Tóm tắt Luận văn Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang

Để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá trong thời gian tới, ngày một tốt hơn thì nhất thiết phải có sự thay đổi về cách nhìn nhận về HĐND cũng như công tác giám sát của HĐND. HĐND với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thì hoạt động giám sát của HĐND thành phố là một trong những công cụ hữu hiệu để chống sự lạm quyền, các hành vi vi phạm pháp luật, nghị quyết HĐND của các cơ quan nhà nước ở địa phương, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Chất lượng hoạt động giám sát của HĐND thành phố trên thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có trình độ, năng lực, trách nhiệm của đại biểu HĐND thành phố, năng lực, kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm của TT. HĐND, các Ban HĐND thành phố là yếu tố quyết định. Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của HĐND thành phố theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng. Theo quy luật phát triển, việc tổ chức thực hiện các giải pháp trên không có nghĩa là suôn sẻ mà nó sẽ phát sinh vấn đề mới, đòi hỏi cơ quan, cá nhân thực thi chức năng, nhiệm vụ phải giữ vững định hướng, yêu cầu cơ bản nắm vững nguyên tắc và thực thi đồng bộ những giải pháp chủ yếu đã nêu trong luận văn để nâng cao chất lượng giám sát của HĐND thành phố. Các giải pháp trên phải được thực hiện một cách đồng bộ để phát huy sức mạnh của HĐND, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước ở địa phương ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân./.

pdf26 trang | Chia sẻ: yenxoi77 | Lượt xem: 419 | Lượt tải: 0download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Tóm tắt Luận văn Hoạt động giám sát của hội đồng nhân dân thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
\ BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA NGUYỄN XUÂN KIỆM HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG Chuyên ngành: Quản lý công Mã số: 60340403 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG TP. HỒ CHÍ MINH NĂM 2017 \ Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Bùi Đức Kháng Phản biện 1 : PGS.TS. Bùi Huy Khiên, Học viện Hành chính quốc gia Phản biện 2 : TS. Phan Hải Hồ, Học viện Cán bộ TP. HCM Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng 210 nhà A - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia. Số 10, Đường 3/2, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian: vào hồi 13 giờ 30 phút ngày 19 tháng 7 năm 2017 Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia. 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài (Tính cấp thiết của đề tài) Nhà nước ta là Nhà nước của giai cấp công nhân mà ý chí, nguyện vọng, lợi ích của giai cấp công nhân là thống nhất với ý chí, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân lao động, của dân tộc; sự thống nhất về lợi ích đó dẫn đến sự thống nhất về ý chí và hành động của quần chúng nhân dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) do nhân dân ta xây dựng là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhà nước ta, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nắm giữ và giám sát quyền lực nhà nước, được khẳng định trong Hiến pháp, đó là: “Nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc Hội, HĐND và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Văn kiện Đại hội đại biểu khóa XII của Đảng ta xác định “Tiếp tục hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng bộ máy Nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương,” Trên cơ sở Hiến pháp 2013, Luật chính quyền địa phương quy định: “Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức ở các đơn vị hành chính”. Xét về tính pháp lý, chính quyền địa phương được nhìn nhận trên hai phương diện có quan hệ gắn bó với nhau: (1) Chính quyền địa phương là cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương. (2) Chính quyền địa phương là thiết chế đại diện cho lợi ích, ý chí, nguyện vọng của các cộng đồng dân cư trong phạm vi lãnh thổ. 2 Do đó, vấn đề cải cách, kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước nói chung và hệ thống chính quyền địa phương nói riêng, trong đó đặc biệt HĐND là yêu cầu khách quan và tất yếu. Tại khoản 2, điều 113, Hiến pháp 2013, quy định: “HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND”. Tại sao phải có hoạt động giám sát của HĐND? Do tính chất Hiến định của HĐND và vị trí, vai trò hết sức quan trọng của HĐND là: đại diện ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, thực hiện đúng nguyên tắc quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân; do đó thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những hoạt động quan trọng của HĐND. Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện hiện nay và của thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang: Ưu điểm: Hoạt động của HĐND cấp huyện từng bước đổi mới nội dung và phương thức hoạt động tốt hơn, đảm bảo cho hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND; các yêu cầu chính đáng của cử tri được UBND cùng cấp giải quyết kịp thời, loại bỏ những tiêu cực, tham nhũng trong tổ chức thực hiện quyền lực Nhà nước. Từ đó củng cố niềm tin, thu hút sự quan tâm, theo dõi và tham gia tích cực của cử tri vào các hoạt động giám sát của HĐND. Hạn chế: Việc xây dựng chương trình, cách thức tổ chức giám sát chưa thật sự khoa học; giám sát theo kế hoạch, phương thức, nội dung chưa được đổi mới, khả năng phát hiện vụ việc trong quá trình giám sát của HĐND cấp huyện còn yếu, bên cạnh đó việc đôn đốc các cơ quan chức năng liên quan trong việc thực hiện các kết luận, các kiến nghị sau giám sát của HĐND thiếu tính cương quyết, một số đại biểu làm nhiệm vụ giám sát còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ, 3 chưa có chế tài rõ ràng dẫn đến sau giám sát đâu lại vào đấy, chậm khắc phục. Vai trò của một số đại biểu HĐND trong giám sát còn mờ nhạt, chưa thực sự đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân địa phương. Vậy, hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện hiện nay nói chung và của thành phố Rạch Giá nói riêng còn nhiều hạn chế. Để phát huy hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá trong thời gian tới là một yêu cầu tất yếu. Chính vì lý do này, tôi quyết định chọn và thực hiện đề tài “Hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang thời gian tới” để nghiên cứu và viết luận văn tốt nghiệp. 2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn Những năm gần đây, đã có nhiểu công trình nghiên cứu về hoạt động giám sát và hiệu quả giám sát của Quốc hội, HĐND các cấp; cụ thể của các tác giả sau: Cao Thị Bích Lan, Trần Thị Trà Giang, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Quốc Tuấn, Tô Thanh Tùng, Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Bá Vui. Nhìn chung, các công trình trên đã đi sâu nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND các cấp. Tuy nhiên mỗi công trình nghiên cứu nội dung, lĩnh vực khác nhau, địa phương khác nhau và chưa có đề tài nào nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. 3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở hoạt động thực tiễn của HĐND thành phố Rạch Giá trong những năm qua, các quy định cơ sở pháp lý hiện hành, luận văn đề xuất những giải pháp để HĐND thành phố hoạt động giám sát ngày càng tốt hơn. 3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 4 Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về HĐND và giám sát HĐND cấp huyện. Phân tích đặc điểm, nội dung, vai trò, đối tượng và các hình thức giám sát của HĐND thành phố thuộc tỉnh. Khảo sát thực trạng hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá trong nhiệm kỳ qua. Đề xuất giải pháp tăng cường hoạt động giám sát thời gian tới. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4.1. Đối tƣợng nghiên cứu Hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá khóa X, nhiệm kỳ 2011- 2016. 4.2. Phạm vi nghiên cứu - Các quy định trong Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc Hội và HĐND 2015 và một số văn bản pháp luật có liên quan. - Hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, 2 ban của HĐND, tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND thành phố Rạch Giá. - Thời gian nghiên cứu đánh giá từ năm 2011 đến năm 2016. 5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn 5.1. Cơ sở lý luận Trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vai trò, vị trí, chức năng giám sát của HĐND. 5.2. Cơ sở thực tiễn Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá từ năm 2011- 2016. 5.3. Phƣơng pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin cùng các phương pháp chuyên ngành như: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, khảo sát tổng kết thực tiễn... 5 6. Những đóng góp về khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn 6.1. Những đóng góp về khoa học - Khái quát những nội dung cơ bản về khái niệm, đặc điểm, vai trò và nội dung giám sát của HĐND thành phố. - Góp phần làm rõ hơn cơ sở khoa học về giám sát HĐND thành phố Rạch Giá. - Làm rõ thực trạng hoạt động giám sát và hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá nhiệm kỳ 2011- 2016. - Đề xuất những giải pháp nhằm nâng lên hiệu quả hoạt động giám sát HĐND thành phố Rạch Giá trong thời gian tới. 6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học về chương trình nâng cao hoạt động của HĐND thành phố; dùng để ứng dụng vào hoạt động của HĐND thành phố; dùng cho HĐND quận, huyện, thị xã tham khảo trong hoạt động giám sát. 7. Kết cấu của luận văn Luận văn, ngoài phần mở đầu và kết luận, được bố cục thành 03 chương: Chương I: Cơ sở lý luận về HĐND và hoạt động giám sát của HĐND Chương II: Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nhiệm kỳ 2011- 2016. Chương III: Giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang thời gian tới. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN 1.1. Khái quát chung về Hội đồng nhân dân 1.1.1. Khái niệm Hội đồng nhân dân Theo Điều 113, Hiến pháp 2013 quy định “HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên”. HĐND được tổ chức ở ba cấp: Cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri địa phương bầu ra; Điều 53, Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015, xác định cơ cấu tổ chức của HĐND thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương. Cụ thể: Các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra; thường trực HĐND, gồm: Chủ tịch, hai phó chủ tịch và các ủy viên là trưởng ban của HĐND. Thành lập Ban Pháp chế và Ban Kinh tế - Xã hội. Ban của HĐND gồm có trưởng ban, một phó trưởng ban và các ủy viên. 1.1.2. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân Trong chính quyền địa phương, HĐND được xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Một là, Tính quyền lực nhà nước của HĐND, biểu hiện ở các nội dung sau: trực tiếp thiết lập nên bộ máy nhà nước ở địa phương; thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên địa bàn lãnh thổ đồng thời thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn 7 do cấp trên phân giao. Quyết định của HĐND có tính bắt buộc chung đối với các cơ quan, tổ chức và công dân ở địa phương. Hai là, HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Thể hiện các ở các nội dung sau: HĐND là cơ quan duy nhất do cử tri địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. HĐND là người đại diện cho trí tuệ, tinh thần và sức mạnh của Nhân dân, chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân địa phương, các đại biểu HĐND không còn được Nhân dân tín nhiệm sẽ bị HĐND bãi miễn tư cách đại biểu. 1.1.3. Chức năng của Hội đồng nhân dân Thứ nhất, Chức năng quyết định: Chức năng cơ bản nhất của HĐND là căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên để ra các quyết định về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Thứ hai, Chức năng giám sát: HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động của thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các ban của HĐND cấp mình; giám sát quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới. Chức năng giám sát của HĐND bao giờ cũng gắn liền với chức năng quyết định. Vì vậy, việc nghiên cứu về chức năng giám sát của HĐND cấp huyện là nội dung chính trong luận văn này, qua đó góp phần nâng lên chất lượng và hiệu quả hoạt động của HĐND cấp huyện. 8 1.2. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện 1.2.1. Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện là gì? Có thể nói giám sát là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong đời sống xã hội, nhà nước và trong nghiên cứu khoa học; có nhiều cách hiểu khác nhau về giám sát. Theo Từ điển Tiếng Việt, cách hiểu chung nhất, giám sát là “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ” Tại điểm 1, điều 2, Luật Hoạt động giám sát của Quốc Hội và HĐND 2015. Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý. Giám sát của HĐND cấp huyện có thể hiểu: là việc HĐND, thường trực HĐND, các ban của HĐND, tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cấp huyện, từ đó đưa các kết luận và phương án xử lý phù hợp theo quy định của pháp luật nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế, vi phạm qua đó góp phần bảo đảm pháp chế , kỷ luật, kỷ cương trong quản lý nhà nước ở địa phương, phát huy tiềm năng, xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với tỉnh và cả nước. 1.2.2. Đặc điểm, vai trò giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện - Đặc điểm: 9 Một là, giám sát của HĐND được thực hiện bởi chính HĐND và các cơ quan bên trong của HĐND và đại biểu HĐND; Hai là, hoạt động giám sát của HĐND được thực hiện một cách toàn diện trên phạm vi địa phương, đối tượng giám sát là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, các chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn; Ba là, giám sát của HĐND cấp huyện luôn gắn với đối tượng chịu sự giám sát; Bốn là, Giám sát của HĐND cấp huyện mang tính quyền lực nhà nước Năm là, giám sát của HĐND cấp huyện được tiến hành dựa trên những căn cứ do Hiến pháp, pháp luật quy định. Sáu là, giám sát của HĐND là hoạt động có mục đích, bảo đảm cho hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát được tiến hành đúng pháp luật, nghị quyết của HĐND được thực thi đầy đủ; đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. - Vai trò hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện, gồm: Thứ nhất, Đảm bảo thật sự là cơ quan đại diện cho nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thứ hai, Đảm bảo việc thực hiện Hiếp pháp, pháp luật, Nghị quyết HĐND được chấp hành nghiêm chỉnh trên phạm vi địa phương. Thứ ba, Tăng cường chất lượng của bộ máy chính quyền địa phương. 