Tiểu luận Lý luận chung về lãi suất và vai trò của lãi suất đối với quá trình phát triển kinh tế

Lãi suất chỉ là một phương tiện chứ không phải mục đích, do đó chính sách lãi suất phải gắn liền với các chính sách kinh tế mà trực tiếp là chính sách tiền tệ, TC,TD và chính sách kinh tế đối ngoại. Vì vậy chính sách lãi suất trong nền kinh tế thị trường phải thay đổi tuỳ theo thị trường, tuỳ theo giai đoạn phát triển và yêu cầu phát triển kinh tế đặt ra trong mỗi thời kỳ của từng quốc gia. Đề tài “ .” ngoài phần lý thuyết chung về lãi suất tác giả đã đề cập đến việc thực thi các chính sách lãi suất trong thời gian qua ở Việt Nam. Hoạt động của chúng tới các NHTM và doanh nghiệp. Từ đó đề ra các giải pháp nhằm đổi mới chính sách lãi suất trong mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các giải pháp đó mang tính mềm dẻo linh hoạt phù hợp với tình hình thực tế, nâng dần tính chất gián tiếp và hạn chế dần việc điều tiết can thiệp mang tính chất trực tiếp, góp phần huy động vốn và điều tiết cho vay vốn đặc biẹt là vốn trung hạn và dài hạn cho đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.

pdf38 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Lượt xem: 6116 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tiểu luận Lý luận chung về lãi suất và vai trò của lãi suất đối với quá trình phát triển kinh tế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lãi suất. * Lý thuyết của Mác về nguồn gốc, bản chất lãi suất trong nền kinh tế hàng hoá TBCN Qua qúa trình nghiên cứu bản chất của cntb Mác đã vạch ra rằng quy luật giá trị thặng dư tức giá trị lao động không của công nhân làm thuê tạo ra là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghia tư bản và nguồn gốc của mọi lãi suất đều xuất pháttừ giá trị thặng dư. Theo Mác, khi xã hội ptr thì tư bản tài sản tách rời Tư bản chức năng, tức là quyền sở hữu tư bản tách rời quyền sử dụng tư bản nhưng mục đích của tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư thì không thay đổi. Vì vậy, trong xã hội phát sinh quan hệ dho vay và đi vay, đã là tư bản thì sau một thời gian giao cho nhà tư bản đi vay sử dụng, tư bản cho vay được hoàn trả lại cho chủ sở hữu nó kèm theo một giá trị tăng thêm gọi là lợi tức. Về thực chất lợi tức chỉ là một bộ phận của giá trị thặng dư mà nhà tư bản đi vay phải cho nhà tư bản vay. Trên thực tế nó là một bộ phận của lnh bình quân mà các nhà tư bản công thương nghiệp đi vay phải chia cho các nhà tư bản cho vay. Do đó nó là biểu hiện quan hệ bóc lột tư bản chủ nghĩa được mở rộng trong lĩnh vực phân phối và giơí hạn tối đa của lợi tức là lnh bình quân, còn giới hạn tối thiểu thì không có nhưng luôn lớn hơn không. Vì vậy sau khi phân tích côg thức chung của tư bản và hình thái vận động đầy đủ của tư bản Mác đã kết luận:”Lãi suất là phần giá trị thặng dư được tạo ra do kết quả bóc lột lao động làm thuê bị tư bản bị tư bản – chủ ngân hàng chiếm đoạt”. * Lý thuyết của Mác về nguồn gốc, bản chất lãi suất trong nền kinh tế XHCN Các nhà kinh tế học Mác xít nhìn nhận trong nền kinh tế XHCN cùng với tín dụng, sự tồn tại của lãi suất và tác động của nó do mục đích khác quyết định, đó là mục đích thoả mãn đầy đủ nhất các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội. Lãi suất không chỉ là động lực của tín dụng mà tác dụng của nó đối với nkt phải bám sát các mục tiêu kinh tế. Trong XHCN không còn phạm trù tư bản và chế độ người bóc lột người song điều đó không có nghĩa là ta không thể xác định bản chất của lãi suất. Bản chất của lãi suất trong xã hội chủ nghĩa là “giá cả của vốn cho vay mà nn sd với tư cách là công cụ điều hoà hoạt đọng hạch toán kinh tế ” Qua những lãi suất luận trên ta thấy các nhà kinh tế học Mác xít đã chỉ rõ nguồn gốc và bản chất lãi suất. Tuy nhiên quan điểm của họ không thể hiện được vai trò của lãi suất và các biến số kinh tế vĩ mô khác. ngày nay trước sự đổ vỡ của hệthống XHCN, cùng với chính sách làm giàu chính đáng , chính sách thu hút đầu tư lâu dài… đã không phù hợp với các chính sách trước đây vì nó tôn trọng quyền lợi người đầu tư, người có vốn, thừa nhận thu nhập từ tư bản. 1.2 Lý thuyết của J.M. Keynes về lãi suất: J.M. KEYNES (1833-1946) nhà kinh tế học nổi tiếng người Anh cho rằng lãi suất không phải là số tiền trả công cho việc tiết kiệm hay nhịn chi tiêu vì khi tích trữ tiền mặt người ta không nhận được một khoản trả công nào, ngay cả khi trường hợp tích trữ rất nhiều tiền trong một khoảng thời gian nhất định nào đó. Vì vậy: “Lãi suất chính là sự trả công cho số tiền vay, là phần thưởng cho “sở thích chi tiêu tư bản”. lãi suất do đó còn được gọi là sự trả công cho sự chia lìcan với của cải, tiền tệ.” 1.3 Lý thuyết của trường phái trọng tiền về lãi suất: M.Friedman, đại diện tiêu biểu của trường phái trọng tiền hiện đại, cũng có quản điểm tương tự J.M.KEYNES rằng lãi suất là kết quả của hoạt động tiền tệ. Tuy nhiên quan điểm của M. Friedman khác cơ bản với Keynes ở việc xác định vai trò của lãi suất. Nừu Keynes cho rằng cầu tiền là một hàm của lãi suất còn M.Friedman dựa vào nghiên cứu các tài liệu thực tế thống kê trong một thời gian dài, ông đi đế khẳng định mức lãi suất không có ý nghĩa tác động đến lượng cầu về tiền mà cầu tiền biểu hiện là một hàm của thu nhập và đưa ra khái niệm tính ổn định cao của cầu tiền tệ. Có thể thấy rằng : quan điểm coi lãi suất là kết quả hoạt động của tiền tệ đã rất thành công trong việc xác định các nhân tố cụ thể ảnh hưởng đến lãi suất tín dụng. Tuy nhiên hạn chế của cách tiếp cận này là suy bản chất của lợi tức là bản chất của tiền và dừng lại ở việc nghiên cứu cụ thể. Tóm lại, lãi suất là tỷ lệ % giữa khoản tiền người đi vay phải trả thêm cho người cho vay trên tổng số tiền vay đầu một thời hạn nhất định để được sd tiền vay đó. 2 - Các phép đo lãi suất Phép đo chính xác nhất là lãi suất hoàn vốn. Nó là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của khoản tiền trả trong tương lai với giá trị hôm nay cuả nó. Vì khái niệm tiềm ẩn trong việc tính lãi suất hoàn vốn có ý nghĩa tốt về mặt kinh tế. Nó tính cho 4 công cụ thị thị trường tín dụng: 2.1. Vay đơn:  nn iPF  1 Fn: số tiền vay và lãi thu về trong tương lai. P,n,i: số tiền vay ban đầu, thời hạn vay tín dụng và lãi suất đơn. 2.2. Vay hoàn trả cố định:      ni FP i FP i FP i FP TV         1111 32  TV: toàn bộ món tiền vay FP: số tiền trả cố định hàng năm. N: số năm cho tới mãn hạn 2.3. trái khoán coupon:      ni F i C i C i C Pb         1111 32  Pb: giá trái khoán C : Tiền coupon hàng năm F : Mệnh giá trái khoán n : số năm tới ngày mãn hạn. 2.4. Trái khoán giảm giá. Pd PdF i   F: mệnh giá của trái khoán giảm giá Pd: Giá hiện thời của trái khoán. 