Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu

Tóm lại, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu là những loại giấy tờ có giá trị của thị trường tiền tệ. Chúng được phát hành và sử dụng theo những điều luật nhất định về lãi suất, thời hạn. Đây là những hoạt động trao đổi khá an toàn, tính rủi ro thấp, tính thanh khoản cao. Giữa chúng có những khác biệt tương đối về đặc điểm. Tín phiếu kho bạc do chính phủ phát hành để bù đắp thâm hụt tạm thời của ngân sách Nhà nước, tức là nó gắn liền với hoạt động của chính phủ. Trong khi đó thương phiếu và chứng chỉ tiền gửi thì gần gũi hơn với các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp. Chứng chỉ tiền gửi thể hiện mối quan hệ tiền tệ giữa các định chế tài chính: ngân hàng, tổ chức tín dụng với doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức. Còn thương phiếu thực chất là mối quan hệ mua bán chịu giữa các tổ chức, doanh nghiệp thể hiện dưới dạng giấy tờ có giá trị là lệnh phiếu và hối phiếu. Nắm được điều này, mỗi người sẽ biết cách sử dụng nguồn vốn của mình một cách tốt nhất đồng thời có được những kiến thức tổng quát nhất về sự hoạt động của thị trường tiền tệ nói riêng và thị trường tài chính nói chung trong điều kiện kinh tế thị trường như ngày nay

doc24 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 8819 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐỀ TÀI: Nhóm thực hiện: TP. HỒ CHÍ MINH, NGÀY 28 THÀNG 02 NĂM 2011. Danh sách nhóm: Mai Thị Ngân K094020322 Phan Thị Thanh Nguyên K094020327 Hồ Ý Nhi K094020330 Nguyễn Thị Ninh K094020333 Nguyễn Thị Quý K094020344 Nguyễn Thị Thanh Tâm K094020347 Bảng phân công công việc: STT Nội dung công việc Người phụ trách Thời gian hoàn thành Ghi chú 1 Nội dung chương 1: Tín phiếu kho bạc Nguyễn Thị Quý Mai Thị Ngân 25/02 2 Nội dung chương 2: Chứng chỉ tiền gởi Nguyễn Thị Thanh Tâm Nguyễn Thị Ninh 25/02 3 Nội dung chương 3: Thương Phiếu Hồ Ý Nhi Phan Thị Thanh Nguyên 25/02 4 Nội dung Phần mở đầu và Phần kết luận Phan Thị Thanh Nguyên 26/02 5 Trình bày đề tài, lập bảng phân công công việc Nguyễn Thị Quý 27/02 6 Kiểm tra, lập mục lục, hoàn thiện đề tài Nguyễn Thị Ninh 28/02 7 Thiết kế Power Point Cả nhóm Phụ trách chính: Hồ Ý Nhi 03/03 8 Thuyết trình Mai Thị Ngân Nguyễn Thị Thanh Tâm 04/03 MỤC LỤC Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu về tiền của các cá nhân, doanh nghiệp cũng phát triển không ngừng. Điều này được thể hiện rõ trong sự tồn tại hai trạng thái của nền kinh tế giữa một bên là nhu cầu về tiền và một bên là khả năng về tiền. Vần đề đặt ra cho các cá nhân, doanh nghiệp là làm thế nào để sử dụng nguồn vốn của mình một cách hiệu quả. Trước tình hình này, nhiều hình thức huy động vốn linh hoạt đã nảy sinh và phát triển để giải quyết cân đối về cung và cầu về các nguồn lực tài chính trong xã hội, và nhu cầu mua bán, chuyển nhượng giữa các chủ sở hữu với nhau. Trên cở sở đó, thị trường tài chính đã ra đời. Thị trường tài chính gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ. Nói riêng về thị trường tiền tệ, đây là nơi diễn ra các hoạt động cung và cầu về vốn ngắn hạn. Thị trường tiền tệ gồm các loại tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gởi, thương phiếu… Đây là loại chứng từ có giá trị được thực hiện thông qua hoạt động giữa các ngân hàng với các doanh nghiệp và cá nhân, hoặc giữa các doanh nghiệp với nhau… Chúng giúp cho các chủ thể kinh tế có nhiều điều kiện để sử dụng và phát triển nguồn vốn của mình một cách hiệu quả. Trước thực trạng như vậy, chúng tôi quyết định tìm hiểu về các loại chứng từ có giá trị của thị trường tiền tệ: tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gởi và thương phiếu. Với việc nghiên cứu này, chúng tôi hi vọng sẽ mang đến cho bản thân cũng như các bạn một cái nhìn tổng quan về đặc điềm của các loại chứng từ cũng như sự khác nhau cơ bản của chúng. Đó là nền tảng để chúng ta đi sâu tìm hiểu về tài chính và tiền tệ. CHƯƠNG 1: TÍN PHIẾU KHO BẠC 1.1. Định nghĩa Tín phiếu kho bạc là loại giấy nợ do chính phủ phát hành có kỳ hạn dưới một năm để bù đắp thiếu hụt tạm thời của Ngân sách Nhà nước và là một công cụ trong những công cụ quan trọng để Ngân hàng Trung ương điều hành chính sách tiền tệ. (tại Việt Nam, tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính phát hành). Tín phiếu kho bạc thường có kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hay 9 tháng với một hay nhiều mức mệnh giá. Tín phiếu kho bạc thường được coi là không có rủi ro tín dụng (rủi ro phá sản). 