Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2015

Đánh giá tổng quan về tình hình thu hút và sử dụng vốn ODA của Nhật Bản trong những năm qua với số liệu mới cập nhật. CÁc phương pháp để đánh giá sử dụng hiệu quả của vốn ODA cững như các hạn chế cần khắc phục để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA hiệu quả hơn như tiêu đề của đề tài. Chắc chắn sẽ là tài liệu tham khảo cho các bạn. Đề tài mình vừa hoàn thành vào 10/2011 Chúc các bạn thành công! Danh mục tài liệu tham khảo1. PGS.TS.Nguyễn Thị Bạch Nguyệt, PGS.TS.Từ Quang Phương.Giáo trình Kinh tế đầu tư.NXB Đại học Kinh tế quốc dân. 2. TS.Đinh Đào Ánh Thủy.Bài giảng Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ,2010. 3. PGS.TS. Đỗ Đức Bình, TS. Nguyễn Thường Lạng, Đại học Kinh tế quốc dân. Giáo trình Kinh tế quốc tế. NXB Lao động – xã hội. 2004. 4. Báo cáo phát triển Việt Nam 2001 của Ngân hàng thế giới – Ngân hàng phát triển châu Á – chương trình phát triển Liên hợp quốc: Việt Nam 2010 tiến vào thế kỷ 21 – tổng quan. 5. Các văn bản pháp quy liên quan: Các Nghị định: 20/1994/NĐ-CP, 17/2001/NĐ-CP,131/2006/NĐ-CP; Các quyết định: 1248/2007/QĐ-BKH, 803/2007/QĐ-BKH. 6. Định hướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thời kỳ 2006 – 2010. 7. Tạo lập nền tảng cho sự phát triển bền vững (Báo cáo của Chính phủ tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam) 8. Các trang web như: Thời báo kinh tế Việt Nam http://vneconomy.vn Bộ kế hoạch và đầu tư http://www.mpi.gov.vn Tổng cục thống kê Việt Nam http://www.gso.gov.vn Và các trang web mạng điện tử khác

doc33 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 3406 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam giai đoạn 2010 đến 2015, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u hỏi chính Phù hợp Chương trình/dự án có nhất quán với các mục tiêu chiến lược của quốc gia? Có thể thay đổi họat động của chương trình/dự án đó để làm nó phù hợp hơn với các mục tiêu chiến lược quốc gia? Chương trình/dự án đó có còn đáp ứng được nhu cầu của các cơ quan thụ hưởng? Phạm vi và cách thức tiếp cận của dự án có phù hợp hay không? Sự thay đổi của dự án sau khi triển khai có phù hợp với phạm vị ban đầu của dự án hay không? Những thay đổi trong thời gian tới như môi trường kinh tế, chính sách ... có ảnh hưởng đến tính phù họp của dự án hay không? Hiệu quả Có đạt được mục tiêu dự kiến không? Những nhân tố ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu của dự án? Có đạt được mục tiêu khi chương trình/dự án kết thúc không? Có kết quả đầu ra nào cần được củng cố để đạt được mục tiêu của dự án không? Liệu có thể giảm sản phẩm đầu ra mà không làm ảnh hưởng đến việc đạt kết quả của dự án không? Hiệu suất Có thể giảm số lượng yếu tố đầu vào đến mức nào nhưng vẫn đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra? Các yếu tố đầu vào có được sử dụng một cách phù hợp/đúng đắn để đạt được các mục tiêu đề ra hay không? Các mục tiêu của dự án có đạt được một cách đầy đủ hay không? Những nhân tố thúc đẩy và cản trở việc đạt được mục tiêu của dự án? Tác động Có tác động tiêu cực nào không – nếu có, liệu có thể làm giảm thiểu những tác động này? Có tác động tích cực nào không – nếu có, liệu có thể tối đa hóa những tác động này? Dự án đã có những đóng góp gì đến việc đạt được mục tiêu dài hạn của quốc gia? Chương trình/dự án có tác động thế nào đến việc phát triển chính sách trong lĩnh vực dự án thực hiện? Những tác động này có tích cực hay không? Dự án có tác động gì đến kinh tế/xã hội như: tạo công an, việc làm, giảm nghèo, nâng cao vị thế người phụ nữ, tăng cường sự tham gia của người dân, nâng cao năng lực đối tác... Những tác động này có tích cực không? Những tác động của dự án đối với môi trường tự nhiên nơi dự án thực hiện? Nếu là những tác động tiêu cực thì có được lường trước ngay trong giai đoạn đầu thực hiện dự án hay không? Những tác động của dự án đối với việc nâng cao và cải tiến công nghệ trong khu vực dự án triển khai? Bền vững Liệu các tổ chức của Việt Nam tham gia vào các chương trình/dự án ODA này có tiếp tục các họat động một cách độc lập sau khi dự án kết thúc hay không? Liệu những cộng đồng tham gia vào dự án có tiếp tục các họat động một cách độc lập khi dự án kết thúc hay không? Có thể thay đổi những họat động nào để tăng cường tính bền vững của dự án? Kết quả thực hiện dự án có được hoạt động và duy trì một cách thích hợp khi dự án kết thúc không? Các điều kiện để duy trì hoạt động của dự án có phù hợp không như cơ cấu tổ chức, nhân lực, kỹ năng, trang thiết bị....? Nguồn lực tài chính trong tương lai để duy trì các hoạt động của dự án có đầy đủ không? Bên cạnh các nguồn lực tài chính của các tổ chức, có sự hỗ trợ từ phía Chính phủ hay không? Theo thời điểm đánh giá Công tác đánh giá được tiến hành định kỳ và đột xuất (khi cần thiết). Công tác đánh giá định kỳ được tiến hành theo 04 giai đoạn chủ yếu sau: Bảng 1.2: Mối quan hệ về thời điểm đánh giá dự án Theo thời kỳ Các câu hỏi chính Đánh giá đầu kỳ Dự án được thiết kế có phù hợp với tình hình thực tế khi triển khai dự án hay không? Công tác chuẩn bị, xây dựng dự án đã được thực hiện tốt hay chưa như vấn đề chuẩn bị vốn, vấn đề giải phóng mặt bằng...? Đánh giá giữa kỳ Tiến độ thực hiện dự án có thể hoàn thành theo mục tiêu đề ra hay không? Nguyên nhân nào làm cho dự án không theo đúng tiến độ? Các giải pháp gì cần thực hiện để đảm bảo tiến độ thực hiện của dự án? Có cần điều chỉnh gì trong văn kiện/thỏa thuận của dự án để đảm bảo dự án đạt được tiến độ đề ra hay đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế? Đánh giá cuối kỳ Dự án có đạt được mục tiêu như đề ra trong văn kiện hay không? Việc thực hiện dự án đã rút ra được những bài học kinh nghiệm gì để làm cơ sở cho việc đưa ra những đề xuất, lưu ý khi thực hiện những chương trình/dự án tiếp theo? Đánh giá tác động Dự án có tính bền vững hay không? Có tác động gì đến môi trường kinh tế - xã hội của khu vực thực hiện dự án hay không? Những kết quả của dự án có mang lại lợi ích cho người hưởng lợi, có giải quyết được các vấn đề kinh tế - xã hội như đặt ra ban đầu hay không? Mối quan hệ giữa kiểu đánh giá và các tiêu chí. Thông tin để đánh giá Để có thể đánh giá hiệu quả của dự án ODA điều quan trọng là phải tổ chức và thu thập được các nguồn thông tin về dự án. + Nguồn thông tin thứ nhất: Rất nhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc đánh giá dự án được thể hiện trong báo cáo định kỳ về việc thực hiện dự án, báo cáo hoàn thành dự án, Hệ thống thông tin quản lý (MIS) do Ban quản lý dự án chuẩn bị sau khi dự án kết thúc. Đó là các thông tin về tiến độ thực hiện dự án, chi phí thực tế so với nghiên cứu khả thi, các chỉ số về kết