Vận dụng mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư với quy mô vốn đầu tư để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU Phát triển kinh tế bền vững là đích hướng tới của mọi quốc gia trên thế giới hiện nay, dù các quốc gia đó theo những thể chế xã hội khác nhau. Nhưng để phát triển bền vững được, các quốc gia cần phải xây dựng cho mình một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, một nền tảng kinh tế vững chắc. Điều này chỉ có thể thực hiện thông qua đầu tư phát triển vì đầu tư phát triển là phương thức trực tiếp làm gia tăng tài sản của nền kinh tế, tăng tiềm lực cho mỗi quốc gia. Việt Nam từ khi giành độc lập đến nay, luôn kiên định mục tiêu phát triển nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phấn đấu từ nay đến năm 2020, Việt Nam sẽ cơ bản trở thành một nước công nghiệp, nhanh chóng giảm bớt khoảng cách so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam vừa gia nhập WTO sẽ có nhiều cơ hội mà nếu nắm bắt được sẽ đưa đất nước “cất cánh” rất nhanh. Muốn vậy cần phải có một tiềm lực kinh tế vững mạnh. Nhận thức được tầm quan trọng của đầu tư đến phát triển kinh tế, Chính phủ luôn ưu tiên cho các hoạt động đầu tư phát triển. Nhưng để thực hiện được một dự án đầu tư thì không thể không kể đến yếu tố nguồn vốn và các yếu tố khác trực tiếp tác động tới quy mô vốn bởi vốn là yếu tố cần thiết đầu tiên khi thực thi dự án. Nếu kiểm soát vốn tốt thì những trở ngại khác sẽ dần được khắc phục. Để làm rõ hơn về vấn đề này, nhóm kinh tế đầu tư chúng tôi đã quyết định chọn và nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư với quy mô vốn đầu tư. Vận dụng để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam”. Do thời gian nghiên cứu và kiến thức của các thành viên trong nhóm là có hạn nên bài nghiên cứu của chúng tôi còn có những thiếu sót, chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của các bạn đọc và các thầy cô giáo hướng dẫn để bài viết được hoàn thiện hơn. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn! Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LÃI SUẤT, TSLN VÀ QUY MÔ VỐN ĐẦU TƯ A.LÃI SUẤT 1. Khái nệm chung về lãi suất Có nhiều quan điểm khác nhau về lãi suất vốn vay, dưới đây là một số quan điểm hay sử dụng: Theo K.Marx: Lãi suất là một phần giá trị thặng dư mà nhà tư bản sản xuất phải trả cho nhà tư bản tiền tệ vì đã sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học lượng cầu về tài sản: Các nhà kinh tế học về lượng cầu về tài sản chia thế giới tài sản thành hai phần.Phần thứ nhất là tiền mặt, phần thứ hai là những tài sản không phải tiền măt như trái phiếu, cổ phiếu và các hình thức đầu tư tài sản khác Theo quan điểm này lãi suất là chi phí cơ hội cho việc nắm giữ tài sản tài chính tiền mặt, phiếu, hệ vay mượn hoặc cho thuê các dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ cổ phiếu hay các hình thức tài sản khác. Theo quan điểm của ngân hàng thế giới (WB): lãi suất là tỷ lệ phần trăm của tỷ lệ tiền lãi so với tiền vốn. Vậy theo nghĩa chung nhất lãi suất là giá cả của tín dụng – giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau. Khi đến hạn, người ta sẽ phải trả cho người cho vay một khoản tiền dôi ra ngoài số tiền vốn gọi là tiền lãi. Tỷ lệ phần trăm của số tiền lãi trên số tiền vốn gọi là lãi suất. 2. Vai trò của lãi suất Dưới góc độ kinh tế vĩ mô, lãi suất lại là một công cụ điều tiết cho vay kinh tế rất nhạy bén và hiệu quả. Thông qua việc thay đổi mức và cơ cấu lãi suất trong từng thời kỳ nhất định, chính phủ có thể tác động đến quy mô và tỷ trọng các loại vốn đầu tư, do vậy mà có thể tác động đến quá trình điều chỉnh cơ cấu; đến tốc độ tăng trưởng, sản lượng, tỷ lệ thất nghiệp và tình trạng lạm phát trong nước. Hơn thế nữa, trong những điều kiện nhất định của nền kinh tế mở, chính sách lãi suất còn được sử dụng như là một công cụ góp phần điều tiết đối với các luồng vốn đi vào hay đi ra đối với một nước, tác động đến tỷ giá và điều tiết sự ổn định tỷ giá. Điều này không những tác động đến đầu tư phát triển kinh tế mà còn tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và các quan hệ thương mại quốc tế của nước đó đối với nước ngoài. Dưới góc độ kinh tế vi mô: lãi suất là cơ sở để cho các cá nhân cũng như các doanh nghiệp đưa ra các quyết định kinh tế của mình như: chi tiêu hay để dành gửi tiết kiệm; đầu tư số vốn tích luỹ được vào danh mục đầu tư này hay danh mục đầu tư khác Vậy với mức lãi suất cho vay hợp lý, sẽ kích thích các nhà đầu tư vay vốn mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh cho xã hội, tăng thu nhập quốc dân, hạn chế thất nghiệp tăng mức sống của người đó tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển.Và khi nền kinh tế phát triển, thu nhập quốc dân tăng, sẽ tác động trở lại kích thích đầu tư phát triển. Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trương phát triển và theo đuổi chính sách tự do hóa tài chính (financial liberalization), lãi suất được hình thành trên cơ sở thị trường, tức là giữa cung và cầu về vốn trên thị trương quyết định. 3. Các lãi suất cơ bản Mặc dù lãi suất là giá cả của tín dụng nói chung, song chúng ta lại biết rằng tín dụng có thể được thực hiện bằng các hình thức và phương pháp khác nhau, vì vậy mà lãi suất cũng được phân biệt thành các loại khác nhau. Dưới đây là một số loại lãi suất cơ bản. 3.1 Lãi suất đơn Lãi suất đơn là lãi suất được tính đối với những khoản tín dụng thực hiện dưới hình thức vay đơn. Loại tín dụng kiểu này người vay tiền sẽ trả một lần cho người cho vay vào ngày đến hạn trả nợ cả vốn và một khoản tiền phụ thêm chính là tiền lãi. Việc tính lãi suất loại này chỉ đơn giản là lấy số tiền lãi chia cho tổng số vốn vay theo thời gian của khoản tín dụng đó. 3.2 Lãi suất tích họp Lãi suất tích họp là lãi suất có tính đến yếu tố “ lãi mẹ đẻ lãi con”. Lãi suất tích họp được coi là công bằng và chính xác hơn trong việc đo lường lãi suất đối với các món vay dài hạn. Trên thực tế lãi suất tích họp vẫn được tính toán dựa trên cơ sở lãi suất đơn, nhưng do từ năm thứ 2 của thời hạn tín dụng do vốn tín dụng thực tế đã được tích luỹ thêm và lãi suất đơn tính cho các năm sau sẽ lớn hơn năm đầu và “tích họp” lại chúng ta sẽ có một mức lãi suất cho suốt thời kỳ khác với mức lãi suất đơn ban đầu. 3.3 Lãi suất hoàn vốn Đối với các khoản tín dụng mà việc trả vốn và lãi theo định kỳ hoặc trả một khoản cố định theo định kỳ, chẳng hạn trả cố định hoặc trái phiếu coupon thì người ta áp dụng một loại lãi suất gọi là lãi suất hoàn vốn. Đây là lãi suất làm cân bằng giá trị hiện tại của tiền thanh toán nhận được từ một khoản tín dụng với giá trị hôm nay của tín dụng đó. Một trái phiếu cũng là một khoản tín dụng, vì vậy lãi suất hoàn vốn của nó là một tỷ lệ nào đó làm cho giá trị hiện tại của trái phiếu trên thị trường. Như vậy, đo lường lãi suất hoàn vốn là một phép tính ngược từ việc chúng ta cân bằng giá trị hiện tại của số vốn đã đầu tư (cho vay) với giá trị hôm nay của số vốn đó.