1.2. Hình thức, mệnh giá tín phiếu kho bạc 1.2.1. Hình thức Tín phiếu kho bạc đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được phát hành dưới hình thức chứng chỉ hoắc bút toán ghi sổ; có ghi danh hoặc không ghi danh. - Đối với hình thức chứng chỉ: Bộ Tài chính quy định nội dung để Kho bạc Nhà nước in và phân phối cho các tổ chức trúng thầu. - Đối với hình thức bút toán ghi sổ: Do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ghi và quản lí sổ sách. Tín phiếu kho bạc khi phát hành được thực hiện theo hính thức bút toán ghi sổ. Trường hợp chủ sở hữu muốn nhận chứng chỉ tín phiếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thông báo cho Kho bạc Nhà nước để cấp chứng chỉ. 1.2.2. Mệnh giá Mệnh giá của tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính (Kho bạc Nhà nước) thông báo cho từng đợt phát hành. 1.2.3. Kỳ hạn tín phiếu kho bạc Tín phiếu kho bạc có các kỳ hạn: 91 ngày, 182 ngày, 273 ngày và 364 ngày. 1.2.4. Lãi suất tín phiếu kho bạc - Bộ trưởng Bộ Tài chính thông báo lãi suất trần trong từng thời kỳ. Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước quyết định lãi suất cụ thể cho từng phiên đấu thầu trong phạm vi mức lãi suất trần cho phép. Tùy điều kiện cụ thể, Bộ trưởng Bộ Tài chính có thể không quy định mức lãi suất trần để tổ chức đấu thầu. - Lãi suất phát hành tín phiếu kho bạc được xác định trên cơ sở kết quả của từng phiên đấu thầu. 1.2.5. Nguyên tắc đấu thầu - Bí mật mọi thông tin đấu thầu của các đơn vị đặt thầu và các thông tin có liên quan đến lãi suất tổ chức đấu thầu. - Tổ chức đấu thầu công khai, bình đẳng về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các tổ chức tham gia đấu thầu. - Đơn vị trúng thầu có trách nhiệm mua tín phiếu kho bạc theo khối lượng và lãi suất trúng thầu được thông báo. 1.2.6. Hình thức đấu thầu Việc đấu thầu tín phiếu kho bạc được thực hiện theo một trong hai hình thức: Đấu thầu cạnh tranh lãi suất, hoặc kết hợp giữa đấu thầu cạnh tranh lãi suất với đấu thầu không cạnh tranh lãi suất. Trường hợp áp dụng hình thức đấu thầu kết hợp giữa đấu thầu cạnh tranh lãi suất với đấu thầu không cạnh tranh lãi suất thì khối lượng tín phiếu đấu thầu không cạnh tranh lãi suất không vượt quá 30% tổng khối lượng tín phiếu thông báo phát hành của đợt đấu thầu đó. Tổng Giám đốc Kho bạc Nhà nước quyết định hình thức đấu thầu cụ thể của từng phiên đấu thầu. 1.2.7. Hình thức bán tín phiếu kho bạc Tín phiếu kho bạc đấu thầu qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam được bán theo 2 hình thức: ngang mệnh giá và chiết khấu. 1.2.7.1. Bán tín phiếu kho bạc theo hình thức ngang mệnh giá. - Giá bán tín phiếu kho bạc bằng 100% mệnh giá. - Số tiền thanh toán tín phiếu kho bạc khi đến hạn được tính theo công thức sau: n T = G + ( G x Ls x ) 365 Trong đó: T: Tổng số tiền (gốc + lãi) tín phiếu được thanh toán khi đến hạn. G: Giá bán tín phiếu kho bạc. Ls: Lãi suất tín phiếu trúng thầu (tính theo tỷ lệ %/365 ngày). n: Số ngày trong thời hạn tín phiếu. 1.2.7.2. Bán tín phiếu kho bạc theo hình thức chiết khấu: - Giá bán tín phiếu được xác định theo công thức: MG G = Ls x n 1 + 365 Trong đó: G: Giá bán tín phiếu kho bạc. MG: Mệnh giá tín phiếu kho bạc. Ls: Lãi suất tín phiếu trúng thầu (tính theo tỷ lệ %/365 ngày). n: Số ngày trong thời hạn tín phiếu. - Khi đến hạn thanh toán được thanh toán bằng mệnh giá tín phiếu. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định cụ thể về cách tính tròn giá tín phiếu kho bạc. 1.2.8. Thanh toán tiền mua tín phiếu kho bạc. - Ngày phát hành tín phiếu kho bạc được phát hành vào ngày thứ 2 kể từ ngày đấu thầu. Trong phạm vi 2 ngày làm việc tiếp theo ngày đấu thầu, các đơn vị trúng thầu phải chuyển tiền mua tín phiếu kho bạc theo thông báo của Ngân hàng Nhà nước vào tài khoản của Kho bạc Nhà nước mở tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ghi có tài khoản của Kho bạc Nhà nước số tiền thu từ bán tín phiếu kho bạc và ghi có tài khoản tín phiếu kho bạc cho tổ chức trúng thầu. Trường hợp tổ chức trúng thầu có nhu cầu nhận chứng chỉ tín phiếu, Ngân hàng nhà nước Việt Nam thông báo cho kho bạc nhà nước để cấp chứng chỉ. - Trường hợp các thành viên trúng thầu làm thủ tục thanh toán chậm so với ngày quy định, Ngân hàng nhà nước Việt Nam thực hiện trích tài khoản hoặc yêu cầu Ngân hàng nơi thành viên mở tài khoản trích tiền gởi của thành viên trúng thầu chuyển cho kho bạc nhà nước. Nếu số dư trên tài khoản tiền gởi của các thành viên trúng thầu vẫn không đủ để thanh toán thì phần kết quả trúng thầu chưa được thanh toán sẻ bị hủy bỏ và đơn vị bị phạt 5% trên số tiền hủy bỏ để chuyển nộp ngân sách nhà nước. - Căn cứ giấy báo có của Sở giao dịch ngân hàng nhà nước Việt Nam chuyển đến, kho bạc nhà nước làm thủ tục ghi ngân sách Trung ương hoặc hạch toán theo quy định của bộ tài chính. 