quả dự án, các yếu tố phát sinh ngoài dự kiến... + Nguồn thông tin thứ hai: Thu thập thông tin qua khảo sát và nghiên cứu dưới dạng câu hỏi và trả lời được gửi đến từ cơ quan, cá nhân liên quan đến dự án, đặc biệt là những người hưởng lợi từ dự án. Bằng cách này cán bộ đánh giá dự án có thể thu thập được các thông tin liên quan đến các chỉ số tác động, chỉ số ảnh hưởng của dự án. Tuy nhiên, ở đây cần nói thêm rằng, đa số các dự án sau khi hoàn thành chưa thể đo ngay được hiệu quả. Vì vậy, theo kinh nghiệm của các nước việc đánh giá hiệu quả sau dự án thường được tiến hành 03 đến 05 năm sau khi dự án hoàn thành. + Nguồn thông tin khác:Để có thể kiểm chứng tính xác thực của các thông tin, cơ quan đánh giá có thể cử đoàn đánh giá xuống hiện trường dự án để xem xét tại chỗ kết quả và ảnh hưởng của dự án. Hoạt động hỗ trợ phát triển của Nhật Bản Các cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện cung cấp ODA tại Nhật Bản Trong công tác tổ chức thực hiện cung cấp ODA hiện nay của Nhật Bản, việc xây dựng chính sách hợp tác phát triển được giao cho 4 bộ: Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại thương và Công nghiệp, và Bộ Kế hoạch kinh tế. Bốn bộ này tiếp nhận khoảng 95% tổng ngân sách ODA và 5% còn lại được giao cho 14 bộ và cơ quan khác tuỳ theo các lĩnh vực của từng dự án, mà các Bộ này hoạt động mang tính chất cố vấn trong việc xây dựng chính sách ODA. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm quản lý vốn vay song phương. Việc thực hiện chương trình vay vốn song phương được giao cho JBIC - được hình thành trên cơ sở sát nhập giữa OECF và JEXIM từ 1/10/1999 và có các chức năng thay thế cho OECF và JEXIM. Hiện nay, JBIC là cơ quan chính điều hành vốn vay, chiếm gần một nửa tổng ODA Nhật Bản. JBIC sẽ hoạt động trong các lĩnh vực: - Tài trợ cho xuất nhập khẩu, kinh doanh ở nước ngoài của các công ty Nhật Bản. - Tham gia các hoạt động tài trợ ngoài ODA do JEXIM đang tiến hành. - Tài trợ cho các hoạt động hợp tác kinh tế ở nước ngoài với mục đích phát triển kinh tế xã hội ở các nước và khu vực đang phát triển. Đối với viện trợ không hoàn lại, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm soạn thảo chính sách về viện trợ không hoàn lại trên cơ sở tham khảo ý kiến tư vấn của Văn phòng ngân sách Bộ Tài chính và JICA, trực thuộc Bộ Ngoại giao là cơ quan đứng ra tổ chức việc thực hiện viện trợ không hoàn lại. Bộ Ngoại thương và Công nghiệp, và Bộ Kế hoạch kinh tế chịu trách nhiệm phối hợp giữa ODA với FDI của Nhật Bản, phát triển hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản với các nước. Ngoài ra, một cơ quan hợp tác phát triển quan trọng khác của Nhật Bản là Keidanren, một tổ chức tư nhân phi lợi nhuận. Với số vốn do khoảng 100 công ty tư nhân lớn nhất Nhật Bản và JBIC đóng góp, Keidanren, thông qua JAIDO, cung cấp vốn trực tiếp cho các dự án ở các nước đang phát triển. ODA song phương ODA song phương bao gồm các hoạt động hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ Nhật Bản cho Chính phủ nước tiếp nhận. ODA song phương được chia làm 2 loại: ODA không hoàn lại và tín dụng ODA. ODA không hoàn lại: Hầu hết các hoạt động ODA không hoàn lại được Chính phủ Nhật Bản thực hiện thông qua JICA, gồm viện trợ chung và hợp tác kỹ thuật. - Viện trợ chung là khoản hỗ trợ tài chính không yêu cầu hoàn trả của Nhật Bản cho các nước đang phát triển nhằm thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội. Viện trợ không hoàn lại chung là yếu tố quan trọng của ODA Nhật Bản, là dạng hỗ trợ có chất lượng cao nhất. Chất lượng của viện trợ thay đổi tỉ lệ thuận với khối lượng viện trợ. Hình thức này bao gồm hoạt động cấp hỗ trợ tài chính cho các dự án chung, phát triển ngư nghiệp, các hoạt động văn hóa, hỗ trợ lương thực và tăng khả năng sản xuất lương thực, cứu trợ khẩn cấp và giảm nhẹ thiên tai... - Hợp tác kỹ thuật của Chính phủ Nhật Bản gồm các hình thức sau: + Chương trình đào tạo kỹ thuật: Đóng góp cho phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nâng cao trình độ cán bộ nước tiếp nhận tại Nhật Bản hoặc nước thứ ba. Ngoài ra, còn có chương trình mời thanh niên ASEAN và các nước đến Nhật Bản tham gia giao lưu văn hóa với thanh niên Nhật Bản. + Cử chuyên gia Nhật Bản hoặc chuyên gia của nước thứ 3 sang công tác tại nước tiếp nhận với mục tiêu chuyển giao công nghệ và kiến thức của chuyên gia tới các cán bộ của nước tiếp nhận, qua đó, giúp cho công nghệ Nhật Bản có chỗ đứng trong các nước đang phát triển. + Cung cấp trang thiết bị, chú ý đến mối quan hệ giữa “phần cứng” và “phần mềm” nhằm tạo thuận lợi cho việc chuyển giao và phổ biến công nghệ, đào tạo cán bộ. + Cử các tình nguyện viên Nhật Bản (thuộc JOVC) từ 20 đến 40 tuổi sang các nước đang phát triển trong thời gian hai năm góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước và đào tạo nhân lực nước tiếp nhận. Chương trình này cũng góp phần tăng sự hiểu biết lẫn nhau, thiết lập quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước. + Hợp tác kỹ thuật kiểu dự án: Đây là sự phối hợp 3 hình thức hợp tác kỹ thuật trọn gói, gồm đào tạo kỹ thuật tại Nhật Bản, cử chuyên gia và cung cấp máy móc thiết bị. Các dự án dạng này thường được thực hiện trong khoảng 3-5 năm, qua đó các kiến thức chuyên môn của Nhật Bản được áp dụng và chuyển giao cho các nước đối tác và có thể được phổ biến rộng rãi sau khi dự án kết thúc. + Nghiên cứu phát triển: Đây là hình thức Chính phủ Nhật Bản cử các đoàn khảo sát nghiên cứu phối hợp làm việc với các cơ quan liên quan nước tiếp nhận chuẩn bị các Quy hoạch tổng thể, Báo cáo khả thi, Thiết kế chi tiết, nhằm hỗ trợ việc hoạch định các dự án phát triển cấp bách và ưu tiên cao. Tín dụng ODA: Đây là khoản tín dụng trực tiếp của Chính phủ Nhật Bản dành cho nước tiếp nhận để thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội, phù hợp với các tiêu chuẩn của DAC và OECD. Việc cung cấp tín dụng ODA Nhật Bản ngày nay được thực hiện thông qua JBIC. Tín dụng ODA Nhật Bản có thể được chia làm 2 nhóm chính: Tín dụng dự án và Tín dụng phi dự án - Tín dụng dự án, bao gồm: + Tín dụng dự án thông thường: Đây là dạng tín dụng ODA cơ bản, được cung cấp với mục đích mua sắm thiết bị, máy móc; xây dựng các công trình dân sự; dịch vụ tư vấn và các nhu cầu khác đối với dự án. Ngoài ra còn có hình thức đồng tài trợ: được cấp trong trường hợp nhu cầu vốn đâu tư cho một dự án lớn vượt quá khả năng của JBIC thì có thể dùng hình thức đồng tài trợ cùng với các nhà tài trợ khác. + Tín dụng thiết kế dự án: Đây là khoản tín dụng được cung cấp để tiến hành các dịch vụ cần thiết trước khi thực hiện dự án như công tác lập dự án, công tác chuẩn bị đấu thầu... + Tín dụng hai bước: Đây là khoản tín dụng được thực