánh kẹo nên
nâng cao hàng rào ra nhập thị trường bằng các biện pháp như: chính sách giá
cả, chính sách sản phẩm…
3.2.5. Sản phẩm thay thế
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với nhiều loại hoa quả đa
dạng, thơm ngon. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì ngành
sản xuất chế biến hoa quả cũng phát triển theo, đáp ứng thị hiếu của những
người ưa mới lạ như: mít sấy, khoai sấy, các loại nước ép hoa quả, sữa tươi
mang hương vị hoa quả… được người tiêu dùng rất ưa chuộng.
Các sản phẩm thay thế trên là mối đe doạ rất lớn đối với sản phẩm hiện
tại của công ty, nhưng nó cũng gợi mở cho công ty hướng nghiên cứu, phát
triển sản phẩm mới cho tương lai.
III. Đánh giá chung
1. Những mặt mạnh:
Công ty bánh kẹo Hải hà đến nay đã trải qua gần 40 năm xây dựng và
phát triển .Trong quá trình phát triển và tồn tại Công ty đã gặp không ít khó
khăn , thách thức nhưng nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt của ban giám đốc
cùng sự cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên nên đã đứng
vững được trên thị trường như ngày hôm nay. Hiện nay, Công ty đã có nhiều
chủng loại sản phẩm đáp ứng được mọi nhu cầu, thị hiếu của người dân và
có nhiều mặt hàng cao cấp, đáp ứng phù hợp với mọi tầng lớp nhân dân. Sản
phẩm của Công ty được nhiều tỉnh thành ở các vùng Bắc, Trung, Nam biết
đến thương hiệu (đây là một thế mạnh rất lớn của Công ty ). Đồng thời,
Công ty đã cho nhập nhiều dây chuyền sản xuất công nghệ hiện đại để ngày
càng đáp ứng nhu cầu thị trường và mở rộng thị trường đi các tỉnh , nâng cao
doanh thu của doanh nghiệp …
Bên cạnh đó, sự đoàn kết nhất trí tập trung trí và lực của toàn thể cán
bộ công nhân viên đã tạo nên sức mạnh cộng đồng của Công ty. Ngoài ra,
Công ty cũng đã tranh thủ được sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan quản
lý cấp trên, của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và tổng Công ty mía
đường I, các cơ quan nhà nước (đặc biệt là Ngân hàng đầu tư và phát triển
Hà Nội) đã tạo điều kiện giúp đỡ Công ty trong việc xây dựng triển khai và
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
tổ chức khai thác tốt các dự án đầu tư chiều sâu, đầu tư mới cùng việc khai
thác các sản phẩm sau đầu tư. Trên cơ sở đó Công ty đã tăng được nguồn
tích luỹ khấu hao, tạo nguồn chi trả vốn vay đầu tư đúng và trước thời hạn
thanh toán. Trong 5 năm qua Công ty đã cơ bản hoàn trả hết các khoản vốn
vay đầu tư của các dự án từ năm 1995 - 2001 với nguồn vốn gần 50 tỷ đồng
tạo tiền đề cho các chương trình đầu tư phát triển sản xuất các năm 2002 -
2005. Đồng thời do chủ động về tài chính và thanh toán, nên thực tế đã tiết
kiệm và giảm thấp được chi phí lãi vay ngân hàng đồng thời khắc phục được
sự biến động về tỷ giá ngoại tệ trong những thời điểm thanh toán.
Công ty bánh kẹo Hải hà do có được truyền thống từ lâu đời nên đã tạo
được uy tín và thương hiệu trên thị trường do đó có sức cạnh tranh cao. Hơn
nữa Công ty luôn quan tâm tới việc đầu tư dây chuyền máy móc thiết bị hiện
đại. Mới đây, Công ty bánh kẹo Hải hà đã khảo sát, ngiên cứu xây dựng dự
án tiền khả thi đầu tư dây chuyền bánh mềm cao cấp một loại bánh mới có
sức tiêu dùng phù hợp cho mọi lứa tuổi và có khả năng cạnh tranh cao đối
với sản phẩm cùng loại trong và ngoài nước .
Thời gian gần đây ,do nền kinh tế phát triển nên đời sống của nhân dân
được nâng cao và đồng thời nhu cầu về sản phẩm bánh kẹo cũng tăng theo.
Thị trường của Công ty không ngừng được mở rộng (trong nước và cả nước
ngoài) như Lào, Campuchia, Cuba, ấn Độ... đặc biệt năm vừa qua Công ty
đã xuất khẩu 70 tấn kẹo các loại sang Lào .
Sản phẩm của Công ty không ngừng được nâng cao chất lượng và đa
dạng về chủng loại mẫu mã, Công ty bánh kẹo Hải hà đã chú trọng hơn đến
chất lượng sản phẩm, tạo lập uy tín và ưu thế cạnh tranh của Công ty .
Mặt khác, Công ty còn thực hiện phương thức thanh toán đơn giản, hợp
lý tạo điều kiện cho các kênh tiêu thụ phối hợp nhịp nhàng, lưu thông nhanh
chóng. Tuy nhiên Công ty cần theo dõi sát sao các đại lý, không nên để tình
trạng các đại lý đọng vốn nhiều, lâu, gây khó khăn cho Công ty về vốn trong
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
hoạt động sản xuất kinh doanh , đặc biệt tránh tình trạng không trả được nợ
của các đại lý. Công ty đã có nhiều hình thức hỗ trợ bán hàng, nâng cao sức
mua đối với sản phẩm của mình thông qua quảng cáo trên các phương tiện
thông tin đại chúng: Ti vi, đài, báo, tạp chí... tham gia các kỳ hội chợ giới
thiệu sản phẩm của Công ty, tổ chức các kỳ hội chợ khách hàng.