1.2.3. Chủ thể, đối tƣợng, thẩm quyền giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện - Chủ thể giám sát: HĐND, thường trực HĐND, các ban của HĐND, tổ đại biểu và đại biểu HĐND. - Đối tượng và thẩm quyền giám sát: 10 HĐND: giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các ban của HĐND cấp mình; các quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp. Thường trực HĐND: giám sát hoạt động của UBND, các cơ quan thuộc UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và HĐND cấp dưới; các quyết định của UBND cùng cấp và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp. Các ban HĐND: giúp HĐND giám sát hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Chi cục Thi hành án dân sự cùng cấp; giám sát hoạt động của UBND, các cơ quan thuộc UBND cùng cấp thuộc lĩnh vực ban phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực ban phụ trách. Tổ HĐND: giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương và nghị quyết của HĐND cùng cấp hoặc vấn đề do HĐND, TT. HĐND phân công. Đại biểu HĐND: Đại biểu HĐND chất vấn Chủ tịch UBND, thành viên khác của UBND, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân, thủ trưởng các cơ quan thuộc UBND cùng cấp; trong phạm vị nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương. 1.2.4. Nội dung, hình thức giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện Nội dung giám sát - Giám sát trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền. 11 - Giám sát trên lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường. - Giám sát trên lĩnh vực giáo dục, sự nghiệp văn hóa, thông tin, thể dục thẻ thao, y tế, dân số, việc làm, chính sách ưu đãi người có công, chính sách bảo trợ xã hội, xóa đói giảm nghèo, chính sách dân tộc, tôn giáo. - Giám sát việc thi hành Hiến pháp, pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND thành phố; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp; Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND cấp xã. Tuy nhiên, căn cứ Điều 54, mục 3, chương III, Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015. Nội dung giám sát của HĐND thành phố thuộc tỉnh, ngoài việc thực hiện các nội dung giám sát chung của HĐND cấp huyện, còn bổ sung thêm một số nội dung: - Giám sát việc quy hoạch xây dựng và phát triển đô thị; việc thực hiện các dự án đầu tư công trình đô thị trên địa bàn theo quy định của pháp luật. - Giám sát việc thực hiện cơ chế, chính sách thu hút đầu tư phát triển đô thị; chương trình, kế hoạch xây dựng công trình hạ tầng đô thị, giao thông theo quy định của pháp luật. - Giám sát việc quản lý dân cư và tổ chức đời sống dân cư, bảo đảm trật tự nơi công cộng, cảnh quan đô thị trên địa bàn. Hình thức giám sát: Thứ nhất, Hoạt động giám sát tại kỳ họp. Thứ hai, Hoạt động giám sát giữa hai kỳ họp. 1.3. Một số tiêu chí đánh giá hiệu quả giám sát của Hội đồng nhân dân cấp huyện Ở đây xem xét hiểu tiêu chí theo nghĩa sau: “Tiêu chí là những đặc trưng, dấu hiệu làm cơ sở, căn cứ để nhận biết, 12 xếp loại các sự vật, các khái niệm”; “đặc trưng được hiểu là nét riêng và tiêu biểu, nhờ đó để phân biệt các sự vật, hiện tượng có tính chất riêng khác và tiêu biểu”; “dấu hiệu đó là dấu hiệu để cho biết, chứng tỏ điều gì”. Hiện nay, xác định tiêu chí để đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND, trong đó có HĐND cấp huyện là một việc làm rất khó khăn. Trong phạm vi luận văn này, nêu một số tiêu chí đánh giá hiệu quả giám sát của HĐND cấp huyện như sau: Một là, Tình hình kinh tế - xã hội ở địa phương. Hai là, Tính phù hợp, khả thi của nội dung và phương thức giám sát. Ba là, Kết quả đạt được do tác động của hoạt động giám sát. Bốn là, Năng lực giám sát của HĐND. Năm là, hiệu lực, hiệu quả giám sát của HĐND cấp huyện. Tiểu kết chƣơng 1 Trong chương I, trên cơ sở phân tích nội dung và cấu trúc của các thuật ngữ giám sát; khái niệm HĐND; giám sát của HĐND cấp huyện; tác giả nêu lên được vị trí, vai trò, chức năng, thẩm quyền, chủ thể, đối tượng, nội dung và hình thức giám sát của HĐND cấp huyện. Để làm rõ hơn nữa nội dung và bản chất của quyền giám sát của HĐND tác giả xây dựng các tiêu chí để đánh giá chất lượng hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan nhà nước. 13 CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ - TỈNH KIÊN GIANG NHIỆM KỲ 2011 - 2016 