Nông nghiệp Việt Nam (2006 – 2011)

Để tạo đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm, nhất là chương trình phát triển công nghệ sinh học, Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và thủy sản. Bên cạnh việc triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế với các đối tác truyền thống, ngành nông nghiệp sẽ mở rộng hướng hợp tác với các nước châu Phi và châu Mỹ, tạo môi trường đầu tư minh bạch, bình đẳng có tính cạnh tranh cao để thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực nông, lâm, thủy sản.

pdf93 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 2961 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Nông nghiệp Việt Nam (2006 – 2011), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
xu thế hội nhập hiện nay, việc xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao là cần thiết. Khu này đóng vai trò làm “đầu tàu”, mở đường cho việc đưa nhanh tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống, thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn hướng nhanh tới hiện đại hoá. Khu nông nghiệp công nghệ cao sẽ đáp ứng mục tiêu dài hạn trong việc phát triển nông nghiệp của nước ta là xây dựng một nền nông nghiệp hàng hóa mạnh, có sức cạnh tranh cao trên thị trường nội địa và xuất khẩu, dựa trên cơ sở phát huy các lợi thế về nguồn nhân lực và tài nguyên thiên nhiên kết hợp với áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ nông nghiệp tiên tiến. Ví dụ của việc áp dụng mô hình nông nghiệp công nghệ cao: Đến nay, nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, mang lại hiệu quả kinh tế cao đã hình thành. Điển hình là tại Đà Lạt (Lâm Đồng) với các mô hình trồng hoa trong nhà có mái che plastic đạt giá trị sản lượng 605 triệu đồng/ha, trồng rau an toàn đạt 150 triệu đồng/ha. Đà Lạt đang đi theo hướng chuyên môn hoá cao trong sản xuất hoa và rau. Việc sản xuất cây giống bằng phương pháp nuôi cấy mô phát triển khá nhanh, với gần 40 phòng nuôi cấy mô tư nhân đang hoạt động có hiệu quả. Cây giống rau và hoa đã được sản xuất công nghiệp để cung cấp cho người trồng. Tại Hà Nội cũng xuất hiện mô hình trồng rau, hoa - cây cảnh công nghệ cao, đem lại giá trị sản lượng gấp 5 đến 10 lần so với phương thức canh tác khác. Tại Hà Nội và Hải Phòng, mô hình trồng hoa và rau ứng dụng công nghệ cao trong nhà kính Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 71 đã được triển khai với việc nhập nhà kính có hệ thống điều khiển tự động, mở ra một hướng mới trong sản xuất nông nghiệp. Thành phố Hồ Chí Minh là nơi có khá nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao. Đã có 1.663 ha trồng rau an toàn ứng dụng công nghệ cao, sản lượng đạt khoảng 30.000 tấn/năm, đặc biệt là diện tích rau sản xuất trong nhà lưới cho giá trị sản lượng 120-150 triệu đồng/ha; hơn 700 ha trồng hoa - cây cảnh, các hộ đã áp dụng công nghệ cao trong sản xuất hoa cảnh đem lại thu nhập 600 triệu đến 1 tỷ đồng/ha/năm. Để tạo động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, Thành phố Hồ Chí Minh đã có dự án đầu tư xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao với quy mô 88,17 ha. Đây là mô hình thử nghiệm đầu tiên của nước ta về một khu nông nghiệp công nghệ cao đa chức năng để nghiên cứu hoàn thiện công nghệ, trình diễn công nghệ mới và chuyển giao công nghệ. Khu nông nghiệp công nghệ cao là trung tâm, từ đó lan toả công nghệ, hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao ở phía Nam. Việc tổ chức sản xuất và áp dụng công nghệ hiện nay còn dựa nhiều vào kinh nghiệm và tự học hỏi. Hàng loại vấn đề như phòng chống dịch bệnh, chọn tạo giống mới, tiêu thụ… người nông dân chưa giải quyết được. Trong khi đó, nhu cầu học tập công nghệ mới của nông dân rất cao, nhiều nông dân đã tự bỏ kinh phí đi nước ngoài để học công nghệ sản xuất. Giải pháp để đẩy mạnh xây dựng và phát triển các khu nông nghiệp công nghệ cao Đối với các trung tâm kinh tế lớn, nên xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao đa chức năng như là một trung tâm nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ. Vì vậy, khi xây dựng cần xác định: - Khu nông nghiệp công nghệ cao là điểm mẫu, là nơi nghiên cứu hoàn thiện mô hình, đào tạo, chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp, trang trại và cho hộ nông dân. Có thể làm đầu mối cung cấp vật tư sản xuất, môi giới tiêu thụ sản phẩm. Khu nông nghiệp công nghệ cao không phải là nơi sản xuất sản phẩm hàng hoá thương mại thông thường. Như vậy, khu nông nghiệp công nghệ cao mới là tác nhân Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 72 thúc đẩy, làm vai trò “đầu tàu” để phát triển kinh tế địa phương, giúp sản xuất khối lượng lớn hàng hoá chất lượng cao, đủ sức cạnh tranh. - Phải dựa vào điều kiện tự nhiên và thế mạnh của địa phương để đưa ra mô hình phù hợp. - Về công nghệ phải lựa chọn công nghệ mới, giống mới để tạo ra những sản phẩm có hàm lượng khoa học cao, nhưng dễ áp dụng, phù hợp với trình độ dân trí và điều kiện kinh tế của người dân. - Đối với các địa phương xa các trường đại học, cơ quan nghiên cứu nên xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao đơn ngành với một hoặc hai đối tượng cây trồng (hoặc vật nuôi), chủ yếu là trình diễn công nghệ. - Để có thể đẩy nhanh việc hình thành các khu nông nghiệp công nghệ cao thì Nhà nước phải có những chính sách riêng ưu đãi hơn đối với các khu nông nghiệp công nghệ cao. Các bộ, ngành liên quan cần đưa ra tiêu chí công nghệ cao trong nông nghiệp làm cơ sở cho kêu gọi đầu tư. Các địa phương cần tạo các điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư như giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, kỹ thuật phát triển nông nghiệp. 1.2. Tăng cường năng lực khoa học công nghệ của ngành nông nghiệp Ứng dụng công nghệ sinh học (CNSH) trong lĩnh vực nông nghiệp được coi là giải pháp đột phá xây dựng nền nông nghiệp nước ta phát triển toàn diện theo hướng hiện đại. Tuy nhiên, việc đầu tư nghiên cứu ứng dụng CNSH vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong giai đoạn hiện nay. Theo báo cáo của Bộ NN&PTNT, đến hết năm 2010, Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực nông nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 2006-2010 đã phê duyệt đưa vào thực hiện được 90 nhiệm vụ khoa học công nghệ (78 đề tài và 12 dự án sản xuất thử nghiệm), trong đó có 35 đề tài kết thúc năm 2010. Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Cao Đức Phát khẳng định, các kết quả nghiên cứu đã tạo ra hoặc tiếp nhận và làm chủ được một số CNSH hiện đại đưa vào ứng dụng hiệu quả chủ yếu tập trung ở những lĩnh vực chính như chuyển gen mang tính trạng tốt vào giống cây trồng, vật nuôi nhằm tạo ra những giống có năng suất cao, Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 73 thích nghi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, có khả năng chống chịu dịch bệnh hoặc tạo ra các chế phẩm sinh học bảo vệ cây trồng, vật nuôi. Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng Công nghệ sinh học trong lĩnh vực NN&PTNT giai đoạn 2011 – 2015 đã chọn tạo được 42 giống cây trồng nông nghiệp bằng công nghệ chỉ thị phân tử và công nghệ tế bào, tạo ra được 33 dòng cây trồng chuyền gen, xây dựng quy trình sản xuất 8 chế phẩm sinh học phòng trừ tuyến trùng, nấm, vi khuẩn gây bệnh vùng rễ các cây cà phê, hồ tiêu, bông vải, lạc, vừng, ngô, 5 loại chế phẩm sinh học sử dụng trong bảo quản, chế biến rau quả tươi, thực phẩm chế biến... a. Ứng dụng Công nghệ sinh học Nhiều địa phương đã ứng dụng CNSH vào trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả kinh tế cao. Đơn cử như việc triển khai 14 đề tài chọn tạo giống cây trồng nông, lâm nghiệp bằng phương pháp chỉ thị phân tử đã chọn tạo được 7 giống lúa chịu hạn, 2 giống lúa kháng đạo ôn, 4 giống lúa kháng rầy nâu, 2 giống lúa thơm chất lượng cao, 2 giống chè có triển vọng về năng suất, chất lượng, 8 giống bông kháng bệnh xanh lùn... Trong lĩnh vực chăn nuôi, các kết quả nghiên cứu đã lựa chọn được môi trường bảo quản tinh dịch dài ngày, cải tiến được các quy trình công nghệ tạo phôi, cấy truyền phôi, đông lạnh phôi lợn và bò trong ống nghiệm. Việc sử dụng tinh nhân tạo giúp bò trưởng thành tăng từ 180kg/con lên 250-300kg/con, tỷ lệ xẻ thịt tăng 1,5 lần. Nông dân ở nhiều địa phương còn ứng dụng CNSH trong ủ, chế biến thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm để tận dụng các phế phẩm nông nghiệp, giảm chi phí đầu vào... Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả nghiên cứu CNSH đã được ứng dụng vào sản xuất thì vẫn còn một số đề tài CNSH vẫn chỉ là thí nghiệm, nhiều nhiệm vụ chậm triển khai thậm chí không ít đề tài đang nằm lưu cữu trong phòng thí nghiệm. Theo các chuyên ngành nông nghiệp, nguyên nhân chậm triển khai đưa các ứng dụng CNSH vào sản xuất nông nghiệp, vẫn là lực lượng nghiên cứu CNSH còn mỏng, kinh phí đầu tư quá thấp... Trong khi đó, một số nội dung nghiên cứu thì rộng bao gồm tất cả các lĩnh vực sản xuất của ngành nông nghiệp.Đó là chưa kể đến các nghiên cứu có Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 74 sự trùng lắp về nội dung với chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước về CNSH và chương trình bảo tồn quỹ gen do Bộ Khoa học & Công nghệ quản lý... Theo Bộ trưởng Cao Đức Phát đặc điểm của một đất nước chủ yếu người dân sinh sống bằng nghề nông, vì vậy, chính phủ chỉ đạo tiếp tục thực hiện Chương trình trọng điểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực NN&PTNT giai đoạn 2011- 2015 là hết sức cần thiết, nhưng phải có bước đi và cách làm phù hợp. Công tác nghiên cứu nên tập trung vào việc chọn tạo, nhân giống cây trồng, vật nuôi, giống thuỷ sản cho năng suất, chất lượng cao; phòng, trừ dịch bệnh cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản; nghiên cứu phát triển các quy trình công nghệ trong sản xuất, bảo quản, chế biến sản phẩm nông nghiệp; phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao... Ðể các thành tựu nghiên cứu sớm ứng dụng thành công vào đồng ruộng, tránh tình trạng nghiên cứu xong rồi để lại "ngâm cứu", Bộ NN&PTNT khuyến khích sự tham gia của các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, địa phương tham gia vào hoạt động nghiên cứu và phát triển CNSH trong khuôn khổ chương trình; phối hợp với các đơn vị quản lý từ Trung ương đến địa phương và doanh nghiệp tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá các kết quả nghiên cứu và ứng dụng vào sản xuất... Cùng với đó, tạo điều kiện cho các cơ sở khoa học mở rộng liên kết, tổ chức đào tạo và nhập khẩu công nghệ, thiết bị của nước ngoài mà trong nước chưa triển khai thực hiện các dự án nghiên cứu ứng dụng. Các chuyên gia ngành này cho rằng cần có chế độ ưu đãi, hỗ trợ với mức cao cho công tác nghiên cứu khoa học, có như vậy mới kích thích được "chất xám" của đội ngũ cán bộ có trình độ giỏi, tâm huyết gắn bó với nghề nông. Phương pháp cấy mô tế bào giống khoai tây của Đức và Hà Lan đã tạo ra giống khoai tây sạch bệnh và bước đầu cung cấp khoảng 2,5 tấn giống nguyên chủng cho sản xuất, thay thế dần giống của Trung Quốc đang trồng khá phổ biến trên địa bàn tỉnh. Ưu điểm của loại khoai tây sạch bệnh là không bị bệnh héo rũ như giống khoai tây nhập từ Trung Quốc, năng suất đạt khoảng 24 tấn/ha (cao hơn 10 tấn/ha so với Phòng nuôi cấy mô tế bào Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 75 giống khoai tây Trung Quốc). Đặc biệt, chất lượng hơn hẳn vì giống này có lòng vàng, rất hợp với yêu cầu của một số nước xuất khẩu. Đối với cây ăn quả, để duy trì các giống cây chất lượng cao, ngành phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh tổ chức các cuộc thi để chọn ra những giống cây tốt làm cây đầu dòng và xây dựng các vườn ươm. Đến đầu năm 2004, toàn tỉnh có 82 vườm ươm nhân giống vừa và nhỏ trải đều khắp các huyện, thị, trong đó có 64 vườn ươm tư nhân, bình quân mỗi năm sản xuất được 6 - 8 triệu cây giống các loại. Nhờ vậy, ngành đã góp phần bảo tồn, khôi phục các giống cây ăn quả đặc sản của tỉnh như: quýt Bắc Sơn, na dai Chi Lăng, hồng Bảo Lâm, đào Mẫu Sơn, lê Tràng Định vì hầu như các loại cây trên ngày càng bị thoái hóa do người dân trồng theo lối canh tác quảng canh. Hay như dự án trồng dưa hấu chịu úng bằng phương pháp ghép mắt, ngọn dưa hấu vào gốc cây bầu. Gốc bầu khỏe, có khả năng hấp thụ dinh dưỡng tốt, cho năng suất cao và đặc biệt khả năng chịu úng tốt hơn rất nhiều. Hiện tại, loại dưa hấu này đã được trồng thực nghiệm ở Lộc Bình và đã có một số hộ nông dân tự đứng ra canh tác, ươm để bán giống cho người nông dân. Công nghệ sinh học bước đầu đã được ứng dụng đạt hiệu quả cao trong một số lĩnh vực như: sản xuất giống