hiện thông qua cơ quan tài chính nước tiếp nhận, đối tượng thụ hưởng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các lĩnh vực công nghiệp chế tạo và nông nghiệp để thực hiện các dự án phát triển. - Tín dụng ODA phi dự án, bao gồm: + Tín dụng hàng hóa: Đây là loại tín dụng được cấp cho các nước đang phát triển bị thiếu hụt dự trữ ngoại tệ nhằm giúp các nước này có thể nhập khẩu hàng hóa, ổn định nền kinh tế. + Tín dụng điều chỉnh cơ cấu: Đây là loại tín dụng được cung cấp để các nước đang phát triển thực hiện cải cách kinh tế theo định hướng thị trường. + Tín dụng nghành: Đây là loại tín dụng hàng hóa hỗ trợ phát triển một nghành cụ thể của nước nhận. ODA đa phương Đây là hình thức đóng góp tài chính hoặc kỹ thuật của Chính phủ Nhật Bản cho các tổ chức quốc tế đa phương như UNDP, UNHCR,... và các tổ chức tài chính quốc tế như WB, ADB ... với mục tiêu góp phần thúc đẩy ổn định và phát triển tại các nước đang phát triển. Đóng góp cho các tổ chức đa phương thường được thực hiện dưới dạng hợp tác kỹ thuật trong khi đóng góp cho các tổ chức tài chính quốc tế ở dạng tài chính Chính sách ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam Vị trí của Việt Nam trong chính sách ODA của Nhật Bản Kể từ năm 1986, với chính sách Đổi mới, Việt Nam đã có những bước tiến lớn và đang chuyển dần theo hướng nền kinh tế thị trường. Năm 1995, Việt Nam gia nhập ASEAN và năm 1998 trở thành thành viên của APEC, cuối năm 2006 Việt Nam gia nhập WTO. Điều đó chứng tỏ Việt Nam tích cực thúc đẩy và mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới, trong đó có Nhật Bản. Theo số liệu thống kê, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Nhật Bản tháng 7/2011 đạt 907 triệu USD, tăng 6,2% so với tháng trước và tăng 15,8% so với cùng tháng năm ngoái, nâng tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Nhật Bản 7 tháng đầu năm 2011 đạt 5,6 tỉ USD, tăng 15,5% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 9,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của cả nước 7 tháng đầu năm 2011.Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác dẫn đầu mặt hàng về kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Việt Nam từ Nhật Bản 7 tháng đầu năm 2011 đạt 1,5 tỉ USD, tăng 6,3% so với cùng kỳ, chiếm 26,9% trong tổng kim ngạch.  Trong 7 tháng đầu năm 2011, một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản có tốc độ tăng trưởng mạnh: Phương tiện vận tải khác và phụ tùng đạt 186,5 triệu USD, tăng 233,6% so với cùng kỳ, chiếm 3,3% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là xăng dầu các loại đạt 77 triệu USD, tăng 82,4% so với cùng kỳ, chiếm 1,4% trong tổng kim ngạch; thuốc trừ sâu và nguyên liệu đạt 20,2 triệu USD, tăng 53% so với cùng kỳ, chiếm 0,4% trong tổng kim ngạch; sau cùng là hoá chất đạt 135 triệu USD, tăng 50,2% so với cùng kỳ, chiếm 2,4% trong tổng kim ngạch.   Ngược lại, một số mặt hàng nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản 7 tháng đầu năm 2011 có độ suy giảm: Thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 1,1 triệu USD, giảm 64,8% so với cùng kỳ, chiếm 0,02% trong tổng kim ngạch; tiếp theo đó là nguyên phụ liệu dược phẩm đạt 305 nghìn USD, giảm 43,7% so với cùng kỳ; sản phẩm từ giấy đạt 31 triệu USD, giảm 38% so với cùng kỳ, chiếm 0,6% trong tổng kim ngạch; sau cùng là kim loại thường khác đạt 85,4 triệu USD, giảm 26,5% so với cùng kỳ, chiếm 1,5% trong tổng kim ngạch. Trong tháng 1/2007, Việt Nam và Nhật Bản cũng đã tiến hành đàm phán chính thức về EPA. Sau 6 phiên đàm phán, tuy vẫn còn có những khoảng cách chưa thu hẹp nhưng cấp cao hai bên thỏa thuận sớm kết thúc đàm phán để ký EPA trong thời gian tới. Nhật Bản hoan nghênh các nỗ lực của Việt Nam hướng tới nền kinh tế thị trường và hứa sẽ xem xét công nhận quy chế kinh tế thị trường cho Việt Nam trên cơ sở thành tích kinh tế của Việt Nam sau khi gia nhập WTO.  Việt Nam và Nhật Bản đã bắt đầu thực hiện giai đoạn III Sáng kiến chung Việt - Nhật nhằm cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam, hỗ trợ thúc đẩy tam giác phát triển và hành lang Đông - Tây cũng như hợp tác trong GMS, nghiên cứu giúp giải quyết vấn đề tắc nghẽn giao thông ở Hà nội và Tp. HCM... Cho đến nay, có 5 dự án đầu tư của Việt Nam sang Nhật Bản là Công ty liên doanh Gemasa Corp (dịch vụ hàng hải), Công ty liên doanh Yasaka-Sài Gòn, Công ty liên doanh dịch vụ du lịch và nhà hàng Việt-Nhật (khách sạn - du lịch), Vijasgate Japan (ký kết hợp đồng sản xuất phần mềm), Công ty trách nhiệm hữu hạn phần mềm FPT Nhật Bản. Tổng vốn đầu tư sang Nhật Bản là 2.1 triệu USD, trong đó vốn thực hiện là 400.000 USD. Cơ cấu và hình thức cung cấp ODA của Nhật Bản vào Việt Nam ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam gồm hai hình thức là viện trợ (viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật) và tín dụng ưu đãi. Tuy nhiên chưa có sự cân xứng giữa phần viện trợ không hoàn lại và phần cho vay. Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2006, trong số 103.9 tỉ Yên ODA Nhật Bản cam kết dành cho Việt Nam, có tới gần 91.5% là vốn vay ưu đãi (chiếm 95.1 tỷ Yên), chỉ có khoảng 8.5% là viện trợ không hoàn lại (chiếm 8.8 tỷ Yên) Viện trợ không hoàn lại Từ khi nối lại viện trợ phát triển năm 1992 đến nay, Chính phủ Nhật Bản đã thực hiện nhiều loại hình viện trợ không hoàn lại khác nhau cho Việt Nam như: Viện trợ không hoàn lại chung; hợp tác kỹ thuật dạng dự án; nghiên cứu phát triển; cử chuyên gia; đào tạo cán bộ Việt Nam tại Nhật Bản; cung cấp trang thiết bị; viện trợ phi dự án...với tổng trị giá khoảng hơn 1.4 tỷ USD: - Quy mô viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản cho Việt Nam đang có xu hướng giảm dần do mức sống của người Việt Nam đã được cải thiện nhanh chóng trong những năm vừa qua. - Chương trình viện trợ không hoàn lại tập trung ưu tiên vào các dự án đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, được hỗ trợ bằng cách cung cấp cơ sở trang thiết bị cần thiết. Các lĩnh vực mục tiêu bao gồm các dự án giáo dục, y tế và sức khỏe, cấp nước, phát triển nông nghiệp, nâng cấp cơ sở hạ tầng công cộng như đường, cầu, sân bay và bảo vệ môi trường. - Bộ Ngoại giao Nhật Bản quyết định và thực hiện dự án viện trợ không hoàn lại. JICA chịu trách nhiệm khảo sát thiết kế cơ sở cho việc xây dựng cơ sở vật chất và mua sắm trang thiết bị và nguyên vật liệu; hỗ trợ thực hiện dự án và sau dự án. - Cùng với sự hỗ trợ kỹ thuật của Nhật Bản hoặc các nhà tài trợ khác nhằm nâng cao năng lực cho các đối tác Việt Nam, các trang thiết bị được cung cấp để có thể sử dụng hiệu quả. Ngoài ra, thông qua chương trình hợp tác kỹ thuật, Chính phủ Nhật Bản hỗ trợ lập các qui hoạch tổng thể phát triển các ngành như