2. Những hạn chế:
Trong cơ chế thị trường hiện nay, Công ty gặp nhiều khó khăn trong
quá trình cạnh tranh với các doanh nghiệp có tuổi đời chưa cao nhưng có sự
đầu tư mạnh và dây chuyền sản xuất hiện đại, chất lượng sản phẩm cao, mẫu
mã đẹp. Trong khi đó, quá trình quảng cáo và Marketing sản phẩm của
Công ty chưa được mở rộng đến nhiều vùng, tỉnh …Việc đáp ứng nhu cầu
của thị trường là rất khó vì mỗi vùng, tỉnh có sở thích khác nhau, khẩu vị
hoàn toàn khác nhau.
Mặt khác, công nghệ sản xuất sản phẩm của Công ty chưa được đầu tư
nhiều, mặc dù đã có sự thay đổi nhưng rất ít chưa đáp ứng đủ nhu cầu của
thị trường. Ngoài ra, Công ty còn gặp khó khăn trong việc vận chuyển hàng
hoá đi các tỉnh khác vì chi phí tăng đẩy giá thành sản phẩm tăng theo. Đây là
một vấn đề cần bàn đến nhưng để giải quyết là một vấn đề khó .
Bên cạnh những kết quả đạt được, Công ty bánh kẹo Hải hà còn một số
vấn đề cần giải quyết :
- Công ty đã đưa một số dây chuyền hiện đại mới đưa vào sản xuất
nhưng vẫn còn một số dây chuyền sản xuất bánh kẹo đã bị lạc hậu không
phù hợp với mức kế hoạch sản xuất, lãng phí nguyên liệu làm tăng gía thành
sản phẩm. Trong khi đó các đối thủ cạnh tranh, đối thủ hiện tại như Kinh
Đô, Biên Hoà, Hải châu, Tràng An ... đã đầu tư vào thiết bị máy móc hiện
đại và đưa ra thị trường với những sản phẩm tốt hơn, có ưu thế hơn đối với
sản phẩm của Công ty Bánh kẹo Hải Hà. Do đó, Công ty cần phải xem xét
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
đầu tư đổi mới trang thiết bị sản xuất nhằm sản xuất ra các sản phẩm có
chất lượng tốt hơn , giá cả hợp lý.
- Các sản phẩm của Công ty đang phải chịu sự cạnh tranh khốc liệt vì :
giá cả các yếu tố đầu vào tăng như dầu, mỡ, nguyên liệu, bột, đường, các
chất phụ gia... trong khi đó giá của sản phẩm vẫn giữ nguyên, mặt khác các
mặt hàng trốn lậu thuế vẫn còn chỗ đứng trên thị trường trong nước. Do đó
Công ty phải cố gắng tìm các biện pháp nhằm giảm chi phí sản xuất , hạ giá
thành sản phẩm .
- Trên thị trường hiện nay , tệ nạn làm hàng giả, hàng nhái đối với các
doanh nghiệp tư nhân vẫn xuất hiện nhiều. Do đó Công ty cùng với các nhà
phân phối hợp tác cùng điều tra, phát hiện và xử phạt nghiêm minh đối với
việc làm giả, làm nhái đồng thời cũng có chế độ thưởng cho những người có
công tìm ra.
- Phải khắc phục được tính mùa vụ của nhu cầu bánh kẹo trong dân
chúng. Vào dịp lễ tết sản phẩm bánh kẹo, bột canh tiêu thụ lớn, nhiều khi
sản xuất ra không đủ để bán , điều này làm ảnh hưởng tới uy tín của Công ty
đối với các bạn hàng , đôi khi dẫn đến mất thị trường .
- Sản phẩm của Công ty tuy phong phú, đa dạng nhưng chủ yếu thuộc
loại sản phẩm bình dân, trong khi đó thị trường đòi hỏi sản phẩm cao cấp
hơn. Trong năm nay thị trường bánh, kẹo của các đối thủ cạnh tranh có ưu
thế chiếm lĩnh thị trường như bánh của Công ty Kinh Đô, bánh kẹo của
Tràng An, Hải châu, Bảo Ngọc...Do đó Công ty cần phải nâng cao chất
lượng sản phẩm đáp ứng được nhu cầu thị trường .
- Một số loại sản phẩm bao bì còn thô sơ, đơn điệu, mẫu mã chưa hợp
lý, mầu sắc kém hấp dẫn.Ví dụ như mầu nền của bánh kem xốp loại 470 gr
không thanh nhã, đẹp bằng của Hải châu . Bao bì không đủ cứng cáp để vận
chuyển đường xa làm cho sản phẩm bị vỡ, tạo ra sự mặc cảm cho người tiêu
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
dùng, làm tăng cạnh tranh . Do đó Công ty phải đầu tư nâng cao chất lượng
bao bì, tạo ra những kiểu mẫu mã đẹp hơn, sang trọng hơn.
- Bên cạnh đó, Công ty chưa có chế độ về doanh thu, đây cũng là vấn
đề quan trọng cần chú ý. Bởi các Công ty khác vẫn có chế độ về doanh thu
mặc dù cũng sản phẩm như thế thậm trí còn tốt hơn, thí dụ như các công ty
bánh kẹo Hải châu, Tràng An...Như vậy, Công ty cần có chế độ về doanh
thu hợp lý để có thể khuyến khích các cán bộ công nhân viên ,qua đó có thể
nâng cao năng suất chất lượng.
- Một vấn đề nữa cần chú ý đó là Công ty chưa có phòng Marketing
riêng biệt. Đội ngũ cán bộ nghiên cứu phát triển thị trường còn thiếu, năng
lực chuyên môn còn hạn chế, không có phương pháp nghiên cứu thị trường
một cách chính xác, khoa học. Do đó Công ty cần chú trọng nâng cao trình
độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ và cố gắng lập ra một phòng chuyên
nghiên cứu các vấn đề về Marketing để có thể mở rộng thị trường.