2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội thành phố Rạch Giá ảnh hƣởng đến hoạt động giám sát của HĐND thành phố - Điều kiện tự nhiên: Rạch Giá được hình thành từ năm 1739,... Năm 2005, thành phố Rạch Giá được thành lập với 12 đơn vị hành chính cấp xã. Thành phố Rạch Giá là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Kiên Giang; có bờ biển dài 15 km; phía Đông Nam tiếp giáp huyện Châu Thành; phía Đông - Bắc tiếp giáp huyện Tân Hiệp; phía Tây - Nam giáp vịnh Thái Lan, phía Tây – Bắc là cụm núi ba Hòn: Hòn Đất, Hòn Me và Hòn Sóc thuộc huyện Hòn Đất. - Điều kiện kinh tế - xã hội: Về cơ cấu kinh tế: các ngành dịch vụ chiến 82,69%, công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp chiếm 11,69%, nông nghiệp chiếm 5,62%; thu nhập bình quân đầu người năm 2015 là 69,51 triệu đồng/người/năm (tương đương 3.278 USD), tốc độ tăng trưởng bình quân 10,63%. Hệ thống hạ tầng đô thị cơ bản hoàn thiện; tỷ lệ người dân sử dụng điện lưới quốc gia đạt 100%, sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 98,14%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 0,98%. Về dân tộc, gồm: người Kinh chiếm 87,88%, người Khmer chiếm 6,97%, người Hoa chiếm 5,06%; về tôn giáo: thành phố hầu như có tất cả các tôn giáo hoạt động trên địa bàn; đồng bào có đạo và không có đạo sống đan xen với nhau trong cộng đồng, đoàn kết cùng nhau xây dựng thành phố. Người và đất Rạch Giá đã làm nên những trang sử hào hùng trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Ngày 14 22/8/1998, Chủ tịch Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã quyết định tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho Đảng bộ, quân và dân Rạch Giá. Rạch Giá là điểm đến lý tưởng để du khách dừng chân lưu trú và tham quan các di tích, các khu vui chơi giải trí, hệ thống mua sắm, dịch vụ, siêu thị; sân bay, bến xe, bến cảng, rất thuận lợi để du khách đi đến tham quan các danh lam, thắng cảnh, như: Phú Quốc, Kiên Hải, Hà Tiên, Hòn Đất, U Minh Thượng, 2.2. Cơ cấu tổ chức của Hội đồng nhân dân thành phố Rạch Giá - HĐND thành phố nhiệm kỳ 2011- 2016: được bầu là 40 đại biểu. Trong 40 người trúng cử đại biểu HĐND thành phố, cơ bản đảm bảo hài hòa cơ cấu, trình độ. - Về tổ chức. gồm: 1 chủ tịch; 01 phó chủ tịch; 01 ủy viên thường trực. Gồm hai ban. Ban Kinh tế - xã hội: 7 thành viên; Ban Pháp chế: 7 thành viên; có 10 tổ đại biểu. 1 chuyên viên giúp việc. 2.3. Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Rạch Giá từ năm 2011 - 2016 2.3.1. Hoạt động giám sát tại kỳ họp - Việc xem xét, đánh giá báo cáo, dự thảo nghị quyết tại kỳ họp - Xem xét việc chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp: - Nghe báo cáo về tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và tình hình giải quyết khiếu nại tố cáo của cử tri tại kỳ họp: - Xem xét tính hợp hiến, hợp pháp các văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp: - Lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu. 2.3.2. Hoạt động giám sát ngoài kỳ họp 15 - Giám sát qua tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp HĐND: - Thành lập đoàn giám sát theo các chuyên đề: - Ban Kinh tế - xã hội giám sát việc thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội được tiến hành đều khắp trên tất cả các lĩnh vực thuộc quyền quản lý nhà nước ở địa phương. - Thường trực HĐND và ban Pháp chế của HĐND đã tiến hành giám sát việc thực hiện pháp luật trên địa bàn thành phố. - Giám sát thông qua tiếp công dân định kỳ. - Giám sát thông qua giải quyết khiếu nại tố cáo của công dân. 2.4. Đánh giá hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Rạch Giá trong thời gian qua 2.4.1. Ƣu điểm Trong những năm qua tình hình kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội của thành phố Rạch Giá đã có những chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu hầu hết đều đạt và vượt so với kế hoạch đề ra, đời sống nhân dân ngày càng được nâng lên đáng kể. Hàng năm, HĐND thành phố xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát rất cụ thể và được thông qua bằng nghị quyết. Việc xây dựng chương trình giám sát đã được các đại biểu HĐND thành phố căn cứ vào yêu cầu thực tiễn xã hội và tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc. Nhìn chung hoạt động giám sát của HĐND thành phố thời gian qua đạt nhiều kết quả đáng kể, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Các đại biểu HĐND thật sự đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, có tinh thần trách nhiệm nhất là trong hoạt động giám sát; đã phát huy được vai trò hoạt động của HĐND, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. 