điện, giao thông, nghiên cứu khả thi, lập thiết kế chi tiết, khảo sát về môi trường..., đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý tại Nhật Bản, cử chuyên gia tư vấn, người tình nguyện sang Việt Nam làm việc... Hỗ trợ kỹ thuật Một số loại dự án hỗ trợ kỹ thuật (dự án hỗ trợ kỹ thuật, chương trình đào tạo tại Nhật Bản) tập trung vào chuyển giao công nghệ thông qua việc cử chuyên gia Nhật Bản cùng với việc cung cấp một số trang thiết bị và máy móc thiết yếu hoặc cử người Việt Nam sang đào tạo tại Nhật Bản. - Trong dự án hỗ trợ kỹ thuật, phía Việt Nam quản lý dự án bằng cách bổ nhiệm Giám đốc dự án, quản đốc dự án và nhân viên đối tác khác. JICA sẽ tuyển chọn và cử chuyên gia Nhật Bản, đưa ra khuyến nghị tổng thể, hướng dẫn kỹ thuật và tư vấn thực hiện dự án. Xem xét những mối quan hệ này, dự án được thực hiện thông qua việc liên lạc và tư vấn hàng ngày giữa đối tác Việt Nam và chuyên gia Nhật Bản với sự chủ động cao của phía Việt Nam. - Dự án hỗ trợ kỹ thuật có thể được thực hiện nhằm nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ xã hội cho các cơ quan quản lý cơ sở vật chất và trang thiết bị được tài trợ thông qua các dự án không hoàn lại hoặc dự án vốn vay ưu đãi. - Nghiên cứu phát triển tập trung vào lập các quy hoạch tổng thể và nghiên cứu khả thi đối với ngành và địa phương như quy hoạch giao thông vận tải hoặc kế hoạch phát triển thành phố ở Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng…Trong các nghiên cứu phát triển, JICA cử chuyên gia phối hợp với phía Việt Nam đánh giá thực trạng của các ngành và địa phương và đề xuất chiến lược trung và ngắn hạn cũng như các dự án cụ thể. Những dự án này có thể trở thành các dự án để Chính phủ Việt Nam xem xét đầu tư hoặc kêu gọi hỗ trợ của các nhà tài trợ - Sau khi có hiệp định ký kết giữa Chính phủ Nhật Bản và Chính phủ Việt Nam, JICA chịu trách nhiệm thực hiện hầu hết các dự án hợp tác kỹ thuật (dự án hợp tác kỹ thuật, nghiên cứu phát triển…). Ví dụ, JICA lựa chọn chuyên gia và cử họ sang Việt Nam và quản lý đấu thầu mua sắm trang thiết bị. Tín dụng ưu đãi của Nhật Bản Tín dụng ưu đãi của Nhật Bản dành cho Việt Nam có một số đặc điểm sau: Tập trung chủ yếu vào việc xây dựng các cơ sở hạ tầng quy mô lớn (đường xá, cầu cảng, các nhà máy điện, các công trình cấp thoát nước…) Quy mô vốn của các dự án này thường từ 40 triệu USD trở lên. Việc cam kết vốn cho dự án thường được tách ra làm nhiều hiệp định và thời gian thực hiện từ 5 năm trở lên. Vốn vay ưu đãi của Chính phủ Nhật Bản cho các dự án chiếm tối đa là 85% tổng vốn của dự án Có nhiều điều kiện vay trả cho các dự án tùy thuộc vào từng lĩnh vực. Các điều kiện vay trả này thay đổi tuỳ theo mức thu nhập bình quân đầu người của nước đi vay Các dự án sử dụng vốn vay ưu đãi có thời gian chuẩn bị dài do dự án ODA của Nhật Bản cần sự phân tích cẩn thận của cả hai Chính phủ để tránh tác động xấu do xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế quy mô lớn. Trong quá trình chuẩn bị, đối tác Việt Nam cần chuẩn bị Báo cáo nghiên cứu khả thi và Báo cáo đánh giá tác động môi trường. Nhiều dự án nói trên đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, góp phần tích cực cho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội Việt Nam như đường số 5, các cầu trên quốc lộ 1, hệ thống thông tin cứu hộ ven biển, nhiệt điện Phả Lại, Phú Mỹ, cầu Bãi Cháy, cầu Thanh Trì, đường 10, 18, cảng Cái Lân…. Các lĩnh vực Việt Nam được ưu tiên nhận ODA của Nhật Bản Hỗ trợ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường Việc chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi Việt Nam phải gấp rút phát triển nguồn nhân lực và xây dựng các cơ cấu tổ chức, bao gồm việc soạn thảo các bộ luật, các hệ thống thuế, các hệ thống tài chính phù hợp. Bởi vậy, Nhật Bản sẽ chú trọng giúp đỡ Việt Nam trong lĩnh vực hành chính nhằm góp phần xây dựng một hệ thống kinh tế mới và trong các lĩnh vực liên quan đến kinh tế thị trường. Điện năng và giao thông vận tải Nhật Bản giúp đỡ Việt Nam cải tạo nâng cấp hạ tầng cơ sở để khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm đạt được sự phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu. Việc này bao gồm sự hợp tác trong ngành điện lực để đáp ứng nhu cầu điện năng ngày càng tăng trong tương lai, cũng như sự hợp tác trong ngành giao thông vận tải giữa hai nước. Nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất chính ở Việt Nam. Nhật Bản hợp tác với Việt Nam trong việc cải thiện hạ tầng cơ sở cho ngành này, bao gồm cả việc xây dựng các hệ thống thuỷ lợi để tăng năng suất (phát triển đất đai phù hợp cho nông nghiệp cùng với các dự án nâng cấp hạ tầng cơ sở kinh tế, xã hội và nông nghiệp). Nhật Bản còn hợp tác trong các lĩnh vực như phát triển và phổ biến kỹ thuật nông nghiệp nhằm đa dạng hoá các sản phẩm nông nghiệp. Phát triển các nguồn nhân lực và giáo dục Việt Nam đã đạt được các chỉ số xã hội cao, bao gồm các tỷ lệ cao trong giáo dục đại học và trung học. Tiếp tục cải thiện trình độ giáo dục và phát triển các nguồn nhân lực trên diện rộng sẽ cho phép Việt Nam duy trì tính cạnh tranh của mình và có thể phát triển các ngành công nghiệp có trị giá gia tăng cao. Các dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ Nhật Bản tích cực tiến hành trợ giúp Việt Nam trong việc cải thiện các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khoẻ, bao gồm: - Xây dựng các chương trình dân số và các chương trình liên quan đến phòng chống AIDS. - Tiến hành những dự án có lợi cho người nghèo (ví dụ: xây dựng các hệ thống cấp thoát nước...) thông qua hợp tác với NGOs và sử dụng một cách tích cực viện trợ không hoàn lại cho các dự án dân sinh. Môi trường Nhật Bản đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực môi trường và chúng được sử dụng một cách có ích cho Việt Nam. Nhật Bản có thể tiến hành giúp đỡ Việt Nam trong vấn đề môi trường bằng cách khuyến khích chuyển giao các kỹ năng, kỹ thuật trong việc bảo vệ môi trường, trợ giúp dưới dạng cho vay bằng đồng Yên và nghiên cứu phát triển. Tình hình thu hút và sử dụng ODA của Nhật ở Việt Nam Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 8/1994 của Thủ tướng Nhật Bản và chuyến thăm Nhật Bản vào tháng 4/1995 của Tổng bí thư Đỗ Mười, hai bên đã ký kết về khoản tín dụng trị giá 58 tỉ Yên cho 8 dự án, gồm các dự án xây dựng nhà máy thủy điện và nhiệt điện. Tháng 7/1995, Mỹ tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam và Việt Nam trở thành viên của ASEAN thì tổng tài trợ ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam là 70 tỉ Yên trong đó viện trợ không hoàn lại là 8.9 tỉ Yên và 3.2 tỉ Yên dành cho hợp tác kỹ thuật. Vẫn trong xu hướng trên, sau khi kết thúc Hội nghị các nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tháng 12/1996, Nhật Bản tiếp tục tài trợ 92.5 tỉ Yên, trong đó gồm 81 tỉ Yên vốn vay cho 8 dự án cải tạo cơ sở hạ tầng và một dự án phát triển nông thôn; 4.86 tỉ Yên cho 4 dự án viện trợ không hoàn lại là dự án xây dựng cảng cá Vũng Tàu, dự án trang bị máy móc nông nghiệp vùng Tây Bắc, dự án khôi phục các cầu khu vực phía Bắc, dự án xây dựng cơ sở giáo dục giai đoạn 3. Đã có 4.687 tỉ Yên viện trợ kỹ thuật cho việc tiếp nhận hơn 151 cán bộ Việt Nam sang Nhật Bản, 30 chuyên gia và 5 thành viên của đội giúp đỡ thanh niên Hải ngoại được cử đến Việt Nam để thực hiện 15 dự án điều tra kế hoạch cơ bản và khả năng thực thi trong lĩnh vực như giúp đỡ về mặt chính sách giao thông vận tải, nông nghiệp, công nghiệp mỏ. Trong những năm tiếp theo, trong chính sách ODA của Nhật Bản đối với Việt Nam, đáng lưu ý là việc chuyển quan điểm từ sử dụng ODA để hỗ trợ phát triển phần cứng (phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật) sang hỗ trợ phát triển phần mềm (hạ tầng pháp lý và nguồn lực xã hội). Điều này trùng lặp với quyết định công bố tháng 1/2000 của Chính phủ Nhật Bản về việc điều chỉnh chính sách ODA ngắn hạn cho các nước đang phát triển nói chung và cho Việt Nam nói riêng. Theo đó, ODA của Nhật Bản cho Việt Nam trong 4 năm từ năm 2000 đến năm 2003 có xu hướng: - Tích cực chi viện cho công cuộc cải cách cơ cấu gắn với sự tăng trưởng kinh tế trung và dài hạn. - Chi viện chuyển giao kỹ thuật, xây dựng công nghiệp cơ sở; cải cách, tăng cường hệ thống tiền tệ, pháp chế hóa. - Đảm bảo thực thi viện trợ đúng đắn, cải thiện quy trình điều tra trước khi viện trợ, giám sát quá trình thực thi và đánh giá sau khi dự án được hình thành. Bảng : ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam giai đoạn 2000 - 2007 Năm Tổng ODA (tỷ Yên) Viện trợ không hoàn lại Vay tín dụng ưu đãi Tỷ Yên % Tỷ Yên % 2000 86.4 15.5 17.9 70.9 82.1 2001 91.6 17.3 18.9 74.3 81.1 2002 92.4 13.1 14.2 79.3 85.8 2003 91.7 12.4 13.5 79.3 86.5 2004 94.6 12.6 13.3 82 86.7 2005 100.9 10.1 10 90.8 90 2006 103.9 8.8 8.5 95.1 91.5 2007 123.2 7.4 6 115.8 94 2008* 119.9 - - - - ( Nguồn: MPI .Đơn vị: Tỷ Yên, %) Tháng 3/2000 Chính phủ Nhật Bản quyết định cung cấp bổ sung cho Việt Nam khoản vốn vay đặc biệt 21.3 tỉ Yên lãi suất 1% năm thời gian 40 năm, ân hạn 10 năm cho 2 dự án: Dự án nâng cấp cảng Hải Phòng (khoảng 120 triệu USD) và dự án xây dựng cầu Bính - Hải Phòng (khoảng 80 triệu USD). Từ năm 2001, Nhật Bản cắt giảm 10% ngân sách ODA nhưng vẫn giữ và tăng kim ngạch ODA cho Việt Nam, tổng vốn ODA là 91.6 tỷ Yên, trong đó viện trợ không hoàn lại là 17. 3 tỷ Yên, tín dụng ưu đãi là 74.3 tỷ Yên. Tính đến 31/3/2002, Nhật Bản đã có 335 dự án ở Việt Nam với số vốn đăng ký 4.06 tỷ USD, đứng thứ 3 sau Singapore và Đài Loan về số vốn đăng ký nhưng đứng đầu về kim ngạch đầu tư đã đi vào thực hiện (3.052 tỷ USD). Tín dụng ưu đãi Nhật Bản dành cho Việt Nam FY 2002 đạt 79.3 tỷ Yên, tăng 6.75% so với 74.314 tỷ Yên của FY 2001. Từ năm 2002 - 2006, tổng vốn viện trợ Nhật Bản cho Việt Nam vào khoảng 479 tỉ Yên, tương đương 4.1 tỉ USD. Chính phủ Nhật tiến hành viện trợ cho 26 dự án chính liên quan đến xây dựng trường tiểu học và trung học cơ sở, cung cấp thiết bị y tế, hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đào tạo nghề với tổng vốn 213 triệu Yên. Năm 2007, Chính phủ Nhật cũng đã viện trợ cho 3 dự án, trong đó có 1 dự án cung cấp máy in chữ nổi cho người mù vừa mới ký cam kết thực hiện. Nhật Bản cũng dành cho Việt Nam hiệp định cho vay ưu đãi trị giá trên 94 tỷ Yên. Đây là lần thông qua khoản vay ưu đãi lớn nhất, thuộc FY 2007 của Chính phủ Nhật Bản đối với Việt Nam. Khoản vay 94 tỷ Yên này được cấp cho 6 dự án cơ sở hạ tầng lớn của Việt Nam, gồm đường bộ cao tốc Bắc - Nam (đoạn Tp.HCM - Dầu Giây), đường sắt đô thị thành phố Hà Nội (tuyến số 1), đường vành đai 3 thành phố Hà Nội, mạng truyền tải và phân phối điện, cải tạo môi trường nước Tp.HCM giai đoạn hai và cải tạo môi trường nước thành phố Huế. Tại Hội nghị CG (7/2007), Nhật Bản tuyên bố viện trợ ODA FY 2007 cho Việt Nam mức kỷ lục là 123.2 tỷ Yên (tương đương 1.1 tỷ USD) tăng 19% so với năm trước, trong đó khoản cho vay là 115.8 tỷ Yên và khoản viện trợ không hoàn lại là 7.4 tỷ Yên. Trong năm tài khóa 2010 (kết thúc ngày 31-3-2011), vốn vay của Nhật Bản cam kết cho Việt Nam lên tới hơn 86,5 tỷ Yên, tương đương 1 tỷ 41 triệu USD dành cho 6 dự án. Ông Tsuno Motonori, Trưởng Đại diện JICA tại Việt Nam cho biết, các công trình mới được cam kết trong năm tài khóa 2010 đều là những công trình phù hợp với nhu cầu của Việt Nam, có mức ưu tiên và tính cấp bách cao.  Ba dự án lớn, trị giá 58,18 tỷ Yên, tương đương hơn 700 triệu USD vừa được ông Tsuno Motonori, Trưởng Đại diện JICA tại Việt Nam và ông Trần Xuân Hà, Thứ trưởng Bộ Tài chính ký kết Hiệp định. Đó là các dự án xây dựng cầu Nhật Tân với trị giá hơn 24 tỷ Yên (299 triệu USD), dự án xây dựng nhà máy nhiệt điện Nghi Sơn II với trị giá 29,8 tỷ Yên (360 triệu USD) và Chương trình tín dụng hỗ trợ xóa đói giảm nghèo lần thứ 9 với trị giá 3,5 tỷ Yên (42,1 triệu USD).  Phía Nhật Bản cũng cam kết ODA cho Việt Nam vay trong năm 2011 đạt hơn 145 tỷ Yên, tương đương 1,76 tỷ USD. Mức này đã vượt mức cam kết của năm tài khóa 2009 và là mức cao kỷ lục kể từ năm 1992 khi Nhật Bản bắt đầu hỗ trợ ODA cho Việt Nam.  Cho đến nay, nhiều công trình sử dụng vốn vay ODA của Nhật Bản đã đi vào sử dụng, và góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam như Quốc lộ 5, nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nhà máy thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ..., nhiều dự án lớn như Quốc lộ 10, Quốc lộ 18, thoát nước Hà Nội... Trong đó, có những công trình được xem là niềm tự hào của Việt Nam như cầu Bãi Cháy, nhà ga hành khách quốc tế mới sân bay Tân Sơn Nhất, đường cao tốc Đông Tây Sài Gòn, đường hầm Hải Vân, nhà máy nhiệt điện Phả Lại, nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, dự án cải thiện môi trường nước ở Hà Nội và Tp.HCM... Trong điều kiện nguồn vốn ODA ngày càng hạn hẹp, việc Nhật Bản vẫn duy trì mức ODA cam kết hàng năm khẳng định tầm quan trọng của mối quan hệ song phương. Nhật Bản vẫn tiếp tục là đối tác và là nhà tài trợ ODA lớn cho Việt Nam. Bên cạnh các khoản đóng góp đa phương, Nhật Bản là nhà tài trợ song phương lớn nhất cho Việt Nam.Theo chính sách viện trợ của Nhật Bản, các khoản vay ưu đãi với lãi suất 0.75-1.5%/năm và thời gian ân hạn 20-40 năm vẫn tiếp tục được cung cấp cho các nước có GDP bình quân đầu người từ 1436 đến 2975 USD/năm. Như vậy, điều kiện này sẽ còn phù hợp với Việt Nam ít nhất là trong giai đoạn 2010-2020 Đánh giá hiệu quả ODA của Nhật tại