3. Nguyên nhân tồn tại
Trong những năm qua, là một doanh nghiệp sản xuất có tiếng trên thị
trường, trong bước chuyển đổi trong cơ chế thị trường, Công ty bánh kẹo Hải
ha đã từng bước nắm được nhu cầu của thị trường, cải tiến và đầu tư máy
móc thiết bị , mua sắm những dây chuyền công nghệ hiện đại và thực hiện đa
dạng hoá sản phẩm. Công ty mạnh dạn đưa ra thị trường những sản phẩm
phong phú về hình thức và chất lượng, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người
tiêu dùng.
Mặt khác, Công ty còn thực hiện một hệ thống chính sách khuyến khích
với khách hàng được điều chỉnh phù hợp với yêu cầu thực tế trong từng thời
kỳ, điều này đã giúp Công ty hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định và phát
triển ngày càng cao.
Bên cạnh những thành công đạt được, hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty còn hạn chế như sau: chưa hoàn toàn khắc phục được tính thời
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
vụ của nhu cầu bánh kẹo trong nhân dân như vào các dịp lễ tết, sản phẩm của
Công ty tiêu thụ rất lớn song nhiều khi sản xuất ra không đủ bán. Do vậy,
các phân xưởng phải làm thêm ngoài giờ mới đủ đảm bảo lượng hàng hoá
phục vụ nhu cầu khách hàng. Mặc dù đã có nhiều cán bộ điều tra nghiên cứu
thị trường thường xuyên nhưng lĩnh vực này Công ty còn rất nhiều hạn chế.
Công ty chưa có phòng nghiên cứu Marketing riêng mà Bộ phận nghiên cứu
thị trường là một bộ phận của phòng kế hoạch vật tư. Do đó Công ty cũng
cần chú trọng hơn đến vấn đề này để có thể mở rộng thị trường .
PHẦN III
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC
SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ
I. Phương hướng phát triển của công ty
1. Định hướng:
Mục tiêu phấn đấu của công ty trong giai đoạn 2005- 2010 là giữ vững
quy mô, tốc độ phát triển để trở thành một trong những công ty sản xuất
bánh kẹo lớn nhất Việt Nam. Công ty bánh kẹo Hải Hà có trang thiết bị tiên
tiến, có khả năng cạnh tranh với công nghiệp sản xuất bánh kẹo của các nước
trong khu vực. Sản lượng bánh kẹo của Hải Hà ước tính đến năm 2006
khoảng 18.000 tấn/ năm chiếm khoảng 15- 17% tổng sản lượng ngành, trong
đó tiêu thụ trong nước khoảng 15.000 tấn, xuất khẩu 3.000 tấn, doanh thu
216 tỷ đồng, nộp ngân sách 25 tỷ đồng.
2. Mục tiêu
+ Mục tiêu chung.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Tămg doanh thu của công ty bằng cách kích thích khách hàng truyền
thống, thu hút khách hàng của các đối thủ cạnh tranh nâng cao khả năng
cạnh tranh . Đây chính là vấn đề sống còn của công ty trên thị trường. Công
ty nhận thấy chỉ có thể phát triển được khi khả năng cạnh tranh của công ty
ngày càng tăng lên. Sức cạnh tranh cao luôn giúp công ty tăng khả năng
trong kinh doanh các phương thức bán hàng. Trong thời gian tới, mục tiêu cơ
bản tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường nội địa - thúc đẩy mạnh mẽ tiêu
thụ sản phẩm.
Nâng cao uy tín của công ty trên thị trường trong nước cũng như ngoài
nước. Uy tín trong kinh doanh là vấn đề quan trong trên thị trường hiện nay.
Có uy tín khả năng kinh doanh trên thương trường thuận lợi hơn cả trong
hiện tại cũng như trong tương lai, khả năng ổn định và phát triển kinh doanh
của công ty ngày càng cao tạo cho mục tiêu khác cũng phát triển.
Kinh doanh phải có hiêu quả, từ đó có khả năng tái đầu tư để phát
triển và phát huy tốt vai trò trong nền kinh tế, đóng góp đầy đủ cho ngân
sách nhà nước , tăng lợi nhuận cho công ty.
+. Mục tiêu cụ thể.
Giữ vững và ổn định sản xuất kinh doanh trên cơ sở đẩy mạnh hoạt
động kinh doanh , Tích cực khai thác thêm mặt hàng mới , nguông hàng mới
đáp ứng đầy đủ, kịp thời nhu cầu của thị trường.Bảo tồn và tăng cường vốn.
Dựa vào các hoạt động sản xuất kinh doanh, công ty đề ra các chiến lược về
tài chính, sử dụng vốn nhằm phát huy hơn nữa các hiệu quả kinh doanh, tăng
cường công tác quản lý sử dụng tài sản, tiên vốn song song với việc nâng cao
kinh doanh về cả mặt chất lượng lẫn số lượng. Khai thác tốt , có hiệu quả cơ
sở vật chất kỹ thuật hiện có.
Củng cố và khai thác triệt để thị trường truyền thống, thị trường hiện
tại của công ty. Phát hiện xâm nhập và dần chiếm lĩnh thị trường mới. Đảm
bảo giữ được thị phần, tăng doanh số bán, tăng lợi nhuận vừa củng cố uy tín
của công ty trên thị trường.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Phát huy tốt nhất mọi nguồn lực của công ty, nguồn nhân lực của
công ty phải được bảo đảm về chất lượng. Tức là đủ kiến thức, kinh nghiệm
và được sắp xếp một cách hợp lý trong cơ cấu lao động.
Tạo dựng, thiết lập mối quan hệ rộng rãi với các bạn hàng trong nước
và quốc tế.
Bảo đảm việc làm ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất
cho cán bộ công nhân viên , làm tròn nghĩa vụ đối với nhà nước.
Về bộ máy lao động:
Tiếp tục kiện toàn bộ máy quản lý đã ban hành. Có kế hoạch đào tạo
và đào tạo lại lao động đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh
Công tác quản lý: Tiếp tục xây dựng cơ chế quản lý và quy chế cho phù hợp
. Triệt để tiết kiệm trong chi phí, trước hết là chi phí về điện nước, hành
chính, thực hiện tài chính công khai và kiểm tra nội bộ từng quý trong năm.