3. Phân biệt lãi suất với một số phạm trù kinh tế khác: 3.1. lãi suất với giá cả Lãi suất được coi là hình thái bí ẩn của giá cả vốn vay, vì nó trả cho giá trị sd của vốn vay - đó chính là khả năng đầu tư sinh lời hoặc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng. Lãi suất cũng biến động theo quan hệ cung cầu trên thị trường vốn như giá cả hàng hoá thông thường. Nhưng lãi suất là giá cả cho quyền sử dụng mà không phải quyền sở hữu, hơn nữa không phải quyền sử dụng vĩnh viễn mà chỉ trong một thời gian nhất định. Thêm vào đó, lãi suất khôg phải là biểu hiện bằng tiền giá trị vốn vay như giá cả hàng hoá thông thường, mà nó độc lập tương đối – thường nhỏ hơn nhiều so với giá trị vốn vay. 3.2. Lãi suất với lợi tức. Đối với một chứng khoán bất kỳ, lợi tức được định nghĩa là tiền lãi trả cho chủ sở hữu cộng với những thay đổi về giá trị của chứng khoán đó. Tỷ suất lợi tức là tỷ số lợi tức chia cho giá mua. Ví dụ: Một người mua một trái khoán chính phủ mệnh giá 1 triệu VND, thời hạn 5 năm, lãi suất 12% năm. sau một năm anh ta bán trái khoán đó với giá 1,2 triệu VND. Tiền lãi: 12%*1.000.000 = 120.000 VND Lợi tức chứng khoán: (12%*1.000.000) + (1.200.000 – 1.000.000) = 320.000 VND. Tỷ suất lợi tức: 320.000/1.000.000 = 32% Qua ví dụ trên ta có thể thấy rõ sự khác nhau giữa lãi suất và lợi tức của một chứng khoán bất kỳ. 3.3.Lãi suất thực với lãi suất danh nghĩa. Từ lâu nay chúng ta đã quên mất tác dụng của lạm phát đối với chi phí vay mượn. Cái mà chúng ta gọi là lãi suất không kể đến lạm phát cần được gọi một các chính xác hơn là lãi suất danh nghiã để phân biệt với lãi suất thực. Lãi suất danh nghĩa là lãi suất cho ta biết sẽ thu được bao nhiêu đồng hiện hành về tiền lãi nếu cho vay một trăm đồng trong một đơn vị thời gian(năm, tháng…). Như vậy sau khoảng thời gian đó ta sẽ thu được một khoản tiền gồm gốc và lãi. Tuy nhiên giá cả hàng hoá không ngứng biến động do lạm phát, điều chúng ta quan tâm là lúc đó số tiền gốc và lãi sẽ mua được bao nhiêu hàng hoá. Lãi suất thực là lãi suất danh nghĩa được chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi dự tính về mức giá, thể hiện mức lãi theo số lượng hàng hoá và dịch vụ. Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực được Fisher phát biểu thông qua phương trình mang tên ông như sau: Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát dự tính Công thức xác định lãi suất thực này được sử dụng phổ biến hiện nay. Tuy nhiên, công thức này không chú ý đến tổng lãi thu được phải chịu thuế thu nhập. Nếu tính đến yếu tố thuế thì: Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – Thuế thu nhập biên thực tế – Tỷ lệ lạm phát dự tính II. Các nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất Như chúng ta đã biết lãi suất tín dụng ngân hàng được xác định trên cơ sở cân bằng cung cầu tiền gửi, tiền cho vay trên thị trường. Do đó những nhân tố ảnh hưởng tới hình thái diễn biến của lãi suất chính là những nhân tố tác động làm thay đổi cung cầu tiền vay. Phân tích diễn biến lãi suất trên thị trường trái khoán (khuôn mẫu tiền vay) và trên thị trường tiền tệ (khuôn mẫu ưa thích tiền mặt) tuy có những đặc điểm khác nhau nhưng đều mang lại những kết quả tương đương nhau trong việc xem xét vấn đề lãi suất được xác định như thế nào. Bây giờ sẽ sử dụng tổng hợp hai phương pháp: khuôn mẫu tiền vay và khuôn mẫu tiền mặt, đồng thời chú ý đến những đặc điểm của nền kinh tế hiện đại để phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất. 1. Của cải – tăng trưởng. Phân tích khuôn mẫu tiền mặt cho thấy khi của cải tăng lên trong thời kỳ tăng trưởng kinh tế của một chu kỳ kinh tế, lượng cầu tiền sẽ tăng do mọi người gia tăng tiêu dùng hoặc đầu tư hay chỉ đơn giản là muốn giữ thêm tiền làm nơi trữ gía trị. Kết quả là đường cầu tiền dịch chuyển về bên phải trong khi đường cung tiền do chính phủ quy đinhj đường thẳng đứng. Như vậy khuôn mẫu tiền mặt phân tích diễn biến lãi suất trên thị trường tiền tệ đưa đến kết luận: “Khi của cải tăng lên trong giai đoạn tăng trưởng của chu kỳ kinh tế(các biến số khác không đổi) lãi suất sẽ tăng lên và ngược lại”. Lãi i i Ms Md1 Md2 E1 E2 Hình 1.1: Mô tả mối liên hệ giữa tăng trưởng và lãi suất. Khi của cải tăng lên đường cầu tiền dịch chuyển sang phải từ Md đến Md làm lãi suất từ i đến 2. Khả năng sinh lời dự tính của các cơ hộ đầu tư càng có nhiều cơ hội đầu tư sinh lợi mà một doanh nghiệp dự tính có thể làm thì doanh nghiệp sẽ càng có nhiều ý định vay vốn và tăng số dư vay nợ nhằm tài trợ cho các cuộc đầu tư này. Khi nền kinh tế đang phát triển nhanh có rất nhiều cơ hội đầu tư được trông đợi là sinh lợi, do đó lượng cầu tiền cho vay ở mỗi giá trị lãi suất tăng lên. 3. Lạm phát dự tính: Như ta đã biết, chi phí thực của việc vay tiền được đo một cách chính xác hơn bằng lãi suất thực là lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát dự tính. Do đó một lãi suất cho trước, khi lạm phta dự tính tăng lên, chi phí thực hiện việc vay tiền giảm xuống nên cầu tiền vay tăng lên. Mặt khác khi lạm phát dự tính tăng lên thì lợi tức dự tính của những khoản tiền gửi giảm xuống. Những người cho vay lập tức chuyển vốn tiền tệ vào một thị trường khác như thị trường bất động sản hay dự trữ hang hoá, vàng bạc… Kết quả lượng cung tư bản cho vay giảm đối với bất kỳ lãi suất nào cho trước. Hình 1.2: ảnh hưởng tăng khả năng sinh lời dự tính của các cơ hội đầu tư tới lãi suất. Đường cầu tăng dịch chuyển từ D1 tới D2. lãi suất tằng từ i1 tới i2. Vởy tăng cơ hội đầu tư sinh lợi sẽ làm tăng lãi suất do Lãi i i Md1 Md2 Lượng tiền S Như một sự thay đổi về lạm phát dự tính sẽ tác động đến cung cầu tư bản cho vay. Cụ thể, tăng lạm phát dự tính sẽ làm tăng lãi suất do giảm lượng cung ứng và tăng cầu về tư bản. 4. Thay đổi mức giá khi mức giá tăng lên, cùng với một lượng tiền như cũ hàng mà nó mua được sẽ ít hơn, nghĩa là giá trị đồng tiền bị giảm xuống. Để khôi phục lại tài sản của mình dân chúng muốn giữ một lượng tiền danh nghĩa lớn hơn do đó làm đường cầu tiền dịch chuyển sang phải. Điều đó chứng tỏ rằng khi mực giá tăng lên, các biến số khác không đổi, lãi suất sẽ tăng. Hình 1.2: Mô tả mối liên hệ giữa lạm phát dự tính và