doc53 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Lượt xem: 3412 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Vận dụng mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư với quy mô vốn đầu tư để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
h nghiệp. Hình 4: Tỉ trọng đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân trong tổng đầu tư của khu vực doanh nghiệp. Nguồn: Vụ tài sản quốc gia, Tổng cục thống kê. Vốn viện trợ nước ngoài (ODA). ODA là khoản tiền vay của chính phủ nước ngoài hay các tổ chức quốc tế nhằm mục tiêu phát triển kinh tế. Chủ thể đi vay là chính phủ. Khi đi vay vốn ODA, chính phủ Việt Nam phải thực hiện những cam kết (thường là cam kết chính trị) từ các chủ thể cho vay. Do vốn chủ yếu được dùng cho đầu tư công vào cơ sở hạ tầng nền kinh tế nên nguồn vốn này có khá nhiêu ưu đãi. Lãi suất cho vay thường là rất thấp và có những khoản không hoàn lại. Đây là nguồn vốn rất quan trọng vì nó được chính phủ dùng cho đầu tư vào cơ sở hạ tầng, các dự án phát triển nền kinh tế. Tỉ suất lợi nhuận trong khu vực này thường không cao, hiệu quả sử dụng vốn cũng thấp, gây lãng phí thất thoát tài sản. Hàng năm, vốn ODA cam kết của các tổ chức nước ngoài ký với Việt Nam vẫn tăng, năm 2006 vốn cam kết đạt 3.75 tỷ USD, năm 2007 đạt 4.45 tỷ USD, đến năm 2008 đã tăng lên mức kỷ lục 5.426 tỷ USD. Tuy vậy tốc độ giải ngân trong nước lại rất thấp, năm 2006 là 1.8 tỷ, năm 2007 là 2.0 tỷ, dự kiến năm 2008 là 2.2 tỷ USD, chưa kể việc quản lý nguồn vốn khá lỏng lẻo. Mức giải ngân ODA hàng năm chỉ đạt khoảng 70 – 80% kế hoạch đề ra cùng với việc phần lớn các dự án đầu tư đều kéo dài và đạt hiệu quả thấp đã gây thất thoát lãng phí tài sản cho xã hội, lợi nhuận không cao. Hình 5 :Tình hình cam kết và giải ngân ODA từ 1993 – 2007. Nguồn: Vụ hợp tác quốc tế, Bộ kế hoạch và đầu tư. Cần chú ý là từ khi Việt Nam gia nhập WTO, lượng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam càng nhiều là lợi thế nhưng cũng đặt ra nhiêu thách thức trong việc quản lý vĩ mô nền kinh tế. II.ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA LÃI SUẤT ,TỶ SUẤT LỢI NHUẬN VỐN ĐẦU TƯ ĐẾN ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY . 1. Tác động của lãi suất vốn vay tới đầu tư phát triển 2.1. Mô hình kinh tế lượng đánh giá mối quan hệ giữa lãi suất va quy mô vốn đầu tư của các doanh nghiệp. Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Về phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn các nước đã chứng minh, sự thay đổi lãi suất thực sẽ có tác động nhạy cảm đến sản lượng và giá cả. Vì vậy, Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) đã rất coi trọng việc điều tiết lãi suất nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng của chính sách tiền tệ (CSTT) là kiềm chế lạm phát và góp phần tăng trưởng kinh tế. Lãi suất và đầu tư có quan hệ tỷ lệ nghịch, khi lãi suất tăng thì chi phí đầu tăng, quy mô vốn đầu tư sẽ giảm. Và ngược lại khi lãi suất giảm thì quy mô vốn đầu tư sẽ tăng . Vì vậy các quốc gia sử dụng lãi suất là một công cụ mạnh để kích thích đầu tư phát triển . Trước hết ta xét hành vi của doanh nghiệp dưới sự biến động của lãi suất. Ta biết yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi đầu tư của doanh nghiệp là lãi suất thực ,lãi suất danh nghĩa không phải là yếu tố để doanh nghiệp ra quyết định đầu tư. Dưới đây ta sẽ xem xét hành vi đầu tư của doanh nghiệp với lãi suất thực dài hạn. Trong giai đoạn 2000 – 2007, mối quan hệ giữa lãi suất thực ngắn hạn (tiền gửi huy động 3 tháng) với lãi suất thực dài hạn có sự gắn kết chặt chẽ với nhau, biến động cùng xu hướng, sự tăng lên trong lãi suất ngắn hạn có tác động làm tăng lãi suất dài hạn. Điều đó cũng cho thấy yếu tố kỳ vọng về lạm phát cùng xu hướng với sự biến động của lãi suất ngắn hạn (xem đồ thị 6). Đồ thị 3 về mối quan hệ giữa lãi suất thực trung, dài hạn với mức độ đầu tư của toàn xã hội từ năm 2000 - 2006 (thông qua chỉ tiêu vốn đầu tư thực hiện theo giá so sánh). Qua đồ thị cho thấy, lãi suất thực có tác động tương đối rõ đến mức độ đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân hơn là các doanh nghiệp nhà nước với một độ trễ nhất định. Kết quả kiểm định bằng mô hình kinh tế lượng sẽ minh chứng rõ hơn cho nhận định này. Đánh giá tác động của lãi suất đến đầu tư thông qua mô hình hiệu chỉnh, bao gồm các biến sau: - Biến phụ thuộc: mức thay đổi tốc độ tăng đầu tư của khu vực tư nhân (di_pri), mức thay đổi tốc độ tăng đầu tư khu vực nhà nước (di_gov), tính theo giá cố định năm 1986 ; -Biến giải thích: biến lãi suất dài hạn thực (drate_longr), đơn vị %/năm; Mẫu số liệu từ 1990-2006 theo năm. Đánh giá mối quan hệ giữa đầu tư và lãi suất dài hạn thực bằng hai mô hình: Mô hình đánh giá tác động của mức thay đổi lãi suất dài hạn thực drate_longr đến mức thay đổi tốc độ tăng đầu tư khu vực tư nhân di_pri DI_PRI = -1.062687968*DRATE_LONGR(-1) - 1.373099517*DRATE_LONGR(-3) - 1.507964529*ECM1(-1). Kết quả của mô hình cho thấy hệ số của biến drate_longr(-1) có dấu âm phù hợp với lý thuyết kinh tế. Nhìn vào mô hình thấy rằng mức thay đổi lãi suất dài hạn thực tác động đến mức thay đổi tốc độ tăng đầu tư khu vực tư nhân có độ trễ thời gian, cụ thể mô hình này là trễ 1 năm và 3 năm. Mặt khác, hệ số của mức thay đổi lãi suất dài hạn thực trễ 1 năm là -1.062 có nghĩa là khi lãi suất thay đổi 1% thì làm cho tốc độ tăng đầu tư thay đổi 1.062%, mức độ tác động ngược chiều. Dường như, mức thay đổi lãi suất dài hạn thực trễ 3 năm tác động mạnh hơn mức thay đổi lãi suất dài hạn thực trễ 1 năm (1.37%). R2=0.847 có nghĩa là mức thay đổi của lãi suất dài hạn thực giải thích khoảng 84.7% sự biến thiên của mức thay đổi tốc độ tăng đầu tư khu vực tư nhân. Các kiểm định về chất lượng mô hình đều cho chúng ta kết quả mô hình này là một mô hình chấp nhận được. Tương tự chúng ta có mô hình đánh giá tác động của mức thay đổi lãi suất dài hạn thực drate_longr đến mức thay đổi tốc độ tăng đầu tư khu vực Nhà nước di_gov DI_GOR = -1.641768056*DRATE_LONGR(-1) - 1.496818822*ECM2(-1) Kết quả mô hình cũng có ý nghĩa về mặt kinh tế (lãi suất và đầu tư có quan hệ ngược chiều), mức tác động là 1.64%. Khả năng mức thay đổi lãi suất giải thích sự biến thiên của mức thay đổi tốc độ tăng đầu tư khu vực nhà nước khoảng 52%. Các kiểm