- Kiện toàn công tác tài chính kế toán , quản lý chặt chẽ nguồn vốn
kinh doanh , có tầm nhìn chiến lược trong huy động và sử dụng vốn.
Vấn đề đặt ra hiện nay cho công ty là vốn kinh doanh , để nhập khẩu
hàng hoá doanh nghiệp cần có vốn, cơ cấu vốn lưu động của công ty cần đủ
để tài trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu. Và để công ty nhập khẩu được kịp
thời đúng tiến độ kinh doanh chung cũng như giảm tối thiểu các khoản chi
phí. Công ty phải kiện toàn công tác tài chính kế toán doanh nghiệp, quản lý
chặt chẽ nguồn vốn kinh doanh , đa dạng hoá các hình thức huy động vốn và
sử dụng vốn.
Công ty phải quản lý chặt chẽ nguồn vốn, tổ chức các nghiệp vụ thu
chi tiền tệ đảm bảo thúc đẩy có hiệu quả , tiết kiệm phù hợp với các chi phí
hiện hành.
Xây dựng mối quan hệ với hệ thống ngân hàng tốt hơn nữa, tạo lập và
duy trì niềm tin của ngân hàng đối với công ty một cách cụ thể và thiết thực.
Tranh thủ huy động khai thác các nguồn vốn vay dài hạn.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Hiện đại hoá trang thiết bị.
Hiện nay tất cả các doanh nghiệp đang từng bước trang bị máy móc,
cơ sở vật chất hiện đại để phục vụ cho công tác hoạt động sản xuất kinh
doanh của mình. Trước tình hình đó Hai hà phải:Mạnh dạn đầu tư trang thiết
bị hệ thống máy tính cho cán bộ kinh doanh xuất nhập khẩu là biện pháp
mang lại hiệu quả kinh doanh cao, ổn định mặc dù chi phí khá lớn.Đông thời
với việc đầu tư trang thiết bị, công ty phải đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân
chuyên sử dụng các trang thiết bị đó nhằm sử dụng một cách có hiệu quả
nhất và đảm bảo độ an toàn.
- Nâng cao chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ cán bộ
công nhân viên.
Con người là trung tâm trong mọi hoạt động , có sức sáng tạo vô hạn
cho nên quản lý con người phải khoa học rõ ràng nhằm đạt được hiệu quả
kinh doanh tốt nhất. Nhiều điều tra cho thấy quản trị nguồn nhân lực tốt dẫn
đến thành công của doanh nghiệp.
Thường xuyên đào tạo cán bộ trong kinh doanh cho phù hợp với yêu
cầu và tình hình mới. Tuyển chọn thêm nhân viên từ các trường học thuộc
khối kinh tế, quản trị kinh doanh, đưa cán bộ công nhân viên tham gia lớp
tập huấn ngắn hạn.
Thực hiện chế độ đãi ngộ nhân sự, kích thích bằng vật chất và tinh
thần thông qua tiền lương, tiền thưởng tạo cơ hội cho cá nhân có thành tích ,
trình độ nghiệp vụ đạt yêu cầu đề ra, bên cạnh đó khuyến khích bằng tinh
thần như tổ chức các cuộc hội thảo… tạo mối quan hệ thân thiện giữa lãnh
đạo với công nhân.
Xây dựng một cơ cấu nhân sự hợp lý, khoa học, phát huy tính năng
động sáng tạo của mỗi cá nhân cũng như khai thác có hiệu quả nguồn chất
xám của mỗi cơ hội kinh doanh, tránh tình trạng người lao động có tay nghề
nghiệp vụ, trí tuệ không được phát huy năng lực của mình.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường.
Đảm bảo khả năng cạnh tranh , tránh rủi ro, công ty cần phải nắm
vững thị trường (qua quá trình điều tra thu thập xử lý và phân tích thông tin
thị trường). Nghiên cứu thị trường chính là việc phục vụ đề ra sách lược
đúng đắn.
Đối với thị trường hiện tại : Công tác nghiên cứu thị trường cần hiểu
rõ khách hàng của mình cần gì, đã mãn nhu cầu của khách hàng chưa, nhu
cầu khách hàng tăng hay giảm, các loại hình dịch vụ đã hợp lý chưa. Từ đó
đề ra các biện pháp cụ thể nhằm tăng doanh số bán hàng.
Đối với thị trường mới : cần làm rõ vấn đề nhu cầu của khách hàng ra
sao, mua cái gì, mua bao nhiêu , có chấp nhận được mức giá mình đưa ra hay
khaông. Từ đó doanh nghiệp quyết định kinh doanh trong lĩnh vực nào, tìm
hiểu các đối thủ cạnh tranh và các loại hình dịch vụ mà công ty sẽ đưa ra.
III. Giải pháp để xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty
bánh kẹo hải hà giai đoạn 2005-2008
1. Các giải pháp hoàn thiện công tác xác định mục tiêu và các nhiệm vụ
của chiếm lược kinh doanh.
Hiện nay, Công ty bánh keo Hải châu đang theo đuổi 3 mục tiêu chính
đó là:
+ Nâng cao khả năng cạnh tranh
+ Tăng lợi nhuận
+ Tăng thị phần.
Xét trên tổng thể cơ 3 mục tiêu này đều có thể tạo nên sự vững mạnh
và thịnh vượng cho Công ty trong tương lai. Nhưng thực tế, Công ty lại làm
giảm sự thị vượng và sự vững mạnh của mình trong năm qua (2004) khi
Công ty theo đuổi cả 3 mục tiêu này.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Như chúng ta đã biết mục tiêu mà doanh nghiệp muốn đạt được là một
kết quả kỳ vọng trong tương lai mà doanh nghiệp phải huy động mọi nguồn
lực để thực hiện nhưng nếu mục tiêu không được định lượng một cách chính
xác, cụ thể thì rất khó có thể đạt được. Ngoài ra nó làm hao tổn nguồn lực
của doanh nghiệp nếu như mục tiêu đó qua cao hoặc mơ hồ.