1.2.9. Thanh toán tín phiếu kho bạc 1.2.9.1. Thanh toán tín phiếu kho bạc khi hết hạn - Việc thanh toán gốc, lãi tín phiếu kho bạc khi đến hạn được thực hiện thông qua Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Trước ngày đến hạn thanh toán gốc, lãi 1 ngày làm việc. - Nhà nước, Ngân hàng nhà nước Việt Nam được tự động trích tài khoản tiền gởi của kho bạc Nhà nước tại Sở giao dịch ngân hàng nhà nước để thanh toán cho chủ sở hữu tín phiếu kho bạc. - Nếu ngày đến hạn thanh toán gốc, lãi tín phiếu kho bạc, là ngày chỉ theo chế độ, thì tiền gốc, lãi tín phiếu, trái phiếu được thanh toán vào ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó. 1.2.10. Chi phí phát hành, thanh toán .Toàn bộ chi phí tổ chức đấu thầu, thanh toán tín phiếu kho bạc do ngân sách Trung ương đảm bảo và chi trả Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo tỉ lệ là 0.05% trên giá trị tín phiếu kho bạc trúng thầu. Ngân hàng nhà nước Việt Nam được sử dụng kinh phí đấu thầu, thanh toán tín phiếu kho bạc vào các mục đích sau: Chi mua sắp thiết bị phục vụ cho đấu thầu tín phiếu kho bạc. Chi bảo dưỡng định kì, sữa chữa đột xuất máy móc, thiết bị. Chi thiết kế và xây dựng phần mềm chương trình đấu thầu tín phiếu kho bạc. Chi thông tin quảng cáo về đấu thầu tín phiếu trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chi phí trực tiếp cho từng phần đấu thầu. Chi hội thảo, khảo sát, học tập kinh nghiệm đấu thầu tín phiếu. Chi hội nghị khách hàng hàng năm tổng kết công tác đấu thầu. Chi khen thưởng đột xuất và định kì cho các thành viên ban đấu thầu, cán bộ phục vụ công tác đấu thầu và các cơ quan có liên quan. Khoảng chi này không vượt quá 10% tổng kinh phí đấu thầu và thanh toán tín phiếu kho bạc được hưởng. Chi họp ban đấu thầu tín phiếu, định kì sơ kết tình hình đấu thầu và bàn phương hướng công tác. Chi văn phòng phẩm. Các khoản chi cho công tác đấu thầu, thanh toán tín phiếu kho bạc được hoạch toán vào chi nghiệp vụ của ngân hàng nhà nước Việt Nam. CHƯƠNG 2: CHỨNG CHỈ TIỀN GỬI Chứng chỉ tiền gửi (CD) là gì? Nói đến CD, người ta thường nghĩ ngay tới những lúc nghe nhạc thư giãn khi ngồi trong xe hơi. Tuy nhiên, trong giới tài chính, CD được biết đến như một công cụ tài chính ưa thích của các nhà đầu tư. Đối với những nhà đầu tư tìm kiếm sự an toàn thì CD - chứng chỉ tiền gửi sẽ thỏa mãn điều này. Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ đầu tư thuộc nhóm tài sản đầu tư có thu nhập cố định và thích hợp cho các nhà đầu tư dài hạn. Vậy, CD là gì? CD là viết tắt của thuật ngữ tiếng Anh: ‘Certificates of Deposit’, dịch sang tiếng Việt là ‘Chứng chỉ tiền gửi’. Một chứng chỉ tiền gửi là một hình thức tiền gửi có thời hạn thường được cung cấp bởi các định chế tài chính: ngân hàng, các tổ chức tín dụng... Điều khoản của một chứng chỉ tiền gửi có quy định thời hạn ít nhất là 3 tháng và dài nhất là 5 năm. Thời hạn càng dài thì lãi suất mà ngân hàng cung cấp chứng chỉ tiền gửi cho người gửi sẽ càng cao hơn, đây chính là phần bù vì việc các nhà đầu tư sẽ phải gửi tiền của mình trong thời gian lâu hơn. “Chứng chỉ tiền gửi là một loại giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành để huy động vốn từ các tổ chức và cá nhân khác”. Chứng chỉ tiền gửi là văn bản do ngân hàng phát hành để chứng nhận rằng người sở hữu văn bản đã gửi tiền vào ngân hàng. Chứng chỉ tiền gửi thực chất là lời hứa trả một lượng tiền nhất định cho người sở hữu nó vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Ở Mỹ và Anh, nó là loại trái phiếu “có thể trao đổi”, nghĩa là có thể chuyển nhượng đơn giản bằng cách trao cho người mua. Vì vậy, chúng có khả năng thanh toán cao đối với người sở hữu, đồng thời đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng trong một thời gian. Lãi suất của chứng chỉ tiền gửi được trả sáu tháng một lần nếu chứng chỉ tiền gửi có thời hạn trên 1 năm và được trả khi đúng hạn nếu có thời hạn dưới một năm. Chứng chỉ tiền gửi áp dụng lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 60, sau đó được lưu hành ở Anh. Các hình thức chứng chỉ tiền gửi và phương thức thanh toán gốc, lãi suất Hình thức - Chứng chỉ ghi danh: Là chứng chỉ có ghi tên người sở hữu. - Chứng chỉ vô danh: Không ghi tên người sở hữu. Chứng chỉ vô danh thuộc sở hữu của người nắm giữ giấy tờ có giá. - Ghi sổ: chi nhánh phát hành mở cho chủ sở hữu một tài khoản chứng chỉ và giao cho chủ sở hữu một chứng chỉ với nộng dung có tài khoản chứng chỉ. Đặc tính - Kỳ hạn: Có kỳ hạn  tối thiểu 1 năm. - Đồng tiền: VNĐ, ngoại tệ. - Mệnh giá tối thiểu: 100.000 VNĐ, 100 USD, ngoại tệ tương đương. - Mệnh giá tối đa: 01 tỷ VNĐ, 100.000 USD, ngoại tệ tương đương. Thanh toán gốc - Thanh toán đúng hạn: Được thanh toán toàn bộ gốc. - Thanh toán sau hạn: Nếu đến hạn, người mua chưa rút vốn, các ngân hàng không chuyển sang kỳ hạn tiếp theo. Số tiền gốc được hưởng lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn hiện hành đối với thời gian quá hạn. - Thanh toán trước hạn: Một số ngân hàng không chấp nhận thanh toán trước hạn, một số ngân hang khác thì không những mất số tiền lãi có thể nhận được mà còn bị mất 10% số tiền gốc. Lãi -  Phương pháp điều chỉnh lãi suất: lãi suất cố định hoặc lãi suất được điều chỉnh theo từng thời kỳ. - Cách tính lãi:      Số tiền lãi = Mệnh giá x Lãi suất x Kỳ hạn - Trả lãi: Lãi được trả sau theo mỗi định kỳ 6 tháng hoặc kỳ là bội số của 6 tháng. Ưu nhược điểm của chứng chỉ tiền gửi Ưu điểm - Chứng chỉ tiền gửi là một tài sản đầu tư phi rủi ro vì thường được bảo đảm bởi các chính phủ. Ví dụ: Mỹ, chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng được bảo đảm bởi Cơ quan bảo hiểm tiền gửi liên bang (Federal Deposit Insurance Corporation), còn chứng chỉ tiền gửi do các tổ chức tín dụng phát hành được bảo đảm bởi Hội liên hiệp tín dụng quốc gia (National Credit Union Administration). Cả gốc và lãi đều được bảo đảm trong toàn bộ thời gian đầu tư. Điều này là rất hấp dẫn đối với những nhà đầu tư đang tìm kiếm sự an toàn. - Chứng chỉ tiền gửi thường có lãi suất cao hơn so với các tài khoản tiết kiệm thông thường. Các cá nhân muốn tối đa hóa lợi nhuận khoản tiền tiết kiệm của mình có thể tìm đến với các chứng chỉ tiền gửi, như vậy sẽ tốt hơn so với việc gửi ở tài khoản tiết kiệm hay tham gia thị trường tiền tệ. Ví dụ: Lãi suất một chứng chỉ tiền gửi thời gian đáo hạn 3 tháng thường sẽ cao hơn là lãi suất của một thương phiếu thời hạn 3 tháng trên thị trường tiền tệ. Bạn cũng có thể dùng số tiền khi đáo hạn của chứng chỉ tiền gửi để mua tiếp một chứng chỉ tiền gửi thêm 3 tháng nữa thay vì rút tiền mặt về. - Cùng với việc huy động vốn của tổ chức kinh tế, cá nhân thông qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm, phát hành các loại giấy tờ có giá, trong đó có chứng chỉ tiền gửi đang trở thành một trong những sản phẩm huy động vốn “ưa thích” của các ngân hàng. Bởi vì ngân hàng thu hút được một nguốn lớn để hoạt động và biết trước thời hạn thanh toán cho khách hàng, do đó ngân hàng sẽ yên tâm hơn trong việc sử dụng nguồn vốn. Nhược điểm Nhược điểm lớn nhất của CD là tính thanh khoản của nó không cao bằng tiền gửi ở tài khoản tiết kiệm. CD có hình phạt nếu bạn muốn rút tiền của mình trước khi đáo hạn. Bạn không chỉ bị mất số tiền lãi có thể nhận được mà còn bị mất 10% tài sản gốc của mình. Đây gọi là hình phạt rút sớm cho các nhà đầu tư. Về dài hạn, CD trả lãi suất thấp hơn so với trái phiếu doanh nghiệp. Nếu bạn muốn gửi tiền của mình trong vòng 5 năm, tốt nhất là bạn nên tìm mua một trái phiếu có độ tín nhiệm cao nhất. Dù sẽ không được chính phủ đảm bảo nhưng lãi suất của chúng vẫn cao hơn nhiều so với chứng chỉ tiền gửi. Thuận lợi và hạn chế của chứng chỉ tiền gửi Đối với ngân hàng Ngân hàng yên tâm hơn đối với việc sử dụng số vốn thu được vì ít khách hàng muốn rút lại tiền trước thời gian đáo hạn. Trong trường hợp nếu khách hàng rút lại tiền trước thời hạn thì ngân hàng không phải trả lãi trước đó mà còn thu được một số tiền đền bù của khách hàng. Tiền lãi phải trả cho khách hàng đối với chứng chỉ tiền gửi cao hơn so với gửi tiết kiệm. Đối với người gửi So với tiết kiệm tính an toàn của nó cũng không kém trong khi lãi suất lại cao hơn. Vì thế, đối với những người có số vốn mà không sử dụng trong lâu dài thì nên mua chứng chỉ tiền gửi hơn là gửi tiết kiệm. Nhưng cần tính toán kỹ khi mua. Theo trợ lý đầu tư của một ngân hàng thương mại cổ phần, về lý thuyết, người mua chứng chỉ tiền gửi không được thanh toán trước hạn và vì thế, ngân hàng sẽ “yên tâm” hơn trong kế hoạch sử dụng nguồn vốn. Nếu có nhu cầu về vốn mà giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán, người mua chỉ có thể “cầm cố” giấy tờ có giá này để vay vốn và tất nhiên, lãi suất cho vay lại sẽ cao hơn lãi suất mà ngân hàng trả cho người mua. Như vậy, lợi tức cao của giấy tờ có giá sẽ giảm đi rất nhiều nếu khách hàng thực hiện việc “cầm cố”. Chẳng hạn trong thể lệ của đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi này, Sacombank quy định, nếu khách hàng có nhu cầu sử dụng vốn trước thời gian đáo hạn thì khách hàng có thể chiết khấu hoặc cầm cố chứng chỉ tiền gửi để vay lại. Khách hàng được chiết khấu khi đã nắm giữ chứng chỉ tiền gửi tối thiểu 1/2 thời gian kể từ ngày phát hành và thời gian chiết khấu là thời hạn còn lại của chứng chỉ tiền gửi được. Trường hợp khách hàng cầm cố chứng chỉ tiền gửi, tỷ lệ cho vay/mệnh giá chứng chỉ tiền gửi sẽ được tính theo quy định của Sacombank về cho vay cầm cố. Thậm chí, khi ngân hàng “ưu đãi” cho phép khách hàng chủ động nguồn vốn đột xuất bằng cách thanh toán trước hạn thì mức lãi suất mà khách hàng được hưởng cũng không hề hấp dẫn. Như trong quy định phát hành