định mô hình chấp nhận được. Qua kết quả nghiên cứu trên có thể thấy, nhìn chung, lãi suất có tác động ngược chiều với đầu tư, trong đó tác động của lãi suất đến đầu tư của khu vực tư nhân là nhạy cảm hơn đầu tư khu vực Nhà nước. Điều này là do, các doanh nghiệp của Nhà nước được tiếp cận nhiều nguồn vốn ngoài ngân hàng hơn các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân và được hưởng nhiều nguồn vốn ưu đãi với mức lãi suất thấp hơn so với khu vực tư nhân (kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê về nguồn vốn của các DNNN năm 2004-2004, cho kết quả là nguồn vốn vay ngân hàng chỉ chiếm 42% tổng nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp). Mặt khác, trong giai đoạn này, khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh hơn giai đoạn trước (số doanh nghiệp khu vực tư nhân tăng từ 35.004 DN năm 2000 lên 84.003 DN năm 2004 và 123.392 năm 2006, số doanh nghiệp Nhà nước giảm từ mức 5.759 DN năm 2000 xuống còn 4.596 DN năm 2004 và 3.720 năm 2006). Việc tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng của khu vực tư nhân ngày càng thuận lợi hơn. Theo số liệu thống kê của NHNN, dư nợ cho vay doanh nghiệp tư nhân tăng từ mức 55,3% tổng dư nợ năm 2000 lên 68,7% tổng dư nợ năm 2007. Chính sách tiền tệ đã có tác động tương đối rõ nét đến hành vi tiết kiệm, tiêu dùng của cá nhân và đầu tư của doanh nghiệp và phù hợp với lý thuyết, qua đó sẽ có tác động đến tổng cầu của nền kinh tế, đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Vì vậy, việc điều tiết lãi suất của NHNN để tác động đến tăng trưởng và lạm phát trong giai đoạn hội nhập này là rất cần thiết. 2.2. Lãi suất ảnh hưởng tới quy mô đầu tư của toàn bộ nền kinh tế. Lộ trình tự do hóa lãi suất và thực hiện chính sách lãi suất huy động vốn của Viêt Nam chia thành nhiều giai đoạn ,mỗi sự thay đổi của chính sách lãi suất đều dẫn tới sự thay đổi của quy mô vốn đầu tư trong nền kinh tế.Xét quá trình ảnh hưởng của lãi suất tới đầu tư phát triển của Việt Nam từ năm 2000 tới nay. Bắt đầu từ tháng 8/2000 trần lãi suất bắt đầu bị phá bỏ thay thế trần lãi suất bằng một cơ chế mới trong đó lãi suất cho vay ngoại tệ của ngân hàng được điều chỉnh theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố .Từ lúc này các ngân hàng bắt đầu ấn định mức lãi suất trên cơ sở thỏa thuận với khách hàng.Chính sách này có nhiều tích cực nhưng đối tượng nông dân và doanh nghiệp các vùng nông thôn khó tiếp cận được với những khoản vốn vay của ngân hàng bỏi việc đến các vùng nông thôn đòi hỏi chi phí cao trong khi các tổ chức tín dụng lại bị khống chế bởi trần lãi suất cho vay. Do vậy các doanh nghiệp các hộ nông dân phải đi vay với lãi suất gấp 4 lần lãi suất ngân hàng. Do vậy quy mô vốn đầu tư trong nền kinh tế chưa thực sự được mở rộng. Đến tháng 6/2002 lãi suất được tự do hóa hoàn toàn trên cơ sở các ngân hàng tự thẩm định và thương lượng với khách hàng.Với việc chính thức tự do hóa lãi suất thì lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố chỉ có tính chất tham khảo. Lãi suất tiền gửi tiếp tục gia tăng đồng thời lãi suất cho vay của các ngân hàng đã ngay lập tức nhích lên. Các ngân hàng thương mại tùy vào mức độ rủi ro của các dự án vay vốn mà ấn định các mức lãi suất khác nhau. Hoạt động lãi suất phản ánh cung cầu vốn vay trên thi trường. Các đối tượng vay như hộ gia đình, nông dân hay các doanh nghiệp nhỏ không còn bị loại ra khỏi cuộc chơi như trước đây. Trong nền kinh tế nhiều đối tượng hơn được tiếp cận với quy mô vốn của các ngân hàng, do đó quy mô vốn vay của nền kinh tế được mở rộng. Sau khi ngân hàng nhà nước áp dụng tự do hóa lãi suất ta xem xét sự tác động của lãi suất đến đầu tư giai đoạn 2000-2007. Bảng 5 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 Lãi suất cơ bản (%/năm) 7.2 8.0 7.2 7.5 7.5 7.8 8.25 8.3 VĐT/GDP (%) 34.2 35.4 37.2 37.8 38.6 40 41 44 Tốc độ tăng trưởng (%). 6.7 6.9 7.08 7.24 7.79 8.4 8.17 8.5 Tại cuộc họp báo diễn ngày 13/10/2008 .Theo kết quả nghiên cứu và dự báo của viện nghiên cứu và quản lý kinh tế trung ương (CIEM) .tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt nam quy I/2008 là 7.43%,dự báo tốc độ tăng trưởng trong năm nay là 6.7%,cho biết lãi suât cơ bản trong năm nay là 14%, tỷ lệ (VĐT/GDP) là 41.6 %. Qua bảng trên ta nhận thấy một xu hướng rõ nét là khi lãi suât cơ bản giảm, tỷ trọng VĐT/GDP sẽ tăng .Năm 2002 lãi suất cơ bản giảm 0.8% so với 2001 đây là một nguyên nhân kích thích tăng tỷ lệ đầu tư từ 35.4% năm 2001 đến 37.2% năm 2002. Quy mô thu nhập hay những chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước cũng có tác dụng kích thích cầu đầu tư. Và trong điều kiện nước ta hiện nay khi nhu cầu đầu tư phát triển đang gia tăng mạnh mẽ tỷ lệ VĐT/GDP tăng nhanh hay chậm lại và thông thường quy mô đầu tư xét trong một giai đoạn cho ta kết quả tỷ lệ thuận với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Theo thông số lạm phát năm 2003 là 3%, theo các nhà kinh tế thì với mức lãi suất như vậy nền kinh tế Việt Nam đã rơi vào tình trạng thiểu phát. Từ năm 1999 -2003 bình quân tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6.54% ,CPI là 1.44% .CPI/GDP=0.22 lần ,lạm phát thấp đến mức thiểu phát tăng trưởng kinh tế ở mức độ thấp.Nhưng tăng trưởng GDP vẫn đạt 7.24% cao nhất từ năm 1996 là do nhà nứơc đã kích cầu tiêu dùng đúng hướng, chính sách hạ lãi suất từ năm 2002 đã phát huy tác dụng ở giai đoạn này. Từ giữa năm 2004 đến nay cùng xu thế tăng lãi suất của các nền kinh tế lớn trên thế giới, đặc biệt là Mỹ và xu thế kiềm chế lạm phát, lãi suất của các ngân hàng trong nước không ngừng tăng. Từ năm 2005 đến nay ngân hàng nhà nước đã 3 lần tăng một số lãi suất chủ đạo là lãi súât tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu, 2 lần tăng lãi suất cơ bản của đồng Việt Nam.Theo số liêụ của ngân hàng nhà nước, trong năm 2005, lãi suất huy động VNĐ tăng 0.6-1.2%/năm, lãi suất cho vay VNĐ tăng 0.6 % /năm, lãi suất huy động bằng USD tămg 1.2-2.5%/năm và lãi suất cho vay bằng USD tăng 0.7-1.5%/năm so với cuối năm 2004. Trong những tháng cuối năm 2006 lãi suất lãi suất tiền gửi bằng VNĐ của dân cư kỳ hạn 12 tháng lên tới 8.25% đối với NHTM và 8.7% đối với NHCP, lãi suất tiền gửi bằmg USD tăng mạnh và đạt mức xấp xỉ 5% /năm. Lãi suất năm 2007 chính thức khởi tranh giữa các ngân hàng. Mở đầu năm kinh doanh mới, nhiều ngân hàng cổ phần lần lượt điều chỉnh lãi suất huy động, tạo nên một áp lực cạnh tranh mới với những sắc thái mới. Lãi suất thi nhau “phá rào”, Nhiều ngân hàng thương mại đã “phá rào” lãi suất thỏa thuận, bỏ qua nỗ lực “dàn xếp” của các bên thời gian qua. Sau đó với lỗ lực ổn