Hơn nữa mục tiêu cần đạt được phải được căn cứ trên thực trạng
nguồn lực sở hữu của doanh nghiệp không nên theo đuổi mục tiêu nằm ngoài
các nguồn lực mà doanh nghiệp có mà phải trông cậy vào nguồn tài trợ bên
ngoài thì xẽ làm giảm đi tính chủ động trong quá trình đạt mục tiêu trên do
chịu phải chịu sức ép từ bên ngoài.
Ngoài ra khi theo đuổi cùng một lúc nhiều mục tiêu thì chắc chắn rằng
lợi ích mục tiêu này sẽ đe doạ lợi ích của mục tiêu khác, không bao gồm bao
giờ có sự chọn vẹn cả 3 mục tiêu cùng công việc.
Do vậy các giải pháp hoàn thiện công tác xác định mục tiêu chiếm
lược kinh doanh của Công ty trong giai đoạn 2005-2008.
- Công ty cần phải định lượng rõ các mục tiêu của mình. Đặc biệt các
mục tiêu khó định lượng như mục tiêu nâng cao khả năng cạnh tranh. Công
ty nên nâng cao khả năng cạnh tranh cho khả năng mặt hàng truyền thống
như: Mặt hàng bánh quy, bánh kem xốp, một mặt hàng mà Công ty đang
chiếm ưu thế trên thị trường mà có nhiều ưu thế trong sản xuất kinh doanh,
tạo thành một thế mạnh riêng. Còn đối với một số mặt hàng cao cấp như các
sản phẩm kẹo Socola, bánh mềm thì nên có mục tiêu khác thấp hơn như
mục tiêu xâm nhập thị trường cho các sản phẩm này. Vì đây là loại sản
phẩm mới mới bước vào chu kỳ sống chưa được thị trường chấp nhận, Công
ty chưa có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh trong mặt hàng này
nên chất lượng chưa được cao. Do vậy Công ty phải thăm do thị trường
trước, điều này sẽ khiến công ty rất tốn kém để đầu tư cho cảo cáo khuyếch
chương sản phẩm.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
- Công ty phải vào thực trạng nguồn lực của mình để xác định các mục
tiêu cần đạt, không nên sử dụng nguồn vốn t ài trợ từ bên ngoài để thực hiện
mục tiêu ở cấp độ cao, điều đó sẽ gây sức ép cho Công ty. Muốn làm được
vậy Công ty cần thực hiện phương châm. "bóc ngắn nuôi dài" như mua các
dây chuyền bánh quy có giá trị vừa phải thời gian hoàn vốn nhanh để có thể
tái đầu tư mở rộng.
- Công ty không nên đặt 3 mục tiêu đều quan trọng như nhau vì như
vậy sẽ có sự mâu thuẫn lẫn nhau. Nếu thực hiện mục tiêu xâm nhập thị
trường cho sản phẩm mới thì chắc chắn mục tiêu lợi nhuận sẽ bị ảnh hưởng
vì ở giai đoạn đầu chu kỳ sống của sản phẩm thì chi phí cố định tính cho mỗi
đơn vị sản phẩm cao, sản phẩm chưa được người tiêu dùng chấp nhận nên
khó tiêu thụ tồn đọng nhiều…
* Trong giai đoạn 2005-2008 từ mục tiêu quan trọng nhất làm mục
tiêu tăng cường khả năng cạnh tranh cho các sản phẩm có thế mạnh của
Công ty và xâm nhập thị trường cho các sản phẩm mới. Tiến tới mở rộng thị
phần. Do vậy một số nhiệm vụ đặt ra:
- Nghiên cứu các loại sản phẩm mới có thể đáp ứng được nhu cầu của
thị trường.
- Nghiên cứu các nhu cầu mới của thị trường để có hướng đầu tư mới.
- Nâng cao công tác tìm đầu ra cho các sản phẩm cao cấp của Công ty
trên thị trường đến tay người tiêu dùng.
- Hoàn thiện các chính sách về giá, chính sách phân phối, chính sách
quảng cáo, và các chính sách thành toán cho các sản phẩm mới để xâm nhập
t hị trường.
- Huy động nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp để đầu tư sản xuất.
- Nâng cao công tác đào tạo con người để tiếp thu công nghệ mới phục
vụ tốt hơn cho quá trình sản xuất…
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
* Bên cạnh đó mục tiêu lợi nhuận cần được chú ý đê tăng tính hiệu
quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Một số nhiệm vụ đặt ra là:
- Nâng cao công tác cung ứng nguyên liêu đầu vào để giảm chi phí.
- Nâng cao công tác lập kế hoạch sản xuất để cung ứng kịp thời bánh
kẹo khi thị trường cần với số lượng và chủng loại đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng.
- Nâng cao công tác quản lý sản xuất để tiết kiệm trong sản xuất.
2- Các giải pháp hoàn thiện công tác phân tích môi trường bên trong và
bên ngoài Công ty
* Cần phần tích và đánh giá các nguồn lực bên trong Công ty một cách
có hệ thống và chính xác. Đó là cách nhìn nhận để có thể sử dụng có hiệu
qủa các nguồn lực giới hạn này:
- Nguồn nhân lực: Đây là nguồn lực đầu tiền và cũng là quan trong
nhất đối với các doanh nghiệp không chỉ riêng với Công ty Bánh kẹo Hải
Châu. Mọi kết quả sản xuất kinh doanh đạt được đều phục vụ cho người lao
động đồng thời chính người lao động chi phối và sử dụng các nguồn lực
khác phục vụ cho sản xuất kinh doanh do vậy cầm phải nắm chắc cơ cấu và
trình độ lao động của Công ty.