Việt Nam. Thông qua các nguồn ODA, Nhật Bản đã giúp Việt Nam xây dụng nhiều công trình hạ tầng kinh tế – xã hội. Điểm qua các công trình xây dựng trọng điểm trên cả nước đã và đang thực hiện, khá nhiều công trình có sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ Nhật. Trong đó có cả những công trình được xem là niềm tự hào của Việt Nam như: Cầu Bãi Cháy, Nhà ga hành khách quốc tế mới sân bay Tân Sơn Nhất, Đường cao tốc Đông Tây Sài Gòn, Đường hầm Hải Vân, Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, Nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, dự án cải thiện môi trường nước ở Hà Nội và Tp.HCM...Ngoài ra, thông qua các nguồn ODA, Nhật Bản cũng cung cấp một số lượng đáng kể học bổng để đào tạo đại học và sau đại học cho các sinh viên và cán bộ khoa học – kỹ thuật của Việt Nam. Một số lượng lớn chuyên gia và người tình nguyện Nhật Bản hiện đang hỗ trợ Việt Nam trong nhiều lĩnh vực phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục và đào tạo. Đặc biệt thông qua ODA, Nhật Bản còn hỗ trợ Việt Nam trong nhiều sáng kiến hợp tác trong khuôn khổ ASEAN, ASEM, Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng… Theo đánh giá của Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Việt Nam đạt được tỷ lệ tăng trưởng cao trên 8% năm trong giai đoạn 2005-2007 song song với thành công trong việc thực hiện xóa đói giảm nghèo. Tỷ lệ đói nghèo đã giảm từ 37,4% xuống còn 14,5% từ năm 1998 đến năm 2008. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã giảm nhanh chóng do chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế toàn cầu bắt đầu từ dịp mùa thu năm 2008.  Nền kinh tế Việt Nam thời gian qua đã có sự tăng trưởng vượt bậc. Qua đó có thể thấy những viện trợ của Chính phủ Nhật và đầu tư trực tiếp của nhân dân Nhật Bản đã góp phần đáng kể cho công cuộc phát triển kinh tế của Việt Nam. Thời gian gần đây Việt Nam phải đối với không ít thách thức từ những biến động của nền kinh tế thế giới, tuy nhiên Chính phủ Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội. Những chính sách này của Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy hiệu quả và như vậy đồng nghĩa với việc sử dụng vốn vay ODA hiệu quả hơn nữa. Đánh giá hoạt động thu hút ODA và sử dụng ODA Nhật Bản tại Việt Nam Những thành tựu đạt được Hoạt động thu hút và sử dụng ODA Nhật Bản đã góp phần tích cực vào thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, hình thành động lực và phương hướng cho điều chỉnh chính sách theo hướng CNH-HĐH, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống và giải quyết các vấn đề xã hội. - Nguồn vốn ODA Nhật Bản là nguồn lực bên ngoài quan trọng bổ sung cho nguồn vốn trong nước, đáp ứng nhu cầu cấp thiết của quá trình cải cách trong điều kiện cơ sở hạ tầng còn yếu, đòi hỏi cần có nguồn vốn lớn trong khi vốn trong nước không thể đáp ứng. - Nguồn vốn ODA Nhật Bản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH. ODA Nhật Bản được tập trung nhiều cho việc nâng cấp và xây dựng các công trình quy mô quốc gia trong các lĩnh vực quan trọng ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế như giao thông, thủy điện, cấp thoát nước, y tế, giáo dục… - Phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam là lĩnh vực rất được quan tâm và tài trợ chủ yếu bằng nguồn viện trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật của Nhật Bản. Nhiều các chương trình dự án như xây dựng, nâng cấp các trường tiểu học, trường dạy nghề và tăng cường năng lực các trường đại học…giúp Việt Nam thu được các thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến, kỹ năng quản lý hiện đại, năng lực thể chế và phát triển thể chế pháp lý cho các cán bộ và cơ quan Việt Nam. - Cùng với những nỗ lực của phía Việt Nam, việc nâng cấp, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội góp phần cải thiện môi trường đầu tư trong nước, ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Thực tế, theo sau dòng vốn ODA Nhật Bản, dòng vốn FDI của nước này vào Việt Nam cũng không ngừng tăng lên (năm 2003 là 1.2 tỷ USD, năm 2004 là 2.2 tỷ USD, năm 2005 là 4.4 tỷ USD, năm 2006 là 9.4 tỷ USD). Môi trường đầu tư của Việt Nam hấp dẫn các nhà đầu tư Nhật Bản không chỉ bởi Việt Nam là một thị trường tiềm năng mà còn vì sự hỗ trợ phát triển của Chính phủ Nhật Bản tạo sự tin cậy cho các nhà đầu tư bỏ vốn vào Việt Nam. Như vậy, ODA và FDI có mối tương tác tích cực cho nền kinh tế Việt Nam. Những tồn tại trong tiếp nhận và sử dụng ODA Nhật Bản tại Việt Nam. a. Tồn tại Bên cạnh những mặt đã đạt được trong quá trình hợp tác phát triển giữa Nhật Bản và Việt Nam, thúc đẩy quan hệ hai nước, việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản ở Việt Nam vẫn còn những tồn tại cần nhanh chóng giải quyết nhằm phát huy hiệu quả từ nguồn lực này cho phát triển kinh tế đất nước. - Thứ nhất, các chương trình và dự án ODA Nhật Bản chủ yếu được thực hiện theo định hướng ngành, lĩnh vực mà ít định hướng theo vùng, lãnh thổ. Các khu vực được đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nhiều chủ yếu là vùng đồng bằng, duyên hải, các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa ít được quan tâm hơn tạo sự cách biệt về vùng, miền. - Thứ hai, nhiều dự án có tiến độ thi công của các dự án và số lượng các dự án này tăng lên. Việc chậm tiến độ diễn ra ngay từ khâu thẩm định, phê duyệt, lựa chon tư vấn - Thứ ba, tuy tỷ lệ giải ngân các dự án đã có nhiều biểu hiện tích cực, song nói chung tỷ lệ vốn giải ngân ở nước ta còn ở mức thấp. Hiệu quả đầu tư và chất lượng công trình trong nhiều dự án chưa cao b. Nguyên nhân Nguyên nhân chủ quan Thứ nhất, Việt Nam chưa tạo được môi trường pháp lý hữu hiệu và hệ thống các quy chế nhằm phù hợp với sự vận động của nguồn vốn ODA nói chung và ODA Nhật Bản nói riêng. Cơ chế chính sách để quản lý và sử dụng còn nhiều bất cập, tạo kẽ hở trong quản lý nhà nước về ODA, gây cản trợ trong quá trình thực hiện dự án. - Hệ thống chính sách có tính ổn định chưa cao, nhiều quy định chồng chéo, thiếu đồng bộ, tạo kẽ hở. Thêm vào đó, thời gian ban hành văn bản kéo dài, có độ trễ cao. - Khâu đánh giá sau dự án để xác định tính hiệu quả và lợi ích kinh tế do dự án ODA mang lại còn nhiều hạn chế, chưa có sự quan tâm đúng mức. - Cơ chế tài chính chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao. Thủ tục rườm rà, đặc biệt là trong chính sách về chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, chính sách cho vay lại hay chi phí cho chuyên gia và ban quản lý dự án. - Năng lực của Chính phủ trong việc điều phối và sử dụng nguồn vốn ODA còn hạn chế bởi cơ chế và bộ máy hành chính phức tạp của Việt Nam, những mặt yếu kém trong hoạt động đầu tư nước ngoài như hệ thống pháp lý