lãi suất. Lạm phát dự tính tăng dần đến cầu về tư bản cho vay tăng từ D1 đến D2 đồng thời cung giảm Lãi i i Lượng tiền S1 S2 D1 D2 Ms Lãi i i Md1 Md2 Lượng tiền E2 E1 Hình 1.4: Quan hệ giữa mức giá và lãi suất P tăng làm dịch chuyển từ Md1 đến d2, lãi suất tăng từ 5. Hoạt động thu, chi của Nhà nước Ngân sách Nhà nước vừa là nguồn cung tiền gửi vừa là nguồn cầu tiền vay đối với ngân hàng. Do đó, sự thay đổi giữa thu, chi ngân sách Nhà nước là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất. Ngân sách bội chi hay thu không kịp tiến độ sẽ dẫn đến lãi suất tăng. Để bù đắp, chính phủ sẽ vay dân bằng cách phát hành trái phiếu. Như vậy lượng tiền trong dân chúng sẽ bị thu hẹp làm tăng lãi suất. Ngoài ra khi thâm hụt ngân sách đã trực tiếp làm cầu về quỹ cho vay trong các định chế tài chính tăng lên, trong khi cung lại giảm và nâng cao lãi suất hoặc người dân dự đoán lạm phát sẽ tăng cao do Nhà nước tăng khối lượng cung ứng tiền tệ, dẫn tới việc găm tiền lại để mua tài sản khác làm cung quỹ cho vay bị giảm một cách tương ứng và lãi suất tăng lên. Trường hợp bội thu ngân sách sẽ dẫn đến lãi suất giảm do sự vận động ngược lại với trường hợp chi ngân sách. 6. Tỷ giá hối đoái Tỷ giá là giá cả tiền tệ của nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ của nước khác. Tỷ giá do quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối quyết định và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như giá cả, thuế… trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay làm cho không một quốc gia nào, nếu muốn tồn tại và phát triển, lại không tham gia thực hiện phân công lao động và thương mại quốc tế. Thông qua quá trình trao đổi buôn bán giữa các nv tỷ giá hối đoái giảm, xuất khẩu tăng lên nguồn thu ngoại tệ tăng lên. Điều đó làm tăng cung ngoại tệ, tương đương với việc tăng cầu nội tệ kết quả là làm lãi suất tăng lên. Bằng cách lập luận tương tự, chúng ta sẽ thu được một mức lãi suất nội tệ thấp hơn nếu tỷ giá hối đoán tăng lên, đồng nội tệ có giá hơn. Tóm lại, khi mức giá của đồng tiền một nước so với các nc khác giảm xuống thì một ước đoán hợp lý là lãi suất trong nc sẽ tăng lên và ngược lại. 7. Lượng tiền cung ứng Qua phân tích trên cho thấy có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến lãi suất nhưng nhân tố ảnh hưởng lớn và nhạy cảm với lãi suất là lượng tiền cung ứng. Vậy lượng tiền cung ứng thay đổi thì nó có tác động đến lượng tiền cung ứng như thế nào? Một sự tăng lên của lượng tiền cung ứng gây ra 4 tác động đối với lãi suất: tác dụng tính lỏng, tác dụng tính thu nhập, tác dụng mức giá, tác dụng lạm phát dự tính. - Tác dụng tính lỏng cho biết một sự tăng lên của lượng tiền cung ứng sẽ làm giảm nhẹ lãi suất, bởi vì đường cung tiền sẽ dịch chuyển sang phải. e ($/đ) e e D1(đ) Q S(đ ) D2(đ ) E ($/đ) E2 E1 D(đ) Q S1( đ) S2( đ) Hình 1.7: Mô tả khi đồng nội tệ giảm giá, e($/đ) giảm làm xuất khẩu tăng, S($) tăng hay - Tác dụng thu nhập chỉ ra rằng do tăng lượng tiền cung ứng sẽ có ảnh tốt đến nền kinh tế, sẽ làm tăng thu nhập khi đó lãi suất sẽ tăng lên. Vì đường cầu tiền lúc này sẽ dịch chuyển sang phải. - Tác dụng mức giá cho biết một sự tăng lượng tiền cung ứng sẽ làm mức giá chung tăng lên và kết qủa lãi suất cân bằng tăng. - Tác dụng lạm phát dự tính: sự tăng lên lượng tiền cung wngs sẽ làm dân cúng dự tính một mức lạm phát cao hưn trong tương lai. Kết quả là lãi suất tăng lên. Trong 4 tác dụng trên chỉ có tác dụng tính lỏng chỉ ra rằng một sự tăng lên của lượng tiền cung ưngs sẽ làm giảm lãi suất trong khi các tác dụng khác thì ngược lại. Nghiên cứu thực tiễn cho thấy tác dụng thu nhập, mức giá và lạm phát dự tính vượt trội so với tính lỏng. Vì vậy một sự tăng lượng tiền cung ứng dẫn đến việc tăng lãi suất trong dài hạn. III. Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế 1. Lãi Suất với quá trình huy động vốn. Lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy để phát triển kinh tế cần phải có vốn và thời gian. Các nước tư bản phát triển phải mất hàng trăm năm phát triển công nghiệp và quá trình lâu dài tích tụ vốn từ sản xuất và tiêu dùng. Đối với Việt Nam trên con đường phát triển kinh tế thì vấn đề tích luỹ và sử dụng vốn có tầm quan trọng đặc biệt cả về phương pháp nhận thức và chỉ đạo thực tiễn. Vì vậy chính sách lãi suất có vai trò hết sức quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội và cacs tổ chức kinh tế đảm bảo đúng định hướng vốn trong nước là quyết định, vốn ngoài nước là quan trọng trong chiến lược CNH- HĐH nước ta hiện nay. Việc áp dụng một chính sách lãi suất hợp lý đảm bảo nguyên tắc: lãi suất phải boả tồn được giá trị vốn vay, đảm bảo tích luỹ cho cả người cho vay và người đi vay. Cụ thể: + Tỷ lệ lạm phát< lãi suất tiền gửi < lãi suất tiền vay < tỷ suất lợi nhuận bình quân. + Lãi suất ngắn hạn < lãi suất dài hạn (đối với cả tiền gửi và tiền vay) 2. Lãi suất với quá trình đầu tư Quá trình đầu tư của doanh nghiệp vào tài sản cố định được thực hiện khi mà họ dự tính lợi nhuận thu được từ taì sản cố định này nhiều hơn số lãi phải trả cho các khoản đi vay để đầu tư. Do đó khi lãi suất xuống thấp các hãng kinh doanh có điều kiện tiến hành mở rộng đâu tư và ngược lại. Trong môi trường tiền tệ hoàn chỉnh, ngay cả khi một doanh nghiệp thừa vốn thì chi tiêu đầu tư có kế hoạch vẫn bị ảnh hưởng bởi lãi suất, bởi vì thay cho việc đầu tư vào mở rộng sản xuất doanh nghiệp có thể mua chứng khoán hay gửi vào ngân hàng nếu lãi suât của nó cao Đặc biệt trong thời kỳ nền kinh tế bị đình trệ, hàng hoá ứ đọng và xuống giá, có dấu hiệu thừa vốn và áp lực lạm phát thấp cần phải hạ lãi suất vì nguyên tắc cơ bản là lãi suất phải nhỏ hơn lợi nhuận bình quân của đầu tư, sự chênh lệch này sẽ tạo động lực cho các doanh nghiệp mở rộng quy mô đầu tư. Mối quan hệ giữa đầu tư và lãi suất được thể hiện qua đồ thị sau: 3. Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm: Lãi suất Đầu tư i1 I2 I1 I = I – b*i i2 _ Hình 1.8: Biểu diễn mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa Thu nhập của một hộ gia đình thường được chia thành hai bộ phận: tiêu dùng và tiết kiệm. Tỷ lệ phân chia này phụ thuộc vào nhiều nhân tố như thu nhập, vấn đề hàng hoá lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm trong đó lãi suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố đó. Khi lãi suất thấp chi phí tín dụng tiêu dùng thấp, người ta vay nhiều cho việc tiêu dùng hàng hoá nghĩa là tiêu dùng nhiều hơn. khi lãi suất cao đem lại thu nhập từ khoản tiều để dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng. 4. Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu Tỷ giá chịu ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ. Sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi trong lãi suất danh nghĩa. Nừu lãi suất danh nghĩa tăng do tỷ lệ lạm phát tăng (lãi suất thực không đổi) thì tỷ giá giảm. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất thực tế tăng (tỷ lệ lạm phát không đổi) thì tỷ giá tăng. khi tỷ giá đồng ngoại tệ tăng đồng nội tệ sẽ giảm giá (tỷ giá giảm) và ngược lại. + Vai trò của lãi suất trong nước với quá trình Xuất Nhập Khẩu: khi lãi suất thực tế tăng lên làm cho tỷ giá hối đoái tăng lên. tỷ giá hối đoái cao hơn làm hàng hoá của nc đó ở nước ngoài trở nên đắt hơn lên và hàng hoá nước ngoài ở nước đó sẽ trở nên rẻ hơn, dẫn đến giảm xuất khẩu ròng. Mối quan hệ này được biểu thị bởi đồ thị sau: Lãi suất i1 NX2 NX1 NX = NX(i) i2 Hình 1.9: Với một mức lãi suất thực tế thấp, tỷ giá thấp và xuất khẩu ròng cao với mức lãi suất cao tỷ giá cao và xuất khẩu ròng + Vai trò của lãi suất nước ngoài với xuất khẩu ròng: Khi lãi suất tiền gửi bằng ngoại tệ tăng lên, đường lợi tức dự tính của đồng ngoại tệ dịch chuyển sang phải làm giảm tỷ giá hối đoái. Hàng xuất khẩu trở nên rẻ hơn so với các quốc gia khác. 5. Lãi suất với lạm phát Lý luận và thực tiễn đã thừa nhận mối quan hệ chặt chẽ giữa lãi suất và lạm phát. Fishes chỉ ra rằng lãi suất tăng cao trong thời kỳ lạm phát, do đó lãi suất được sử dụng để điều chỉnh lạm phát cụ thể tăng lãi suất, thu hẹp được lượng tiền trong lưu thông, lạm phát được kìm chế Tuy nhiên, dùng lãi suất để chốnglạm phát không thể duy trì lâu dài vì nó sẽ làm giảm đầu tư, tổng cầu, sản lượng. Do vậy phải kết hợp nó với các công cụ khác. e(USD/VND ) i1 Lợi tức dự tính RET1 i2 RET2 Hình 1.10: Lãi suất nước ngoài tăng, đường lợi tức dự tính của đồng ngoại tệ 6. Lãi suất với quá trình phân bổ các nguồn lực. Tất cả các nguồn lực đều có tính khan hiếm. Vấn đề là xã hội phải phân bổ và sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả. Nghiên cứu trong nền kinh tế thị trường cho thấy giá cả đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc phân bổ các nguồn lực giữa các ngành kinh tế. Như ta đã biết, lãi suất là một loại giá cả, nghĩa là lãi suất có vai trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan hiếm của xã hội. Để quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế một dự án hay một tài sản nào đó chúng ta đều phải quan tâm đến sự chênh lệch giữa giá trị tỷ suất lợi tức thu được với chi phí ban đầu. Điều này có nghĩa là phải xem việc đầu tư này có mang lại lợi nhuận hay không và có đảm bảo hiệu quả kinh doanh để trả khoản tiền lãi của số tiền vay cho chi phí ban đầu hay không. Khi quyết định đầu tư vào một ngành kinh tế, một dự án hay một tài sản ta phải quan tâm tới chênh lệch giữa lợi nhuận đem lại và số tiền vay phải trả. Khi chênh lệch này là dương, thì nguồn lực sẽ được phân bổ tới đó và là sự phân bổ hiệu quả. 7. Lãi suất vai trò của nó đối với Ngân Hàng Thương mại NHTM với hai nghiệp vụ chính trong hoạt động kinh doanh của mình là huy động vốn và sử dụng vốn đã phản ánh quy mô hoạt động của các NHTM. Với phương châm “đi vay để cho vay”, NHTM huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong các doanh nghiệp và dân cư để cho vay phát triển kinh tế và các nhu cầu tiêu dùng khác của nhân dân. Để huy động vốn và cho vay có hiệu quả, NHTM phải xác định lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay một cách hợp lý. Nừu lãi suất huy động tiền gửi quá thấp thì không khuyến khích các doanh nghiệp và dân cư gửi tiền vào, dẫn đến NHTM không đủ vốn cho vay để đáp ứng yêu cầu khách hàng. Lãi suất Ngân hàng là nhân tố quan trọng quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của NHTM và khách hàng. Nừu lãi suất hợp lý sẽ là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và ngược lại. Bởi vậy lãi suất Ngân hàng vừa là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước vừa là công cụ điều hành vi mô của các NHTM. Do vậy, khi huy động tiền gửi mà với lãi suất thấp thì không khuyến khích doanh nghiệp và dân cư gửi tiền nhàn rỗi vào ngân hàng, sẽ dẫn đến hậu quả là NHTM không đủ vốn để cho vay đáp ứng yêu cầu vay vốn của khách hàng. Ngược lại, nếu lãi suất cho vay cao, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không có lãi hoặc lãi quá thấp sẽ thu hẹp sản xuất hoặc ngừng hoạt động để gửi vốn vào ngân hàng. Phần II. Các chính sách lãi suất được thực hiện ở vn trong thời gian qua I . Giai đoạn từ tháng 3/1989 trở về trước. Đây là thời kỳ điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất thực âm, chính sách lãi suất cứng nhắc bị áp đặt theo kiểu hành chính. Tuy ngân hàng Nhà nước đã có những điều chỉnh theo từng thời kỳ những do giai đoạn này có lạm phát phi mã nên lãi suất luôn trong tình trạng âm. Nghĩa là: + Lãi suất tiền gửi < mức lạm phát + Lãi suất cho vay < lãi suất huy động < mức lạm phát Chính sách lãi suất như vậy đã có tác động xấu đến hd của NHTM và doanh nghiệp. 1. Đối với NHTM - Chính sách lãi suất cứng nhắc khiến cho các NHTM không linh hoạt trong hoạt động tín dụng trước mọi biến động của nền kinh tế. - Lãi suất tín dụng luôn ở mức quy định bắt buộc nên không khuyến khích cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM. - Lãi suất tiền gửi < lạm phát nên không khuyến khích người dân và các tổ chức gửi tiền vào ngân hàng. Do đó chỉ huy động được vốn ngắn hạn mà lại cho vay trung và dài hạn, kết quả là lỗ. - Lãi suất cho vay < lãi suất huy động vốn và mức lạm phát nên ngân hàng trong tình trạng bao cấp đối với doanh nghiệp vay vốn và thông qua hệ thống tín dụng lãi suất thấp luôn trong tình trạng lỗ hoạt động Ngân hàng không ổn định. 2. Đối với doanh nghiệp. - Vì lãi suất cho vay < lạm phát nên các doanh nghiệp thị nhau vay vốn, tìm mọi cách , mọi cơ hội vay vốn để được hưởng bao cấp. - doanh nghiệp vay nhiều nhưng lợi nhuận thu được không phải do sản xuất kinh doanh mà do hưởng bao cấp của NHTM tạo mức lợi nhuận giả cho các doanh nghiệp. II. Từ tháng 3/1989 đến 1993 Chính sách lãi suất thực dương đã phát huy hiệu quả với lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn là 109% năm, lãi suất tiết kiệm 3 tháng là 12% tháng, huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, có những ảnh hưởng tích cực và tiêu cực tới NHTM và doanh nghiệp. 