- Nguồn tài chính là nguồn lực rất quan trọng để có thể tài trợ cho quá
trình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty từ khâu đầu vào đến khâu
đầu ra.
Cần phải đánh gía chính xác nguồn tài chính theo cơ cấu và theo nguồn:
+ Nếu đánh giá nguồn tài chính theo cơ cấu thì sẽ xác định được tỉ
trọng giữa vốn lưu động và vốn cố định. Từ đó có thể biết được Công ty có
khả năng tài chính linh hoạt về vốn lưu động trong kinh doanh ở mức độ nào.
+ Nếu đánh giá nguồn tài chính theo nguồn thì sẽ xác định được tỉ
trọng giữa vốn tự có và vốn được tài trợ từ bên ngoài. Từ đó biết được khả
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
năng tự chủ về vốn của Công ty, biết được Công ty có chịu sức ép từ bên
ngoài không?
- Nguồn máy móc trang thiết bị - công nghệ của Công ty được xem
như là một lợi thế để sản xuất ra các loại sản phẩm có chất lượng cao, có khả
năng cạnh tranh cao. Nếu dây chuyền nào hết kỳ hoàn vốn thì đó thực sự là
một lợi thế lớn vì có thể giảm được giá thành sảm phẩm.
- Uy tín và thương hiệu của Công ty là một lợi thế cạnh tranh mà
Công ty cần phải tính đến như một nguồn lực hiệu quả. Điều đó rất có lợi
cho Công ty khi tung ra các sản phẩm mới trên thị trường.
* Phân tích và đánh giá các yếu tố môi trường bên ngoài theo giác độ sau:
- Xem xét các yêu tố ảnh hưởng bên ngoài một cách khách quan và có
thể định lượng được các mức độ ảnh hưởng như lượng Cầu, lượng Cung, tỉ
giá ngoại tệ, thu nhập bình quân GDP đầu người hàng năm..
- Dự báo được sự thay đổi của môi trường vĩ mô cũng như môi trường
đặc thù để xác định hướng đi cho Công ty. Đó là các chính sách của Nhà
nước về thuế, xuất nhập khẩu các nguyên liệu đầu vào của Công ty…
3. Các giải pháp hoàn thiện công tác xây dựng các phương án chiến lược
- Các phương chiến lược phải được xây dựng trên cơ sở khai thác các
thế mạnh của Công ty và các yếu tố thuận lợi t ừ môi trường. Các điểm mạnh
đó là nguồn nhân lực lớn và có trình độ tay nghề cao, nguồn vốn lưu động
lớn, các dây chuyền sản xuất đã hết kỳ hoàn vốn, uy tín và thương hiệu của
Công ty cao, mạng lương phân phối rộng khắp, các chính sách giá linh
hoạt…các điểm thuận lợi là nhu cầu tiêu dùng tăng lên thị trường và xu
hướng ngày càng mở rộng.
- Các phương án chiến lược của Công ty có thể lấy điểm mạnh để khắc
phục khó khăn từ môi trường hoặc lấy thuận lợi từ môi trường khắc phục
các điểm yếu của Công ty. Cụ thể như các sản phẩm bánh Quy của Công ty
rất đa dạng, có chất lượng cao mà giá rất phù hợp với thu nhập bình quân của
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
người tiêu dùng nên có thể xân nhập các khu vực thị trường nông thôn, điều
này sẽ khắc phục được các khó khăn do các đối thủ cạnh tranh đem lại. Do
vậy phương án chiến lược đa dạng hoá các sản phẩm bánh Quy có thể được
thiết lập.
- Các phương án chiến lược, phải căn cứ trên thực trạng nguồn lực của
Công ty không nên xây dựng các phương án chiến lược phục thuộc quá nhiền
vào nguồn lực từ bên ngoài. Bài học đáng kể rút ra từ phương án đầu tư dây
chuyên bánh nềm Custard của Hà Lan trị giá 65 tỷ VNĐ. Trong thời kỳ đầu
Công ty rất khó tiêu thụ sản phẩm bánh này do công nghệ sản xuất chưa nắm rõ,
kinh nghiện chưa có nên chất lượng chỉ đạt 45% yêu cầu tiêu chuẩn.
- Các phương án chiến lược về xây dựng cần phải tập trung giải quyết
được các vấn đề trọng điểm mà Công ty đang phải đối đầu với các nguy cơ tiềm
ẩn hay các khó khăn. Để khi thực hiện các phương án chiến lược đó, Công ty có
thể thảo gỡ được các khó khăn và né tránh được các nguy cơ tiềm ẩn đó. Ví dụ
khi Công ty xây dựng phương án chiến lược Marketing thì trước đó Công ty
đang có rất nhiều vấn đề yếu kém trong việc tìm hiểu nhu cầu thị trường và các
sản phẩm Công ty không thể tiêu thụ được ở các khu vực nông thôn nơi có thu
nhập thấp. Nhưng khi thực hiện chiến lược Marketing thì Công ty đã hoàn toàn
làm chủ được thị trường nông thôn do nắm bắt được nhu cầu của khach hàng tiêu
dùng đồng thời có một chính sách giá phù hợp cho từng loại sản phẩm ở các khu
vực thị t rường khác nhau.
- Các phương án chiến lược cần phải được xây dựng trên cơ sở tính đến
lợi ích kinh tế lâu dài (trên 5 năm). Vì như vậy Công ty mới có thể huy động hiệu
quả các nguồn lực tập trung vào thực hiện chiến lược và dễ phân bổ nhỏ các chi
phí cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng dễ thu hồi vốn đầu tư.
- Các phương án chiến lược khi xây dựng phải được chia nhỏ thành các
nhiệm vụ trong từng giai đoạn. Các nhiệnm vụ đó được giao cho các bộ phận
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
chức năng theo phạm vi trách nhiệm đồng thời phải có sự phối hợp trong các
hành động vì hiệu quả đem lại từ chiến lược mới cao.
