Một số quy định về rào cản kỹ thuật của Hoa Kỳ đối với hàng dệt may nhập khẩu và giải pháp vượt rào của Việt Nam

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách: 1. Lê Quốc Ân (8/2002) Làm thế nào để xuất khẩu thành công hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ, Hiệp Hội dệt may Việt Nam, Hà Nội. 2. Bộ Thương Mại (9/2000), chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2010 3. Nguyễn Văn Cao – Marketing quốc tế 4. GS.TS. Trần Minh Đạo, PGS.TS. Vũ Trí Dũng – Giáo trình Marketing quốc tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân 5. Thời báo Kinh tế - Việt Nam 6. Tạp chí dệt may Việt Nam 7. Tạp chí Doanh nghiệp 8. Tạp chí Thương Mại 9. Tạp chí Kinh tế và phát triển Trang Website: 1. http://www.moi.gov.com 2. http://www.luatdanhchinh.com.vn 3. http://www.quantrithuonghieu.com 4. http://www.vietnamforumcsr.net 5. http:// www.wto.dddn.com.vn 6. http:// www.mofa.gov.vn 7. http:// www.vst.vista.gov.vn 8. http:// www.vbf.org.vn MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, BIỂU LỜI MỞ ĐẦU1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC RÀO CẢN KỸ THUẬT ÁP DỤNG QUẢN LÝ NHẬP KHẨU ĐỐI VỚI MẶT HÀNG DỆT MAY3 1.1.Lý luận chung về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế. 3 1.1.1.Rào cản trong thương mại quốc tế. 3 1.1.2.Phân loại hàng rào thương mại quốc tế. 4 1.1.3.Rào cản kỹ thuật6 1.1.4.Tác động của việc áp dụng hàng rào kỹ thuật đối với các nước. 12 1.1.4.1.Đối với nước nhập khẩu. 12 1.1.4.2.Đối với nước xuất khẩu. 14 1.2.Các quy định về rào cản kỹ thuật thương mại của Hoa Kỳ. 15 1.2.1.Các rào cản kỹ thuật áp dụng với các mặt hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ nói chung15 1.2.1.1.Những quy định có tính rào cản liên quan đến an toàn thực phẩm . 15 1.2.1.2.Yêu cầu có tính rào cản liên quan đến trách nhiệm đối với xã hội17 1.2.1.3.Quy định có tính rào cản về môi trường. 19 1.2.2.Các rào cản kỹ thuật áp dụng với mặt hàng dệt may nhập khẩu vào Hoa Kỳ. 20 1.2.2.1.Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA – 800020 1.2.2.2.Tiêu chuẩn WRAP – trách nhiệm sản xuất hàng dệt may toàn cầu. 21 1.2.2.3.Đạo luật chống bán phá giá. 22 1.2.2.4.Quy định về cấp Visa đối với mặt hàng dệt may. 23 1.3.Tổng quan về thị trường Hoa Kỳ. 25 1.3.1.Đặc điểm dân số và thị hiếu tiêu dùng hàng dệt may. 25 1.3.2.Nhu cầu đối với mặt hàng dệt may. 26 1.3.3.Những vấn đề quan tâm của nhà nhập khẩu hàng dệt may Hoa Kỳ. 28 1.4.Hiệp định thương mại Việt – Mỹ và quy chế giám sát đối với hàng dệt may Việt Nam29 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VƯỢT RÀO CẢN KỸ THUẬT ĐỐI VỚI MẶT HÀNG DỆT MAY CỦA VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG HOA KỲ35 2.1.Tổng quan về hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam . 35 2.1.1.Xuất khẩu dệt may Việt Nam ra thị trường thế giới35 2.1.2.Xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ. 41 2.2.Các rào cản kỹ thuật của Hoa Kỳ áp dụng đối với mặt hàng dệt may của Việt Nam44 2.2.1.Các quy định về kỹ thuật:45 2.2.2.Tiêu chuẩn trách nhiệm xã hội SA - 800046 2.2.3.Tiêu chuẩn WRAP – trách nhiệm sản xuất hàng dệt may toàn cầu. 47 2.2.4.Đạo luật chống bán phá giá. 47 2.2.5.Quy định về cấp Visa đối với mặt hàng dệt may. 48 2.2.5. Cơ chế giám sát đặc biệt của Hoa Kỳ áp dụng với hàng dệt may Việt Nam . 49 2.3.Tác động của rào cản kỹ thuật tới hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam51 2.3.1.Tác động tích cực. 51 2.3.2.Tác động tiêu cực. 52 2.4.Một số biện pháp vượt rào của Việt Nam hiện nay. 53 2.4.1.Các biện pháp vượt rào của Việt Nam . 53 2.4.1.1.Đổi mới và hiện đại hóa công nghiệp sản xuất53 2.4.1.2.Chú trọng tới việc xây dựng và phát triển thương hiệu. 56 2.4.1.3.Từng bước xây dựng cơ chế cảnh báo sớm: đối với mặt hàng dệt may trước nguy cơ bị khởi kiện bán phá giá58 2.4.1.4. Gắn chặt quyền lợi với các công ty nhập khẩu Hoa Kỳ. 60 2.4.1.5. Chủ động điều tiết tăng trưởng xuất khẩu. 60 2.4.2.Đánh giá các biện pháp vượt rào của Việt Nam . 61 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VƯỢT RÀO CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM SANG HOA KỲ67 3.1. Cơ hội, thách thức và triển vọng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ67 3.2. Phương hướng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam . 72 3.3. Giải pháp phía Nhà nước. 73 3.3.1. Cần đặt ra cơ chế giám sát đối với mặt hàng dệt may và xây dựng tốt các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng74 3.3.2. Nhà nước cần tổ chức thường xuyên hoạt động xúc tiến thương mại75 3.3.3. Chú trọng phát triển hoạt động cung cấp yếu tố đầu vào cho ngành dệt may. 76 3.3.4. Nâng cao hoạt động của Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS). 80 3.3.5. Hoàn thiện môi trường pháp lý theo chuẩn quốc tế. 80 3.4. Giải pháp của Hiệp hội Dệt may (VITAS). 81 3.5. Giải pháp phía Doanh nghiệp. 82 3.5.1. Doanh nghiệp luôn chú trọng tới công tác nghiên cứu thị trường. 82 3.5.2. Doanh nghiệp cần xây dựng và kiện toàn sử dụng các hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật theo đúng tiêu chuẩn quốc tế83 3.5.3. Đẩy nhanh công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp dệt may. 84 3.5.4. Doanh nghiệp luôn đặt phương châm nâng cao chất lượng lên hàng đầu. 85 3.5.5. Tăng cường hoạt động Marketing và xây dựng thương hiệu. 87 KẾT LUẬN89 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO90

doc94 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 5618 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Một số quy định về rào cản kỹ thuật của Hoa Kỳ đối với hàng dệt may nhập khẩu và giải pháp vượt rào của Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
rừ trong việc ký kết các hợp đồng. Lao động trong ngành dệt may cũng đang được coi là nguyên nhân không kém phần quan trọng “góp phần” làm cho ngành này không đạt chỉ tiêu xuất khẩu. Chưa kể trình độ tay nghề, chỉ riêng việc thiếu lao động cũng làm các doanh nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh đang dở khóc dở cười. Trong vài năm trở lại đây, sau mỗi dịp Tết nguyên đán, công nhân về quê ăn tết xong là có tới 1/5 không trở lại làm việc. Khi đó, các đơn hàng đã ký, áp lực giao hàng đúng thời hạn khiến cho các doanh nghiệp chạy bở hơi tai để…mượn lao động từ các doanh nghiệp khác. Hay tình trạng không chủ động nguồn nguyên liệu nhập khẩu cũng khiến cho các doanh nghiệp không hoàn toàn tự “định đoạt” được kế hoạch xuất khẩu của mình… Các chuyên gia thương mại của Mỹ và EU đã lạc quan dự báo rằng, năm 2010, xuất khẩu dệt may của Việt Nam sẽ đạt 8 tỷ USD và đứng thứ 10 trong số các quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới. Song, nếu không sớm khắc phục tình trạng yếu kém hiện nay, có thể các dự đoán về ngành dệt may sẽ trở thành… lạc quan tếu. Đơn cử trong ngành thép, rà soát 250 tiêu chuẩn kỹ thuật, có đến 26 tiêu chuẩn không tương thích và trong 3 năm tới cần xây dựng mới 52 tiêu chuẩn. Ngành dệt có gần 200 tiêu chuẩn trong đó có tới 72 tiêu chuẩn cần phải xem xét hoặc thay thế do không còn phù hợp với xu thế chung, 49 tiêu chuẩn cần được xây dựng mới tập trung vào các phương pháp xác định tồn dư kim loại và hóa chất có tác động đến con người; bổ sung thêm các nội dung về quy cách ghi nhãn hàng hóa, bao gói; xây dựng và ban hành danh mục thuốc nhuộm độc hại không được phép sử dụng tại Việt Nam và các quy định không được sử dụng các nguyên liệu dệt có sử dụng thuốc nhuộm trong danh mục này. Mặt khác, lĩnh vực thời trang trong ngành công nghiệp dệt may của Việt Nam tuy đã được đề cao chú trọng phát triển tuy nhiên lĩnh vực thời trang vẫn chưa phát triển đúng như sự mong đợi. Hiện nay ở Việt Nam chỉ có duy nhất viện mẫu Fadin đóng vai trò nghiên cứu lĩnh vực thời trang cho ngành may mặc Việt Nam. Do đó, trong thời gian tới cần chú trọng phát triển ngành thời trang ở Việt Nam. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VƯỢT RÀO CHO CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU DỆT MAY CỦA VIỆT NAM SANG HOA KỲ 3.1. Cơ hội, thách thức và triển vọng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ Như ta đã biết 11/2006 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại Thế giới WTO, sự kiện này đã đánh một mốc quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Việc Việt Nam gia nhập vào tổ chức này đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng cũng như đối với hoạt động xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam ra thị trường Thế giới. Nó đã đặt ra cho hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam những cơ hội và thách thức lớn. 3.1.1. Cơ hội Khi là một thành viên của WTO, Việt Nam sẽ được hưởng các quyền lợi riêng có mà chỉ có thành viên WTO mới có được. Đó là: Thứ nhất, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang ra thị trường thế giới sẽ được xóa bỏ việc áp dụng mức thuế nhập khẩu vào thị trường những nước này. Ta có thể thấy, việc xóa bỏ hàng rào thuế quan cho các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sẽ góp phần làm nâng cao khả năng cạnh tranh của các mặt hàng Việt Nam. Do đó mà mặt hàng dệt may Việt Nam khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ sẽ không còn bị áp đặt mức thuế nhập khẩu, từ đó mặt hàng Việt Nam sẽ nâng cao được sức hấp dẫn về giá, phát huy được khả năng cạnh tranh của mình. Thứ hai, bên cạnh việc xóa bỏ những hàng rào thuế quan thì việc áp đặt hạn ngạch cho các mặt hàng xuất khẩu sẽ bị xóa bỏ. Đây cũng là một trong những quy định của WTO cho các thành viên của mình. Từ đó, mặt hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sẽ không bị áp đặt số lượng xuất khẩu, có thể tạo động lực cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam có thể sản xuất và xuất khẩu mặt hàng này theo đúng năng lực của mình. Bên cạnh đó, sản phẩm dệt may của Trung Quốc đang bị Hoa Kỳ áp đặt hạn ngạch đây cũng là một cơ hội cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể tận dụng cạnh tranh mở rộng thị phần sang thị trường này Thứ ba, khi là thành viên của WTO Việt Nam cũng phải tuân thủ theo những quy định của tổ chức này, do vậy mà Việt Nam sẽ xóa bỏ hết thuế nhập khẩu đối với mọi mặt hàng khi thâm nhập vào Việt Nam, do đó các sản phẩm phụ kiện, nguyên vật liệu dệt may khi nhập khẩu vào Việt Nam sẽ không phải chịu mức thuế nhập khẩu. Từ đó, sản phẩm dệt may của Việt Nam sẽ giảm giá thành sản phẩm. Thứ tư, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam có thể có điều kiện tiếp cận nhiều với công nghệ nguồn hiện đại qua đó cũng góp phần nâng cao khả năng sản xuất trong nước. Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ học hỏi được kĩ năng sản xuất, quản lý … của nước ngoài Thứ năm, các hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ ngày càng gia tăng, do đó ngành dệt may của Việt Nam sẽ có những đầu tư đúng đắn nhằm phát triển nội lực của ngành. Về phía doanh nghiệp, khi có thêm những nguồn vốn đầu tư nước ngoài sẽ giúp doanh nghiệp cải thiện và phát triển được dây chuyền sản xuất,nâng cao năng suất lao động, thực hiện hoạt động marketing quốc tế có hiệu quả hơn… Bên cạnh đó, dự báo kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ trong năm 2008 có thể đạt đến 6,1 tỉ USD, tăng 33,8% so với năm 2007. Trong khi xuất khẩu của Mêhicô tiếp tục giảm và xuất khẩu của Ấn Độ tăng chậm. Việt Nam sẽ vượt qua Mêhicô và Ấn Độ để trở thành nước cung cấp lớn thứ 2 trên thị trường Mỹ sau Trung Quốc. Việc thị trường Mỹ giảm nhập khẩu từ Trung Quốc trong khi các nhà xuất khẩu Trung Quốc lại chủ động chuyển hướng sang thị trường EU, dự báo xuất khẩu hàng may mặc của Việt Nam vào Mỹ trong năm 2008 sẽ tăng mạnh do chi phí và giá cả của hàng dệt may Việt Nam hầu hết là thấp hơn so với sản phẩm cùng loại của Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Indonesia. Việc một số nhà đầu tư nước ngoài chuyển cơ sở sản xuất hàng dệt may từ Trung Quốc sang Việt Nam cũng giải thích cho xu hướng này. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý có một số sản phẩm giá trung bình của Việt Nam đang cao hơn so với các nước nêu trên, đồng thời cao hơn khá nhiều so với sản phẩm của Mêhicô và Bangladesh, có thể sẽ làm mất ưu thế cạnh tranh của sản phẩm. Do vậy, các doanh nghiệp cần tập trung khai thác để tăng mạnh xuất khẩu những sản phẩm đang có lợi thế về giá, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường khi các doanh nghiệp Trung Quốc chuyển hướng sang EU. Cho dù có thuận lợi khi các doanh nghiệp Trung Quốc đang chuyển hướng từ thị trường Mỹ sang thị trường EU, thì xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường Mỹ vẫn tiềm ẩn những rủi ro. Chương trình giám sát chống bán phá giá của Mỹ vẫn được áp dụng đối với hàng dệt may của Việt Nam (với năm nhóm hàng dệt may của Việt Nam gồm quần, áo sơ mi, đồ lót, đồ bơi và áo len) và có khả năng phía Mỹ sẽ duy trì cơ chế giám sát đặc biệt cho đến hết năm 2008. Để khắc phục trở ngại trên các doanh nghiệp dệt may cần hợp tác chặt chẽ với các nhà nhập khẩu lớn của Mỹ, tránh nhận những đơn hàng đơn giản giá trị thấp làm ảnh hưởng đến mức giá bình quân của cả nước để phía Mỹ không khởi kiện chống bán phá giá. 3.1.2. Thách thức Bên cạnh những cơ hội đến với nền kinh tế Việt Nam nói chung và đến với hoạt động xuất khẩu hàng dệt may nói riêng thì còn có rất nhiều các thách thức đặt ra không chỉ cho Việt Nam mà còn đặt ra cho các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may nội địa. Ta có thể điểm qua một số thách thức sau: Thứ nhất, cùng với việc xóa bỏ những hàng rào thuế quan và hạn ngạch thì hàng rào phi thuế lại đang được áp đặt chặt chẽ cho các mặt hàng nhập khẩu nói chung cũng như mặt hàng dệt may. Đó là những quy định về: hệ thống tiêu chuẩn về chất lượng, về bảo vệ môi trường, về trách nhiệm với xã hội... tuy nhiên việc đáp ứng các tiêu chuẩn này ở các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn đang yếu kém. Do đó đã đặt ra cho doanh nghiệp dệt may của Việt Nam cần phải đẩy mạnh các hoạt động quản lý, nâng cao trình độ quản lý của lao động,bên cạnh đó cũng cần hoàn thiện hệ thống cơ sơ hạ tầng và trang thiết bị để không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng được những quy định mà các thị trường nhập khẩu đề ra. Thứ hai, một thách thức lớn đặt ra là hình thức trợ cấp của Chính phủ cho ngành dệt may sẽ bi xóa bỏ theo đúng quy định của WTO. Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tìm nguồn vốn để đầu tư phát triển sản xuất, cải tiến công nghệ sản xuất.. khi không có trợ cấp của Chính Phủ. Thứ ba, các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đặc biệt là mặt hàng dệt may sẽ chịu cơ chế giám sát của Hoa Kỳ. Trong thời hạn 12 tháng sau khi Việt Nam gia nhập WTO, nếu Hoa Kỳ thấy rằng Việt Nam xuất khẩu không đúng theo các cam kết của WTO thì Hoa Kỳ sẽ sẵng sàng áp đặt hạn ngạch với các chủng loại mặt hàng dệt may của Việt Nam. Bên cạnh đó, nguy cơ bị kiện bán phá giá của các mặt hàng dệt may của Việt Nam là rất lớn. Thứ tư, mặc dù Trung Quốc đang bị Hoa Kỳ áp đặt hạn ngạch nhưng đến cuối năm 2008, hàng dệt may của Trung Quốc sẽ được xóa bỏ hạn ngạch. Đây cũng là thách thức lớn cho Ngành dệt may Việt Nam nói chung cũng như cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may nói riêng. Do đó, trong thời gian này Việt Nam nên tranh thủ chiếm lĩnh thị trường, xây dựng lòng tin của khách hàng vào sản phẩm của mình… Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam còn quá yếu, lệ thuộc lớn vào nhập khẩu. Theo số liệu thống kể của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS), ngành dệt may hiện nay phải nhập khẩu hầu hết nguyên phụ liệu cho sản xuất: bông nhập 90%, xơ sợi tổng hợp gần 100%, xơ sợi ngắn nhập 60%, vải nhập 70%, phụ liệu may khoảng 50%, hóa chất nhuộm và máy móc thiết bị gần 100%, trong đó tỉ lệ nhập khẩu từ Hoa Kỳ là đáng kể. Ngoài ra doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ khả năng xây dựng các thương hiệu mạnh, hiện nay cá doanh nghiệp Việt Nam vẫn chủ yếu là gia công cho các nhà nhập khẩu lớn của Hoa Kỳ… 3.1.3. Dự báo về triển vọng xuất khẩu hàng dệt may sang Hoa Kỳ Theo Thứ trưởng Bộ Công thương đưa ra bức tranh phát triển của ngành dệt may trong những năm tới là: phải đưa ngành dệt may đạt mức tăng trưởng sản xuất hàng năm từ 16%-18%, trong đó xuất khẩu đạt 20%. Theo đó, đến năm 2020, tăng trưởng sản xuất hàng năm từ 12%-14%, xuất khẩu đạt 15%; doanh thu toàn ngành đến 2010 đạt 14,8 tỷ USD, tăng lên 22,5 tỷ USD vào năm 2015 và 31 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 25 tỷ USD vào năm 2020. Có thể thấy trong vòng 10 năm tới, Hoa Kỳ vẫn là thị trường số một trong việc tiêu thụ mặt hàng dệt may của Thế giới. Do đó, đây vẫn là một thị trường tiềm năng cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam khai thác và chiếm lĩnh thị trường. Do đây là thị trường không khó tính, có sở thích đa dạng với nhiều chủng loại, mẫu mã… nên rất thích hợp cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Tuy nhiên, đến cuối năm 2008 Trung Quốc sẽ được xóa bỏ hạn ngạch dệt may tại thị trường Hoa Kỳ, đây là một đối thủ đáng gờm của Việt Nam. Do vậy, sự kiện này sẽ ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu dệt may của Việt Nam, kim ngạch dệt may của Việt Nam sang Hoa Kỳ có thể sẽ bị giảm cả kim ngạch cũng như giá trị, thị phần xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường này có thể sẽ giảm mạnh trong giai đoạn đầu. Các doanh nghiệp Việt Nam so với Trung Quốc còn yếu kém nhiều mặt, sản phẩm dệt may của Việt Nam so với Trung Quốc có sức cạnh tranh kém… do vậy muốn trong thời gian tới để có đủ sức cạnh tranh với Trung Quốc cũng như với các đối thủ khác các doanh nghiệp Việt Nam nên chú trọng đến đề cao mẫu mã sản phẩm, chất lượng của sản phẩm, giảm giá thành sản phẩm, thực hiện hiệu quả hoạt động marketing quốc tế . Bên cạnh đó, tâm lý người tiêu dùng Hoa Kỳ sẽ có ảnh hưởng lớn tới hoạt động xuất khẩu của Việt Nam. Theo xu hướng, người tiêu dùng Hoa Kỳ sẽ ngày càng chú trọng đến chất lượng sản phẩm, chú trọng đến khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của các sản phẩm dệt may hơn là việc chú trọng đến mẫu mã như trước đây. Do vậy, nếu các doanh nghiệp dệt may Việt Nam không có những chú ý đúng mức đáp ứng được nhu cầu về chất lượng sản phẩm cũng như phải đáp ứng được các yêu cầu về hàng rào kỹ thuật(theo quy định WTO)… thì sẽ rất khó có thể tiếp cận với thị trường này. Từ trên, ta có thể dự đoán trong thời gian tới hoạt động xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ sẽ gặp nhiều khó khăn.Vì vậy, việc đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu dệt may sang thị trường Hoa Kỳ trong giai đoạn này là rất cần thiết nhằm chiếm lĩnh được thị trường, tạo chỗ đứng trong thị hiếu người tiêu dùng Hoa Kỳ. 3.2. Phương hướng xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam Có thể nói, dệt may là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong thời gian qua và cũng sẽ là một mặt hàng chủ đạo cho hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới. Đối với hoạt động sản xuất – xuất khẩu mặt hàng dệt may này, Việt Nam có lợi thế lớn về nguồn nhân lực dồi dào, giá nhân công rẻ…đây sẽ là những yếu tố thúc đẩy cho hoạt động sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam phát triển và có triển vọng mở rộng thị trường xuất khẩu ra toàn thế giới. Nắm bắt được những yếu tố phát triển của ngành dệt may, Đảng và Nhà nước ta cũng đã xây dựng chiến lược từ năm 2010 đến 2020 phát triển ngành dệt may, tận dụng lợi thế để mở rộng phát triển sản xuất trong nước đồng thời thúc đẩy xuất khẩu, mở rộng thị trường xuất khẩu cho mặt hàng dệt may Việt Nam. Bên cạnh đó, không những tăng sản lượng xuất khẩu mà còn nâng cao được chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa các mặt hàng dệt may để đáp ứng được nhu cầu thị hiếu thế giới. Xây dựng ngành dệt may là một ngành mũi nhọn trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới. Bên cạnh mục tiêu về sản phẩm thì mục tiêu thị trường cũng luôn luôn phải được đề cao quan tâm chú ý. Mặt hàng dệt may của Việt Nam đã có mặt ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, trong đó Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu mặt hàng dệt may lớn nhất cho Việt Nam, đây là một thị trường đầy tiềm năng cho Việt Nam vì dung lượng thị trường Hoa Kỳ lớn, dễ tính, và nhu cầu thị hiếu không cao mà các doanh nghiệp Việt Nam có thể đáp ứng được. Chính vì thế, thị trường Hoa Kỳ trong tương lai vẫn được xác định là thị trường trọng yếu và đầy tiềm năng của ngành dệt may Việt Nam. Tuy nhiên, không chỉ chú trọng đến một thị trường tiềm năng mà hơn hết cần phải chú trọng mở rộng thị trường, đa dạng hóa thị trường. Đây là một mục tiêu hết sức cần thiết cho hoạt động xuất khẩu mặt hàng dệt may của Việt Nam. Để có thể đạt được những mục tiêu đề ra, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những định hướng hết sức cụ thể trong việc phát triển hoạt động sản xuất – xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam như sau: Thứ nhất, chú trọng đầu tư cải thiện, phát triển dây chuyền sản xuất hiện đại. Cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị sản xuất tốt sẽ là nhân tố ảnh hưởng quyết định tới việc nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa chủng loại sản phẩm, từ đó giúp đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng thị trường xuất khẩu. Thứ hai, cần đặc biệt chú trọng tới các khu nguyên nhiên liệu cho ngành dệt và may mặc. Hiện nay, Việt Nam vẫn thường xuyên phải nhập nguyên nhiên vật liệu về sản xuất,do đó