2.4.2. Hạn chế, thiếu sót 16 Trong từng kỳ họp, một số cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố chuẩn bị tài liệu có lúc, có nội dung chưa kịp thời; Thời gian dành cho hoạt động xem xét báo cáo và các báo công tác tại kỳ họp chưa nhiều, do đó đại biểu nghiên cứu đánh giá các báo cáo công tác chưa sâu, chưa toàn diện; Việc cung cấp tài liệu và các báo cáo cho Thường trực, các ban và đại biểu HĐND có cố gắng đôi lúc vẫn còn chậm không đảm bảo thời gian cũng như các quy định về gửi tài liệu cho đại biểu HĐND. Vai trò trách nhiệm của số ít đại biểu HĐND chưa cao, chưa tham gia đầy đủ tiếp các cuộc tiếp xúc cử tri theo Luật định; một số tổ đại biểu tổ chức sinh hoạt không theo quy định. Công tác tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri được tổng hợp có hệ thống, những ý kiến giải quyết của các cơ quan thẩm quyền và biện pháp kiến nghị xem xét, xử lý chưa được tiếp thu cao, từ đó một số ý kiến, kiến nghị của cử tri được lặp đi, lặp lại kéo dài trong nhiều kỳ họp, từ đó phần nào cũng ảnh hưởng giảm lòng tin của cử tri vào kết quả tiếp thu, giải quyết. Việc chất vấn của đại biểu được UBND thành phố và một số phòng ban chuyên môn thuộc UBND thành phố trả lời nhưng vẫn còn nhiều trường hợp ý kiến trả lời còn chung chung, chưa cụ thể, còn vòng vo, né tránh. Trong việc chất vấn và trả lời chất vấn là tâm lý nể nang, ngại va chạm, tư tưởng “cấp dưới, cấp trên” của một số đại biểu HĐND. Công tác giám sát sau chất vấn cũng như cách thức tác động đến các đối tượng bị chất vấn còn thụ động; Việc thành lập đoàn giám sát chủ yếu thực hiện theo kế hoạch đã được đề ra, các đợt giám sát đột xuất ít khi được thực hiện. Công tác kiểm tra việc thực hiện kiến nghị sau giám sát còn bỏ ngõ, còn hạn chế trong việc tái giám sát. 17 2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót trong hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Rạch Giá - Một số quy định của pháp luật về tổ chức, hoạt động của HĐND và cơ quan tham mưu giúp việc của HĐND còn chồng chéo, thiếu đồng bộ và chưa đề cao vai trò HĐND thành phố đúng mức. - Việc chọn đại biểu của HĐND thành phố còn theo cơ cấu, dẫn đến chất lượng đại biểu không đồng đều, dẫn đến việc xem xét, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương chất lượng chưa cao. - Cơ sở cho hoạt động giám sát của HĐND nói chung, hoạt động giám sát của HĐND thành phố nói riêng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. - Chưa có nguồn lực đầy đủ phục vụ cho hoạt động của HĐND . - Số lượng đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách còn ít; đa số đại biểu HĐND là kiêm nhiệm nên còn nặng công việc chuyên môn, giành thời gian cho hoạt động HĐND chưa nhiều. Hai ban của HĐND chưa “đủ sức” đi sâu nghiên cứu xem xét một số lĩnh vực quan trọng, như: tài chính ngân sách, xây dựng cơ bản, hoạt động của các cơ quan tư pháp. Do đó, theo dõi, đôn đốc thực hiện kết quả sau giám sát còn hạn chế, nhất là trong việc giải quyết xử lý các kiến nghị các cơ quan chức năng chưa được quan tâm đúng mức như kết luận giám sát của HĐND. - Việc chất vấn và trả lời chất vấn trong các kỳ họp, tuy có thực hiện nhưng vẫn chưa đáp ứng với yêu cầu nguyện vọng của cử tri. - Hoạt động của tổ đại biểu HĐND chất lượng không đều, một số nơi còn mang tính hình thức, chưa tập trung trí tuệ tập thể; đại biểu chưa còn lúng túng trong hoạt động và chưa thực hiện tốt nhiệm vụ của người đại biểu dân cử. 18 2.4.4. Một số bài học rút ra - Đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng là vấn đề có tính nguyên tắc, quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND. - Việc thực hiện nhiệm vụ giám sát của HĐND là nhiệm vụ rộng lớn, liên quan đến nhiều lĩnh vực, phải được tiến hành đồng bộ trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị, gắn với xây dựng và chỉnh đốn Đảng, gắn với cải cách bộ máy cơ quan hành chính nhà nước nói chung. Tạo ra sự ăn khớp và thúc đẩy lẫn nhau giữa hoạt động giám sát và đổi mới cơ chế quản lý nhà nước các cấp. - Hoạt động giám sát của HĐND là công việc nhạy cảm, khó khăn, đòi hỏi các cơ quan chỉ đạo có quan điểm, nguyên tắc nhất quán, có chương trình hành động thiết thực trong từng giai đoạn. - Đổi mới hoạt động giám sát của HĐND thành phố phải được triển khai đồng bộ, coi trọng, khuyến khích những sáng kiến, thử nghiệm của địa phương và cơ sở, xác định được khâu đột phá, tìm ra được động lực cụ thể thúc đẩy các hoạt động giám sát. - Nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của HĐND thành phố phải xuất phát từ thực tiễn các địa phương với đặc điểm, truyền thống, bản sắc văn hóa, tập tục vùng miền. Đồng thời, tăng cường hoạt động nghiên cứu, tham khảo, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm của các cơ quan dân cử các nước, của khu vực về tổ chức và vận dụng thích hợp những kinh nghiệm, những tiến bộ mới trong hoạt động giám sát của cơ quan dân cử địa phương. - Đổi mới hoạt