4. Các giải pháp hoàn thiện công tác lựa chọn chiến lược
- Sau khi các phương án chiến lược được xây dựng thì điều cần thiết
phải có sự thảo luận, đánh giá của các bộ phận chức năng và Ban giám đốc
trong Công ty. Các luận chứng kinh tế của từng phương án chiến lược phải
chỉ ra được các lợi ich kinh tế to lớn mà chiến lược đem lại và tính khả thi
của phương án đó. Nếu phương án chiến lược hứa hẹn nhiều lợi ích kinh tế
như khó thực hiện thì phương án đó không thể được lựa chọn. Ngược laị
phương án có tính khả thi cao nhưng lợi ích kinh tế thấp thì cũng không
được lựa chọn vì như vậy Công ty sẽ đánh mất nhiều chi phí cơ hội. Điều đó
giải thích tại sao Công ty dự tính năm 2005 sẽ đầu tư dây chuyền bánh Quy
cao cấp của Đài Loan trị giá 20 tỷ VNĐ. Khi thực hiện chiến lược này Công
ty sẽ dễ dàng đưa các sản phẩm này xân nhập thị trường vì đây là mặt hàng
mà Công ty có thế mạnh và có rất nhiều kinh nghiêm trong công nghệ sản
xuất. Đồng thời các sản phẩm bánh Quy rất đa dạng và có tính phổ dụng rất
cao. Hơn nữa mặt hàng bánh Quy đã đem lại uy tín lớn cho Công ty từ lâu.
Đặc biệt thời gian hoàn vốn nhanh, trong khoảng 5 năm là Công ty có thể thu
được lợi nhuận từ dây chuyền này.
- Các phương án chiến lược được lựa chọn phải tạo ra được sự vượt
trôi về các năng lực mà Công ty đang có và có sự khác biệt với các đối thủ
cạnh tranh. Trên thực tế trong những năm qua Công ty vẫn chưa làm được
điều này như các đối thủ cạnh tranh: Hải Châu, Kinh Đô…công suất của các
dây chuyền bánh mềm và Socola rất lớn nhưng lại dư thừa do sản xuất ra
không bán được. Bởi vì các sản phẩm cao cấp của Công ty chưa thực sự vượt
trội và khác biệt trên thị trường là mấy.
5 . Các giải pháp hoàn thiện công tác kiếm soát xây dựng chiến lược.
- Xây dựng chiến lược là khâu tiếp theo của khâu lựa chọn chiến lược.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
Sau khi các nhà hoạch định Công ty đã cân nhắc và đánh giá các lợi ích và
tính khả thi của chiến lược được lựa chọn thì học bắt tay vào xây dựng chiến
lược. Để có thể kiểm soát hiệu quả việc xây dựng chiến lược cần phải tuân thủ
các yêu cầu sau:
- Chiến lược phải được xây dựng trên cơ sở phân tích và đánh giá về
môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp thông qua cá mô hình
SWOT hoặc mô hình cặp sản phẩm thị trường.
- Chiến lược phải căm cứ trên các đề xuất, đóng góp ý kiến của các bộ
phận chức năng.
- Chiến lược phải căn cứ vào giới hạn các nguồn lực, không thể xây
dựng chiến lược nằm ngoài tầm với của Công ty.
- Chiến lược phải hướng đúng vào mục tiêu đã nêu ra ở trên với cách
thức tiến hành hiệu quả nhất.
- Chiến lược phải có sự điều chỉnh khi có sự thay đổi từ các yếu tố
môi trường bên trong và bên ngoài.
- Chiến lược phải phù hợp với các quy định về pháp luật và các thể lệ
kinh tế khác như: Cạnh tranh lành mạnh
KẾT LUẬN
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, việc xây
dựng và lựa chọn chiến lược sản phẩm là một vấn đề hết sức có ý nghĩa, bởi
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
vì nó có vị trí và vai trò rất quan trọng, là cơ sở để xây dựng và thực hiện các
kế hoạch nhằm phát triển toàn diện doanh nghiệp.
Trong thời gian thực tập tại công ty bánh kẹo Hải Hà, được sự giúp đỡ
của cán bộ, nhân viên công ty trong việc đánh giá thực trạng hoạt động sản
xuất kinh doanh của công ty. Trước tình hình thị trường bánh kẹo Việt Nam
luôn biến động và sự kiện Việt Nam ra nhập APTA. Vấn đề đặt ra đối với
công ty là cần thiết phải hoạch định một chiến lược sản phẩm hữu hiệu giúp
công ty ứng phó linh hoạt với những thay đổi của môi trường kinh doanh,
vượt qua thử thách, chiến thắng trong cạnh tranh chủ động hội nhập và đi lên
trong thời gian tới.
Mặc dù thế giới đã có nhiều kinh nghiệm trong hoạch định và lựa chọn
chiến lược kinh doanh cũng như chiến lược sản phẩm, nhưng ở nước ta nói
chung và công ty Hải Hà nói riêng đây là vấn đề khá mới mẻ, cần phải được
làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn. Để vận dụng sáng tạo vào hoàn
cảnh cụ thể, chuyên đề đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề chung nhất về
chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Trên cơ
sở phân tích môi trường kinh doanh bên ngoài và môi trường nội bộ công ty
kết hợp với cơ sở lý luận chung để hoạch định và lựa chọn một chiến lược
sản phẩm cho công ty (chiến lược đa dạng hoá, chú trọng phát triển các sản
phẩm chất lượng cao và cao cấp).
Em xin chân thành cảm ơn các anh (chị) phòng kinh doanh và Thầy giáo
Vũ Anh Trọng đã giúp em hoàn thành chuyên đề thực tập tốt nghiệp này.