định lãi suất của các ngân hàng, vào tháng 8 lãi suất cơ bản VND tiếp tục ở mức 8,25%/năm. Ngày 31/7, Ngân hàng Nhà nước thông báo lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam đựơc áp dụng từ ngày 1/8 tiếp tục duy trì ở mức 8,25%/năm. Lãi suất tái cấp vốn của Ngân hàng Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng là 6,5%/năm và lãi suất chiết khấu là 4,5%/năm. Như vậy, các mức lãi suất bằng đồng Việt Nam đã được Ngân hàng Nhà nước duy trì ổn định kể từ tháng 12/2005. Tình trạng lãi suất ngân hàng liên tiếp tăng cao đã khiến các doanh nghiêp và các nhà đầu tư co cụm sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn này nền kinh tế đang phát triển theo chiều rộng, nên lợi nhuận /vốn của doanh nghiêp không cao do đó khi lãi suất tăng thì chi phí đầu vào doanh nghiệp cũng tăng cao ,giá thành sản phẩm ngày càng cao trong khi việc tăng giá bán trong bối cảnh lạm phát cao là rất khó khăn. Do vậy điều tất yếu là các doanh nghiệp không muốn mở rộng sản xuất kinh doanh. Đặc biệt ở Việt Nam, trong điều kiện lãi suất tăng, vốn ngân hàng sẽ dồn vào các doanh nghiệp lớn, dự án lớn khu vực doanh nghiệp nhà nước (thường là hiệu quả thấp). Kết quả là các doanh nghiệp nhỏ và vừa càng khó tiếp cận vốn ngân hàng hơn, hiệu quả tối đa hoá đầu tư bị giảm sút. Lạm phát 8,4% trong 7 tháng đầu năm ở Việt Nam là cao so mức trung bình của thế giới và khu vực (2,5%-3,5%). Trong năm 2006 thị trường BĐS lại đang đóng băng, vàng trong cơn bão giá và đồmg USD không ổn định đã khiến các nhà đầu tư chuyển hướng sang kinh doanh chứng khoán,đó cũng là nguyên nhân gián tiếp khiến thị trường chứng khoán “sốt mạnh” trong những năm 2006 và 2007. Năm 2008 lãi suất ngân hàng lại tiếp tục bắt đầu cuộc đua mới. Trước thực trạng lạm phát tăng cao, Chính phủ đã có những biện pháp tài chính, tiền tệ nhằm kiềm chế lạm phát, như: cắt giảm chi tiêu công, nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mua tín phiếu bắt buộc của Ngân hàng nhà nước, khống chế tỷ lệ cho vay, đầu tư chứng khoán, khống chế tăng trưởng tín dụg ở mức 30%, đặc biệt NHNN đã 3 lần liên tiếp tăng lãi suất cơ bản trong nửa đầu năm 2008. Bảng 6 Điều hành lãi suất của NHNN trong 6 tháng đầu năm Đợt 1/2/2008 19/5/2008 11/6/2008 Lãi suất cơ bản % 7.5 11 13 Lãi suất chiết khấu % 8.755 12 14 Lãi suất cho vay % 6 13 15 Nguồn: Ngân hàng nhà nước Với việc qui định lãi suất cơ bản là 14%/năm, được coi là tín hiệu tốt để hút tiền từ lưu thông về, cũng chính là để hạn chế tăng trưởng tín dụng nóng. Theo đó, lãi suất huy động của các NHTM cũng được điều chỉnh tăng lên đến 17% rồi 19% áp dụng cho các kỳ hạn khác nhau, thậm chí có ngân hàng huy động lãi suất qua đêm lên đến hơn 12%. Các đợt điều chỉnh lãi suất này đã có tín hiệu tích cực từ nhiều phía. Đối với các NHTM, lãi suất tăng cao, có điều kiện để huy động vốn của dân cư, giải quyết khó khăn về thanh khoản. Tính đến 31.5.2008, tổng huy động tiền gửi bằng VND của hệ thống ngân hàng tăng 19.3% so với cuối năm 2007. Đối với dân cư, lãi suất tăng cao cũng giúp người dân phần nào bù đắp được lạm phát, đảm bảo lãi suất thực ở mức xấp xỉ tỷ lệ lạm phát, tránh tình trạng lãi suất thực quá âm. Tuy nhiên, khi lãi suất huy động của ngân hàng tăng cao, tất yếu dẫn đến lãi suất cho vay các doanh nghiệp sẽ tăng lên. Nhưng trong ngắn hạn, khó khăn này là không thể tránh khỏi để đảm bảo mục tiêu kiềm chế lạm phát. Về dài hạn, khi chi phí vốn tăng, buộc các doanh nghiệp phải nỗ lực tìm kiếm các dự án khả thi có khả năng sinh lời cao, khi đó tăng hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, tránh tình trạng đầu tư dàn trải, lãng phí. Một điểm đáng chú ý trong thị trường tiền tệ tháng 5 và 6 là lãi suất thay đổi theo tuần có xu hướng tăng. Có thể nói là các NTM đua nhau tăng lãi suất về mức tỷ lệ kèm theo các khuyến mại như thưởng vật chất hoặc quay số trúng thưởng, rút trước hạn vẫn hưởng nguyên lãi theo kỳ hạn tháng hoặc tuần. Hình 8 Diễn biến lãi suất trên thị trường liên ngân hàng 6 tháng đầu năm Nguồn: www.sbv.gov.vn Lãi suất cho vay VND cũng tăng mạnh, tuy nhiên, mức độ biến động của lãi suất cho vay không mạnh như lãi suất huy động. Mức cho vay ngắn hạn phổ biến ở mức 11-13.5% trong tháng 12 năm 2007 đã lên đến 21%/năm trong tháng 6 năm 2008. Một số ngân hàng đã tự ý đưa thêm một loạt các loại phí như phí mua hồ sơ, phí thẩm định, phí giải ngân v.v. làm cho lãi suất thực cho vay lên đến 25% thậm chí 28%. Trước tình thế đó, ngày 12/5/2-2008 NHNN đã ra quyết định khống chế về mức cho vay không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản do NHNN công bố cùng thời kỳ. Sự gia tăng của lãi suất cho vay, ngòai yếu tố tác động của sự gai tăng lãi suất đầu vào, còn chịu tác động không nhỏ của nhu cầu vay vốn cao. Đã nhiều tháng qua,lãi suất tiền gửi tăng mạnh cũng đã kéo việc tăng lãi suất cho vay, hơn nữa việc vay được tiền cũng khó khăn. Điều này đã tác động trực tiếp đến hệ thống các DN đang khát vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh. Theo khảo sát của VCCI, việc tiếp cận vốn của DN được phân bổ như sau: ngân hàng  74%, các quỹ đầu tư 14,89%; TTCK  4,26%. Dù là kênh tiếp cận vốn chủ yếu song tiếp cận ngân hàng là một khó khăn lớn của DN khi mà lãi suất cho vay đã tăng cao đến 21%/năm nhưng số DN thỏa mãn được nhu cầu vay vốn cũng rất ít (10,5%). Mặc dù hơn 1/2 DN có doanh thu và mức tăng trưởng của doanh thu tốt hơn năm 2007 song thực tế chỉ có khoảng 1/4 có lợi nhuận và mức tăng trưởng về lợi nhuận tốt hơn. DN nhỏ và vừa là đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất từ tình hình lãi suất tăng cao như hiện nay. Trong bối cảnh lạm phát, giá vật liệu tăng cao..., nhiều DN đã phải tìm kiếm các giải pháp "thắt lưng buộc bụng”. Đại diện một DN than thở: Cách đây 1 năm, LS chỉ 0,7% - 0,8%/tháng, bây giờ, LS lên đến 1,8%/tháng nhưng nhiều khi vẫn không thể vay được. Đại diện này cho rằng với LS cao như hiện nay thì DN khó tránh khỏi lỗ. Đại diện này khẳng định: Nếu muốn có lãi, chắc DN phải tăng giá bán lên 40%-50% và sẽ chẳng có khách hàng nào chấp nhận mức tăng này.Theo nhận định của các DN thì trong giai đoạn trước mắt, DN chỉ có cách là tự cứu mình,"thắt lưng buộc bụng" bằng cách tiết kiệm triệt để chi phí sản xuất, chi phí quản lý... là những giải pháp tức thời. Bên cạnh đó, cùng với việc đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, thì nhiều DN cũng phải tranh thủ các đối tác lớn nước ngoài để được  trả chậm với mức LS thấp hơn so với lãi vay của NH...Bên cạnh đó, một số DN và nhà thầu đã thực hiện huy động vốn từ tiền nhàn rỗi của CB-CNV và gia đình. Cụ thể với biện pháp này, DN sẽ trả lãi cho người có tiền cao hơn LS gửi, nhưng cũng tận dụng được mức LS phải trả thấp hơn NH. Nhiều Cty kinh doanh địa ốc hoặc kêu gọi các nhà đầu tư thứ cấp góp vốn, hoặc cũng áp dụng hình thức kêu gọi vốn vay tương tự...Việc lãi suất vay vốn NH tăng lên từ khoảng 1,01% lên 1,67% tuy hợp lý nhưng đấy sẽ là chi phí rất lớn đối với các DN, đặc biệt là DN vừa và nhỏ. Mức lãi suất này khiến các DN phải khó khăn lắm mới có thể có được lợi nhuận sau khi trừ hết các chi phí.   