còn nhiều bất cập, văn bản dưới luật chưa ổn định và không đồng bộ, công tác quản lý còn non yếu, thủ tục hành chính còn rườm rà, cải tiến chậm, việc thực thi pháp luật, chính sách chưa nghiêm túc. Thứ hai, việc tổ chức quản lý và điều hành quá trình huy động và sử dụng ODA chưa hợp lý, kéo dài thời gian thực hiện, khiến tốc độ giải ngân chậm, giảm thời gian ân hạn và hiệu quả đầu tư. - Công tác chuẩn bị dự án thiếu kỹ lưỡng về quy mô, công suất thiết kế… dẫn tới phải điều chỉnh nhiều lần. Ví dụ như dự án lưới điện Hà Nội – Hải Phòng – Nam Định giải ngân với tốc độ quá chậm là do khâu duyệt thiết kế kỹ thuật quá lâu và tổ chức đấu thầu triển khai chậm. - Thời gian thẩm định, phê duyệt dự án kéo dài, chất lượng thẩm định chưa cao, có khi độ trễ quá lớn, dự án thẩm định phê duyệt xong đã lạc hậu với tình hình mới như dự án thoát nước Hà Nội; dự án thuỷ lợi kế hoạch giải ngân năm 1999 là 35 triệu USD song chỉ giải ngân được 17 triệu USD do công tác giải phóng mặt bằng mất quá nhiều thời gian. - Công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư được coi là vấn đề nổi cộm với phần lớn các chương trình dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Ví dụ như dự án cải tạo quốc lộ 5, dự án cải tạo quốc lô 18 phải xử lý 15 điểm ở Quảng Ninh, dự án nhà máy nhiệt điện Phả Lại có 100 hộ dân không chịu di dời… - Vấn đề vốn đối ứng thiếu và không kịp thời (các dự án ODA đã và đang thực hiện ở Việt Nam, thông thường Nhật Bản góp 85%, Việt Nam góp 15% tổng giá trị dự án). Vốn mà Nhật Bản cho Việt Nam vay trong thực tế không phụ thuộc vào vốn cam kết mà hoàn toàn phụ thuộc vào việc triển khai các dự án vay vốn phía Việt Nam. Theo phân tích, phía Việt Nam còn thiếu quy hoạch, yếu về năng lực điều phối và quản lý các nguồn vốn ODA. Tình trạng thiếu vốn đối ứng cho từng dự án là cản trở cơ bản trong việc triển khai các dự án. Thứ ba, trình độ và năng lực chuyên môn của các cán bộ tham gia quản lý, điều hành và thực hiện dự án còn hạn chế. - Hạn chế về chuyên môn – kỹ thuật được thể hiện rõ nhất trong khâu thẩm định. Thực tế một số dự án tín dụng ưu đãi Nhật Bản sau hai bước tiền thẩm định đến thẩm định phải thay đổi thiết kế. Sự thiếu chuyên môn dẫn tới các quyết định đầu tư trùng lặp, thiếu đồng bộ. - Ban quản lý dự án chịu trách nhiệm chính trong quản lý nguồn vốn phân bổ, lựa chọn nhà thầu, thực hiện mua sắm, nghiệm thu công việc hoàn thành và quyết định thanh toán cho nhà thầu. Do vậy, đòi hỏi cán bộ quản lý dự án phải có chuyên môn tốt, ngoại ngữ tốt,… Thứ tư, đối với các dự án chỉ sử dụng vốn vay ODA song phương, khó khăn chủ yếu lại do khâu đàm phán hợp đồng tư vấn, thiết kế và thương mại. Một số dự án quy mô lớn nhưng triển khai chậm làm ảnh hưởng đến tình hình giải ngân chung. Ví dụ như dự án cảng Hải Phòng, do nhà thầu cung cấp thiết bị là một công ty Thái Lan đang gặp khó khăn về tài chính nên giao hàng chậm. Ngoài ra, một số dự án khác như dự án hạ tầng cơ sở nội thành Hà Nội giai đoạn I, dự án hệ thống viễn thông dọc bờ biển (miền Trung), dự án cấp nước cho các tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu... đàm phán hợp đồng tư vấn chậm. Nguyên nhân khách quan Thứ nhất, việc các nhà tài trợ đưa ra các quy định tài trợ phức tạp, nhiều khoản vay bị ràng buộc về phương thức mua sắm, đấu thầu. Các nhà tài trợ Nhật Bản khi cung cấp ODA đều kèm them điều kiện phải sử dụng nhà thầu, thiết bị và tư vấn của phía Nhật Bản theo phương thức chỉ định thầu hoặc đấu thậu hạn chế làm giảm hiệu quả sử dụng vốn ODA. Thứ hai, sự biến động của nền kinh tế Nhật Bản và nền kinh tế thế giới, sự thay đổi tỷ giá đồng đô la so với đồng Yên, khủng ảnh hưởng của các cuộc khủng hoảng… gây ảnh hưởng tới nguồn vốn ODA trên thế giới nói chung và của Nhật Bản nói riêng, giảm nguồn cung ODA cho các nước và cho Việt Nam Tóm lại, những trở ngại mang tính chất căn bản đối với quá trình thực hiện các dự án đầu tư, ví dụ như các vấn đề về giải phóng mặt bằng, tái định cư, đấu thầu và mua sắm thiết bị, có lẽ sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện. Trong khi có thể còn có những điểm khác biệt trong việc nhìn nhận những nguyên nhân gây ra các khó khăn trên, cả Chính phủ Việt Nam và phía Nhật Bản đã đẩy mạnh những nỗ lực tìm kiếm giải pháp cho vấn đề này và đã bắt đầu quá trình xem xét, kiểm điểm các vấn đề thực hiện chung, xác định những khâu ách tắc và các biện pháp tháo gỡ. CHƯƠNG 2 : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP, SỬ DỤNG HIỆU QUẢ ODA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM Định hướng việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA từ năm 2010-2015. Diễn đàn hiệu quả viện trợ lần thứ 3 được tổ chức tại Hà Nội tháng 6/2011, tập trung hoàn thiện chính sách, thể chế ODA thông qua xây dựng Đề án định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA và các khoản vay từ các nhà tài trợ giai đoạn 2011 – 2015, đồng thời thay thế Nghị định 131/2006/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA. Trong bối cảnh kinh tế - chính trị toàn cầu có nhiều biến động, ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường kinh tế của các nhà tài trợ, cùng với việc Việt Nam trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp, dự kiến khối lượng và loại hình viện trợ dành cho Việt Nam cũng sẽ thay đổi đáng kể. Những điều chỉnh này sẽ được thể hiện trong Đề án ODA 2011 - 2015 nhằm hỗ trợ thực hiện các mục tiêu đề ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011 - 2015. Dự báo nhu cầu vốn đầu tư phát triển thời kỳ 2011 – 2015: Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 7,5-8%/năm và tạo bước đột phá về phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại, tổng vốn đầu tư toàn xã hội phải đạt khoảng 300 tỷ USD (chiếm tối thiểu 41,5% GDP), trong đó nguồn vốn trong nước chiếm khoảng 70% và nguồn vốn nước ngoài chiếm khoảng 30%.Trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư huy động từ bên ngoài, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) và vốn ODA vẫn tiếp tục đóng vai trò quan trọng. Để đáp ứng nhu cầu nguồn vốn đầu tư huy động từ bên ngoài, trong 5 năm 2011 - 2015 cần thực hiện được khoảng 14-16 tỷ USD vốn ODA. Để thực hiện được nguồn vốn ODA nêu trên, cần phải có vốn ODA cam kết khoảng 30 - 32 tỷ USD. Phạm vi của Đề án sẽ được mở rộng hơn so với Đề án ODA giai đoạn 2006 - 2010 theo hướng không chỉ bao gồm nguồn vốn ODA (viện trợ không hoàn lại và vay ưu đãi) mà bao gồm cả các khoản vay kém ưu đãi của các nhà tài trợ. Để đảm bảo tính khả thi, Đề án ODA 2011 - 2015 được xây dựng theo hướng đảm bảo cân đối giữa “cung và cầu” về ODA và các khoản vay kém ưu đãi của các nhà tài trợ trong 5 năm tới. Đối với nhu cầu, sẽ xác định các