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình chiến lược kinh doanh và phát triển doanh nghiệp
Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Thành Độ
TS. Nguyễn Ngọc Huyền
2. Giáo trình chiến lược và kế hoạch phát triển doanh nghiệp
Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Thành Độ
3. Chiến lược kinh doanh phương án sản phẩm lựa chọn và quyết định
Chủ biên: PTS. Trần Hoàng Kim, NXB Thống kê_ 1994
4. Chiến lược kinh doanh và sách lược kinh doanh
Chủ biên: TS. Nguyễn Thị Liên Diệp, NXB Thống kê_ 1997
5. Giáo trình quản trị kinh doanh tổng hợp_ ĐH KTQD
6. Tạp chí công nghiệp Việt Nam năm 2000, 2001, 2002
7. Các báo cáo của phòng kinh doanh công ty bánh kẹo Hải Hà
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................. 1
PHẦN I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ .... 3
I. Quá trình hình thành và phát triển ............................................................. 3
1. Lịch sử hình thành và phát triển .......................................................... 3
1.1.Tên địa chỉ của Công ty. ................................................................... 3
1.2. Thời điểm thành lập và các mốc quan trọng trong quá trình phát triển . 3
2. Chức năng nhiệm vụ của Công ty bánh kẹo Hải Hà. ........................... 5
II. Một số đặc điểm kinh tế kỹ thuật ............................................................. 6
1 . Đặc điểm tổ chức ............................................................................... 6
1.1. Chức năng, nhiệm vụ của từng phòng ban, xí nghiệp: ..................... 7
1.1.1. Hệ thống các phòng ban:......................................................... 8
1.1.2. Hệ thống xí nghiệp thành viên: Công ty có 7 xí nghiệp thành viên:9
2. Đặc điểm về lao động .......................................................................10
3. Đặc điểm về sản phẩm ......................................................................11
4. Thị trường..........................................................................................12
5. Đăc điểm về máy móc thiết bị................................................................14
6. Đặc điểm về vốn: ..............................................................................16
PHẦN III: THỰC TRẠNG VỀ CHIẾN LƯỢC SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY 18
I. Khái quát chung về chiến lược kinh doanh..............................................18
1. Khái niệm về chiến lược sản phẩm ....................................................19
2. Phân loại chiến lược sản phẩm ...........................................................21
3. Sự cần thiết phải hoạch định chiến lược sản phẩm .............................24
II. Một số kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh........................................26
1. Kết quả sản xuất kinh doanh ..............................................................26
2. Chiến lược sản phẩm của công ty đã và đang thực hiện .....................29
3. Các nhân nhân tố ảnh hưởng tới chiến lược sản phẩm của công ty.....30
3.1. Các nhân tố về môi trường vĩ mô....................................................30
3.1.1. Nhân tố kinh tế .......................................................................30
3.1.2. Các yếu tố về chính trị pháp luật ............................................31
3.1.3. Các nhân tố xã hội .................................................................31
3.1.4. Các nhân tố kỹ thuật công nghệ..............................................33
3.1.6. Các nhân tố môi trường quốc tế .............................................34
3.2. Môi trường cạnh tranh nội bộ ngành ..............................................34
3.2.1. Khách hàng ............................................................................34
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
3.2.2. Đối thủ cạnh tranh .................................................................35
3.2.3. Nguồn cung cấp nguyên vật liệu .............................................37
3.2.4. Các đối thủ tiềm ẩn ................................................................38
3.2.5. Sản phẩm thay thế ..................................................................38
III. Đánh giá chung .....................................................................................39
1. Những mặt mạnh: ..............................................................................39
2. Những hạn chế:................................................................................41
3. Nguyên nhân tồn tại..............................................................................43
PHẦN III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM XÂY DỰNG CHIẾN
LƯỢC SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ ......................44
I. Phương hướng phát triển của công ty .......................................................44
1. Định hướng: ......................................................................................44
2. Mục tiêu.............................................................................................44
III. Giải pháp để xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty bánh kẹo hải hà
giai đoạn 2005-2008.................................................................................48
1. Các giải pháp hoàn thiện công tác xác định mục tiêu và các nhiệm vụ
của chiếm lược kinh doanh. ...................................................................48
2- Các giải pháp hoàn thiện công tác phân tích môi trường bên trong và
bên ngoài Công ty..................................................................................51
3. Các giải pháp hoàn thiện công tác xây dựng các phương án chiến lược ..52
4. Các giải pháp hoàn thiện công tác lựa chọn chiến lược..........................54
5 . Các giải pháp hoàn thiện công tác kiếm soát xây dựng chiến lược..........54
KẾT LUẬN.................................................................................................55
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................57
Chuyªn ®Ò thùc tËp tèt nghiÖp
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_____________________
NHẬN XÉT CỦA CƠ QUAN THỰC TẬP
Chúng tôi đã nhận sinh viên Nguyễn Đình Đông - lớp Quản trị Kinh
doanh Tổng hợp 42B- Trường đại học KTQD vào thực tập tại Công ty thời
gian từ 10/1/2005 đến ngày 7/5/2005. Trong thời gian thực tập, cháu đã
chấp hành nghiêm túc kỷ luật chung của Công ty cũng như quy định riêng
của Phòng. Cháu có thái độ nghiêm túc trong công việc, quan hệ tốt với các
cô bác, anh chị tại Phòng. Trong công việc, cháu là người có trách nhiệm và
có chí tiến thủ.
Cùng với việc thực tập để có những hiểu biết thực tế về chuyên ngành
học, cháu đã tích cực tìm hiểu sâu hơn về vấn đề xây dựng chiến lược kinh
doanh của Công ty cho việc viết chuyên đề thực tập tốt nghiệp. Đề tài "Xây
dựng chiến lược sản phẩm tại Công ty Bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2005-
2008" đã được chúng tôi thông qua.
Hà Nội, tháng 05 năm 2005
CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ
Các file đính kèm theo tài liệu này:
- Luận văn- Xây dựng chiến lược sản phẩm tại công ty bánh kẹo Hải Hà giai đoạn 2006- 2008.pdf