chứng chỉ tiền gửi của một ngân hàng lớn, lãi suất thanh toán trước hạn được căn cứ vào thời gian thực gửi, cụ thể: dưới 1 tháng hưởng lãi suất không kỳ hạn; từ 1 - 3 tháng lãi suất bằng 45% lãi suất cam kết; từ 3 - 6 tháng bằng 50% lãi suất cam kết; từ 6 - 9 tháng bằng 60% lãi suất cam kết và từ 9-12 tháng bằng 70% lãi suất cam kết. Bởi vậy, theo bà trợ lý trên, mặc dù có lãi suất cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm cùng kỳ hạn, nhưng người mua cần tính toán kỹ, chỉ nên mua khi đã kế hoạch hóa được việc sử dụng vốn của mình. Đặc biệt, người mua nên nắm rõ mức lãi suất cho vay nếu ngân hàng quy định chỉ có thể rút vốn bằng cách cầm cố giấy tờ có giá để vay lại tiền hoặc mức lãi suất thanh toán trước hạn nếu được phép thanh toán trước. So sánh chứng chỉ tiền gửi và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Giống nhau - Ở cả hai hình thức, Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng. Sau khi hết kỳ hạn, ngân hàng có nghĩa vụ trả cho khách hàng tiền gốc và tiền lãi (tiền lãi này tương ứng với thời hạn gửi). - Lãi suất không thay đổi trong suốt thời gian gửi. - Các mức lãi suất thay đổi theo từng thời hạn gửi: 1,3, 6 tháng… - Đều là hình thức tiết kiệm an toàn. Khác nhau - Ưu điểm của chứng chỉ tiền gửi so với gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Chứng chỉ tiền gửi là một công cụ huy động vốn mới so với huy động tiền gửi tiết kiệm vốn đã quen thuộc từ lâu. Có thể nói tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là một nguồn vốn bảo đảm thường xuyên của ngân hàng, người tiết kiệm có thể gửi tiền vào ngân hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong năm. Trong khi đó chứng chỉ tiền gửi (thường là ngắn hạn) chỉ được ngân hàng phát hành theo từng đợt, một đợt kéo dài khoảng 2 tháng, do nhu cầu vốn đặc biệt của ngân hàng hay do nhu cầu cạnh tranh vốn giữa các ngân hàng với nhau. Do đó trong mỗi đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi, để thu hút được sự chú ý của khách hàng cũng như tăng thêm tính hấp dẫn của CDs, nâng cao hiệu quả của đợt phát hành, các ngân hàng thường phát hành chứng chỉ tiền gửi kèm với một số ưu đãi cũng như lợi ích hơn hẳn so với tiền gửi tiết kiệm như sau: Lãi suất hấp dẫn: Lãi suất chứng chỉ tiền gửi thường cao hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm có cùng kỳ hạn. VD: Chứng chỉ tiền gửi dài hạn của Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam BIDV phát hành đợt I/2009 có lãi suât đối với các chứng chỉ trên 1 năm là 8,2-8,6%/năm; trong khi đó lãi suất tiền gửi có kỳ hạn của ngân hàng này tại cùng thời điểm với cùng kỳ hạn là 7,8-8,4%/năm. Ngân hàng TMCP quân đội MB, đợt phát hành đầu tháng 8 vừa qua mức lãi suất của chứng chỉ tiền gửi cao hơn lãi suất tiền gửi thông thường từ 0,05 – 0,15%. Trong trường hợp lãi suất chứng chỉ tiền gửi có cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thì các ngân hàng lại đưa ra các hình thức khuyến mãi, bốc thăm trúng thưởng thu hút không ít khách hàng mua chứng chỉ tiền gửi. VD: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) ngày 20.8.09 phát hành “chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn dự thưởng 2009” tại hơn 2.000 chi nhánh trên toàn quốc. Mệnh giá tối thiểu 1 triệu đồng, kỳ hạn gửi năm tháng lãi suất 8%/năm, bảy tháng 8,3%, 12 tháng lãi 8,6%. Tại phòng giao dịch Agribank Lê Lợi, sau khi so sánh thấy mức lãi suất chứng chỉ tiền gửi dự thưởng kỳ hạn 5 – 7 tháng chỉ 8 – 8,3%/năm, trong khi lãi suất tiết kiệm thông thường ngân hàng áp dụng cho kỳ hạn sáu tháng lên đến 8,4%/năm, một số khách hàng đã chọn cách gửi thông thường. “Tuy nhiên, không ít người tỏ ra quan tâm đến chương trình quay số trúng thưởng và đã chấp nhận mức lãi suất thấp hơn để nhận phiếu dự thưởng”. - Hạn chế của chứng chỉ tiền gửi Cũng như tiền gửi có kỳ hạn, chứng chỉ tiền gửi sẽ được Ngân hàng lên kế hoạch sử dụng theo thời hạn đã định. Do đó nếu khách hàng có nhu cầu về vốn khi chứng chỉ tiền gửi chưa đáo hạn thì: + Hoặc khách hàng phải cầm cố “giấy tờ có giá” này để vay vốn và tất nhiên, lãi suất cho vay lại sẽ cao hơn lãi suất mà ngân hàng trả cho người mua. Như vậy, lợi tức cao của giấy tờ có giá sẽ giảm đi rất nhiều nếu khách hàng thực hiện việc “cầm cố”. + Hoặc nếu ngân hàng cho phép thì khách hàng được quyền thanh toán trước hạn với lãi suất bị giảm đi đáng kể: VD: BIDV, đợt phát hành chứng chỉ tiền gửi đợt II/2009, cho phép người mua được thanh toán trước hạn với lãi suất rút trước hạn căn cứ thời gian thực gửi như sau: Có thể thấy theo cách nào thì người mua nếu có nhu cầu vốn trước hạn đều không được hưởng mức lãi cao như ban đầu, ngược lại lãi thu được còn thấp hơn gửi có kỳ hạn. Do đó mặc dù có lãi suất cao hơn lãi suất gửi tiết