động giám sát được đặt trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị và cải cách bộ máy nhà nước nói chung - Sức ỳ của cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp còn ảnh hưởng khá nặng đến nếp nghĩ, phong cách làm việc của một 19 bộ phận cán bộ, công chức, trong điều kiện còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý nhà nước trong cơ chế mới... - Nâng cao chất lượng các kỳ họp HĐND. - Xây dựng cơ quan tham mưu, giúp việc mạnh (văn phòng), chú trọng bố trí cán bộ, chuyên viên có trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, chuyên sâu giúp việc HĐND thành phố; quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ này. Tăng cường các điều kiện bảo đảm hoạt động của HĐND như kinh phí, cơ sở vật chất, trang thiết bị làm việc cho HĐND, cơ quan giúp việc HĐND. Để HĐND phố hoạt động có hiệu quả thì mỗi đại biểu HĐND phải là người hoạt động có hiệu quả; để đại biểu hoạt động có hiệu quả thì việc bồi dưỡng, trao đổi kinh nghiệm hoạt động cho đại biểu là việc làm cần thiết. - Thường xuyên duy trì mối quan hệ phối hợp giữa HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ và các tổ chức chính trị xã hội thành phố, sự tham gia của cử tri vào hoạt động giám sát của HĐND. Tiểu kết chƣơng 2 Trong chương II, tác giả đã nêu lên được điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội của thành phố Rạch Giá. Cơ cấu tổ chức; thực trạng hoạt động giám sát của HĐND thành phố nhiệm kỳ 2011- 2016: giám sát tại kỳ họp và ngoài kỳ họp; qua đó đánh giá hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá: ưu điểm, hạn chế trong thời gian qua; tác giả cũng đề cập thẳng thắn những nguyên nhân của hạn chế và rút ra được những bài học từ thực tiễn. Vì vậy, cần nghiên cứu tìm ra những nguyên nhân yếu kém và giải pháp phù hợp trong hoạt động giám sát của HĐND thành phố để khắc phục hạn chế trên. 20 CHƢƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG TRONG THỜI GIAN TỚI 3.1. Những dự báo thuận lợi, khó khăn tác động đến công tác giám sát của Hội đồng nhân dân Thành phố 3.1.1. Thuận lợi - Về thể chế: Hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế; mặt khác nhiệm vụ giám sát của HĐND được đã được luật hóa, đó là Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 - Về phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh nhiệm kỳ 2016 - 2020: mục tiêu tổng quát là đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước. Nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Phấn đấu sớm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. 3.1.2. Khó khăn - Hệ thống pháp luật nước ta chưa thật sự ổn định (các Luật), các văn bản quy phạm pháp luật nhiều, đôi lúc còn chồng chéo khó thực hiện trong đời sống xã hội; - Mô hình tăng trưởng còn chưa đủ rõ. Phát triển kinh tế phụ thuộc nhiều vào vốn, tài nguyên, lao động trình độ thấp. Tình hình tranh chấp trên biển Đông giữa nước ta và Trung Quốc còn diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị. - Hiệu quả, hiệu lực quản lý của cơ quan hành chính nhà nước có mặt chưa nghiệm; ý thức của một bộ phận nhân dân trong việc chấp hành theo pháp luật còn hạn chế. 21 3.2. Giải pháp hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố trong thời gian tới 3.3.1. Đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố Rạch Giá Việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của HĐND là yếu tố quyết định HĐND thành phố có thực quyền tại địa phương. Quá trình xây dựng nghị quyết của HĐND thành phố phải bám vào chủ trương của Ban thường vụ Thành ủy Rạch Giá đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. 3.3.2. Tiếp tục nâng cao chất lƣợng đại biểu, phụ cấp trách nhiệm ngƣời đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Đại biểu HĐND không nên nặng về cơ cấu nhất là cơ cấu mang tính hình thức, mà nên coi trọng phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực công tác, tâm huyết với hoạt động của HĐND, có năng lực đóng góp vào hoạt động của HĐND, có điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu. Thực hiện chế độ sinh hoạt định kỳ để nhận xét đánh giá kết quả hoạt động của đại biểu HĐND; làm tốt công tác khen thưởng đối với đại biểu HĐND hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Từng đại biểu cần chủ động nâng cao trình độ, rèn luyện kỹ năng để thực hiện tốt nhiệm vụ theo luật định. Cần tăng thêm hoạt động phí cho đại biểu và có những chính sách để khuyến khích các đại biểu không ngừng nâng cao trình độ, giữ vững phẩm chất của người đại biểu nhân dân, tránh được những tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường. 3.3.3. Phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc; giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân thành phố 22 Hoạt động của các cơ quan dân