1. Tác động tích cực của chính sách lãi suất thực dương. * Đối với NHTM Chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất dương tức là ngành ngân hàng đã từng bước thực hiện một cách nhất quán đẳng thức quan trọng trong cơ chế thị trường: lãi suất cho vay tín dụng> lãi suất tiền gửi tiết kiệm> tỷ lệ lạm phát. Do đó NHTM không còn phải bao cấp đối với các doanh nghiệp vay vốn thông qua tín dụng nữa. Lãi suất thực dương cao đã thu hút một số lượng tiền gửi lớn vào các ngân hàng làm lượng tiền dự trữ cuả các ngân hàng tăng cao đáp ứng được nhu cầu vay vốn của doanh nghiệp. * Đối với doanh nghiệp. Lãi suất tiền gửi cao dẫn đến lãi suất cho vay cao buộc các doanh nghiệp phải cân nhắc việc vay vốn đầu tư, phải xem xét và lựa chọn các phương án đầu tư có hiệu quả nhất. Cơ cấu tổ chức các doanh nghiệp được tổ chức một cách hợp lý hơn, giảm thiểu bộ phận quản lý cồng kềnh để giảm thiểu chi phí. 2. Tác động tiêu cực * Đối với NHTM. Do lãi suất tiền gửi cao dẫn đến lãi suất cho vay cao nên càng khuyến khích gửi tiền hơn là vay tiền. Bên cạnh đó, lãi suất thực dương cao của ngân hàng đem lại khả năng thu được lợi nhuận > là đưa tiền vào đầu tư mà rủi ro lại thâp nên cũng khuyến khích cac doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng vay giảm dẫn đến tài sản nợ trong bảng cân đối của NHTM lớn hơn tài sản có. Như vậy cho dùngls thực dương thì chưa chắc chắn NHTM đã hoạt động kinh doanh có lãi. * Đối với doanh nghiệp. Lãi suất vay vốn không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư mà các doanh nghiệp tích cực gửi tiền vào ngân hàng hơn. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng giảm quy mô đầu tư dẫn đến một lực lượng lớn thất nghiệp không có lợi cho sự phát triển chung của nền kinh tế. Trong tổng số vốn đầu tư sản xuất kinh doanh, một phần lớn là đi vay của ngân hàng, bởi lãi suất vốn cao dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh lớn do đó giá thành phẩm cao, giá hàng hoá cao và như vậy hàng hoá sẽ giảm tính cạnh tranh trên thị trường. III. Từ 1993 đến 1996 Thời gian này NHNN vừa cần lãi suất trần, vừa cầu lãi suất thoả thuận. + Trần lãi suất cho vay đối với DNNN là 1,8% tháng, kinh tế ngoài quốc doanh là 2,1% tháng. + Thoả thuận trường hợp ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay theo lãi suất quy định phải phát hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn thì được cầu lãi suất thoả thuận. Lãi suất huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng thời hạn là 0,2%/ tháng và cho vay cao hơn mức lãi suất trần là 2,1%/tháng. chế độ lãi suất này đã ít nhiều giúp cho hd của NHTM và DN có những chuyển biến tốt. 1. Tác động tích cực - Nhờ những định mức trần lãi suất mà hạn chế được phần nào tình trạng lãi suất thực dương quá cao trong thời kỳ trước và do đó trong các NHTM cũng dần cân bằng giữa tài sản nợ và tài sản có, đảm bảo được lợi nhuận. Các doanh nghiệp cũng cần có thêm cơ hội vay vốn kinh doanh và mở rộng quy mô vốn đầu tư. - Nhờ có lãi suất thoả thuận mà hoạt động tín dụng giữa NHTM và doanh nghiệp linh hoạt hơn phù hpj với ccs đặc điểm hoạt động và tình hình cung cầu vốn, chính sách khách hàng và cạnh tranh của từng tổ chức tín dụng và chủ động điều hoà quan hệ cung cầu về vốn kinh doanh bằng công cụ lãi suất. 2. Tác động tiêu cực - Trong điều kiện lạm phát gia tăng lãi suất thực không còn bao nhiêu và nhiều loại tièn gửi không còn được bảo toàn giá trị khi gửi. - Nguồn vốn để cho vay trung hạn không có. - Loại tiết kiệm 12 tháng lãi suất cao hơn lãi suất cho vay trung hạn nên các NHTM không huy động loại tiết kiệm này. - Lãi suất cho vay trung hạn thấp hơn lãi suất cho vay ngắn hạn là trái với thông lệ quóc tế, đối lập với huy động vốn có thời hạn 6 tháng. *Đối với NHTM nguyên lý phổ biến về mặt thời hạn sử dụng vốn tín dụng trong cùng một thời điểm cho vay cho thấy, mức lãi suất cao thường đáp ứng cho nhu cầu vay vốn dài hạn, lãi suất thấp cần cho việc huy động vốn ngắn hạn. Nhưng trong giai đoạn này lãi suất tín dụng ngắn hạn lại được quy định cao hơn dài hạn, do đó NHTM chủ yếu huy động được vốn ngắn hạn trong khi tỷ lệ vốn huy động trung bà dài hạn rất nhỏ. Nừu lấy vốn ngắn hạn cho vay đầu tư trung và dài hạn thị NHTM phải chịu thua thiệt. Thời gian này, do thiếu nguồn vốn cho vay trung hạn, ngân hàng Đầu tư và Phát triển và ngân hàng nông nghiệp đã lần lượt phát hành trái phiếu dài hạn lãi suất 21%/năm trả lãi trước tương đương với 26,6%. Đây là trái phiếu có lãi cao hơn tất cả các loại lãi suất huy động vốn thời kỳ đó. Nừu từ chỉ số lạm phát năm 1994 là 14,4% thì lãi suất thực của trái phiếu NHTM là 12,6%. Đây là lực hấp dẫn mạnh mẽ đối với khách hàng. - Việc quy định lãi suất trần vẫn mang dáng dấp quản lý hành chính đối với một công cụ vô cùng nhạy bén và mang đậm tính thị trường và do đó vấn hạn chế tình linh hoạt của NHTM trong hoạt động tín dụng, không tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các ngân hàng. - Sự chệnh lệch cao giữa lãi suất tiền gửi và lãi suất tiền vay đã đem lại cho các NHTM một số lợi nhuận đã khiến cho các ngân hàng không chú trọng việc tiết kiệm chi phí hoạt động. * Đối với doanh nghiệp. - Cơ chế lãi suất hiện hành thực sự gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc vay vốn sản xuất nhất là đầu tư sản xuất trong trung và dài hạn do chính các ngân hàng cũng khó huy động và có thể cho vay ở mức lãi suất cao. - Lãi suất cao llàm cho người kinh doanh chủ yếu đầu tư vào các lĩnh vực sản xuất có lợi nhuận cao tức thời và thu hồi vốn nhanh như: dịch vụ , thương mại, sản xuất nhỏ mất cân đối trong nền kinh tế IV. Thực hiện chính sách lãi suất trần(96-2000) Sau khi có qd số 381/QĐNH1 ngày 28/2/1995 của thống đốc NHNN vn, từ ngày 1/1/1996 chính sách lãi suất trần được đưa vào thực hiện Cụ thể: Từ ngày 1/1/1996 lãi suất trần được áp dụng. *Trần lãi suất cho vay: - Ngắn hạn: 1,75% - Địa bàn nông thôn: 2% - Địa bàn thành thị: 1,75% Đồng thời khống chế lãi suất chênh lệch lãi suất cho vay và huy động là 0,35% tháng Sau đó năm 97,98,99 có sự thay đổi cho phù hợp : + Trần lãi suất cho vay ngắn hạn 1,2% tháng + Trần lãi suất cho vay trung và dài hạn 1,25% tháng. + Trần lãi suất tín dụng cho vay thành viên 1,5% tháng. Bỏ mức lãi suất huy động chênh lệch vốn 0,35%tháng. -Ngày 21/10/1998: + Tăng trần lãi suất cho vay ngắn hạn lên 1,1% - 1,2% tháng. + Trần lãi suất cho vay trung và dài hạn 1,2- 1,25% tháng Năm 1999 lãi suất có xu hướng giảm - 2/1999 lãi suất cho vay bằng Việt NamĐ đối với khách hàng ở khu vực thành thị của các NHTMQD giảm xuống 1,1 – 1,15% tháng. Tổ chức tín dụng khác vẫn theo mức 1,2% tháng với ngắn hạn, 1,25% tháng đối với trung và dài hạn. -6/1999 nền kinh tế có dấu hiệu phát triển chậm lại sức mua giảm sút NHNN quyết định hạ trần lãi suất cho vay bằng VND xuống 1,15%tháng, không phân biệt thành thị, nông thôn, ngắn hạn, trung, dài hạn. -8/1999 hạ trần lãi suất xuống mức 1,05% tháng cho mọi đối tượng. -9/1999 lãi suất cho vay bằng VND của NHTMQD với khu vực thành thị giảm xuống 0,95% tháng. - 10/1999 khu vực thành thị 0,85%, khu vực nông thôn 1% tháng. 