kiệm cùng kỳ hạn, nhưng người mua cần tính toán kỹ, chỉ nên mua khi đã kế hoạch hoá được việc sử dụng vốn của mình. Đặc biệt, người mua nên nắm rõ mức lãi suất cho vay nếu ngân hàng quy định chỉ có thể rút vốn bằng cách cầm cố giấy tờ có giá để vay lại tiền hoặc mức lãi suất thanh toán trước hạn nếu được phép thanh toán trước. CHƯƠNG 3: THƯƠNG PHIẾU Cơ sở ra đời Trong thực tế, do có sự khác biệt về chu kỳ sản xuất – kinh doanh giữa các doanh nghiệp, việc thừa vốn ở doanh nghiệp này và thiếu vốn ở doanh nghiệp khác là hiện tượng phổ biến và có tính tất yếu. Trong điều kiện thành phẩm của doanh nghiệp thừa vốn lại là nguyên, nhiên, vật liệu của doanh nghiệp thiếu vốn, nếu quan hệ mua bán chịu được thực hiện trong một thời hạn nhất định thì cả hai đều có lợi. Đó chính là quan hệ tín dụng thương mại.  Để đảm bảo người mua chịu trả nợ khi đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng, người bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy chứng nhận quan hệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ nợ lập để đòi tiền, hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là “kỳ phiếu thương mại” hay “thương phiếu”.  Khái niệm Thương phiếu là chứng chỉ có giá ghi nhận lệnh yêu cầu thanh toán hoặc cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định trong một thời gian nhất định. Thương phiếu gồm hối phiếu và lệnh phiếu. Hình thức Thương phiếu tồn tại dưới 2 hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu. Hối phiếu Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng. Nội dung: Hối phiếu phải có đầy đủ các nội dung sau đây: Từ “Hối phiếu” được ghi trên mặt trước của hối phiếu. Lệnh yêu cầu thanh toán không điều kiện một số tiền xác định. Thời hạn thanh toán hối phiếu. Địa điểm thanh toán hối phiếu. Tên và địa chỉ của người bị ký phát. Tên và địa chỉ của người thụ hưởng. Địa điểm và ngày ký phát hành. Tên, địa chỉ và chữ ký của người ký phát. Hối phiếu thiếu một trong các nội dung trên thì không có giá trị. Lệnh phiếu 3.3.2.1: Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người phát hành lập, cam kết thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng. 3.3.2.2. Nội dung: Lệnh phiếu phải có đầy đủ các nội dung sau đây: - Từ “Lệnh phiếu” được ghi trên mặt trước của lệnh phiếu. - Cam kết chi trả không điều kiện một số tiền xác định. - Thời hạn thanh toán lệnh phiếu. - Địa điểm thanh toán lệnh phiếu. - Tên và địa điểm của người thụ hưởng. - Địa điểm và ngày ký phát hành. - Tên, địa chỉ và chữ ký của người phát hành. Lệnh phiếu thiếu một trong các nội dung quy định tại khoản 1 điều này không có giá trị. Tính chất: Thương phiếu có 3 tính chất: - Tính trừu tượng: Trên thương phiếu không ghi cụ thể nguyên nhân phát sinh khoản nợ mà chỉ ghi các thông tin về số tiền phải trả, thời hạn trả tiền và người trả tiền. - Tính bắt buộc: Qui định người trả tiền phải thanh toán cho người thụ hưởng đúng hạn, không được phép từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền. - Tính lưu thông: Thương phiếu được chuyển nhượng từ người thụ hưởng sang người khác bằng phương pháp ký hậu, nó có thể chuyển hoá ra tiền khi mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố. Tính chất này khiến thương phiếu trở thành một loại phương tiện thanh toán thay cho tiền trong thời gian hiệu lực và mệnh giá thương phiếu.  Ích lợi và nhược điểm: Ích lợi: - Nhờ vào tính chất lưu thông, thương phiếu đã trở thành một công cụ lưu thông tín dụng thay thế tiền mặt, tiết kiệm tiền mặt và góp phần ổn định tiền tệ,  - Nó còn là một cơ sở pháp lý trong quan hệ mua bán chịu, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể trong tín dụng thương mại, loại bỏ được tình trạng nợ nần dây dưa giữa các doanh nghiệp.  - Thương phiếu là loại tài sản đảm bảo chắc chắn khi ngân hàng nhận chiết khấu hay nhận cho vay cầm cố. Hơn thế nữa, tài sản đảm bảo này lại có tính thanh khoản cao vì ngân hàng có thể mang đi tái chiết khấu hoặc tái cầm cố tại Ngân hàng Nhà nước để khôi phục nguồn vốn của mình.  - Thương phiếu bổ sung hàng hoá cho thị trường mở, tạo điều kiện cho ngân hàng trung ương thực hiện tốt công tác điều hoà khối tiền trong lưu thông.  - Trong trường hợp người đi vay vốn ngân hàng nhận nợ bằng lệnh phiếu, khi cần thiết, ngân hàng có thể bán khoản nợ này để thu nợ trước hạn bằng cách chuyển nhượng lệnh phiếu cho ngân hàng khác. Đây là một giải pháp chứng khoán hoá các khoản cho vay của ngân hàng.  - Thông qua nghiệp vụ bảo lãnh và thu hộ thương phiếu, sẽ giúp ngân hàng tăng thu nhập nhưng không tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình Nhược điểm - Do tính trừu tượng của thương phiếu, sẽ dẫn đến tình trạng hai doanh nghiệp thông đồng nhau lập ra thương phiếu khống (thương phiếu không phát sinh từ quan hệ mua bán chịu) để mang đến ngân hàng xin chiết khấu hoặc cầm cố. Chính điều này đã làm cho cơ sở đảm bảo của thương phiếu là tín dụng hàng hoá không thể tồn tại, số tiền cho vay được ngân hàng phát ra không có cơ sở đảm bảo.  - Với những nhược điểm sẵn có của tín dụng thương mại, khó có thể mở rộng qui mô (khối lượng) và thời gian mua bán chịu hàng hoá trong trường hợp nhu cầu mua chịu quá lớn và thời gian quá lâu. Quan hệ mua bán chịu này chỉ có thể phát sinh giữa những doanh nghiệp tín nhiệm, có giao dịch thường xuyên với nhau. Thực trạng thương phiếu ở Việt Nam Do tín dụng thương mại tồn tại song song với tín dụng ngân hàng nên những khiếm khuyết nêu trên của tín dụng thương mại và của sự vận dụng thương phiếu sẽ giảm đến mức xem như không đáng kể.  Những ích lợi kinh tế nêu trên khi đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế thì đã quá rõ, thế nhưng trong thời gian qua, thương phiếu và các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu vẫn chưa đi vào đời sống kinh tế ở Việt Nam vì những lý do chủ yếu như sau:   - Các chủ thể tham gia vào nghiệp vụ thương phiếu (Người bán chịu hàng hoá, người được chuyển nhượng thương phiếu, ngân hàng bảo lãnh…) chưa thật sự có lòng tin đối với thương phiếu và khả năng chuyển hoá ra tiền của thương phiếu khi đến hạn.  - Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có những thông tư hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu, chưa ban hành mẫu biểu cụ thể cho thương phiếu để nó có thể trở thành một công cụ lưu thông tín dụng pháp định có thể thay thế cho tiền mặt trong lưu thông  - Pháp lệnh thương phiếu vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng nên tính khả thi vẫn còn kém.  Những giải pháp để đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế ở Việt Nam trong thời gian trước mắt:  Nhanh chóng tạo dựng một hành lang pháp lý cho sự tồn tại và cho việc thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu được an toàn và thuận lợi. Mặc dù Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh thương phiếu có hiệu lực thi hành từ ngày 1.7.2000 và Chính Phủ đã ban hành nghị định 32/2001/NĐ -CP ngày 5.7.2001 hướng dẫn thi hành pháp lệnh trên nhưng vẫn còn nhiều bất cập như chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế…  Tổ chức tuyên truyền, phổ biến, thảo luận về thương phiếu và ích lợi của thương phiếu đến các doanh nghiệp, là những chủ thể chủ yếu trong quan hệ thương phiếu.  Nâng cao hiệu lực hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) dể có thể cung cấp chính xác và kịp thời năng lực chi trả, uy tín của các doanh nghiệp có nghĩa vụ thanh toán thương phiếu, đảm bảo quyền lợi của người thụ hưởng.  Trong thời gian đầu Nhà nước cần có những ưu đãi hợp lý cho các doanh nghiệp cũng như các Tổ chức tín dụng có tham gia vào quan hệ thương phiếu.  Ngân hàng Nhà nước phải gấp rút ban hành các thông tư hướng dẫn để các ngân hàng có thể mạnh dạn thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thương phiếu như bảo lãnh, chiết khấu và cầm cố thương phiếu. Ngân hàng Nhà nước cũng phải nhanh chóng ban hành mẫu biểu cho thương phiếu, ban hành luật về các công cụ chuyển nhượng…   Đó chỉ là một số giải pháp cơ bản được đưa ra, tuy nhiên, nếu thực hiện được, thì việc đưa thương phiếu vào đời sống kinh tế ở Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành hiện thực. Chiết khấu thương phiếu Thương phiếu không phải là tiền vì cần phải chờ tới ngày đáo hạn người thụ hưởng mới nhận được tiền, trong khi đó tiền bán chịu chính là doanh thu của doanh nghiệp cho nên nó cần phải quay vòng nhanh để doanh nghiệp trang trải chi phí và hoạt động bình thường. Khi doanh nghiệp cần vốn mà tờ thương phiếu lại chưa đến hạn thanh toán thì doanh nghiệp có thể nhờ ngân hàng chiết khấu tờ thương phiếu đó để có tiền sử dụng vào sản xuất. Khái niệm Chiết khấu thương phiếu là một hình thức tín dụng của ngân hàng thương mại, thực hiện bằng việc ngân hàng mua lại thương phiếu chưa đáo hạn của khách hàng. Đặc điểm của nghiệp vụ tín dụng này là khoản lãi phải trả ngay khi nhận vốn. Do đó, khoản lợi tức này sẽ được khấu trừ ngay tại thời điểm chiết khấu. Ý nghĩa 3.7.2.1. Đối với người sở hữu thương phiếu Giúp cho họ có tiền để đáp ứng nhu cầu thanh toán, biến các thương phiếu chưa đến hạn thanh toán trở thành các phương tiện lưu thông, phương tiện thanh toán. 3.7.2.2. Đối với ngân hàng - Chiết khấu thương phiếu là nghiệp vụ tín dụng có đảm bảo mà tài sản đảm bảo là các tài sản có tính thanh khoản cao. Vì vậy, nghiệp vụ này vừa tạo ra tài sản sinh lời cho ngân hàng vừa tạo ra một lực lượng dự trữ để sẵn sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán. - Khi ngân hàng thực hiện nghiệp vụ này mang