Dưới biến động của tình hình lãi suất 6 tháng đầu năm, khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quí I/2008 theo giá thực tế ước tính đạt 105,1 nghìn tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm 2007, bao gồm vốn khu vực Nhà nước là 47,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 45,5% tổng vốn và tăng 14,6%; khu vực ngoài Nhà nước là 30,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 29%, tăng 11,3%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 26,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,5% và tăng 24,1%. Bảng 7: Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quí I/2008 Nghìn tỷ đồng Cơ cấu (%) Quí I/2008 so với quí I/2007(%) TỔNG SỐ 105,1 100,0 115,9 Khu vực Nhà nước 47,8 45,5 114,6 Khu vực ngoài Nhà nước 30,5 29,0 111,3 Kvực có vốn ĐT trực tiếp NN 26,8 25,5 124,1 Nguồn: Tổng cục thống kê Tính đến thời điểm giữa tháng 7 ngân hàng đã bắt đầu rục rịch hạ lãi suất cho vay. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) mới đây là nhà băng đầu tiên công bố giảm lãi suất cho vay. BIDV cho hay, lãi suất áp dụng với các khách hàng của nhà băng này giảm chung 0,2% cho toàn bộ khách hàng. Riêng các doanh nghiệp trong các ngành hàng được ưu tiên về vốn, sẽ được giảm lãi suất 0,6% cho vay ngắn hạn. Các doanh nghiệp này gồm các công ty thực hiện dự án trọng điểm của Chính phủ, các ngành xăng dầu, xi măng, điện, sắt thép, doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng thiết yếu như dược phẩm, lương thực, thực phẩm, nước sạch, vận tải. Theo ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch BIDV, ngân hàng này hạ lãi suất cho vay nhằm chia sẻ khó khăn của doanh nghiệp và khuyến khích các ngành hàng trong ưu tiên phát triển, các ngành tạo ra cân đối vĩ mô lớn cũng như tăng trưởng của nền kinh tế. Qua phân tích trên ta thấy, lãi suất trong nền kinh tế là công cụ kinh tế khá quan trong, làm sao lãi suất phải phù hợp với lãi suất của các nước trên thế giới trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là vấn đề được đặt ra và cần được giải quyết. Tự do hóa lãi suất là một bộ phận quan trọng của tự do hóa tài chính, thực chất của tự do hóa: Tự do hóa lãi suất là việc trao cho thị trường vốn toàn bộ việc xác định lãi suất cân bằng, ngân hàng trung ương chỉ sử dụng các công cụ can thiệp một cách gián tiếp để điều chỉnh cho phù hợp chiến lược và mục tiêu đặt ra trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế. 2. Thực trạng mối quan hệ giữa TSLN VĐT với quy mô VĐT 2.1 Tỉ suất lợi nhuận tác động đến cầu vốn đầu tư TỈ suất lợi nhuận vốn đầu tư có quan hệ tỉ lệ thuận tới đầu tư. Nếu ngành nào có tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư cao thì các nhà đầu tư sẽ đầu tư vào nhiều, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư càng nhiều thì qui mô vốn đầu tư càng lớn. Như vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư chỉ cho ta biết nên đầu tư vào đâu, qui mô vốn đầu tư như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, rất khó xác định được tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư .Do vậy chúng ta sẽ sủ dụng chỉ số ICOR để phân tích mối quan hệ này. ICOR càng thấp phản ánh hiệu quả của một đơn vị vốn đầu tư càng cao. Do vậy ta có thể thông qua ICOR để đánh giá hiệu quả đầu tư ở tầm vĩ mô Bảng 8 Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 ICOR 4.9 5.0 5.25 5.22 4.95 4.54 4.88 4.9 GDP/V ĐT 3.01 2.82 2.68 2.65 2.59 2.61 2.47 2.41 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%) 6.75 6.9 7.1 7.24 7.7 8.4 8.2 8.5 Tính chung ICOR của Việt Nam trong thời kỳ 1991-2007 là 4,86 , cao hơn nhiều so với 2,7 của Đài Loan (trong thời kỳ 1961-1980), 3 của Hàn Quốc (trong thời kỳ 1961- 1980), 3,7 của Indonesia (trong thời kỳ 1981-1995), 4 của Trung Quốc (trong thời kỳ 2001-2006), 4,1 của Thái Lan (trong thời kỳ 1981-1995); cũng cao hơn so với 4,6 của Malaysia (trong thời kỳ 1981-1995). Như vậy hiệu quả vốn đầu tư của Việt Nam vẫn còn thấp. Tuy nhiên hế số ICOR có xu hướng giảm dần nghĩa là giả trị sử dung vốn hay tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư đang tăng dần lên.Từ đó cung kích thích các nhà đầu tư nâng cao qui mô vốn đầu tư. Qui mô vốn đầu tư của giai đoạn 2000 đến 2007 tăng nhanh qua các năm.. Từ 151183 tỉ năm 2000 lên 512700 năm 2007 Lý do là Việt Nam đang có thất thoát trong xây dựng lớn (khoảng 30-35%). Đầu tư nhà nước chiếm trên 50% tổng vốn đầu tư nhưng hiệu quả thấp (ICOR trong khu vực này thậm chí còn lên đến con số 7 ). Vốn đầu tư đang tập trung vào các ngành nghề thâm dụng vốn nhưng cũng chưa phát huy được hiệu quả trong khi lao động thì ít được quan tâm đúng mức. Cần lưu ý kinh nghiệm các nước Đông Á vốn theo đuổi chiến lược phát triển các ngành có hệ số vốn thấp nhưng sử dụng nhiều lao động đã có được những tỉ lệ tăng trưởng kinh tế rất cao, nhưng lại giữ được hệ số ICOR thấp. 2.2. Tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư làm chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư Cơ cấu vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế bao gồm: Thành phần kinh tế nhà nước, thành phần kinh tế ngoài nhà nước, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư của các ngành là khác nhau, người ta sẽ căn cứ vào tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư lợi nhuận cao hay thấp để đầu tư. Bảng 9 Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế. Tổng số Chia ra Kinh tế Nhà nước Kinh tế ngoài nhà nước Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Năm Tỷ đồng 2000 151183 89417 34594 27172 2001 170496 101973 38512 30011 2002 200145 114738 50612 34795 2003 239246 126558 74388 38300 2004 290927 139831 109754 41342 2005 343135 161635 130398 51102 2006 404712 185102 154006 65604 2007 521700 208100 184300 129300 Cơ cấu(%) 2000 100.0 59.1 22.9 18.0 2001 100.0 59.8 22.6 17.6 2002 100.0 57.3 25.3 17.4 2003 100.0 52.9 31.1 16.0 2004 100.0 48.1 37.7 14.2 2005 100.0 47.1 38.0 14.9 2006 100.0 45.7 38.1 16.2 2007 100.0 39.9 35.3 24.8 Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo. Do đó cơ cấu vốn đầu tư của thành phần kinh tế nhà nước chiếm tỉ lệ cao nhất, năm 2000 là 59.1%, năm 