thuốc lá, giống nấm ăn, nấm dược liệu, giống bạch đàn, keo lai bằng công nghệ nuôi cấy mô tế bào. Ngành đã tiến hành các đề tài, mô hình thâm canh tăng năng suất cho lúa, ngô, khoai tây, dưa hấu, thuốc lá, hồi, chè bằng các phương pháp ứng dụng giống mới, các công nghệ tiến bộ, kỹ thuật tiên tiến, nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Điển hình như đối với cây hồi, ngành đã kết hợp với Trường nông nghiệp 3, Viện rau quả ứng dụng công nghệ sinh học (ghép mắt) rút ngắn thời gian hồi ra hoa từ 8 năm xuống còn 3 năm, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Ngoài ra, ngành còn phối hợp với Viện khoa học nông nghiệp bón một số loại phân, một số chất vi lượng, khắc phục tình trạng hồi ra hoa cách năm. Trong lĩnh vực văn hóa - giáo dục, từ những kết quả sưu tầm, đi sâu vào nghiên cứu đời sống văn hóa trên địa bàn, nhiều đề tài do ngành tiến hành đã góp phần quan trọng bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc. Đây chính là cơ sở giúp các cấp lãnh đạo tỉnh định ra các chính sách xây dựng đời sống văn hóa mới phù hợp với từng dân tộc . Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 76 Để hoạt động khoa học - công nghệ đạt kết quả cao, thực sự trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ phục vụ phát triển nông - lâm nghiệp, nông thôn; áp dụng công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản, chế biến những sản phẩm của địa phương để phát triển một nền nông nghiệp sinh thái bền vững; nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất công nghiệp và xây dựng, đổi mới công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp địa phương; thực hiện tốt sự phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môi trường; chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành, kêu gọi đầu tư trong và ngoài nước, phát triển du lịch, thương mại, xuất nhập khẩu. Trên cơ sở đó, phát triển tiềm lực khoa học - công nghệ để đáp ứng những yêu cầu đổi mới và phục vụ có hiệu quả công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa . c. Ứng dụng GIS trong sử dụng đất Một trong những ứng dụng quan trọng của GIS trong sản xuất nông lâm nghiệp là quy hoạch sử dụng đất. Trong suốt 20 năm qua, các nước công nghiệp phát triển và các tổ chức quốc tế đã sử dụng kỹ thuật GIS chủ yếu trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường. Tại Hội nghị những người sử dụng ARC/INFO (một phần mềm chuyên dụng về GIS, hiện được tích hợp trong ArcGIS của hãng ESRI) năm 1992, các nhà khoa học đã nhất trí rằng để bảo vệ môi trường một cách bền vững và hạn chế những suy thoái đang diễn ra, cần thiết phải ưu tiên đưa GIS vào ứng dụng trong lĩnh vực nghiên cứu và quy hoạch sản xuất nông lâm nghiệp, bằng cách này có thể tìm kiếm những mô hình sử dụng đất bền vững nhằm xoá đi hoặc giảm bớt những hiểm hoạ đối với môi trường tự nhiên và với loài người (như tình trạng phá rừng để canh tác, tình trạng xói mòn và suy thoái đất đai, tình trạng ô nhiễm môi trường…). Tất nhiên, mọi biện pháp và chỉ dẫn về bảo vệ môi trường sẽ không thành công trừ phi những đòi hỏi về lương thực và đất nông nghiệp được xác định và đáp ứng một cách tối ưu nhất trên từng vùng, từng quốc gia cũng như trên toàn thế giới. Do vậy tiềm năng ứng dụng GIS trong định hướng sản xuất nông lâm nghiệp đã được mở rộng và ngày càng tỏ ra hiệu quả, trở thành một công cụ hỗ trợ ra quyết định đối với các chuyên gia quy hoạch và nhà quản lý. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 77 Ứng dụng GIS trong quy hoạch và sử dụng đất đai tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ khác nhau. Có 4 mức độ phân tích: rất khái quát (Mega), khái quát (Macro), trung bình (Meso) và chi tiết (Micro); mỗi mức độ phân tích trong hệ thống GIS căn cứ vào quy mô diện tích của vùng nghiên cứu. Khi phân tích thông tin từ mức Mega đến mức Micro, số lượng thông tin đưa vào xử lý sẽ lớn hơn. Khả năng tổng hợp và phân tích sâu thông tin ở một vùng lãnh thổ nhỏ hoặc ngược lại, khái quát ở mức cao hơn cho vùng rộng lớn là ưu điểm của GIS. Rõ ràng là bằng ứng dụng GIS, những quy hoạch sử dụng đất đai trên vùng lãnh thổ lớn hay việc xây dựng những dự án phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở các khu vực nhỏ đều có thể được cung cấp một khối lượng thông tin toàn diện - tổng hợp kịp thời và theo yêu cầu; từ cơ sở dữ liệu được cung cấp việc hoạch định những bước đi cụ thể cần thiết (như điều tra bổ sung, thu thập mẫu…) nhanh chóng được xác định. Viện phát triển tài nguyên đất Băngladesh đã ứng dụng GIS trong quản lý, phân tích thông tin tài nguyên đất từ năm 1994. SRDI tổ chức khảo sát thông tin về tài nguyên đất, cấu trúc đất, loại đất, tính chất của đất, các ràng buộc trong sử dụng đất, khả năng phát triển; quản lý đất và bón phân cho đất, khuyến nghị về bón phân, cây trồng thích hợp, cơ cấu cây trồng… cho mỗi vị trí của từng vùng. Hiện nay Viện phát triển tài nguyên đất đã ứng dụng công nghệ GIS sản xuất được 44 loại bản đồ khác nhau liên quan đến tình trạng dinh dưỡng đất, sử dụng phân bón, nhiễm mặn, sử dụng đất. d. Ứng dụng trong quy hoạch và quản lý sản xuất: Trong sản xuất nông nghiệp, GIS có thể được sử dụng để dự đoán vụ mùa cho từng cây trồng. Nó có thể dự đoán bằng cách không chỉ xem xét khí hậu của vùng mà còn bằng cách theo dõi sự sinh trưởng và phát triển cây trồng, và bởi vậy sẽ dự đoán được sự thành công của mùa vụ. GIS có thể giúp tìm và thể hiện những thay đổi của cây trồng trong từng giai đoạn. Ví dụ, nếu năm trước số liệu cho thấy cây trồng A phát triển rộng và cây trồng đã thành công trong nhiều năm trước đó, những số liệu này có thể được lưu trữ. Nếu trong một vài mùa vụ cây trồng không phát triển tốt như trước, bằng cách sử dụng GIS có thể phân tích số liệu và tìm ra nguyên nhân của hiện tượng đó. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 78 Ở Băngladesh, Viện nghiên cứu nông nghiệp bắt đầu triển khai dự án GIS từ năm 1996, với mục tiêu là thiết lập hệ thống thông tin tài nguyên nông nghiệp dựa trên cơ sở GIS; sử dụng cơ sở dữ liệu AEZ/GIS để phát triển công nghệ và chuyển giao vào sản xuất nông nghiệp. Từ khi giới thiệu GIS tại Viện nghiên cứu nông nghiệp, nhiều hoạt động đã được thực hiện sử dụng hệ thống cơ sở dữ liệu AEZ /GIS. Hệ thống cơ sở dữ liệu AEZ là cơ sở thông tin cơ bản phục vụ ra quyết định, nhiều cơ quan tổ chức quy hoạch quốc gia hiện đang sử dụng hệ thống AEZ/GIS cho mục đích quy hoạch vĩ mô và vi mô. Khả năng ứng dụng của AEZ/GIS bao gồm: - Hệ thống AEZ/GIS thông qua việc cập nhật thông tin thường xuyên có thể được sử dụng hữu ích cho mục đích quy hoạch sản xuất; - Tạo ra các kịch bản và cung cấp khả năng lựa chọn cho các nhà hoạch định chính sách; - Phân tích dự đoán tình huống, xác định vấn đề và tìm ra vùng ưu tiên nghiên cứu; Hơn thế nữa, cơ sở dữ liệu AEZ/GIS có thể ứng dụng trong các hoạt động sau: - Xây dựng mô hình quản lý rủi ro và đánh giá tổn thất ban đầu do rủi ro, xây dựng mô hình về quá trình sinh trưởng phát triển của cây trồng, bảo toàn nguồn tài nguyên đất cho sản xuất bền vững; - Quy hoạch rừng, thuỷ sản, đất cho mục đích sản xuất hàng hoá và thương mại; - Tập trung vào các kịch bản thay đổi khí hậu ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp như sự nóng lên của trái đất, hiệu ứng nhà kính, mực nước biển nâng cao… - Phát triển hoạt động khí tượng nông nghiệp, chương trình quản lý sản xuất nông nghiệp và quản lý nước; - Hệ thống hỗ trợ quyết định cho quy hoạch nông nghiệp và chuyển giao công nghệ; Hiện nay châu Âu đã du nhập chế độ EUROGAP (Euro Good Agriculture Practice), tiêu chuẩn hoá quá trình từ hiện trường sản xuất như canh tác các loại cây nông nghiệp, bảo quản, vận chuyển, xử lý tiêu độc .. đến khâu người tiêu thụ và theo đó, một sản phẩm nông nghiệp không chứng minh được là đã tuân theo đúng các Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 79 khâu của tiêu chuẩn đó thì sẽ không được phép nhập khẩu. Tại Nhật Bản một hoạt động tương tự được gọi với cái tên là JGAP cũng đã bắt đầu tiến hành, trong vài năm các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu đã được tiến hành tiêu chuẩn hoá, những sản phẩm nông nghiệp nào không đáp ứng được JGAP cũng sẽ không được nhập khẩu. Trong bối cảnh các hoạt động như vậy, việc quản lý dữ liệu của sản xuất nông nghiệp ngày càng trở nên cấp bách, vì vậy việc quản lý thông tin theo từng thửa đất đai càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Để phát triển được ngành nông nghiệp Việt Nam cần phải xuất khẩu được các sản phẩm nông nghiệp hoặc các sản phẩm nông nghiệp đã chế biến với giá thành thấp, chất lượng cao có sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Chính vì thế, trong tương lai gần thiết nghĩ cần phải xây dựng hệ thống quản lý đối ứng với EUROGAP hay JGAP. Với tính ưu việt của công nghệ GIS và viễn thám, ngành lâm nghiệp đã ứng dụng trong công tác quy hoạch và phát triển rừng, phục vụ công tác thiết kế, khai thác và trồng mới rừng. Ngoài ra người ta còn sử dụng GIS trong việc theo dõi, đánh giá diễn biến tài nguyên rừng, xác định vùng thích nghi cho cây lâm nghiệp. Viện Điều tra Quy hoạch rừng (Việt Nam) đã ứng dụng khá thành công các công nghệ GIS, Viễn thám, GPS trong theo dõi diễn biến, đánh giá tài nguyên rừng. Ảnh vệ tinh có độ phân giải cao sau khi được giải đoán, chồng xếp, đối chiếu với bản đồ rừng đã có, những khu vực nào mâu thuẫn sẽ được xác định để kiểm chứng thực địa với GPS. Trong chương trình “Rà soát quy hoạch 3 loại rừng” mà ngành lâm nghiệp đang tiến hành để phục vụ đề án “Quy hoạch và xác định lâm phận ổn định rừng phòng hộ và rừng đặc dụng” trình Chính phủ phê duyệt, GIS đã được sử dụng một cách hữu hiệu ….Từ bản đồ địa hình của vùng đồi núi, bản đồ độ cao, độ dốc được xây dựng bằng các phần mềm GIS. Các bản đồ này được chồng xếp với bản đồ đất, bản đồ mưa để tính ra mức độ xung yếu. Từ bản đồ phòng hộ lý thuyết này, các tỉnh sẽ đi kiểm tra thực địa, kết hợp với các điều kiện dân sinh, kinh tế…. để trình cấp trên quyết định khu vực phòng hộ. Có thể coi đây là một ứng dụng của GIS trong “trợ giúp quyết định”. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 80 Các loại dữ liệu phi không gian bao gồm: Tài nguyên đất, khí hậu nông nghiệp, tình hình sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế sử dụng đất, thuỷ lợi, tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, số liệu thống kê nông nghiệp (năng suất, sản lượng, diện tích một số cây trồng chính..), thông tin về sâu bệnh và đặc biệt là số liệu về dân số, lao động nông thôn, kinh tế hộ… Trong quy hoạch đánh giá phân loại đất, GIS là công cụ trợ giúp nhằm thu thập dữ liệu chuyên đề, xử lý dữ liệu địa lý, tích hợp dữ liệu để xây dựng các bản đồ đơn vị đất, mô phỏng kết quả đánh giá đất thông qua các bản đồ thích nghi cho từng loại hình sử dụng đất. Mỗi đơn vị đất là một khu vực địa lý khác biệt với các tính chất về thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn khí hậu. Để có kết quả khi thực hiện bài toán thích ứng trong môi trường GIS, thường phải tuân thủ theo qui trình phân tích đa chỉ tiêu gồm: xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá; lựa chọn các lớp bản đồ phục vụ xây dựng bản đồ đơn vị đất. Sau đó đánh giá và phân loại mức độ thích hợp theo ALES và đưa ra các bản đồ chuyên đề, đây chính là thông tin tổng hợp trợ giúp quá trình lập kế hoạch và ra quyết định. Nghiên cứu khả năng thích ứng của cây trồng cần thu thập các số liệu sinh học và phi sinh học liên quan đến cây trồng được lựa chọn quy hoạch tại vùng đất đó. Các yếu tố phi sinh học gồm: số liệu đất được phân thành các mức thích nghi khác nhau, số liệu khí hậu (lượng mưa, sự phân bố mưa; nhiệt độ và tổng tích ôn theo thời gian sinh trưởng…) và các yếu tố sinh học như sâu bệnh, thời gian sinh trưởng và các yêu cầu sinh học của cây được xác định theo các mức thích ứng khác nhau. Yếu tố kinh tế xã hội của địa phương được xem xét và đưa vào phân tích để có kết luận tổng thể về tính thích ứng của cây theo quan điểm nền nông nghiệp hàng hoá hiện nay. Khi đã có những bản đồ thích nghi, việc quyết định phương án quy hoạch tổng thể sẽ chuyển đến các nhà hoạch định chính sách. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 81 e. Ứng dụng GIS trong quản lý bảo vệ thực vật: Ở một số nơi GIS đang được ứng dụng để theo dõi sự lan tràn của cỏ dại. Với việc kết hợp ứng dụng viễn thám với GIS sẽ cung cấp một cách nhanh chóng, chính xác bản đồ cỏ dại ở các thời kỳ . Điều này là rất quan trọng đối với các nhà nông học. Họ có thể sử dụng các thông tin thu thập được để ngăn ngừa sự lan tràn của các loài cỏ dại phá hoại mùa màng. Cỏ dại không phải là vấn đề duy nhất GIS có thể giải quyết, thực tế GIS có thể giải quyết được nhiều vấn đề khác. Nhiều dự án đã được thực hiện để theo dõi sự di chuyển của côn trùng, hoặc sâu bệnh ở Mỹ. Nó rất hữu ích như là một biện pháp phòng ngừa tích cực. Nếu một loại động vật hay côn trùng nào phá hoại đồng ruộng, với GIS nó có thể bị theo dõi và tìm ra dấu vết. f. Ứng dụng trong công tác phòng chống cháy và bảo vệ rừng: Trong ngành Kiểm lâm Việt Nam, công nghệ GIS đã được ứng dụng để: cảnh báo cháy rừng; phân vùng trọng điểm cháy rừng; ứng dụng ảnh viễn thám MODIS để phát hiện sớm cháy rừng. Nhận thức được tầm quan trọng của CSDL, Cục Kiểm lâm đã thiết kế và đưa vào sử dụng “CSDL báo cáo thống kê” từ năm 1998 để sử dụng cho toàn ngành. Bản Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 82 thân CSDL này không liên quan gì đến công nghệ GIS nhưng sự thành công của nó đã trả lời câu hỏi: làm thế nào để trao đổi thông tin nhanh nhất giữa người cập nhật dữ liệu và người sử dụng CSDL để phục vụ quản lý một cách hiệu quả nhất? Trang bị và đào tạo cán bộ như thế nào cho phù hợp? Vai trò người “kỹ sư trưởng” trong thiết kế, điều hành các hoạt động này như thế nào? Và “CSDL báo cáo thống kê” của ngành Kiểm lâm đã hoạt động rất tốt ở tất cả các Hạt Kiểm lâm, các Chi cục kiểm lâm tỉnh và Cục Kiểm lâm. Nhờ sự thành công của CSDL này, ngành Kiểm lâm đã tiếp tục thiết kế các cơ sở dữ liệu có gắn kết với việc sử dụng bản đồ, hay nói đúng hơn là ứng dụng công nghệ GIS để xây dựng CSDL phục vụ quản lý, bảo vệ rừng. Trong công tác Kiểm lâm, 2 CSDL liên quan đến công nghệ GIS đang được hoạt động có hiệu quả nhiều năm nay là: CSDL cảnh báo cháy rừng: Thực tiễn quản lý chỉ đạo công tác phòng cháy, chữa cháy rừng những năm qua, đặc biệt qua hai vụ cháy rừng lớn, tập trung ở Kiên Giang và Cà Mau tháng 3 và 4/2002 cho thấy cháy rừng vẫn xảy ra ở nhiều nơi, mức độ thiệt hại do cháy rừng gây ra rất nghiêm trọng. Lý do là khi cháy rừng xảy ra, mặc dù huy động một lực lượng rất đông để chữa cháy nhưng hiệu quả thấp vì do thiếu lực lượng thường trực chữa cháy rừng chuyên nghiệp, trang thiết bị, phương tiện chữa cháy nghèo nàn, thô sơ; việc chỉ huy, tổ chức chữa cháy còn rất lúng túng… Vấn đề đặt ra là cần dự báo trước nguy cơ xảy ra cháy rừng và phát hiện sớm các điểm cháy để có phương pháp phòng cháy, chữa cháy rừng luôn là vấn đề cấp thiết và là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng của công tác quản lý bảo vệ rừng nói chung. CSDL theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp: Mục đích theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp là nắm vững diện tích các loại rừng, đất lâm nghiệp hiện có được phân chia theo chức năng sử dụng rừng và loại chủ quản lý; lập bản đồ hiện trạng rừng cấp xã tỷ lệ 1/25.000 hay 1/10.000 nhằm giúp hoạch định chính sách lâm nghiệp ở địa phương và trung ương phục công tác bảo vệ và phát triển rừng. Yêu cầu theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp gồm: Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 83 - Cập nhật diện tích các loại rừng và đất lâm nghiệp trên cơ sở phân loại rừng và đất rừng theo Quy phạm thiết kế kinh doanh rừng QPN 6-84 ban hành kèm theo Quyết định số 682B/QLKT ngày 01/8/1984 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn); Dữ liệu cơ sở ban đầu là kết quả kiểm kê rừng đã được công bố tại Quyết định 03/2001/QĐ-TTg ngày 5/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc; - Đơn vị cơ sở theo dõi và cập nhật là lô trạng thái. Đơn vị thống kê là tiểu khu rừng, xã, huyện, tỉnh và toàn quốc; - Số liệu thu thập ở thực địa phải được cập nhật vào cơ sở dữ liệu và bản đồ rừng cấp xã tỷ lệ 1/25.000. Một số địa phương có điều kiện thì sử dụng bản đồ cấp xã tỷ lệ 1/10.000; - Việc theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp cần được ứng dụng công nghệ thông tin cụ thể như: Phần mềm cơ sở dữ liệu (DBR), Phần mềm xử lý bản đồ (MapInfo, Microstation), phần mềm xử lý ảnh viễn thám (PCI, ERDAS). Các phần mềm này được quản lý, sử dụng thống nhất trong toàn quốc, bảo đảm tính tích hợp dữ liệu từ địa phương tới trung ương. 2. Giải pháp vĩ mô cho kinh tế nông nghiệp 2.1. Đảm bảo kênh thu mua và phân phối sản phẩm 2.1.1. Công tác Quy hoạch, xây dựng cơ chế chính sách a) Hoàn thành và tổ chức triển khai có hiệu quả việc Quy hoạch phát triển mạng lưới bán buôn, bán lẻ trên cả nước đến năm 2020. b) Hoàn thành việc xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích việc đầu tư hạ tầng chợ đầu mối nông sản, chợ các xã khó khăn, các cơ sở chế biến, kinh doanh rau, quả an toàn, thực phẩm an toàn; đẩy mạnh thu mua hàng nông sản cho nông dân c) Quy hoạch, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các nhà đầu tư có khả năng về vốn, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức các kênh phân phối, tiêu thụ sản phẩm đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến nông sản có trình độ công nghệ cao, nhằm nâng cao năng lực, khả năng chế biến và tổ chức phân phối hàng nông sản trên cả nước d) Cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp phép đầu tư xây dựng hạ tầng thương mại, thủ tục hỗ trợ khuyến khích đầu tư, thủ tục cấp phép kinh doanh. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 84 đ) Tổ chức việc theo dõi, nghiên cứu thị trường quốc tế, thị trường trong nước để kịp thời thông tin cho các doanh nghiệp và nông dân. Qua đó, giúp người sản xuất nắm được tình hình cung, cầu, giá cả trong và ngoài nước đối với hàng nông sản để nông dân tự quyết định về quy mô sản xuất, chất lượng sản phẩm. e) Phát huy có hiệu quả mối liên kết vùng, các địa phương trong cả nước cam kết cung ứng hàng hóa và xây dựng kế hoạch và giải pháp tích cực để có thể đảm bảo cung ứng nguồn hàng nông sản về thành phố trong những hoàn cảnh đặc biệt khi có thiên tai, lũ lụt… 2.1.2. Về phát triển hạ tầng thương mại a) Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng mở rộng chợ Đầu mối nông sản, kêu gọi, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư các cửa hàng tiện lợi, chuyên doanh và các siêu thị mini chuyên doanh về một số mặt hàng nông sản thiết yếu như thịt heo sạch, rau củ quả sạch, lương thực...; b) Đầu tư xây dựng, cải tạo các chợ dân sinh; nâng cấp nhà xưởng, thiết bị trong hệ thống logistics, các tổng kho dự trữ hàng hóa thiết yếu; đẩy mạnh phát triển loại hình HTX Thương mại dịch vụ, chú trọng đến các HTX quản lý kinh doanh khai thác chợ, HTX bao tiêu sản phẩm nông nghiệp; c) Đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng cơ sở thực nghiệm giống cây trồng, vật nuôi và kỹ thuật mới (thuộc trung tâm khuyến nông); Tăng cường công tác khuyến nông để đẩy nhanh các mô hình sản xuất cây trồng, vật nuôi có hiệu quả và vận động xây dựng các vùng sản xuất nông sản hóa “sạch”. 