1. Chính sách lãi suất trần tác động đến các NHTM. - Tích cực: việc tổ chức quản lý lãi suất trần cho phép các tổ chức tín dụng được tự do ấn định các mức lãi suất cho vay và tiền gửi trong phạm vi trần do NHnn cho phép. Sự ra đời của chính sách lãi suất trần đã chấm dứt thời kỳ NHNN qui định các mức lãi suất do đó: + NHTM linh hoạt hơn trong môi trường kinh doanh – xây dựng chính sách khách hàng và cạnh tranh lành mạnh của từng tổ chức tín dụng; điều kiện kinh doanh tự chủ ấn định mức lãi suất phù hợp từng thời kỳ, địa bàn, đối tượng… + Nâng cao lợi nhuận do nâng cao mức dư nợ cho vay và huy động góp vốn gấp nhiều lần. Tuy nhiên, tuỳ theo hình thức cụ thể mà các NHTM đã đưa ra các mức lãi suất phù hợp. + Buộc các ngân hàng thương mại chuyển hướng hoạt động đa năng: đổi mới cung cách phụ vụ, giảm thiểu thủ tục hành chính rườm rà; mở thêm các loại hình tín dụng ; nâng cao chất lượng hoạt động của các ngân hàng… 2. Hạn chế - ảnh hưởng đến cơ cấu nguồn vốn trung và dài hạn + Tỷ lệ vốn trung và dài hạn trong tổng số vốn huy động của NHTM hiện tại là rất nhỏ. Do việc huy động vốn trung và dài hạn cần có lãi suất cao trong khi NHNN liên tục cắt giảm lãi suất; NHTM sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn vào trung và dài hạn. Hởu quả là làm suy yếu khả năng an toàn thành toán khi có một dòng tiền gửi bị rút ra . + Khoảng cách chênh lệch lãi suất cho vay tiền gửi chỉ còn không đáng kể 0,15% tháng nơi nào cao lắm 0,2% tháng nên không đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi. + Lãi suất cho vay trung hạn > vay ngắn hạn là 0,05% tháng. Mức chênh lệch tạo động lực khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay trung và dài hạn. - Thời kỳ đầu NHNN đã quy định chênh lệch lãi suất 0,35% tháng gây ra nhiều khó khăn cho NHTM. + Mục đích khống chế chênh lệch lãi suất 0,35% đối với NHTM là nhằm quản lý chặt chẽ chi phí NHTM nhưng mối quan hệ giữa chênh lệch 0,35% - chi phí giảm - định lượng lãi suất huy động và cho vay của NHTM hầu như không có. + Lãi suất cho vay bị giới hạn bởi trần và phí bị giới hạn 0,35%. Do đó lãi suất huy động vốn bị khống chế cứng nhắc, giảm tính cạnh tranh giữa các ngân hàng + Chênh lệch lãi suất thực tế bình quân < 0,35% sẽ không khuyến khích các NHTM cạnh tranh bằng uy tín và hiệu quả kinh doanh để có được thu nhập và lợi nhuận cao mà thay vào đó là cạnh tranh bằng nâng lãi suất huy động vốn. - Các NHTMQD đang còn phải bao cấp lãi suất cho vay. Các NHTMQD vừa thực hiện cho bay bình thường với lãi suất kinh doanh vừa thực hiện cho vay theo chính sách ưu đãi. Do vậy mà không có sự tách bạch, và có nhiều mức lãi suất chồng chéo đặc biệt là làm mất ý nghĩa của NHTM. Nghị định 20/CP của chính phủ qui định việc cho vay đối với các đối tượng chính sách có mức lãi suất giảm 5%, 30% đối với khu vực III và khu vực VI; cho vay khắp phục hậu quả thiên tai theo chỉ thị của chính phủ với lãi suất 0,5% tháng(ngắn hạn), 0,6% tháng (trung, dài hạn.)… nên ngân hàng thương mại cho vay lỗ rủi ro cao nhất là cho vay các đối tượng chính sách. - Chính sách lãi suất chưa khai thác hết động lực giảm lãi suất huy động bình quân nhằm giảm lãi suất cho vay. + NHTM muốn có khách hàng nên tăng lãi suất tiền gửi lên quá cao so lãi suất huy động vốn bình quân, lãi suất các nước thấp. Sự cạnh tranh quyết liệt giữa các tổ chức tín dụng trong nước cũng như các nước trên thế giới diễn ra gay gắt. kết quả đó được giải quyết bằng giảm lãi suất. + Tổng số vốn của ngành ngân hàng không tăng mà nó chỉ từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, sự bất ổn định trong kinh doanh cạnh tranh không lành mạnh, gây khó khăn cho ngân hàng nhỏ, NHCP đã xảy ra do huy động vốn khó khăn nên phải tăng lãi suất tiền gửi lên 1.05%-1,1% tháng - Việc ban hành khung lãi suất tuy được thực hiện với mục đích mở rộng quyền tự ấn định lãi suất của ngân hàng so thực tế quyền này ít có giá trị vì khung lãi suất quá hep và thiếu các biện pháp kiểm soát chặt chẽ vơí việc thực thi khung lãi suất. 3. Chính sách lãi suất trần đối với các doanh nghiệp. * Tích cực: - Đáp ứng tốt nhu cấu vốn sản xuất cho doanh nghiệp. + Doanh nghiệp không phải vay với mức lãi suất vượt trần, tức là các doanh nghiệp không bị các ngân hàng ép khi đi vay tiền. Khi chính phủ quyết định giảm lãi suất cho vay, đồng thời đưa ra các biện pháp ưu tiên trong việc cho vay vốn sẽ khuyến khích doanh nghiệp vay vốn để đẩu tư phát triển. Lãi suất là yếu tố thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, bù đắp chivà lợi nhuận cho ngân hàng + Do lãi suất trần được đưa ra các NHTM cạnh tranh dẫn đến giảm lãi suất: Doanh nghiệp tích cực vay vốn đầu tư phát triển sản xuất Doanh nghiệp tích cực hoạt động tái đầu tư thay vì gửi tiền vào ngân hàng Nguồn vốn cho vay trung và dài hạn tăng. Tín dụng ngân hàng đã tích cực tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh, góp phần tăng trưởng kinh tế nói chung. Trong thời kỳ này cả nước có 6000 doanh nghiệp Nhà nước hơn 1000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 23000 doanh nghiệp tư nhân, cty cổ phần cty trách nhiệm hữu hạn(1/1998), hầu hết 80- 90% doanh nghiệp được ngân hàng hỗ trợ vốn sản xuất kinh doanh cải tiến và đổi mới công nghệ. - Tạo cơ hội giảm chi phí bình đẳng đối với mọi thành phần doanh nghiệp, ở các vùng, tăng cường thêm động lực cho guồng máy tăng trưởng kinh tế phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng các ngành. - hướng dẫn tiêu dùng ảnh hưởng đến sản xuất của doanh nghiệp. Khi lãi suất tăng làm giá thành sản phẩm đắt hơn nên tiêu dùng giảm và dẫn đến sản xuất giảm. Khi lãi suất giảm làm giá thành sản phẩm rẻ tương đối, kết quả là