2001 là 59.8%, năm 2002 là 57.3%......Tuy nhiên cơ cấu vốn đầu tư theo thành phần kinh tế đã có sự dich chuyển đáng kể. Kinh tế nhà nhà nước có sự gia tăng về vốn đầu tư từ 151183 tỉ năm 2000 lên 512700 năm 2007,qui mô vốn đầu tư đã tăng hơn 3 lần sau 8 năm. Tỉ lệ vốn đầu tư của thành phần kinh tế nhà nước giảm sút từ 59.8% năm 2001 còn 39.9% năm 2007. Trong khi đó thành phần kinh tế ngoại nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có qui mô vốn tăng đáng kể. Hai khu vực này có qui mô vốn đầu tư tăng khoảng 6 lần. Tỉ trọng trong qui mô vốn đầu tư tăng đáng kể, thành phần kinh tế ngoài nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỉ trọng lần lượt là 35.3% và 24.8%. Tại sao lại có sự thay đổi cơ cấu qui mô vốn đầu tư như vậy? Bởi vì các thành phần kinh tế có tỉ suất lợi nhuận khác nhau khiến cho nhà đầu tư quyết định đầu tư vào chỗ nào có tỉ suất lợi nhuận cao hơn. Theo Báo cáo kiểm toán 2005 về kết quả hoạt động năm 2004 thì hầu hết các tổng công ty, tập đoàn kinh tế của Nhà nước có tỷ suất lợi nhuận chỉ là 0,5%.Tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư thấp, nhiều doanh nghiệp đã có tỉ suất lợi nhuận âm trong giai đoạn 2000-2007. Trong khí đó khu vực kinh tế tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài có tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư trung bình đạt 20% è mang lại nhiều lợi nhuận cho nhà đầu tư è nhà đầu tư sẽ tăng cường đầu tư làm cho qui mô vốn đầu tư tăng. Vì vậy sẽ làm chuyển dich cơ cấu vốn đầu tư. 2. Thực trạng mối quan hệ giữa lái suất vốn vay, TSLN VĐT với quy mô VĐT ở Việt Nam Ở phần lý luận đã phân tích mối quan hệ của 3 nhân tố và cho ta kết luận khi lãi suất tiềm vay tăng ( hiệu quả biên của vốn cũng phải tăng để cân bằng) làm giảm cầu về đầu tư, lương vốn đầu tư giảm xuống tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư lại tăng lên và ngược lại Ta có: r ¯ ® I ­ ® RR ¯ Nếu xem xét sự thay đổi tư nguyên nhân tỉ suất lợi nhuậnta có kết luận sau: Nếu tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư làm cho cầu đầu tư tăng làm tăng lãi suất và ngược lại Ta có sơ đồ sau:RR­ ® I ­ ® r ­ RR¯ ® I¯ ® r¯ Vậy thực tế mối quan hệ đó ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra như nào? Chúng ta xem xét dựa trên số liệu thống kê tư năm 2000 Bảng 10 Năm LS cơ bản (%/năm) % tăng giảm LSCB Hệ số ICOR % tăng giảm ICOR Tốc độ tăng vốn đầu tư theo giá thực tế (%) 2000 7.2 - 4,9 - - 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 8 7,2 7,5 7,5 7,8 8.25 8.3 -11 -10 4,17 0 4 5.7 0.61 5,0 5,25 5,22 4,95 4,54 4.88 4.9 2 5 -0,57 -5,17 -8,28 7.49 0.41 12,8 16,8 16,3 18,7 17,9 17.9 28.9 Nguồn niên giám thống kê năm 2007 và tính toán - Xu hướng biến động lượng VĐT được thể hiên qua tốc độ tăng vốn đầu tư(ở đay vốn đầu tư được tính theo giá thực tế. * Phân tích số liệu: Năm 2002 lãi suất cơ bản giảm 10% từ đó có thể kết luận lãi suất tiền vay cũng giảm. Việc giảm lãi suất này làm tăng nhu cầu đầu tư thực tế là tốc độ tăng VĐT theo giá thực tế cao hơn năm trước 16.8% năm 2002 cao hơn mức 12.8% năm 2001. Đầu tư tăng làm tỉ suất lợi nhuận giảm , hiệu quả biên của vốn giảm được biểu hiện thành hệ số ICOR cao hơn năm trước 5.25. - Năm 2003 LSCB tăng 4.17% lãi suất làm tăng tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư (hệ số ICOR giảm nhẹ 5.22). Tốc độ tăng vốn đầu tư giăm tuy nhiên nhu cầu đầu tư vẫn tăng. Năm 2004: Là thời kì lạm phát cao, tỉ lệ 9,5% trong khi lãi suất cơ bản không tăng làm phát sinh kì vọng về tỉ suất lợi nhuận tăng. Lợi nhuận kì vọng tăng, nó như một cú huých đẩy đường cầu đầu tư sang phải. Tốc độ tăng vốn thời kì này đạt 18,7% cao nhất trong 5 năm. Vốn tăng kéo theo lãi suất tăng.hiệu quả sủ dụng vốn tăng , Tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư tăng thể hiện ở hệ số ICOR giảm khá mạnh(4.95%) Năm 2005: Vẫn chịu ảnh hưởng của năm 2004 là lãi suất tăng, lãi suất cơ bản 4%. Trong năm này lãi suất cho vay từ khoảng 15-18%/năm so với mức năm 2004 là 13,18% rõ ràng vẫn chịu tác động của dư âm lạm phất năm 2004. Lãi suất tăng sẽ làm cho nhu cầu đầu tư giảm xuống (Tốc độ tăng vốn đầu tư về kì này là 17.9%) đến điểm lãi suất cân bằng vơí hiệu quả biên của vốn. Hiệu quả vốn đầu tư được nâng cao htông qua hệ số ICOR giảm xuống(4.54). Tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư tăng -Năm 2006:Lãi suất cơ bản tăng mạnh (5.7%) nhưng tốc độ tăng quy mô vốn đầu tư hầu như không đổi (17.9%) so với năm 2005. Do luật doanh nghiệp sửa đổi và có hiệu lực năm 2006, tạo môi trường thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân èquy mô vốn đầu tư tăng mạnh.Khi đó quy mô vốn lại tiếp tục tác động trở lại tới lãi suất làm lãi suất tiếp tục tăng. Hiệu quả biên của vốn giảm mạnh thể hiện qua chỉ số ICOR tăng mạnh (4.88). -Năm 2007:Do lãi suất tăng nhẹ nhưng tốc độ tăng vốn đầu tư tăng mạnh do vẫn theo xu thế năm 2006. Mặt khác trong giai đoạn này, đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI của Vỉệt Nam tăng mạnh. Tý suất lợi nhuận giảm nhẹ thể hiện qua chỉ số ICOR tăng nhẹ( k= 4.9). . Chương III VẬN HÀNH CHÍNH SÁCH ĐẦU TƯ QUA CÔNG CỤ LÃI SUẤT TỶ SUẤT LỢI NHUẬN Ở VIỆT NAM I.GIẢI PHÁP VỀ LÃI SUẤT VÀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH LÃI SUẤT 1. Điều chỉnh lãi suất hợp lý để thúc đẩy đầu tư. Hiện nay nền kinh tế nước ta đang có những bất ổn. Tăng trưởng tín dụng và cung tiền gia tăng trong giai đoạn 2001 – 2006 và tăng đột biến năm 2007. Lạm phát ổn định ở mức một chữ số giai đoạn 2001 – 2006 nhưng tăng lên 12,6% năm 2007. Riêng 5 tháng đầu năm 2008 lạm phát đã tăng 15,96%. Trong 6 tháng đầu năm nay tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại đã chậm lại khoảng 20% và thấp xa so với năm 2007. Trong khi đó huy động tiền gửi tính đến cuối tháng 5 năm 2008 đã tăng 19.5% so với cuối năm 2007. Đây là những chỉ tiêu phù hợp với mục tiêu hạn chế tăng trưởng tín dụng kìm chế lạm phát của chính phủ. Tuy nhiên lãi suất tăng cao là một khó khăn lớn đối với các doanh nghiệp. Thực tế các NHTM và các nhà làm chính sách biết rất rõ điều này nhưng đó là biện pháp cần thiết trong ngân hàng để kiềm chế lạm phát. Tuy nhiên khi lạm phát được kiểm soát ở một mức độ nhất định tất yếu phải điều chỉnh lãi suất và các công cụ khác cho phù hợp. Vì thế yêu cầu lớn nhất lúc này là tín dụng và lãi suất của NHNN cần được điều hành hợp lý để vừa kiểm soát được lạm phát vừa tạo điều kiện cho kinh tế phát triển vừa góp phần ổn định kinh tế vĩ mô. Cần điều hành theo hướng ổn định và giảm dần khi lạm phát được kiềm chế. Những tác động lớn nhất từ tăng lãi suất là chi phí đầu vào của các doanh nghiệp tăng, đẩy