2.1.3. Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại a) Có chính sách ưu đãi đặc biệt để thu hút những sinh viên, nghiên cứu sinh của các trường đại học kinh tế có uy tín trong và ngoài nước để cung cấp nguồn nhân lực cho ngành công thương thành phố. b) Định kỳ hàng năm tổ chức các lớp học để nâng cao kiến thức và kỹ năng quản lý, các chương trình tư vấn về kinh doanh, phát triển thương hiệu cho các doanh nghiệp; bồi dưỡng kiến thức pháp luật, các ràng buộc pháp luật liên quan đến hoạt động thương mại - dịch vụ cho các doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 85 c) Xây dựng và phát triển mạng thông tin công cộng nhằm cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp thương mại vừa và nhỏ như thông tin về giá cả thị trường, cung cầu hàng hóa, thông tin về cơ chế chính sách, khoa học công nghệ, nguồn nhân lực... d) Phối hợp, tạo điều kiện để các hiệp hội ngành nghề phát triển. 2.1.4. Giải pháp và chính sách thu hút vốn đầu tư phát triển hệ thống phân phối hàng nông sản - Tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ của Trung ương để thực hiện đầu tư xây dựng chợ Đầu mối nông sản, nhằm đưa chợ Đầu mối nông sản trở thành Trung tâm phân phối hàng nông sản. - Ưu tiên bố trí quỹ đất cho việc phát triển kết cấu hạ tầng thương mại như hệ thống kho dự trữ hàng hóa thiết yếu (lương thực, thực phẩm ...) để đáp ứng nhu cầu phục vụ nhân dân trong những lúc thiên tai, bão lụt... - Khuyến khích các thành phần kinh tế, hộ gia đình hình thành cửa hàng tiện lợi, siêu thị mini... phân phối hàng nông sản thiết yếu ở các khu vực dân cư đông người, khu công nghiệp, nhằm hạn chế tình trạng “chợ tự phát”. 2.1.5. Giải pháp về quản lý hệ thống phân phối hàng nông sản trên địa bàn thành phố. - Thường xuyên rà soát các thủ tục hành chính để loại bỏ các thủ tục giấy tờ không cần phù hợp; đơn giản hóa các thủ tục cấp giấy phép kinh doanh những mặt hàng có điều kiện; đảm bảo quyền tự chủ tối đa cho thương nhân trong hoạt động phân phối hàng nông sản theo đúng qui định của pháp luật. - Thực hiện tốt nguyên tắc công khai, minh bạch hóa cơ chế, chính sách theo qui định của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. - Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với hệ thống phân phối hàng nông sản như: siêu thị, cửa hàng tiện lợi, chợ, các kho dự trữ hàng hóa nông sản thiết yếu (lương thực)…đảm bảo hàng hóa phân phối và có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, đảm bảo về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm; ngăn chặn tình trạng đầu cơ, nâng giá bất hợp lý, lũng đoạn thị trường. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 86 - Tăng cường phối hợp với các cơ quan quản lý chuyên ngành của thành phố, UBND các quận, huyện và các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn nhằm từng bước tổ chức cấu trúc mạng lưới hệ thống phân phối hàng nông sản. 2.1.6. Giải pháp bảo vệ môi trường đối với hệ thống phân phối hàng nông sản Phát triển hệ thống phân phối hàng nông sản phải gắn liền với công tác bảo vệ môi trường; các dự án đầu tư xây dựng hệ thống phân phối hàng nông sản phải tuân thủ đúng các quy định của nhà nước về bảo vệ môi trường; 2.2. Giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn là lĩnh vực rất rộng lớn bao trrùm nhiều mặt của đời sống kinh tế, xã hội và cần những giải pháp cụ thểm, đồng bộ cụ thể hóa đường lối của Đảng . 2.2.1. Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và tiên tiến. Vấn đề mấu chốt đặt ra là làm sao tăng năng suất trong khu vực kinh tế nông nghiệp, thực hiện cơ giới hóa đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ . Muốn tăng năng suất lao động, giảm bớt chi phí đầu vào thay đổi hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp . Sản xuất máy nông nghiệp đựợc coi là hướng chủ yếu của công nghiệp cơ khí. Hiện nay cả nước có trên 115.000 máy kéo các loại, gấp 1,5 lần so với năm 1985 nhưng mức bình quân như vậy vẫn thấp hơn nhiều so với các nước phát triển trong khu vực như Thái Lan, Trung Quốc…. Song song với quá trình cơ khí hóa , cần đẩy mạnh thủy lợi hóa , tăng cường vốn ngân sách cho những công trình trọng điểm , đặc biệt là các dự án nằm trong chương tình phát triển kinh tế - xã hội và kiểm soát quá trình sống chung với lũ ở ĐBSCL. Làm tốt công tác thủy lợi hóa sẽ nâng cao hiệu quả chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Chỉ thị số 63/CT-TU đã chỉ rõ củng cố và tăng đầu tư cho một số trung tâm nghiên cứu khoa học cơ bản, hiện đại nhất là công nghệ sinh học tạo bước chuyển hóa về giống. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 87 Có quy định trong sản xuất chế biến, bảo quản nông-lâm-hải sản để trước mắt khắc phục những yếu kém về năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh.của nông sản Việt Nam tiến tới xâm nhập sâu rộng vào thi trường nước ngoài . Theo đó chúng ta cần đầu tư mạnh mẽ vào khoa học công nghệ sinh học nhất là công nghệ gen. Một kiểu gen mới cho giống cây trồng vật nuôi có thể làm cho năng suất lao động tăng lên gấp nhiều lần trong đó điều kiện nền kinh tế nước ta đang trong quá trình hội nhập và hướng ra xuất khẩu chúng ta phải nhanh chóng đưa khoa học công nghệ vào khâu bảo quản nông sản. kinh nghiệm cho thấy thời gian bảo quản dài hơn số lượng tổn thất chỉ 0,1-0,2% năm còn theo cách cũ thì thời gian bảo quản ngắn hơn tổn thất lên tới 1%-1,2% năm áp dụng công nghệ bảo quản tiên tiến áp dụng công nghệ bảo quản tiên tiến sẽ góp phần nâng cao chất lượng nông sản và mang lại hiệu quả kinh tế cao. 2.2.2. Quy hoạch tổng thể gắn liền với chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi và phân bố nguồn lực chủ yếu. Để làm tốt công tác này Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phối hợp với bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ khoa học công nghệ và các ban nghành có liên quan căn cứ vào điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái và các tập quán sinh lý xã hội của từng địa phương ra quy hoạch tổng thể và mang tính chiến lược đối với từng vùng kinh tế nhất là các vùng nông nghiệp trọng điểm : trồng lúa Đồng bằng Sông Cửu Long, Đồng bằng Nam Bộ, nuôi tôm ở các vùng Tây Nam Bộ, trồng cà phê ở Tây Nguyên, chè ở Trung du Bắc Bộ, trồng cao su, tiêu điều ở Đông Nam Bộ. Tuy nhiên việc quy hoạch tổng thể này phải đặt trong mối tương quan với việc phát triển cơ sở hạ tầng phát triển kinh tế xã hội ở từng vùng, từng kinh tế, khu vực cụ thể. Việc phân bố nguồn lực và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp phải nhằm đẩy mạnh chuyên canh, thâm canh khai thác tối đa các nguồn lực. Kinh nghiệm ở Cà Mau cho thấy thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng, vật nuôi nhiều vùng trong tỉnh như: Đầm dơi, Cái Nước, Ngọc Hiển, thành phố Cà Mau đã có nhiều thay đổi đáng kể. Gắn với quy hoạch các vùng nông nghiệp trọng điểm, cần xây dựng các khu chế biến, công nghệ sau thu hoạch và các hoạt động dịch vụ để nâng cao tỉ suất hàng hóa nông nghiệp, nâng cao năng suất và hạ giá thành tạo điều kiện cho hàng hóa Việt nam có thể đứng vững và cạnh tranh với các hàng hóa khác trên thị trường thế giới. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 88 Việc điều chỉnh cơ cấu và nguồn lực phải gắn liền với điều chỉnh cơ cấu và đầu tư. Trong thời gian tới cần phải nâng mức đầu tư cho nông nghiệp ưu tiên cho những vùng trọng điểm và ưu tiên cho xuất khẩu tạo môi trường thuận lợi về pháp lý thông thoáng trong kinh doanh để thu hút nguồn vốn ODA, FDI và các nguồn tài trợ khác. 2.2.3 Nền kinh tế nước ta đã và đang chuyển dịch từ nền kinh tế sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa. Các mặt hàng nông sản không chỉ thỏa mãn nhu cầu mà còn hướng ra xuất khẩu. Bình quân hàng năm giai đoạn từ 1999-2000 nước ta đã xuất khẩu 2,6 triệu tấn gạo, 280 tấn cà phê, 21,1 nghìn tấn tiêu, 23,3 nghìn tấn điều, 155 nghìn tấn cao su, 24 nghìn tấn chè đặc biệt xuất khẩu thủy sản năm 1980 đạt 11 triệu đô, năm 2000 1,47 tỉ đô, năm 2001 đạt 1,74 tỉ đô kim ngạch xuất khẩu với sản lượng 2,2 triệu tấn thành tựu đó góp phần quan trọng từ tăng ngoại tệ từ xuất khẩu các sản phẩm nông lâm - thủy sản trong những năm qua từ 45-47% tổng giá trị xuất khẩu cả nước. Bước sang TK XXI toàn cầu hóa nền kinh tế là một tất yếu khách quan Việt Nam đã và đang hội nhập nền kinh tế thế giới. Với áp lực ngày càng tăng, nhất là khi Trung Quốc đã gia nhập WTO, Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã được quốc hội hai nước thông qua chúng ta đang cam kết về thuế quan để thực hiện AFTA vào năm 2006 là những điều kiện vừa tạo cơ hội mới nhung cũng không ít thách thức mới. Thị trường nông sản Việt Nam phải đặt trong mối tương quan với thị trường nông sản thế giới . Để các mặt hàng nông sản Việt Nam có chỗ đứng trên thương trường quốc tế chúng ta cần tiến hành đồng bộ các giải pháp sau: + Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ thương mại kết hợp với bộ ngọai giao thông qua đại sứ quán ở các nước để tìm các đối tác hữu hiệu tìm thị trường và quảng cáo cho hàng hóa Việt Nam. Dự đoán xu hướng cung cầu về hàng nông sản trên thị trường quốc tế trên cơ sở đó đề ra chiến lược lâu dài phát triển lâu dài về xuất khẩu đồng thời phải có chiến lược thông tin về thị trường quốc tế thông qua các trung tâm xúc tiến thương mại được lập ở nước ngoài để nắm nhu cầu thị hiếu của khách hàng (cả về chủng loại, mẫu mã, thị yếu của khách hàng ) tạo chủ động trong xuất khẩu hàng nông sản. Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 89 + Các bộ có liên quan cần đưa ra các chính sách thuế ưu đãi đối với khu vực kinh tế nông nghiệp và nông thôn, nhất là những vùng kinh tế trọng (miễn giảm thuế sử dụng đất, giảm thuế suất đối với các loại vật tư nông nghiệp) hình thành quỹ hỗ trợ hoặc bảo hiểm giá đối với các mặt hàng nông sản xuất khẩu. Xây dựng chính sách hỗ trợ về lãi suất đối với kinh tế nông nghiệp, đẩy mạnh tín dụng đầu tư trung, dài hạn đối với các vùng nông nghiệp trọng điểm, đơn giản hóa các thủ tục vay vốn ngân hàng, nhất là đối với nông dân. Ngân hàng nhà nước phối hợp với các ngành hữu quan sớm cho ra đời Ngân hàng hỗ trợ xuất nhập khẩu một nhân tố quan trọng để xuất khẩu hàng nông sản. + Hiện nay trình độ lao động ở khu vự kinh tế nông nghiệp và nông thôn nhìn chung còn yếu về chất lượng và thiếu về số lượng cơ bản vẫn là lao động thủ công . Trong một thời gian chúng ta chưa chú ý đến đào tạo nguồn lực cho khu vực này, đặc biệt là những ngành nghề gắn liền với khâu chế biến, bảo quản - khâu quan trọng làm tăng giá trị nông sản . Kiến thức của người nông dân về khoa học kỹ thuật (nhất là công nghệ sinh học), về thị trường còn hạn chế vì vậy đầu tư phát triển nguồn nhân lực cho nông nghiệp và nông thôn phải được coi là giải pháp lớn và phải chiếm một tỷ trọng đáng kể trong ngân sách nhà nước đối với nông nghiệp. Cần xây dựng mới và củng cố các trường dạy nghề phục vụ cho phát triển nông thôn , có chính sách thỏa đáng cho đội ngũ tri thức làm việc tại các vùng nông thôn, khuyến nông, khuyến ngư đây là một biện pháp hết sức quan trọng nhằm nâng cao trình độ của người nông dân trong điều kiện chúng ta tiếp cận với nền kinh tế tri thức. Phát triển mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng ở địa bàn nông thôn giúp cho nông dân hiểu biết hơn thị trường trong nước và thế giới. Gắn liền với quá trình đổi mới và kiện toàn lại các loại hình hợp tác xã cần áp dụng lại mô hình hợp tác xã kinh doanh đa nghành hoặc chuyên nghành, thí điểm mô hình hợp tác xã công - nông - thương - tín trong điều kiện phát triển nền nông nghiệp hướng ra xuất khẩu . Thực hiện tốt cơ chế liên kết các thành phần kinh tế, nhất là doanh nghiệp nhà nước đây là hình thức biểu hiện sinh động mối liên minh công nông kinh tế. Hiện một số hợp tác xã ở ĐBSCL ngay từ khi thành lập đã có sự hỗ trợ của nhà nước nhờ đó các công ty lương thực, vật tư, bảo vệ thực vật, các tỉnh đã mua sắm được một số máy nông nghiệp cải Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 90 thiện điều kiện lao động cho nông dân. Việc mở rộng các hình thức liên kết tập thể với các thành phần kinh tế khác sẽ mang lại sức mạnh to lớn trong phát triển các tổ chức hợp tác, hợp tác xã trong thời kỳ mới, phấn đấu để kinh tế tập thể kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc trong nền kinh tế quốc dân . Đó cũng chính là vận dụng đúng quy luật sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất trong giai đoạn hiện nay. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên tạo nên sức mạnh tổng hợp phát huy mọi tiềm năng vốn có của lực lượng sản xuất, tạo bước phát triển mới về chất trong sản xuất nông nghiệp. 2.3. Mở rộng thương mại quốc tế về nông nghiệp Sản phẩm nông nghiệp của nước ta cũng đạt được nhiều uy tín trên thị trường thế giới nhưng sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam chưa có sức cạnh tranh so với các nước khác. Điều dễ nhận thấy là sản phẩm nông nghiệp của nước ta khi xuất khẩu ra các nước chủ yếu là những sản phẩm thô và chưa được chế biến nhiều mà chỉ mới sơ chế ở trong nước và thiếu hàm lượng kỹ thuật và chất xám trong sản phẩm xuất khẩu. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) cho biết, các chương trình nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế năm 2010 của ngành nông nghiệp chủ yếu tập trung vào các hoạt động vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, chuyển giao khoa học công nghệ và đẩy mạnh xúc tiến thương mại, quảng bá các sản phẩm nông, lâm, thủy sản ra thị trường thế giới. Theo đó, Bộ NN&PTNT chủ động phối hợp với Bộ Công Thương và các địa phương đầu tư nâng cấp và đầu tư mới hạ tầng thương mại nông, lâm, thủy sản và vật tư nông nghiệp, tính đến năm 2015 hình thành hệ thống chợ bán buôn nông sản hoàn chỉnh trên phạm vi cả nước; đồng thời thực hiện giao dịch trực tuyến trên chợ thương mại điện tử, các sàn giao dịch nông sản; bước đầu hình thành hệ thống kho ngoại quan cho các ngành hàng chủ lực ở một số thị trường trọng điểm quốc tế. Bên cạnh việc quảng bá sản phẩm tại thị trường trong nước nhằm kích thích tiêu dùng nội địa, ngành nông nghiệp xúc tiến mở rộng một số thị trường quốc tế lớn như: Mexico, Brazin, Pháp, Tây Ban Nha, Nhật Bản, Trung Quốc. Nhiều hoạt động sẽ được triển khai như: Hội chợ triển lãm nông nghiệp quốc tế AgroViet 2010 tại thành phố Hồ Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 91 Chí Minh; Hội chợ sản phẩm làng nghề Việt Nam - Hội thi sản phẩm thủ công năm 2010; Hội nghị quốc tế về cà phê theo chương trình xúc tiến thương mại của ASEAN; Hội nghị Hiệp hội các nước nhập khẩu chè Việt Nam; điều tra khảo sát thị trường tiêu thụ nông sản... Để đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu, duy trì và tăng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản, cần hoàn thiện các văn bản, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về vệ sinh, an toàn thực phẩm; tăng cường kiểm tra chứng nhận thực hành sản xuất tốt cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Để tạo đột phá về năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, cần đẩy nhanh tiến độ thực hiện các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm, nhất là chương trình phát triển công nghệ sinh học, Đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và thủy sản. Bên cạnh việc triển khai các hoạt động hợp tác quốc tế với các đối tác truyền thống, ngành nông nghiệp sẽ mở rộng hướng hợp tác với các nước châu Phi và châu Mỹ, tạo môi trường đầu tư minh bạch, bình đẳng có tính cạnh tranh cao để thu hút đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực nông, lâm, thủy sản. 2.4. Phát triển Cơ giới hoá trong nông nghiệp Như ta đã biết nền nông nghiệp nước ta là một nền nông nghiệp nửa cơ giới, có nghĩa là việc sản xuất nông nghiệp còn dựa vào thủ công là chính và các máy móc thiết bị chưa được áp dụng nhiều vào canh tác nông nghiệp. Một thực tế tại ngành nông nghiệp ở nước ta là máy móc được đưa vào áp dụng với sự nghiên cứu thì thiếu tính áp dụng cụ thể vào việc canh tác tại từng đia phương khác nhau. Bên cạnh đó máy móc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp thường là nhập khẩu từ các nước khác vào Việt Nam nên giá cả khá cao và không phù hợp với người nông dân nước ta. Ngoài ra còn tồn tại vấn đề là nông dân là những người tự chế tạo ra máy móc để phục vụ cho ngành nông nghiệp. Những máy móc này phù hợp với những vùng khác nhau và với những kỹ thuật canh tác khác nhau nhưng sản phẩm còn thô sơ, thiếu tính chuyên nghiệp trong làm việc. Giá cả máy móc khá cao, khi người nông Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only. 92 dân chế tạo ra thì ít được nhà nước quan tâm và bảo hộ sản phẩm dẫn đến tình trạng nhiều sản phẩm bị đánh cắp ý tưởng hoặc chỉ sản xuất nhỏ lẻ đơn chiếc. Để phát triển cơ giới hóa trong nông nghiệp cần chú trọng vào những vấn đề như sau: - Khuyến khích chế tạo máy móc phục vụ nông nghiệp theo hướng hiện đại và có tính ứng dụng cao vào nhiều ngành nông nghiệp hoặc chuyên canh nhưng thu lại hiệu quả kinh tế cao. Nhà nước bảo hộ quyền sáng chế cho các sản phẩm được phát minh. - Nhập khẩu những sản phẩm cơ giới từ nước ngoài về nước một cách có chọn lọc và có hiệu quả kinh tế cao. Sản phẩm nhập về nước phải đảm bảo kỹ thuật canh tác trong nước và dễ dàng vận hành với người nông dân nhằm mang lại hiệu quả thiết thực. - Đầu tư cho những công trình sáng chế ra các sản phẩm phục vụ cho nông nghiệp có hiệu quả để đưa vào sản xuất những sản phẩm có chất lượng cao và giá thành thấp nhằm nhanh chóng đến tay người nông dân, ngoài ra có chính sách hỗ trợ nông dân vay vốn đầu tư trang thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp KẾT LUẬN Chúng ta có thể nhìn thấy được bức tranh tổng thể của nông nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 – 2011 là một bức tranh đa màu sắc. Nhưng có thể thấy được đây là giai đoạn đầu tư cho xuất khẩu do vậy năng suất được nâng cao. Giai đoạn này có thể thấy được nông nghiệp được đầu tư cho việc phát triển kinh tế đất nước tuy nhiên vẫn còn nhiều điều bất cập trong việc quản ly và đầu tư cho nông nghiệp. Một đặc điểm của nông nghiệp Việt Nam có thể nhận thấy đó là: Nông nghiệp lạc hậu Nhân công nhiều, chi phí cao giá sản phẩm bán ra cao sản phẩm thiếu tính cạnh tranh lợi nhuận thấp đầu tư ít vào khoa học kỹ thuật Nông nghiệp lạc hậu Generated by Foxit PDF Creator © Foxit Software For evaluation only.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfmon_kinh_te_phat_trien_2272_9965.pdf
Luận văn liên quan