cử thuộc đối tượng giám sát của Mặt trận các cấp tập trung vào ba lĩnh vực: Hoạt động xây dựng pháp luật; quyết định những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội quan trọng và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của cử tri, nhân dân. 3.3.4. Đổi mới phƣơng thức, nội dung giám sát của Hội đồng nhân dân thành phố tại kỳ họp và giữa hai kỳ họp 3.3.4.1. Đổi mới giám sát tại kỳ họp - Về xem xét các báo cáo tại kỳ họp: - Về chất vấn của đại biểu HĐND thành phố. - Về hoạt động giám sát trong việc giải quyết ý kiến, kiến nghị của cử tri và đơn thư khiếu nại của công dân: - Việc bỏ phiếu tín nhiệm cũng cần được xem xét lại: Cần nghiên cứu hình thức lấy phiếu như thế nào để không gây áp lực cho những người đang làm công việc trong các chức danh do HĐND bầu, việc lấy kết quả tín nhiệm phải xác đúng (vì thực tế có cảm nhận giống như vì quen biết, nể nang nên kết quả chưa phản ánh đúng thực tiễn) và mạnh dạn bãi miễn những chức danh không còn tín nhiệm hoặc tín nhiệm quá thấp. 3.3.4.2. Đổi mới giám sát ngoài kỳ họp - Cần quyết định mục tiêu, nhiệm vụ giám sát. - Thành lập đoàn giám sát theo chương trình, kế hoạch, nâng cao vai trò giám sát của Thường trực HĐND, các ban của HĐND, các tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND thành phố: - Tiếp tục quan tâm đổi mới việc tổ chức tiếp xúc cử tri cả về phương thức lẫn nội dung, tránh tình trạng “cử tri chuyên nghiệp” và phải thực hiện phương châm “Nghe là chính” và thật sự lắng nghe ý kiến của dân. - Giám sát nghị quyết của HĐND thành phố nói chung và nghị quyết chuyên đề nói riêng có vai trò quan trọng, bảo 23 đảm các chính sách ở địa phương do HĐND thành phố ban hành được thực thi có hiệu quả. 3.3.5. Tăng cƣờng trách nhiệm giữa Thƣờng trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong tổ chức tiếp xúc cử tri - Tiếp tục thực hiện tốt mối quan hệ trách nhiệm giữa TT. HĐND - UBND và Ủy ban MTTQ thành phố trong việc tổ chức tiếp xúc cử tri trước và sau kỳ họp HDND thành phố. - Vấn đề khác quan trọng khác nữa đó là chất lượng, số lượng tham gia tiếp xúc cử tri. 3.3.6. Thực hiện nghiêm tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tính độc lập của chính quyền địa phƣơng 3.3.7. Nâng cao trình độ của cơ quan giúp việc, trang bị cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân - Tăng cường và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tham mưu, giúp việc của văn phòng để đảm bảo tốt chức năng tham mưu, phục vụ hoạt động của HĐND. - Đảm bảo các điều kiện tiếp xúc cử tri của đại biểu HĐND và hoạt động giám sát của HĐND. - Cần đáp ứng đầy đủ trang thiết bị làm việc, cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ hoạt động của các Ban. - Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động HĐND thành phố. Tiểu kết chƣơng III Trong chương III, tác giả nêu lên được những dự báo: thuận lợi, khó khăn tác động đến hoạt động giám sát của HĐND; qua đó tác giả cũng đề xuất 7 giải pháp tăng cường hoạt động giám sát của HĐND Thành phố Rạch Giá, trong thời gian tới. 24 KẾT LUẬN Để nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND thành phố Rạch Giá trong thời gian tới, ngày một tốt hơn thì nhất thiết phải có sự thay đổi về cách nhìn nhận về HĐND cũng như công tác giám sát của HĐND. HĐND với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, thì hoạt động giám sát của HĐND thành phố là một trong những công cụ hữu hiệu để chống sự lạm quyền, các hành vi vi phạm pháp luật, nghị quyết HĐND của các cơ quan nhà nước ở địa phương, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Chất lượng hoạt động giám sát của HĐND thành phố trên thực tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có trình độ, năng lực, trách nhiệm của đại biểu HĐND thành phố, năng lực, kinh nghiệm, tinh thần trách nhiệm của TT. HĐND, các Ban HĐND thành phố là yếu tố quyết định. Đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát của HĐND thành phố theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay là vấn đề cấp thiết và có ý nghĩa quan trọng. Theo quy luật phát triển, việc tổ chức thực hiện các giải pháp trên không có nghĩa là suôn sẻ mà nó sẽ phát sinh vấn đề mới, đòi hỏi cơ quan, cá nhân thực thi chức năng, nhiệm vụ phải giữ vững định hướng, yêu cầu cơ bản nắm vững nguyên tắc và thực thi đồng bộ những giải pháp chủ yếu đã nêu trong luận văn để nâng cao chất lượng giám sát của HĐND thành phố. Các giải pháp trên phải được thực hiện một cách đồng bộ để phát huy sức mạnh của HĐND, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước ở địa phương ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân./.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftom_tat_luan_van_hoat_dong_giam_sat_cua_hoi_dong_nhan_dan_th.pdf
Luận văn liên quan