giá bán sản phẩm tăng, làm ảnh hưởng đến số đông người có thu nhập thấp, nhưng không hạn chế tiêu dùng của người có thu nhập cao. Trong khi đó, doanh nghiệp vốn có quy mô nhỏ và yếu về tài chính, hoạt động chủ yếu bằng vốn vay ngân hàng. Vì vậy khi lãi suất tăng cao doanh nghiệp không tiếp cận được vốn ngân hàng để sản xuất. Bên cạnh đó lãi suất tăng cao làm giảm đầu tư tư nhân, tăng chi phí vay mượn, làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tình trạng này kéo dài sẽ làm cho nền kinh tế xấu đi, vĩ mô tiếp tục bất ổn, đời sống người lao động bị ảnh hưởng. Để giảm lạm phát nhà nước đã điều chỉnh mức lãi suất cao. Khi lạm phát bước đầu được kìm chế thì cần giảm lãi suất để thúc đẩy đầu tư: Một là: giảm lãi suất huy động vốn Song như vậy thì khó thu hút được tiền gửi khách hàng. Bởi vì trong nhận thức của dư luận, của người gửi tiền là phải đảm bảo lãi suất thực dương, tức là lãi suất tiền gửi tại NHTM phải cao hơn chỉ số CPI. Nếu theo đúng nguyên lý như vậy thì đến tháng 7 năm 2008 đã là 19.78%/năm, lãi suất huy động vốn phải tối thiểu là 20%/năm. Nhưng thực tế hiện nay lãi suất huy động vốn bình quân chỉ có 17%-18.5%/năm, cao nhất cũng chỉ 19%/năm. Một bộ phận người có tiền vẫn chấp nhận gửi tiền vào NHTM. Như vậy theo quan niệm trên thì hiện nay lãi suất tiền gửi đang âm! Do đó hoàn toàn có thể giảm lãi suất huy động vốn trên cơ sở chia sẻ lợi ích giữa người gửi tiền, NHTM và người vay vốn trong điều kiện lạm phát hiện nay. NHTM rõ ràng hiện nay hầu như không có lãi là bao, tức là chấp nhận khoảng cách chênh lệch lãi suất tối thiểu, hoặc tạm thời không có lãi. Người vay vốn rõ ràng khó chấp nhận được mức lãi suất tới 20%/năm và cao hơn, vì hiếm có lĩnh vực kinh doanh nào có lợi nhuận lớn để trả lãi suất vay NHTM cao như vậy! Còn đối với người gửi tiền, cần đổi mới nhận thức về lãi suất thực dương. Đó là quan niệm này tồn tại từ trong thời kỳ bao cấp, giai đoạn bắt đầu công cuộc đổi mới nền kinh tế. Khi đó người ta thường so sánh sự mất giá của đồng tiền Việt Nam với giá vàng và đồng USD. Song đối với vàng hiện nay ít được sử dụng làm phương tiện thanh toán như cách đây 15-20 năm, còn đối với USD, trong một năm qua USD chỉ tăng có 1.36%. Đồng thời quan niệm về lãi suất thực dương còn phải gắn với tăng trưởng chung của nền kinh tế, của lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh. Song hiện nay tăng trưởng kinh tế chỉ đạt khoảng 6.5-7.5%/năm, lợi nhuận sản xuất kinh doanh cũng khó có thể vượt mức bình quân trên 12%/năm. Do đó lãi suất tiền gửi không thể vượt quá lợi nhuận chung của nền kinh tế. Tại Trung Quốc, trong hơn một năm qua lãi suất tiền gửi nhân dân tệ luôn thấp hơn chỉ số lạm phát. Đến cuối tháng2 năm 2008 chỉ số CPI của Trung Quốc tăng 8.7% so với cùng kỳ …tháng 4 năm 2008 là 8.5%, tháng 5-2008 là 7.7%và tháng 6-2008 là7.1%, nhưng lãi suất tiền gửi nhân dân tệ chỉ khoảng 5-6%/năm. Tín phiếu có kỳ hạn 3 năm và 5 năm do bộ tài chính nước này phát hành với lãi suất tương ứng lần lượt là 5.74% và 6.34%/năm, cao hơn lãi suất tiền gửi và thấp hơn lãi suất cho vay của NHTM. Bởi vậy giải pháp này cũng có tính khả thi cao trong điều kiện tốc độ tăng của CPI trong 2 tháng gần đây đã giảm dần; giá vàng và USD đã hạ nhiệt; đồng thời tùy thuộc và đồng thuận chung của các NHTM để không xẩy ra tình trạng NHTM này giảm NHTM kia vẫn giữ nguyên lãi suất huy động vốn. Hai là: tiết kiệm tối đa chi phí của ngân hàng thương mại Giải pháp này các NHTM đang thực hiện quyết liệt, nhưng chỉ có thể đến một giới hạn nhất định. Bởi vì không thể cắt giảm lương của cán bộ, nhân viên trong điều kiện giá tiêu dùng tăng cao. Ba là: ngân hàng nhà nước tăng thêm 1% mức lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc trả cho các ngân hàng thương mại Bốn là: giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Giải pháp này vướng phải một lo ngại là lại làm tăng trưởng tín dụng ở mức cao. Bởi vì tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộclà để hạn chế hệ số nhân tiền, thu hút tiền từ lưu thông về, gián tiếp can thiệp làm giảm sự mở rộng tín dụng của NHTM. Song với định hướng tăng trưởng dư nợ không quá 30% trong năm 2008; các NHTM ngừng cho vay chứng khoán và hạn chế cho vay bất động sản, hạn chế cho vay tiêu dùng; NHNN tăng cường kiểm tra và chính các NHTM cũng kiềm chế tín dụng để bảo đảm an toàn. Nên lo ngại giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc hoàn toàn có thể được mà không lo ngại sẽ dẫn tới tăng trưởng tín dụng. Nên đây là giải pháp có tính khả thi nhất, cho phép giảm đáng kể chi phí cho NHTM, trên cơ sở đó giảm lãi suất cho vay của NHTM đối với khách hàng. 2. phát triển hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng Hiệu quả của các tổ chức tín dụng cũng là hiệu quả từ sản xuất kinh doanh của khách hàng, hiệu quả của nền kinh tế vì vậy cần: Củng cố hoàn thiện và đổi mới hệ thống ngân hàng: Cơ cấu lại hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng theo xu hướng tăng quy mô các ngân hàng quốc doanh ngang tầm với các ngân hàng trong khu vực. Xây dựng một cơ chế liên kết, phối kết hợp các chủ thể tham gia vào thị trường tài chính – tiền tệ. Tạo cho ngân hàng trung ương một vị thế độc lập tương đối để đủ sức kiểm soát sự biến động liên tục của thị trường Chú trọng bồi dưỡng đào tạo lại đội ngũ cán bộ tín dụng đủ sức thực hiện nhiệm vụ. Tăng tỷ trọng cho vay kinh tế tư nhân, tăng tỷ trọng cho vay lĩnh vực nghành có các sản phẩm được đánh giá là có lợi thế so sánh và sức cạnh tranh cao. Quan tâm phát triển quỹ tín dụng nhân dân ở những nơi có điều kiện, có khả năng, phát triển. Trong quản trị và điều hành lãi suất cần đảm bảo tính khoa học và thống nhất trong toàn hệ thống. Cần một ngân hàng trung ương đủ mạnh, với một quyết định thay đổi lãi suất của mình, Ngân hàng Trung ương Mỹ hay Châu Âu đã tác động đến cả nền kinh tế thế giới. Ngân hàng Trung ương Singapore, Thái Lan hay Malaysia tác động ngay lên nền kinh tế của họ, thậm chí có thể ảnh hưởng sang nước láng giềng. Mục tiêu quan trọng nhất của các ngân hàng thương mại là lợi nhuận. Việc chạy đua lãi suất của họ là điều đương nhiên. Những cuộc đua như vậy không thể tránh được bằng thỏa thuận lãi suất. Hơn nữa, làm như vậy sẽ vi phạm luật cạnh tranh. Giải pháp hữu hiệu nhất là nâng cao năng lực và khả năng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước sao cho mỗi khi họ đưa ra các quyết định của mình lập tức có tác động ngay đến nền kinh tế. Một ngân hàng trung ương mạnh có tính độc lập cao so với chính phủ là một trong những nền tảng cơ bản nhưng cũng là công cụ hữu hiệu để giảm thiểu