ngành, lĩnh vực ưu tiên, nhu cầu sử dụng nguồn vốn theo nguyên tắc mang lại hiệu quả sử dụng cao nhất. Đối với nguồn cung, sẽ phối hợp chặt chẽ với các nhà tài trợ để xác định khả năng cung cấp các nguồn vay này và lĩnh vực các nhà tài trợ quan tâm. Đề án cũng sẽ đưa ra các nguyên tắc, định hướng hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng ODA trong thời kỳ phát triển mới. Các nguyên tắc này sẽ được thể hiện trong Nghị định thay thế Nghị định 131/2006/NĐ-CP, cụ thể là: Mở rộng phạm vi các khoản vay và tài trợ; Xác lập đầy đủ khuôn khổ thể chế và quản lý đối với các mô hình viện trợ như tiếp cận theo ngành, theo chương trình, hỗ trợ ngân sách chung, hỗ trợ ngân sách có mục tiêu; Cải tiến quy trình xây dựng, tổng hợp và phê duyệt Danh mục yêu cầu tài trợ đảm bảo tính khả thi cao và tránh tình trạng phải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt lại do có những thay đổi trong quá trình xây dựng, thẩm định và phê duyệt dự án; Chú trọng đến vai trò của khu vực tư nhân; Tinh giản quy trình, thủ tục đối với những chương trình, dự án ODA có thay đổi dẫn đến thay đổi các Điều ước quốc tế cụ thể về ODA đã ký kết. Theo kế hoạch, Dự thảo lần 2 sẽ hoàn thành vào tháng 8 và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào cuối năm 2011. Giải pháp thu hút và sử dụng hiệu quả ODA Nhật Bản tại Việt Nam Nhóm giải pháp về chính sách và thể chế. Nhận thức của các ngành, các cấp và xã hội về việc phải sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA ngày càng sâu sắc và toàn diện hơn; các hệ thống quản lý nguồn vốn đầu tư công đã có những cải thiện đáng kể; hệ thống văn bản pháp quy về quản lý và sử dụng ODA đã bảo đảm được tính đồng bộ, nhất quán, rõ ràng, minh bạch trong bối cảnh phân cấp; công tác theo dõi và đánh giá các dự án ODA được tăng Nhóm giải pháp về tổ chức Cơ cấu tổ chức của các cơ quan đầu mối về quản lý và sử dụng ODA ở các cấp về cơ bản đã được thiết lập; cơ cấu tổ chức và hoạt động của các Ban QLDA ODA được hoàn thiện một bước. Nhóm giải pháp về tăng cường năng lực thu hút và sử dụng ODA Trình độ hiểu biết của lãnh đạo và cán bộ quản lý và thực hiện các chương trình, dự án ODA ở các cấp về chính sách, quy trình và thủ tục ODA của Việt Nam cũng như của nhà tài trợ, năng lực chuẩn bị và quản lý các chương trình, dự án ODA được nâng cao. Nhóm giải pháp về công khai,minh bạch. Việc xây dựng hệ thống các tiêu chí để làm cơ sở lựa chọn các chương trình, dự án ODA đưa vào Danh mục yêu cầu tài trợ đã được thực hiện và thể chế hóa. Trên cơ sở kết quả hệ thống theo dõi và đánh giá ODA được vận hành có hiệu quả, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ đưa toàn bộ các thông tin về tình hình thực hiện các chương trình, dự án ODA trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Kế hoạch và Đầu tư vào đầu năm 2010 Nhóm giải pháp về thông tin,tuyên truyền Trong thời gian qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư với vai trò đầu mối về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan thực hiện tốt các giải pháp về thông tin, tuyên truyền về ODA trong và ngoài nước. Nhóm giải pháp tăng cường quan hệ đối tác với nhà tài trợ Điều phối giữa các nhà tài trợ Theo đánh giá mới đây của UNDP, hiện nay tại Việt Nam có trên 45 tổ chức tài trợ chính thức đang hoạt động với khoảng 1400 dự án ODA và trên 350 NGOs quốc tế với những cách thức hoạt động và thủ tục rất khác nhau. Có thể thấy rõ là đến nay nước ta mới tiếp nhận được nguồn vốn ODA chủ yếu từ các khu vực châu Á, châu Âu, châu Đại Dương, trong khi nguồn vốn này từ châu Mỹ còn rất khiêm tốn. Do đó, việc khai thông thêm các nguồn vốn ODA mới là rất cần thiết. Các nhà tài trợ cũng cần phải làm nhiều việc hơn nữa để dung hoà thủ tục và phối hợp hoạt động nhằm giúp Chính phủ Việt Nam đẩy nhanh tốc độ triển khai thực hiện dự án ODA. Họ cần tập hợp và phổ biến các thủ tục thực hiện dự án của họ tới tất cả các cấp liên quan, kể cả chính quyền địa phương; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện công tác chia sẻ thông tin cũng như cung cấp số liệu về kế hoạch hoạt dộng của các nhà tài trợ ở Việt Nam. Hợp tác tốt với nhà tài trợ Cần tăng cường hợp tác và sẵn sàng dung hòa với các điều kiện khác nhau của phía Nhật Bản để tránh làm phức tạp hóa chu trình thực hiện dự án ODA. Trong quá trình phát triển quan hệ đối tác, cần tận dụng cơ hội để tăng cường chia sẻ thông tin, cải tiến thủ tục và xem xét lại các cơ hội phối hợp hoạt động viện trợ trong những lĩnh vực có liên quan.Cần tích cực đàm phán với phía Nhật Bản nhằm giảm thiểu các điều kiện về nguồn cung cấp vật tư, trang thiết bị cho dự án (một nguyên nhân dẫn đến tình trạng tăng chi phí vượt quá mức lãi suất ưu đãi) để nâng cao hiệu quả của các dự án ODA. KẾT LUẬN Sau khi nghiên cứu đề tài, có thể rút ra một số kết luận sau đây: - Thứ nhất: ODA không phải là vốn cho không, nó vừa mang lại lợi ích cho quốc gia nhận viện trợ,vừa gây ra những tổn thất nếu không biết sử dụng hợp lý và hiệu quả cũng như tránh được các lợi ích bị đánh đổi với nước viện trợ. - Thứ hai: Trong những năm qua, Nhật Bản liên tiếp là quốc gia viện trợ ODA cho Việt Nam nhiều nhất, trong đó, một trong những nguyên nhân phải kể đến là do chúng ta sử dụng ODA tương đối hiệu quả. - Thứ ba: tuy rằng có sử dụng hiệu quả, song, chúng ta vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định trong quá trình thu hút và sử dụng ODA của Nhật. Do vậy, phải xem xét và khăc phục. - Thứ tư: Việc sử dụng ODA thế nào cho hợp lý là quan trọng, song chuẩn bị cho thời kỳ "hậu ODA" cũng cần được lưu tâm đúng mức. Danh mục tài liệu tham khảo PGS.TS.Nguyễn Thị Bạch Nguyệt, PGS.TS.Từ Quang Phương.Giáo trình Kinh tế đầu tư.NXB Đại học Kinh tế quốc dân. TS.Đinh Đào Ánh Thủy.Bài giảng Đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ,2010. PGS.TS. Đỗ Đức Bình, TS. Nguyễn Thường Lạng, Đại học Kinh tế quốc dân. Giáo trình Kinh tế quốc tế. NXB Lao động – xã hội. 2004. Báo cáo phát triển Việt Nam 2001 của Ngân hàng thế giới – Ngân hàng phát triển châu Á – chương trình phát triển Liên hợp quốc: Việt Nam 2010 tiến vào thế kỷ 21 – tổng quan. Các văn bản pháp quy liên quan: Các Nghị định: 20/1994/NĐ-CP, 17/2001/NĐ-CP,131/2006/NĐ-CP; Các quyết định: 1248/2007/QĐ-BKH, 803/2007/QĐ-BKH. Định hướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thời kỳ 2006 – 2010. Tạo lập nền tảng cho sự phát triển bền vững (Báo cáo của Chính phủ tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam)\ Các trang web như: Thời báo kinh tế Việt Nam Bộ kế hoạch và đầu tư Tổng cục thống kê Việt Nam Và các trang web mạng điện tử khác

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docbai lam.doc
  • pdfbai lam.pdf
Luận văn liên quan