tiêu dùng tăng và sản xuất tăng. * Hạn chế: - Việc giảm lãi suất là điều kiện cần nhưng không đủ để tạo vốn cho doanh nghiệp + lãi suất còn cao, khó khăn trong thủ tục vay Ngân hàng. Cho dù lãi suất cho vay đã giảm khá mạnh song các doanh nghiệp vẫn không dám vay tiền vì tỷ lệ lãi suất cho vay ngân hàng vào khoảng 10%-11% năm. do vậy nếu tiếp tục vay ngân hàng để sản xuất kinh doanh thì lợi nhuận không đủ để trả lãi ngân hàng thì tình trạng nợ nần của doanh nghiệp càng nặng thêm. + Nhiều doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả do trang thiết bị cũ ký, công ngheej lạc hậu nhưng muốn cơ cấu lại sản xuất, đổi mới trang thiết bị phải có cơ cáu vốn lớn, bắt buộc phải đi vay. Với số vốn lớn doanh nghiệp phải trả lãi lớn trong kjhi lợi nhuận thu được lại chưa ổn định do vậy lãi suất giảm doanh nghiệp khôg dám vay. + các ngân ghàn cạnh tranh dẫn đến tăng mức lãi suất tiền gửi các doanh nghiệp cắt giảm tatttát cả những khoản đầu tư không đưa lại lợi nhuận cao bằng gửi tiếp vào ngaan hàng. +Luật không ổn định còn có sự phân biệt giữa các vùng ngành thành phần kinh tế nên chưa thức đẩy được cacxs ngành sản xuất ngành nghề phát triển toàn dện. ưở một sô vùng nhất là nông thôn một số NH nông thôn còn bắt doanh nghiệp vay quá trần. ậ khu vực nông thôn cho dùng nhu cầu tiêu dùng nhất là tiêu dùng đối với những hàng tư liệu sản xuất là rất lớn, song không thể vay được vì gần như không có khả năng trả nợ vì lãi suất cho vay chưa hợp lý. + Việc vay vốn trung và dài hạn của các doanh nghiệp không thuận lợi vì các ngân hàng cho vay dễ gặp rủi ro từ việc huy động vốn NH cho vay trung và dài hạn trong khi mức chênh lệch giữa lãi suất cho vay ngắn hạn và trung hạn bị xoá bỏ. - Việc cạnh tranh của NHTM tạo cơ hội cho các doanh nghiệp vay tràn lan không quan tâm tới tính thời vụ, chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp - Có nhiều lần thay đổi lãi suất do vậy những khoản nợ cũ có mức lãi suất quá cao đó là chưa kể lãi suất nợ quá hạn. Vấn đề lãi suất cao làm doanh nghiệp và hộ vay vốn gặp khó khăn trong sản xuất và khả năng trả nợ NH. Lãi suất được giảm nhiều lần gây tâm lý chờ đợi lãi suất tiếp tục giảm của doanh nghiệp. V. Từ 2000 đến nay: thực hiện chính sách lãi suất cơ bản. Lãi suất cơ bản là lãi suất do NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh. Nó được ban hành theo qd 241/QĐ ngày2/8/2000 về lãi suất cơ bản. 1. Định hướng điều chỉnh lãi suất cơ bản Lãi suất cơ bản xác định trên các cơ sở: - Chỉ tiêu tăng trưởng dự kiến hàng năm - Chỉ số lạm phát dự kiến hàng năm - Tỷ suất lợi nhuận bình quân hàng năm - Lãi suất thực của người gửi tiền thoả mãn điều kiện: lạm phát< lãi suất tiển gửi tiết kiệm < tỷ suất lợi nhuận bình quân. - Tình hình cung cầu vốn trên thị trường trong từng thời kỳ. - Lãi suất bình quân trên thị trường nội tệ liên ngân hàng. - Lãi suất đấu thầu, tín phiếu, trái phiếu kho bạc Nhà nước. - Mối quan hệ giữa lãi suất và tỷ giá. 2. Nội dung cơ chế điều hành lãi suất. Lãi suất cơ bản được hình thành trên nguuyên tắc thị trường nhưng với bc đi phù hợp, thận trọng, phù hợp với điều kiện thực tế của thị trường tiền tệ từng bước tiến tới tự do hoá lãi suất, quốc tế hoá hoạt động chính trong nước, đồng thời các biện pháp phát triển tiền tệ và nâng cao năng lực tài chính và nâng cao năng lực vận hành của các tổ chức tín dụng, xử lý lãi suất Việt Nam trong mối quan hệ với lãi suất ngoại tệ và chính sách tỷ giá. 2.1 Đối với lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam lãi suất cho vay cao nhất của TCTD = lãi suất cơ bản + %tỷ lệ. Hiện nay lãi suất cơ bản là 0,75% tháng và biên độ trên với lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,6%/ tháng, trung và dài hạn là 0,5%/tháng. Với lãi suất cơ bản và biên độ như trên là phù hợp với mặt bằng lãi suất đã và đang được hình thành trên thị trường nông thôn và thành thị hiện nay, không tác động làm thay đổils thị trường và không tạo ra tâm lý và việc NHNN tăng trần lãi suất. 2.2 Đối với lãi suất cho vay bằng ngoại tệ. Cho vay bằng USD bỏ qua quy định trần lãi suất cho vay, lãi suất cho vay ngắn hạn không vượt qua mức sibor kỳ hạn 3 tháng + 1%/năm, lãi suất trung và dài hạn không vượt quá mức sibor kỳ hạn 6 tháng + 2,5%tháng. Cho vay bằng ngoại tệ khác, NHTM tự xem xét lãi suất tiền gửi, cho vay theo lãi suất thị trường quốc tế… NHTM và doanh nghiệp chịu ảnh hưởng của chính sách lãi suất này. 3. Tác động của lãi suất cơ bản đến hoạt đọng của NHTM và DN 3.1. Đối với NHTM Cơ chế lãi suất linh hoạt hơn càng tạo điều kiện cạnh tranh giảm chi phí hoạt động ngân hàng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ: thẻ tín dụng…Lãi suất tiếp tục theo xu hướng giảm xuống cả lãi suất tiền vay và lãi suất huy động giảm. Tuy nhiên cuối tháng 8/2001 lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm bằng VND tăng đột biến nhất là các NHTM cổ phần. So với cuối tháng 6/2001 lãi suất huy động tăng từ 0,05% lên 0,17% tháng, đưa lãi suất huy động bằng VND xấp xỉ lãi suất cho vay cơ bản do NHNN công bố, thậm chí còn cao hơn 0,02% như NHTM CP VPB. 3.2. Đối với các DN. Lãi suất giảm đã khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn. Số lượng doanh nghiệp nhất là sau khi có luật doanh nghiệp ban hành tăng mạnh làm cho nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng nhanh. Tuy nhiên có sự chênh lệch lãi suất giữa đông nội tệ do đó mà thiếu VND để phục vụ sản xuất kinh doanh. Điều này làm cho tình trạng đô la hoá của nền kinh tế càng trầm trọng. Cuối năm 2000 đầu năm 2001 các NHTM đã đưa ra các mức lãi suất tiền gửi như nhau đối với VND và USD. Việc mặt bằng lãi suất của VND và USD bằng nhau như vừa qua đã khuyến khích thêm quá trình USD hoá và về lâu dài có thể dẫn tới việc VND bị lấn át hoàn toàn. VI. Những kết luận rút ra trong việc điều hành thực thi chính sách lãi suất trong thời gian qua. 1. Những kết quả đạt được. 1.1Chính sách lãi suất, với tư cách là một công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia đã góp phần tăng trưởng kinh tế, chống lạm phát. 1.2 Thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế vĩ mô, tăng cường động lực cho guồng máy kinh tế, góp phần thực hiện CNH, HĐH đất nc. 1.3 Xoá bỏ chế độ kiểm soát cứng nhắc trước đây. Các mức lãi suất quy định cụ thể theo mục đích và ngành kinh doanh, xoá bỏ đề dành quyền tự chủ cho các ngân hàng trong một mức đội linh hoạtnhất định khi thực hiện chính