lại một số lợi ích cơ bản như sau: + Đối với ngân hàng: Đây là một nghiệp vụ cấp tín dụng khá an toàn do: Tính thanh khoản của thương phiếu cao (ngắn hạn, dễ chuyển đổi), nên ngân hàng có thể chủ động sử dụng khi nắm giữ thương phiếu, không bị ứ đọng vốn lâu. Theo luật thì ngân hàng có quyền truy đòi tất cả các đối tượng có mặt trên tấm thương phiếu (kể cả người đã chuyển nhượng thương phiếu đó)chứ không riêng gì người có trách nhiệm chi trả ghi trong thương phiếu (chiết khấu có truy đòi). Do đó rủi ro tín dụng sẽ thấp đi do có nhiếu người phải chịu trách nhiệm trả nợ hơn. Về mặt quản trị ngân thì đây là một dạng dự trữ thứ cấp khá tốt vừa đảm bảo thanh khoản lại vừa sinh lãi ở mức chấp nhận được. + Đối với doanh nghiệp: Đảm bảo nguồn vốn kết hợp kinh doanh bình thường: Thương phiếu không phải là tiền vì cần phải chờ tới ngày đáo hạn người thụ hưởng mới nhận được tiền, trong khi đó tiền bán chịu chính là doanh thu của doanh nghiệp cho nên nó cần phải quay vòng nhanh để doanh nghiệp trang trải chi phí và hoạt động bình thường. Khi doanh nghiệp cần vốn mà tờ thương phiếu lại chưa đến hạn thanh toán thì doanh nghiệp có thể nhờ ngân hàng chiết khấu tờ thương phiếu đó để có tiền sử dụng vào sản xuất. Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng quan hệ tín dụng thương mại giữa các doanh nghiệp: Vì giờ đây với nghiệp vụ CKTP của ngân hàng doanh nghiệp sẵn lòng bán chịu hơn do có thể chiết khấu nhận được tiền trước ngày đáo hạn tờ thương phiếu khi cần tiền, chứ không cần giữ mãi tờ thương phiếu đó. Nghiệp vụ CKTP giúp gia tăng khả năng tiếp cận nguồn vốn ngân hàng cho các doanh nghiệp nhỏ. Có điều này là do khi ngân hàng chiết khấu thương phiếu thì người thanh toán thương phiếu mới chính là đối tượng chủ yếu mà ngân hàng quan tâm khi cấp tín dụng, mặc dù chính chủ nợ, hay người thụ hưởng mới là người mang thương phiếu đi chiết khấu. Cho nên nếu người thanh toán là công ty lớn, hoạt động hiệu quả thì sẽ dễ dàng được ngân hàng chấp nhận chiết khấu. Ví dụ như: Nếu một công ty ABC (rất nhỏ, chưa danh tiếng) bán chịu một lô hàng cho công ty lớn như công ty sữa Vinamilk và lập một hối phiếu, sau đó Vinamilk ký bảo đảm lên hối phiếu đó. Thì khi công ty ABC mang hối phiếu đó đến ngân hàng để chiết khấu, có thể dựa vào danh tiếng, năng lực hoạt động tốt của Vinamilk thì ngân hàng dễ chấp nhận tờ hối phiếu đó hơn. Và nhờ đó ABC dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn lý tưởng bậc nhất trong nền kinh tế là từ ngân hàng mà không tốn quá nhiều chi phí và thời gian (còn tại sao nói nguồn vốn ngân hàng là nguồn vốn lý tưởng trong nền kinh tế thì chắc là các bạn biết rồi). + Đối với nền kinh tế Cấp tín dụng bằng CKTP là một hình thức cấp tín dụng an toàn cho nền kinh tế vì khi cấp tín dụng bằng chiết khấu thương phiếu sẽ đảm bảo nguyên tắc hàng - tiền do khi tiền tung ra từ ngân hàng thì trong nền kinh tế cũng đã có sẵn một lượng hàng hoá tương ứng đang luân chuyển, do đó giảm thiểu áp lực lạm phát. Cũng cần chú ý rằng hàng hoá mua chịu của doanh nghiệp chủ yếu là nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cho nên, cấp tín dụng bằng hình thức CKTP tạo điều kiện tốt cho sản xuất phát triển gia tăng hàng hoá cho nền kinh tế. Tóm lại, tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu là những loại giấy tờ có giá trị của thị trường tiền tệ. Chúng được phát hành và sử dụng theo những điều luật nhất định về lãi suất, thời hạn. Đây là những hoạt động trao đổi khá an toàn, tính rủi ro thấp, tính thanh khoản cao. Giữa chúng có những khác biệt tương đối về đặc điểm. Tín phiếu kho bạc do chính phủ phát hành để bù đắp thâm hụt tạm thời của ngân sách Nhà nước, tức là nó gắn liền với hoạt động của chính phủ.. Trong khi đó thương phiếu và chứng chỉ tiền gửi thì gần gũi hơn với các cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp. Chứng chỉ tiền gửi thể hiện mối quan hệ tiền tệ giữa các định chế tài chính: ngân hàng, tổ chức tín dụng… với doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức. Còn thương phiếu thực chất là mối quan hệ mua bán chịu giữa các tổ chức, doanh nghiệp thể hiện dưới dạng giấy tờ có giá trị là lệnh phiếu và hối phiếu. Nắm được điều này, mỗi người sẽ biết cách sử dụng nguồn vốn của mình một cách tốt nhất đồng thời có được những kiến thức tổng quát nhất về sự hoạt động của thị trường tiền tệ nói riêng và thị trường tài chính nói chung trong điều kiện kinh tế thị trường như ngày nay. 1.( 2.( 3. Thông tư số 19/2004/TT – Bộ Tài chính, ngày 18 tháng 03 năm 2004. 4.www.sbv.gov.vn. 5. www.kienthuctaichinh.com 6. www.taichinhvietnam.com 7.www.vneconomy.vn

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTín phiếu kho bạc – Chứng chỉ tiền gửi – Thương phiếu.doc
Luận văn liên quan