làm cho giá thành sản phẩm cao không tạo được sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại. Đặc biệt cần chú trọng phát triển công nghiệp sợi, dệt, in nhuộm hoàn tất. Do đó, cần có sự đầu tư hợp lý vào những vùng trồng dâu, vùng cung cấp nguyên vật liệu cho hoạt động sản xuất. Thứ ba, các doanh nghiệp dệt may cần chú trọng xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, đảm bảo an toàn vệ sinh, bảo vệ môi trường, đáp ứng được theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, chính điều này sẽ tạo sức cạnh tranh cho mặt hàng dệt may của Việt Nam, đáp ứng được trước những rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu đề ra, tạo nên lòng tin của người tiêu dùng đối với mặt hàng dệt may của Việt Nam. Thứ tư, cần phải chú trọng đến công tác thiết kế thời trang. Trong một tương lai không xa, mặt hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sẽ lớn mạnh, tạo dựng được chỗ đứng trên trường quốc tế, do vậy cần phải chú trọng phát triển và thúc đẩy ngành sản xuất dệt may trong nước lớn mạnh. 3.3. Giải pháp phía Nhà nước Để giúp hàng dệt may có thể vượt rào thành công qua những rào cản kỹ thuật đang được dựng lên đầy tinh xảo thì vai trò của Nhà nước đóng một vai trò hết sức quan trọng. Nhà nước với vai trò điều tiết kinh tế bằng các chính sách kinh tế vĩ mô sẽ có những chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam có thêm sức mạnh để tham gia vào sân chơi quốc tế, bao gồm: 3.3.1. Cần đặt ra cơ chế giám sát đối với mặt hàng dệt may và xây dựng tốt các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng Nhà nước cần đặt ra cơ chế giám sát và thúc đẩy mặt hàng dệt may ra thị trường thế giới trong đó có thị trường Hoa Kỳ - là một trong những thị trường chủ lực của hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam. Mặt hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ đang phải chịu một cơ chế giám sát hết sức ngặt nghèo và luôn thường trực bị Hoa Kỳ kiện bán phá giá, do đó việc xây dựng cơ chế giám sát và thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may là rất cần thiết. Qua cơ chế giám sát này, Hiệp hội dệt may Việt Nam có thể kiểm sát được hoạt động xuất khẩu mặt hàng dệt may của các doanh nghiệp trong nước vào gồm các yếu tố về chi phí sản xuất, thị trường xuất khẩu, doanh thu, kênh phân phối,…qua đó có thể kiểm soát được hoạt động sản xuất, xuất khẩu của các doanh nghiệp này , tránh trường hợp các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may với giá thấp, có thể bị kiện bán phá giá. Bên cạnh đó cần xây dựng và theo dõi cơ chế giám sát tự động các vụ kiện điều tra chống bán phá giá đối với hàng dệt may Việt Nam để có thể nắm bắt được tình hình xuất khẩu mặt hàng dệt may của các nước khác sang Hoa Kỳ . Để có thể thực hiện tốt cơ chế giám sát mặt hàng dệt may khi xuất khẩu sang thị trường thế giới nói chung, và sang thị trường Hoa Kỳ nói riêng thì công tác xây dựng và cải tiến các hệ thống tiêu chuẩn về chất lượng cho mặt hàng này cần phải được chú trọng. Hiện nay, hệ thống tiêu chuẩn chất lượng áp dụng cho mặt hàng dệt may của Việt Nam còn kém, chỉ có khoảng dưới 30% phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Do đó, để xây dựng và nâng cao hiệu quả của các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng cần: Thứ nhất, Nhà nước cần chú trọng đến việc xây dựng và hoàn thiện các tiêu chuẩn đã áp dụng trong nước cho phù hợp với yêu cầu của quốc tế, thông qua việc đầu tư cho công tác nghiên cứu, đào tạo cán bộ - chuyên gia nghiên cứu, tìm hiểu những quy định quốc tế để từ đó dựa trên những tiêu chuẩn chất lượng quốc tể có thể xây dựng một hệ thống quy định chất lượng đối với mặt hàng dệt may vừa phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế vừa thích nghi và phù hợp với nền sản xuất trong nước. Thứ hai, những biện pháp tài trợ, khuyến khích các doanh nghiệp dệt may Việt Nam xây dựng và áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn kĩ thuật đã đề ra như: thường xuyên cung cấp và cập nhật thông tin cho các doanh nghiệp sản xuất – xuất khẩu hàng dệt may về nội dung của hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật mới được các nước áp dụng, có những giải pháp trước mắt giúp các doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chuẩn đó, đào tạo cán bộ Nhà nước cũng như cán bộ doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất, đáp ứng được yêu cầu của các quy định trên. Thứ ba, cần tăng cường kiểm tra, giám sát chất lượng mặt hàng dệt may xuất khẩu do đó cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp từ Nhà nước – Hiệp hội dệt may – doanh nghiệp. 3.3.2. Nhà nước cần tổ chức thường xuyên hoạt động xúc tiến thương mại Thông qua hoạt động xúc tiến thương mại, Việt Nam sẽ xây dựng và quảng bá được hình ảnh, thương hiệu của mặt hàng dệt may Việt Nam. Từ đó giúp các sản phẩm dệt may Việt Nam có cơ hội phát triển ra nhiều thị trường lớn, nền sản xuất nói chung và bản thân của các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu mặt hàng này sẽ thu được nhiều doanh thu, do đó sẽ có những bước đầu tư và quan tâm hơn đến việc xây dựng các hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật đang áp dụng từ đó nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu của Việt Nam. Do đó, với những chính sách điều tiết vĩ mô Nhà nước cần: Thứ nhất, Việt Nam cần tăng cường mối quan hệ thương mại hữu nghị với các quốc gia khác trên thế giới, tăng cường ký kết các hiệp định dệt may với các nước khác, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu sang các thị trường này. Thứ hai, nâng cao vai trò của các Thương vụ, Đại sứ quán của Việt Nam ở nước ngoài. Đây là những cơ quan có một vai trò rất quan trọng trong việc tìm hiểu, cung cấp thông tin thị trường nước ngoài, cung cấp những thông tin cập nhật về việc thay đổi các chính sách quản lý nhập khẩu tại nước đó, bên cạnh đó đây còn là những cơ quan giải quyết các tranh chấp của doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường nước ngoài. Thứ ba, Nhà nước cần chú trọng công tác thành lập và tổ chức hoạt động của các tổ chức cung cấp thông tin về thị trường, sản phẩm, đầu tư, sản xuất, về hoạt động xuất khẩu – nhập khẩu mặt hàng dệt may trên các trang website và các bản tin. Việc xây dựng các trang web thông tin về mặt hàng dệt may đang được Chính phủ hết sức chú trọng, việc thành lập các tổ chức cung cấp thông tin về thị trường, sản phẩm, …giúp các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam có thể nắm bắt nhanh nhậy về nhu cầu thị trường, rào cản kỹ thuật của từng thị trường riêng biệt, qua đó các doanh nghiệp sẽ có được những biện pháp để vượt rào thành công. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần xây dựng các website quảng cáo cho mặt hàng dệt may của Việt Nam đến người tiêu dùng nước ngoài để lấy có thể thu hút được thị hiếu của người tiêu dùng nước ngoài, tạo cho họ sự tin tưởng về mặt hàng này. 3.3.3. Chú trọng phát triển hoạt động cung cấp yếu tố đầu vào cho ngành dệt may Yếu tố đầu vào là yếu tố quan trọng hàng đầu có ảnh hưởng quyết định đến nền sản xuất nói chung cũng như đến ngành dệt may nói riêng. Yếu tố đầu vào đảm bảo về chất lượng, số lượng thì sản phẩm đầu ra mới có chất lượng cao, đáp ứng được các yêu cầu của các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đang được áp dụng hiện nay. Do đó Nhà nước cần có những biện pháp, chính sách chú trọng phát triển hoạt động cung cấp yếu tố đầu vào cho ngành dệt may của Việt Nam, bao gồm: Thứ nhất, chú trọng phát triển vùng nguyên phụ liệu sản xuất dệt may. Trên thực tế, ở Việt Nam những vùng cung cấp nguyên phụ liệu còn kém phát triển và chưa được đầu tư hợp lý, ngành dệt may Việt Nam vẫn phải nhập khẩu từ 70% - 80% nguyên phụ liệu từ nước ngoài, chính điểm này đã làm cho các sản phẩm dệt may của Việt Nam phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài, giảm sự cạnh tranh về giá thành do việc nhập khẩu các nguyên phụ liêu này có giá cao. Vì vậy, phát triển vùng nguyên phụ liệu nội địa là hết sức cấp bách. Giải pháp từ phía Nhà nước là cần phải có những chính sách quy hoạch tổng thể cũng như chi tiết qua các giai đoạn phát triển đặc biệt nên chú trọng phát triển những vùng trồng bông nuôi tằm giảm thiểu hoạt động nhập khẩu yếu tố đầu vào. Do vậy việc cấp bách hiện nay là cần phải xây dựng 2 trung tâm sản xuất kinh doanh nguyên phụ liệu, 1 tại Hà Nội và 1 tại thành phố Hồ Chí Minh. Cần có kế hoạch kêu gọi các nhà đầu tư nước ngoài như Trung Quốc, Hong Kong, Đài Loan, Nhật Bản tham gia triển khai 02 trung tâm nguyên phụ liệu này và cao hơn nữa, hợp tác đầu tư máy móc thiết bị sản xuất nguyên phụ liệu tại Việt Nam, nhằm ổn định thị trường. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng cần có chính sách miễn giảm thuế cho những mặt hàng là yếu tố đầu vào cho ngành sản xuất dệt may Việt Nam để từ đó sản phẩm Việt Nam tiết kiệm được chi phí sản xuất, nâng cao được khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế. Thành lập các trung tâm giao dịch tư vấn hỗ trợ dịch vụ, trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu, trung tâm thương mại, nhằm giới thiệu sản phẩm,…Có một điểm đáng chú ý đối với ngành dệt may của Việt Nam là phần lớn chúng ta mới đang là gia công mặt hàng dệt may, nguyên vật liệu cho mặt hàng này chủ yếu phải nhập khẩu, việc xây dựng các trung tâm giao dịch nguyên phụ liệu sẽ giúp cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam không phải khó khăn trong quá trình thu mua nguyên vật liệu tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam. Mặt khác, để giảm thiểu được rủi ro bị kiện bán phá giá khi hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào các thị trường khác đặc biệt là thị trường Hoa Kỳ thì cần phải tăng tỷ lệ nội địa hóa bằng cách đầu tư sản xuất vải và nguyên - phụ liệu tại Việt Nam. Hiện, Chính phủ đã thực hiện chiến lược phát triển ngành dệt may, trong đó có ba chương trình, đặc biệt là chương trình sản xuất bông vải tại Việt Nam và chương trình sản xuất 1 tỷ mét vải phục vụ cho may mặc xuất khẩu. Những chương trình này sẽ được tăng tốc trong thời gian tới nhằm tăng tỷ lệ nội địa hóa từ 55 - 55% vào năm 2010. Bên cạnh đó cần làm tốt những biện pháp nâng cao tỷ lệ giá trị gia tăng. Theo đó, ngành dệt may sẽ giảm dần việc sản xuất những mặt hàng có hàm lượng giá trị gia tăng thấp, ưu tiên mặt hàng có đẳng cấp, có tính thời trang hơn. Để làm được việc này, toàn ngành đang có chương trình tập trung vào khâu thiết kế để có thể chào bán được giá trị thiết kế, đồng thời xây dựng giá trị thương hiệu cho ngành dệt may Việt Nam cũng như hệ thống phân phối tại thị trường nội địa. Tất cả những giải pháp đó sẽ là cơ sở để chúng ta từng bước khẳng định vị thế của ngành may mặc cũng như phòng tránh, giảm thiểu những thiệt hại từ các hàng rào kỹ thuật liên quan. Thứ hai, bên cạnh chú trọng phát triển những vùng nguyên phụ liệu thì Nhà nước cũng cần chú trọng các ngành công nghiệp phụ trợ cho mặt hàng dệt may như: công nghiệp dệt, nhuộm, sợi hóa học, công nghiệp hóa chất…để nâng cao chất lượng yếu tố đầu vào cho mặt hàng dệt may. Thứ ba, yếu tố con người luôn được coi là một yếu tố đầu vào quan trọng trong nền sản xuất, do đó Nhà nước cần có những chính sách hợp lý trong đào tạo nguồn nhân lực. Chính phủ cần xây dựng một chương trình đào tạo nguồn nhân lực tổng hợp và phù hợp với đặc điểm lao động Việt Nam cũng như đối với ngành sản xuất dệt may, có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước và các doanh nghiệp để từ đó Chính phủ sẽ thấy và đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, chú trọng đầu tư phát triển các trường dạy nghề - khắc phục tình trạng thiếu công nhân lành nghề, kỹ sư dệt…và đặc biệt là chú trọng đến đào tạo các chuyên gia về tạo mẫu thời trang. Nhà nước cần tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn cũng như dài hạn đào tạo lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp, bên cạnh đó thường xuyên nâng cao kiến thức của các nhà quản lý, cán bộ kỹ thuật về cả lý thuyết lẫn thực tế thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu, các chuyến công tác thực tế sang các quốc gia có nền sản xuất tiên tiến… Thứ tư, yếu tố khoa học công nghệ cũng cần được đầu tư, chú trọng phát triển mạnh mẽ hơn nữa. Hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, và nó có những tác động lớn đến nền sản xuất của một quốc gia, một quốc gia có nền khoa học công nghệ tiên tiến sẽ nâng cao được năng suất lao động, sản xuất phát triển một cách bền vững, sản phẩm được sản xuất với chất lượng đảm bảo. Tuy nhiên, cơ sở vật chất, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng … của ngành dệt may nước ta còn yếu kém do đó cần có sự quan tâm đúng đắn của Nhà nước cần có những chính sách phát triển khoa học – công nghệ cho ngành sản xuất xuất khẩu hàng dệt may nói riêng mà còn cho cả nền sản xuất nói chung. Biện pháp trước mắt cần làm là : Nhà nước ta cần có những chính sách ưu đãi thu hút vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp dệt, may, công nghiệp hóa chất, vào cải tạo cơ sở hạ tầng, đặc biệt là các nước có nền công nghệ nguồn, các nước phát triển ngành công nghiệp may trên thế giới...Cần có những chính sách đầu tư vào phát triển các hoàn chỉnh vào các cụm Công nghiệp Dệt may theo hướng tập trung vào lĩnh vực dệt - nhuộm, đầu tư hoàn tất khâu vải và phụ liệu để đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho may xuất khẩu nhằm tiến tới tăng tỷ lệ nội địa hoá trong sản phẩm may mặc xuất khẩu từ 30% lên 60%, giảm dần tỷ lệ hàng gia công. Bên cạnh đó, đầu tư mở rộng sản xuất tại các địa phương có tiềm năng, có nguồn nhân lực dồi dào; phối hợp liên doanh - liên kết và giúp đỡ các địa phương phát triển ngành dệt may và cùng thực hiện các đơn hàng lớn; hỗ trợ các doanh nghiệp may địa phương đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường có tiềm năng khác. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần tăng chi phí đầu tư để nghiên cứu công nghệ, đặc biệt là những công nghệ hiện đại, phù hợp với tình hình sản xuất hàng dệt may của Việt Nam. Việc phát triển nghiên cứu công nghệ giúp cho Việt Nam giảm thiểu việc nhập khẩu máy móc từ nước ngoài do đó sẽ tránh được sự lệ thuộc về công nghệ vào đối tác nước ngoài. Ngoài ra, Chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất dệt may trong nước liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, các công ty xuyên quốc gia…để từ đó có thể tiếp thu được khoa học công nghệ, trình độ chuyên môn..nhằm nâng cao được năng lực sản xuất trong nước. Tiếp đến là nâng cấp các trường đào tạo và thiết kế mẫu mốt, trường đào tạo nghề để có lực lượng lao động tốt, có đội ngũ thiết kế theo kịp thị hiếu người tiêu dùng. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp xây nhà cho công nhân thuê với giá ưu đãi, thực hiện tốt các chính sách tiền lương, tiền thưởng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân, tạo sự gắn kết giữa công nhân và doanh nghiệp 3.3.4. Nâng cao hoạt động của Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS) Hiệp hội dệt may Việt Nam (VITAS) có vai trò quan trọng trong việc tổ chức cung cấp thông tin kịp thời về tình hình thị trường quốc tế cho các doanh nghiệp, tổ chức các các hội chợ quốc tế, làm cầu nối giữa doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam với các thị trường quốc tế. Thông qua hoạt động của Hiệp hội,các doanh nghiệp có thể nắm bắt kịp thời những thông tin cần thiết về : nhu cầu của thị trường, các rào cản,…bên cạnh đó Hiệp hội cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tài trợ, cung cấp cơ sở khoa học kỹ thuật, công nghệ sản xuất tiên tiến cho doanh nghiệp đồng thời đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Qua thời gian qua, Hiệp hội dệt may Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể trong hoạt động thúc đẩy phát triển nội lực ngành dệt may trong nước và giải quyết những khó khăn của các doanh nghiệp Việt Nam như: khó khăn về nguồn nguyên liệu, về vốn, lao động… Do đó, trong thời gian tới Nhà nước cần đẩy mạnh và nâng cao hơn nữa vai trò của Hiệp hội Ngành hàng dệt may, đây cũng là một trong những biện phát nhằm giúp cho nền sản xuất dệt may của Việt Nam có thể vững chắc vượt rào thành công của các thị trường xuất khẩu lớn. 3.3.5. Hoàn thiện môi trường pháp lý theo chuẩn quốc tế Một trong những yếu tố có ảnh hưởng tới động thái đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài là môi trường pháp lý ở quốc gia được đầu tư có ổn định không, có phù hợp không. Nhà nước Việt Nam muốn thu hút càng nhiều vốn đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài thì lại càng cần hoàn thiện môi trường pháp lý tại Việt Nam thông thoáng, theo tiêu chuẩn quốc tế đã đề ra tạo cho nhà đầu tư một sân chơi bình đẳng, bên cạnh đó cần cải cách lại các thủ tục hành chính. Ngoài ra, Việt Nam cũng nên xây dựng một hệ thống các quy định có liên quan đến ngành sản xuất dệt may theo chuẩn quốc tế, qua đó các doanh nghiệp sản xuất dệt may có thể nắm chắc, tiếp cận và kinh doanh trong một môi trường pháp lý tương tự như ở các thị trường khác. Chính vì vậy sẽ giúp các doanh nghiệp không ngỡ ngàng khi tiếp xúc với các quy định, luật lệ ở quốc gia mà mình xuất khẩu hàng dệt may, trên thực tế khi doanh nghiệp không nắm được những quy định, luật lệ tại các quốc gia mình xuất khẩu nên khi xuất khẩu sang thị trường này đã vi phạm và bị kiện. Điều này đã ảnh hưởng lớn tới hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp và doanh nghiệp còn phải bỏ ra một khoảng chi phí để tìm hiểu luật của những thị trường này, đã làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp, tốn thời gian… 3.4. Giải pháp của Hiệp hội Dệt may (VITAS) Với vai trò là cầu nối giữa doanh nghiệp sản xuất trong nước với thị trường nước ngoài, Hiệp hội có vai trò rất quan trọng trong hoạt động xuất khẩu – nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam đối với các ngành sản xuất nói chung cũng như ngành sản xuất dệt may nói riêng. Hiệp hội dệt may trong thời gian qua đã giúp các doanh nghiệp sản xuất dệt may Việt Nam trong việc tìm hiểu và cung cấp thông tin về thị trường, tìm kiếm nguồn nguyên phụ liệu, đứng ra ký kết các đơn đặt hàng lớn, hay giải quyết những tranh chấp trong việc xuất khẩu hàng dệt may. Và trong thời gian tới thì vai trò Hiệp hội phải ngày càng được củng cố hơn nữa nhằm giúp các doanh nghiệp dự báo và phòng ngừa được những nguy cơ tiềm tàng khi xuất khẩu mặt hàng dệt may sang các thị trường, đặc biệt là cần sự tiên liệu và chủ động tìm phải pháp phòng ngừa từ trước nhằm loại trừ nguy cơ bị kiện bán phá giá. Bên cạnh đó, các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan cần có sự phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội trong việc thực hiện chính sách chung nhằm hạn chế tối đa thiệt hại từ các rủi ro pháp lý liên quan đến thương mại dệt may. Cụ thể cần tiếp tục chủ trương đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa chủng loại mặt hàng xuất khẩu. Hiệp hội dệt may cần tiếp tục đẩy mạnh việc thông tin tuyên truyền, phổ biến cho cộng đồng doanh nghiệp kiến thức pháp lý liên quan đến xuất khẩu của các đối tác nhập khẩu lớn, các thông tin giá cả thị trường, đối thủ cạnh cạnh…có cơ chế theo dõi xuất khẩu, khuyến khích doanh nghiệp tiếp nhận các đơn hàng có đơn giá xuất khẩu cao, giá trị gia tăng, hạn chế các đơn hàng có giá trị  xuất khẩu thấp. Do đó, việc xây dựng cơ chế cảnh báo sớm và phối hợp xử lý các rủi ro pháp lý về tranh chấp thương mại quốc tế là rất cần thiết. Hiệp hội cũng cần ứng dụng mạnh mẽ thương mại điện tử vào hoạt động quản lý các doanh nghiệp, có thể hình thành lên sàn giao dịch riêng cho mặt hàng dệt may Việt Nam cả yếu tố đầu vào cũng như yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất, từ đó có thể giúp các doanh nghiệp Việt Nam yên tâm hơn trong việc tìm mua nguyên phụ liệu và tiêu thụ sản phẩm của mình. Kể từ năm 2007, khi Việt Nam trở thành thành viên WTO, ngành dệt may không bị áp dụng cơ chế hạn ngạch thì lập tức gặp rào cản giám sát chống bán phá giá. Để đối phó với cơ chế này, một mặt, Vitas chủ động giám sát tại Việt Nam, lành mạnh hóa danh sách chứng từ để chứng minh chúng ta sản xuất và bán hàng trên giá thành của chúng ta và không nhận bất cứ trợ cấp nào từ phía Chính phủ. Đồng thời, Vitas đã xác định một hướng đi mới là kiên trì tiếp cận với chính quyền và Hiệp hội Dệt may Mỹ, vận động, giải thích để họ hiểu thực chất vấn đề. Để làm được điều này, dứt khoát phải có kinh phí. Trong năm 2007, Vitas đã tổ chức nhiều cuộc họp với các doanh nghiệp thành viên và đi đến thống nhất, mỗi doanh nghiệp tự nguyện đóng góp 0,01% kim ngạch xuất khẩu vào thị trường Mỹ để lấy kinh phí trang trải cho hoạt động vận động, giải thích với phía Mỹ. 3.5. Giải pháp phía Doanh nghiệp Bên cạnh những công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước và của Hiệp hội dệt may thì vai trò của các doanh nghiệp đóng một ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao được sức cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam để qua đó có thể vượt rào thành công trước những rào cản kỹ thuật ngày càng được dựng lên tinh vi của các nước phát triển. 