sách lãi suất. 1.4.Góp phần củg cố và phát triển hệ thóng ngân hàng thông qua việc tạo ra mọt lợi nhuận hợp lý đề các ngân hàng có thể bù đắp được mọi chi phí hoạt động, các rủi ro đồng thời tạo công bằng xã hội. Do đó lãi suất thể hiện vai trò kinh tế và xã hội của nó. 2. Những tồn tại, hạn chế. 2.1 Tương quan lãi suất nội tệ và ngoại tệ còn vênh, nhấtlà chênh lệch lãi suất. Hiện nay, mức chênh lệch đầu ra – vào đối với lãi suất Việt Nam đồng bào khoảng 0,1- 0,14%tháng. trong khi đó chênh lệch đầu ra- vào của lãi suất USD là 3%tháng. Như vậy kinh doanh ngoại tệ có thu nhập cao hơn kinh doanh tiền Việt Nam. Không ít các ngân hàng huy động được ngoại tệ đã không cho các doanh nghiệp trong nước vay mà gửi ra nước ngoài kiếm chênh lệch cao hơn trong nước. 2.2. Trần lãi suất gò bó tính chủ động linh hoạt kinh doanh của các NHTM. 2.3 Việc áp đặt lãi suất chưa hợp lý thong qua một số điểm sau: + Cơ sở xác định mức trần lãi suất không đầy đủ: Chỉ căn cứ vào lãi suất huy động và dự kiến mức phí của tổ chức tín dụng. + Liên tục điều chỉnh các mức lãi suất. VII. Một số giải pháp nhằm đổi mới chính sách lãi suất trong mục tiêu phát triển kinh tế của vn trong giai đoạn hiện nay. 1. Các mục tiêu hướng tới 1.1.Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, cơ chế lãi suất mới không làm tăng mặt bằng lãi suát thị trường, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng huy động vốn ở trong nước và ngoài nước ở mức cao để đảm bảo vốn cho tăng trưởng tín dụng có chất lượng, đáp ứng yêu cầu của chủ trương kích cầu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định giá trị đối nội và đối ngoại của đồng Việt Nam. 1.2.Tạo điều kiện cho TCTD và khách hàng gửi, vay vốn có thể thoả thuận để lựa chọn lãi suất cố định hoặc lãi suất có điều chỉnh linh hoạt, có lợi cho các bên, khuyến khích TCTD mở rộng huy động vốn và cho vay vốn trung dài hạn. Riêng lãi suất cho vay bằng ngoại tệ tuy đã tiếp cận dần với thông lệ quốc tế nhưng sẽ thấp hơn mặt bằng thị trường quốc tế, phù hợp với cung cầu vốn ngoại tệ, hạn chế gửi vốn ngoại tệ ở nước ngoài. 1.3.Tạo khuôn khổ linh hoạt cho các TCTD áp dụng lãi suất phù hợp với đặc điểm từng vùng 2. Những điều kiện trong việc điều chỉnh chính sách lãi suất của vn. 2.1. Sự ổn định kinh tế vĩ mô đủ chắc chắn để chịu đựng các tác động, các cú sốc từ bên ngoài đối với nền kinh tế có thể xảy ra. 2.2 Thị trường tài chính hình thành và vận hành có hiệu quả. 2.3. Có môi trường pháp lý và thể chế tương đối đồng bộ, hoàn chỉnh, đủ khả năng điều chỉnh các quan hệ quốc tế. Có quy chế phòng ngừa, đủ bù đắp rủi ro hữu hiệu, đảm bảo hạn chế và bù đắp được những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động của các trung gian tài chính. 3. Một số giải pháp trong việc đổi mới chính sách lãi suất ở Việt Nam 3.1 Quy định tỷ lệ lãi suất hợp lý giữa ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Hiện nay, sau các quyết định về điều chỉnh lãi suất cho vay của NHNN lãi suất cho vay trung hạn và dài hạn dã tăng tương đối so với lãi suất ngắn hạn. song để đạt được mục đích chuyển vốn vay ngắn hạn và dài hạn cần được xem xét và tính toán chu đáo. 3.2. Xác định chênh lệch lãi suất cho vay trong nước và lãi suất nước ngoài hợp lý. Ngoài nguyên tắc đảm bảo lãi suất cho vay trong nước phải cao hơn lãi suất thế gií cần đặc biệt chú ý đến tỷ lệ lạm phát và gía trị đồng nội tệ khi điều chỉnh. Thực té cho thấy năm 1995 Việt Nam thu hút được số vốn đầu tư nước ngoài 6,471 triệu USD với 311 dự án được cấp phép. Vì vậy để đạt được sự hợplý trong chính sách điều chỉnh lãi suất cho vay với lãi suất thế giới cần đồng thời tiến hành đồng bộ với các giải pháp khác để thúc đẩy cả quá trình đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài, để giải toả tình trạng ứ đọng vốn nọi tệ trong thời gian qua do các doanh nghiệp thích vay vốn bằng ngoại tệ hơn nội tệ gây ra tình trạng “Đô la hoá” trong nền kinh tế. 3.3. Hoàn thiện môi trường pháp lý ngân hàng Khi xét tới vấn đề này trong tình hình Việt Nam đang thực hiện công nghiệp hoá theo hướng xuất khẩu thì một vấn đề cơ bản càn lưu ý là tầm quan trọngcủa các yếu tố quốc tế và trong nước trong việc xác định lãi suất trong nước. Thông qua các công cụ gián tiếp NHNN có thể điều tiết lượng tiền cung ưng làm tác động đến lãi suất thị trường liên ngân hàng, đặc biệt lãi suất tiền gửi, từ đó tác động đến lãi suất tín dụng. 3.4. Chính sách lãi suất tiền gửi và cho vay cần đáp ứng với chính sách tiền tệ. Lý luận và thực tiễn cho thấy kinh doanh tiền tệ là loại hình đòi hỏi hết sức khắt khe về sự hoàn thiện môi trường pháp lý do hai lý do: thứ nhất do tính hấp dẫn bản thân đồng tiên, thứ hai do tính rủi ro cảu hoạt động kinh doanh tiền tệ. 3.5. Tiến tới tự do hoá lãi suất ở Việt Nam. + Hiện nay, xu hướng hội nhập toàn cầu hoá là mọt xu hướng tất yếu bên cạnh những thuận lợi thì vấn đề này đạt ra trước mắt chúng ta không ít những khó khăn, thác thức. Trong bối cảnh đó , vấn đề tự do hoá tài chính nói cung và vấn đề tự do hoá lãi suất nói riêng ở nước ta là một xu thế không thể tránh khỏi. + Để tiến hành tự do hoá lãi suất NHNN với tư cách làngười điều hành chính sách tiền tệ quốc gia sẽ sử dụng các công cụ kiểm soát tiền tệ gián tiếp để tham gia điều chỉnh các mức lãi suất trên thị trường nhằm phát huy vai trò của lãi suất đối với sự phát triển của kinh tế xã hội. Kết luận Lãi suất chỉ là một phương tiện chứ không phải mục đích, do đó chính sách lãi suất phải gắn liền với các chính sách kinh tế mà trực tiếp là chính sách tiền tệ, TC,TD và chính sách kinh tế đối ngoại. Vì vậy chính sách lãi suất trong nền kinh tế thị trường phải thay đổi tuỳ theo thị trường, tuỳ theo giai đoạn phát triển và yêu cầu phát triển kinh tế đặt ra trong mỗi thời kỳ của từng quốc gia. Đề tài “ .....” ngoài phần lý thuyết chung về lãi suất tác giả đã đề cập đến việc thực thi các chính sách lãi suất trong thời gian qua ở Việt Nam. Hoạt động của chúng tới các NHTM và doanh nghiệp. Từ đó đề ra các giải pháp nhằm đổi mới chính sách lãi suất trong mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các giải pháp đó mang tính mềm dẻo linh hoạt phù hợp với tình hình thực tế, nâng dần tính chất gián tiếp và hạn chế dần việc điều tiết can thiệp mang tính chất trực tiếp, góp phần huy động vốn và điều tiết cho vay vốn đặc biẹt là vốn trung hạn và dài hạn cho đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdf224_8729.pdf