3.5.1. Doanh nghiệp luôn chú trọng tới công tác nghiên cứu thị trường Các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam cần luôn luôn chú trọng công tác nghiên cứu thị trường. Việc nghiên cứu thị trường tốt sẽ cung cấp cho các doanh nghiệp của Việt Nam những thông tin có hệ thống về thị trường xuất khẩu bao gồm các thông tin về: các rào cản đang được áp dụng, dung lượng thị trường, các đối thủ cạnh tranh, …qua đó doanh nghiệp có thể chủ động ứng phó được trước những rào cản kỹ thuật mà thị trường này dựng lên, tạo ra thế chủ động cho các doanh nghiệp dệt may Việt Nam khi thâm nhập thị trường này. Doanh nghiệp nên thường xuyên tiến hành các cuộc điều tra về nhu cầu thị trường qua các chương trình thăm dò nhu cầu của thị trường, hoặc tiến hành các chương trình giới thiệu sản phẩm, qua đó thăm dò ý kiến của người tiêu dùng để từ đó có thể cải tiến sản phẩm của mình theo thị hiếu của khách hàng ở từng thị trường quốc tế. Bên cạnh đó doanh nghiệp cần phải tìm hiểu sâu về các đặc điểm văn hóa riêng biệt của từng thị trường, cần phải tránh sản phẩm không phù hợp với văn hóa của từng thị trường. Chính hoạt động nghiên cứu thị trường giúp cho các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam chủ động ứng phó với những sự biến động của thị trường nhập khẩu, từ đó hàng dệt may xuất khẩu Việt Nam mới có thể đứng vững trên thị trường Hoa Kỳ nói riêng cũng như các thị trường khác trên Thế giới. 3.5.2. Doanh nghiệp cần xây dựng và kiện toàn sử dụng các hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật theo đúng tiêu chuẩn quốc tế Các doanh nghiệp Việt Nam cần xây dựng kiện toàn các hệ thống tiêu chuẩn theo đúng quy định quốc tế, đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường quốc tế – đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu mà các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần quan tâm bởi vì chính doanh nghiệp mới là đối tượng tham gia trực tiếp vào quan hệ mua bán với các quốc gia và phải đối mặt với rất nhiều những quy định, rào cản liên quan đến hàng hóa mình muốn xuất khẩu. Do vậy, muốn vượt rào thành công thì hơn hết là các doanh nghiệp phải tự hoàn thiện hóa được tiêu chuẩn kỹ thuật mà doanh nghiệp đang áp dụng trong sản xuất. Muốn vậy, trước tiên các doanh nghiệp sản xuất – xuất khẩu hàng dệt may cần phải có sự đầu tư đúng mức cho hoạt động tìm hiểu, nghiên cứu kỹ lưỡng đến những hệ thống quy định về tiêu chuẩn chất lượng – kỹ thuật đang được các quốc gia phát triển áp dụng. Sự đầu tư đó bao gồm: đầu tư vào con người cụ thể là chú trọng đến phát triển những cán bộ chuyên nghiên cứu và ứng dụng những quy định về tiêu chuẩn chất lượng – kỹ thuật đối với mặt hàng dệt may, ngoài ra phải thường xuyên cử cán bộ của doanh nghiệp đi khảo sát, điều tra thông tin ở thị trường nước ngoài. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần phải đầu tư xây dựng được hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sau khi đã nghiên cứu sao cho phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với năng lực của doanh nghiệp mình như: cải tiến, hiện đại hóa trang thiết bị, xây dựng hệ thống bảo vệ môi trường – đáp ứng theo tiêu chuẩn môi trường đã được đề ra hay xây dựng một hệ thống những quy định về lao động áp dụng cho doanh nghiệp mình sao cho không vi phạm những quy định của SA 8000. 3.5.3. Đẩy nhanh công tác cổ phần hóa các doanh nghiệp dệt may Đẩy nhanh công tác cổ phần hóa doanh nghiệp, thành lập ra những tập đoàn dệt may lớn sẽ loại bỏ những doanh nghiệp dệt may yếu kém, không có khả năng cạnh tranh bên cạnh đó khuyến khích các doanh nghiệp tham gia vào liên kết chuỗi, thành lập ra những tập đoàn dệt may lớn mạnh có đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới. Ngoài ra, cần đẩy nhanh lộ trình hội nhập ngành dệt may trong khu vực để có thể tăng cường được sức cạnh tranh. Bên cạnh đó các doanh nghiệp Việt Nam có thể xúc tiến hoạt động liên kết với các doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may không những là với các doanh nghiệp trong nước mà còn với cả các doanh nghiệp nước ngoài để trở thành những doanh nghiệp lớn, đáp ứng được những hợp đồng lớn, đáp ứng được các rào cản kỹ thuật, mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm Bên cạnh đó, cùng với việc đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, các doanh nghiệp dệt may cần minh bạch hóa hệ thống tài chính doanh nghiệp, kết hợp chặt chẽ với Nhà nước và Hiệp hội Dệt may để có thể chủ động đối phó trước những vụ kiện bán phá giá của nước nhập khẩu. Ngoài ra, việc chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu doanh nghiệp là một việc làm vô cùng quan trọng. Thương hiệu là linh hồn của sản phẩm cũng như của doanh nghiệp, do đó việc xây dựng thương hiệu cho doanh nghiệp nói riêng và cho hình ảnh mặt hàng dệt may nói chung là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng của doanh nghiệp. 3.5.4. Doanh nghiệp luôn đặt phương châm nâng cao chất lượng lên hàng đầu Chất lượng của mặt hàng dệt may được đánh giá qua hai chỉ tiêu: chỉ tiêu kỹ thuật đó là những thông số kỹ thuật và chỉ tiêu phi kỹ thuật bao gồm các yếu tố về mẫu mã, thẩm mỹ, hợp mốt…hai chỉ tiêu này có tầm quan trọng như nhau nên đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất xuất khẩu hàng dệt may luôn phải chú ý đến thỏa mãn cả hai chỉ tiêu này, đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của các nước phát triển. Muốn nâng cao chất lượng sản phẩm của mình, các doanh nghiệp sản xuất dệt may cần: Thứ nhất, doanh nghiệp cần chủ động trong quá trình tìm kiếm yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất của mình. Như đã biết, mặt hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam sử dụng nguồn nguyên liệu đầu vào chủ yếu là từ việc nhập khẩu từ nước ngoài. Chính điều này đã tạo ra sự bị động trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ngoài ra làm giảm tính cạnh tranh của doanh nghiệp do giá nhập khẩu nguyên phụ liệu cao. Để khắc phục được tình trạng trên, trong thời gian tới các doanh nghiệp dệt may nên chủ động đầu tư, phát triển các vùng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất, có thể kết hợp các doanh nghiệp với nhau để có thể phát triển những vùng nguyên liệu lớn hoặc doanh nghiệp phối hợp cùng Hiệp hội dệt may phát triển vùng nguyên liệu qua đó làm tăng tỷ lệ nội địa hóa cho sản phẩm dệt may Việt Nam. Thứ hai, cần đổi mới trang thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại. Các doanh nghiệp dệt may cần tập trung đầu tư vào các thiết bị chuyên dùng nhằm nâng cao chất lượng cũng như hình thức, mẫu mã sản phẩm, đưa thương mại điện tử vào trong sản xuất. Đặc biệt, các doanh nghiệp cần thu hút sự đầu tư của những công ty xuyên quốc gia, tự có những dự án, quy hoạch để kêu gọi nhà đầu tư, doanh nghiệp dệt may nên chú trọng đề cao thu hút đầu tư và nhập khẩu nguồn công nghệ ở những nước có nền kinh tế phát triển, những nước có công nghệ nguồn. Tuy nhiên, hoạt động đầu tư của doanh nghiệp cũng cần phải có sự cân nhắc đúng đắn, tránh hiện tượng đầu tư ồ ạt gây lãng phí và giảm hiệu suất sử dụng vốn, tài sản để đầu tư. Bên cạnh đó, cần có sự phối hợp hài hòa trong việc sử dụng công nghệ tiên tiến và những công nghệ đang sử dụng để có thể sản xuất sản phẩm tận dụng được mọi ưu thế mà doanh nghiệp đang có. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng nên chủ động trong việc tìm tòi và thiết kế, sáng tạo các thiết bị khoa học công nghệ phù hợp với thực trạng của doanh nghiệp mình, tránh việc thụ động hoàn toàn vào các nước có công nghiệp nguồn. Thứ ba, doanh nghiệp cần chú ý đến đào tạo nguồn nhân lực của doanh nghiệp mình bao gồm cả lao động phổ thông, cán bộ kỹ thuật tay nghề cao và cán bộ quản lý. Doanh nghiệp cần thường xuyên đào tạo cho người lao động nhằm: nâng cao trình độ tay nghề, nâng cao sự hiểu biết và ý thức được về rào cản kỹ thuật đang được áp dụng, đào tạo cho người lao động về những dây truyền công nghệ tiên tiến để người lao động sử dụng với năng suất tốt nhất. Bên cạnh đó, cần thường xuyên đưa cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật tham gia các buổi diễn đàn, các buổi tọa đàm, các chuyến đi thực tế sang các quốc gia khác nhằm nâng cao trình độ quản lý, trình độ về khoa học – kỹ thuật. Thứ tư, doanh nghiệp cần tích cực đổi mới cơ cấu, mẫu mã sản phẩm hợp thời trang, tập trung vào các sản phẩm có hàm lượng giá trị gia tăng cao, mở rộng thị trường xuất khẩu, tránh tập trung quá lớn vào một vài thị trường chính. Phối hợp chặt chẽ với Hiệp hội Dệt May và Bộ Công Thương theo dõi sát diễn biến cũng như chấp hành nghiêm túc các yêu cầu của phía Hoa Kỳ để tránh tình hình bất lợi đối với hàng dệt may xuất khẩu sang Hoa Kỳ. Muốn vậy, các doanh nghiệp luôn chú trọng đến nghiên cứu nhu cầu thị trường, nghiên cứu nhu cầu của người tiêu dùng tại Hoa Kỳ nói riêng cũng như các quốc gia khác. Đặc biệt, doanh nghiệp cần chú trọng phát triển phòng ban chuyên ngành thiết kế thời trang, các chuyên gia thiết kế thời trang…Các doanh nghiệp trong lĩnh vực thời trang cần liên kết, phối hợp với nhau để hình thành ra những trung tâm thời trang lớn, hiện đại, đáp ứng được nhu cầu trong và ngoài nước, đáp ứng được những quy định về tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam cũng cần thường xuyên thuê các chuyên gia nước ngoài, những nhà thiết kế chuyên nghiệp tầm cỡ quốc tế để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, mẫu mã hình thức model, hợp mốt và mang phong cách nổi tiếng…. Thứ năm, để chiếm lĩnh thị trường, doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam cũng cần đa dạng hóa sản phẩm. Theo thực trạng chung của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay quy mô vẫn còn nhỏ lẻ thì các doanh nghiệp này nên vẫn tiếp tục phát triển sản xuất những sản phẩm có thế mạnh như các mặt hàng : áo sơ mi, áo cotton, quần áo lót, áo len… thì các doanh nghiệp Việt Nam cũng cần đầu tư vào các sản phẩm cao cấp, dần dần khẳng định vị thế và chiếm lĩnh thị trường Hoa Kỳ cũng như ở những quốc gia nhập khẩu hàng dệt may khác của Việt Nam. 3.5.5. Tăng cường hoạt động Marketing và xây dựng thương hiệu Xây dựng thương hiệu là một yếu tố quyết định tới sự thành bại của một doanh nghiệp, bởi vì một sản phẩm có chỗ đứng trên thị trường nhưng nó không có thương hiệu thì doanh nghiệp đó cũng không được công nhận. Vấn đề xây dựng thương hiệu ở Việt Nam còn mới mẻ, và mang lại nhiều bỡ ngỡ cho các doanh nghiệp Việt Nam, do vậy lại càng cần phải xây dựng thương hiệu. Đặc biệt, đến năm 2007 Việt Nam đã trở thành thành viên 150 của WTO thì thương hiệu, bảo vệ thương hiệu lại càng được đề cao. Muốn vậy, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần: Thứ nhất, cần xây dựng nhãn hiệu cho doanh nghiệp mình và phải đăng ký với các cơ quan có thẩm quyền ở thị trường nội địa cũng như thị trường quốc tế, có như vậy hình ảnh của doanh nghiệp mới được quảng bá. Thứ hai, doanh nghiệp cần phải luôn luôn củng cố, phát triển thương hiệu của doanh nghiệp mình thông qua các hoạt động: marketing quốc tế, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm để từ đó sản phẩm của doanh nghiệp đi sâu vào thị hiếu người tiêu dùng, qua đó hình ảnh hay chính là thương hiệu của doanh nghiệp được củng cố và phát triển. Thực hiện tốt hoạt động marketing quốc tế bao gồm rất nhiều khâu nhỏ,trong đó việc hình thành và đa dạng các kênh phân phối tiếp cận thị trường là quan trọng nhất. Doanh nghiệp dệt may có thể thực hiện tốt hoạt động marketing quốc tế thì trước hết cần có và đào tạo một đội ngũ cán bộ marketing quốc tế chuyên nghiệp, có trình độ tay nghề cao, đặc biệt trong quá trình hình thành và đa dạng hóa các kênh phân phối bán hàng, tiếp cận thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp cần có một kế hoạch triển khai rõ ràng, khả thi…do đó các doanh nghiệp có thể liên kết để cùng thực hiện việc thâm nhập thị trường của các doanh nghiệp này. Các doanh nghiệp nên đầu tư vào hình thành nên các phòng giao dịch, đại lý bán buôn, lẻ, …để có thể giới thiệu và đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng một cách nhanh nhất. Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam còn có thể tận dụng kênh phân phối sản phẩm của người Việt Nam sống xa quê hương để quảng bá cho sản phẩm mình KẾT LUẬN Tóm lại, trong thời gian sắp tới Hoa Kỳ vẫn là thị trường hàng đầu, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam ra thị trường Thế giới. Tuy nhiên, những rào cản kỹ thuật mà thị trường đang áp dụng cũng đã có những ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản xuất và xuất khẩu mặt hàng dệt may Việt Nam sang thị trường này. Hàng dệt may Việt Nam sang thị trường này vẫn tăng nhanh qua các thời kỳ sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ được ký kết và đến giai đoạn này Việt Nam đã trở thành một trong 150 thành viên của tổ chức WTO. Là thành viên của WTO, Việt Nam cũng cần phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của WTO đối với các vấn đề về kinh tế – xã hội…và hoạt động dệt may Việt Nam cũng không nằm ngoài những yêu cầu đó. Hoa Kỳ là một trong những đối tác quan trọng nhập khẩu hàng dệt may Việt Nam lớn, thị trường này cũng có một hệ thống rào cản kỹ thuật phức tạp. Điều này đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam khi muốn chiếm lĩnh thị trường tiềm năng này thì hơn hết cần phải vượt rào bằng sức mạnh nội lực của doanh nghiệp mình. Những năm qua, Nhà nước, Hiệp hội Dệt may Việt Nam cũng như toàn thể doanh nghiệp xuất khẩu hàng dệt may đều cố gắng hết sức và có những động thái, biện pháp vượt rào, tuy nhiên còn bộc lộ nhiều yếu kém. Do vây, trong thời gian tới, “vượt rào” những rào cản kỹ thuật Hoa Kỳ sẽ vẫn được Đảng, Nhà nước, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, cũng như toàn thể dệt may quan tâm và chú trọng. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Sách: Lê Quốc Ân (8/2002) Làm thế nào để xuất khẩu thành công hàng dệt may vào thị trường Hoa Kỳ, Hiệp Hội dệt may Việt Nam, Hà Nội. Bộ Thương Mại (9/2000), chiến lược phát triển xuất nhập khẩu thời kỳ 2001 – 2010 Nguyễn Văn Cao – Marketing quốc tế GS.TS. Trần Minh Đạo, PGS.TS. Vũ Trí Dũng – Giáo trình Marketing quốc tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Thời báo Kinh tế - Việt Nam Tạp chí dệt may Việt Nam Tạp chí Doanh nghiệp Tạp chí Thương Mại Tạp chí Kinh tế và phát triển Trang Website: http:// www.wto.dddn.com.vn http:// www.mofa.gov.vn http:// www.vst.vista.gov.vn http:// www.vbf.org.vn MỤC LỤC DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docMột số quy định về rào cản kỹ thuật của Hoa Kỳ đối với hàng dệt may nhập khẩu và giải pháp vượt rào của Việt Nam.DOC
Luận văn liên quan