những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường. 3. Giải pháp về cơ chế điều hành lãi suất Đối với Ngân hàng Nhà nước cần tập trung vào một số nhiệm vụ: Kịp thời cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu đối với các tổ chức tín dụng để tăng khả năng thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, góp phần thực hiện được mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2008 và tạo điều kiện cho việc phát triển ổn định của nền kinh tế những năm tiếp theo. Tiếp tục có những giải pháp hỗ trợ cụ thể, phù hợp, trước hết đối với các tổ chức tín dụng nhỏ, chưa đáp ứng đủ các quy định vay tái cấp vốn, tái chiết khấu bình thường, nhằm bảo đảm duy trì và phát triển hoạt động hệ thống ngân hàng một cách an toàn và bền vững. Đồng thời kiểm soát chặt chẽ việc tăng lãi suất huy động vốn của các tổ chức tín dụng này Chủ động điều hành tỷ giá hối đoái với biên độ và bước đi hợp lý, bảo đảm tạo được điều kiện cho thị trường ngoại tệ vận hành ổn định, ngăn ngừa hoạt động đầu cơ ngoại tệ; thường xuyên theo dõi và có những biện pháp quản lý phù hợp các giao dịch ngoại hối, các luồng vốn vào, ra; kịp thời hỗ trợ và chỉ đạo các ngân hàng thương mại đáp ứng đủ nhu cầu ngoại tệ cho các doanh nghiệp nhập khẩu những vật tư, hàng hóa thiết yếu phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Thực hiện cơ chế cạnh tranh hoàn hảo đối với các ngân hàng thương mại, trên nền tảng lãi suất định hướng của ngân hàng trung ương. Các ngân hàng thương mại căn cứ vào diễn biến thực tế của thị trường mà định mức lãi suất phù hợp cho mình. Việc tự do hóa cạnh tranh sẽ dẫn đến sự phân hóa giữa các ngân hàng thương mại song đó là quy luật tất yếu của cơ chế thị trường. Ngoài ra chúng ta cũng phải có biện pháp để hạn chế độc quyền và khuyến khích tạo dựng được vấn đề đạo đức kinh doanh II. GIẢI PHÁP TĂNG HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ, HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN. Sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Nguồn vốn đầu tư từ NSNN luôn có vai trò quan trọng và quyết định trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, là “hạt nhân” để thu hút các nguồn vốn khác cần tham gia đầu tư; yêu cầu đối với nguồn vốn này là phải đảm bảo tính công khai, minh bạch và hiệu quả trong công tác quản lý sử dụng vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước. Hiện nay vấn đề quản lý vốn nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp đang trong tình trạng đầu tư dàn trải, thiếu tập trung, quy mô nhỏ, hiệu quả kinh doanh thấp. Cơ chế quản lý nhà nước đối với các DN chưa đồng bộ, chưa phù hợp với kinh tế thị trường, đặc biệt, chưa có sự tách biệt rõ ràng giữa chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng điều hành hoạt động kinh doanh của các DN; Việc quyết định đầu tư, quản lý vốn nhà nước tại DN được thực hiện bởi nhiều cấp; Cơ chế quản lý phần vốn nhà nước tại DN đã chuyển đổi sở hữu vẫn chậm thay đổi và chưa theo kịp với quy định của Luật Doanh nghiệp; Chưa có tổ chức đầu tư tài chính chuyên nghiệp để thống nhất quản lý vốn nhà nước đầu tư vào các loại hình DN. Tại Hà Nội, một số  dự án được hưởng lượng vốn NSNN lớn, nhưng quá trình thực hiện không đạt hiệu quả. Trong đó phải kể đến dự án Nhà máy xử lý nước thải thuộc Khu đô thị Bắc Thăng Long-Vân Trì (Đông Anh), mặc dù đã hoàn thành, bàn giao từ tháng 10-2005, với giá trị 65,55 tỷ đồng và 1.255 triệu yên Nhật, nhưng hiện chưa thể vận hành?!. Dự án Hạ tầng kỹ thuật xung quanh Hồ Tây theo kế hoạch phải hoàn thành năm 2005, song đến nay một số hạng mục chưa thể triển khai; dự án xây dựng trường Đại học Kinh tế quốc dân, khi thiết kế không tuân thủ tiêu chuẩn xây dựng, gây lãng phí NSNN hàng tỷ đồng… Về thu ngân sách Nhà nước, rà soát, điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi các chính sách thuế hiện hành theo hướng mở rộng đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, giảm mức huy động để khuyến khích phát triển sản xuất và dịch vụ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, trước hết trong năm 2007 sẽ trình Quốc hội ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân. Hoàn thiện quy trình, thủ tục thuế, hải quan phù hợp với quy định của WTO và yêu cầu đơn giản, minh bạch nhằm cải thiện môi trường đầu tư ,kinh doanh. Về chi ngân sách Nhà nước, tiếp tục cơ cấu lại chi ngân sách Nhà nước và tăng cường hiệu quả chi, tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống đường sá, cầu cống; bên cạnh nguồn ngân sách Nhà nước, thực thi các giải pháp tài chính hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển hệ thống điện, nước, xử lý môi trường...; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực, nhất là đào tạo phổ cập tiểu học và trung học, đào tạo nghề; đầu tư cho nghiên cứu khoa học – công nghệ; đầu tư phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn. Để quản lý nguồn NSNN và tăng hiệu quả các dự án đầu tư từ vốn ngân sách cần thắt chặt việc cho vay tại khu vực nhà nước. Với những dự án đầu tư công cộng không thực sự cấp bách và hiệu quả đầu tư còn nghi ngờ, nên cắt bỏ, hoặc tạm hoãn thời hạn thực hiện. loại bỏ các dự án đầu tư không hiệu quả, giãn tiến độ các dự án chưa khởi công hoặc mới khởi công. Giải pháp quan trọng là kiểm soát chặt chẽ việc chi tiêu công, bớt tối đa những khoản chi không hợp lý Cần siết chặt kỷ cương, pháp luật và nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý đầu tư xây dựng để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN. Tăng cường giám sát thông qua các cơ quan dân cử trong quá trình đầu tư xây dựng... Kiến nghị phương án quản lý nguồn vốn ODA, nên quy định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư và người đứng đầu cơ quan quản lý chủ đầu tư. Khi xảy ra sai phạm, cần có biện pháp “mạnh” để răn đe Thắt chặt việc cho vay tại khu vực nhà nước. Nguồn vốn đầu tư từ NSNN luôn có vai trò quan trọng và quyết định trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Vì vậy, nguồn vốn này cần được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Việc giám sát chặt chẽ hoạt động đầu tư từ vốn ngân sách là trách nhiệm của các cơ quan chức năng nhằm bảo đảm sự lành mạnh của nền tài chính quốc gia. Một số lĩnh vực mà khu vực ngoài nhà nước có thể làm được nên để cho các doanh nghiệp cạnh tranh đầu tư tạo hiệu quả kinh tế cao hơn mặt khác tiết kiệm được NSNN để phục vụ các mục đích khác. Để đáp ứng yêu cầu hội nhập, đòi hỏi phải tạo sân chơi bình đẳng giữa các DN thuộc mọi thành phần kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh, xóa bỏ mọi hình thức bao cấp của Nhà nước, đảm bảo việc ra quyết định kinh doanh dựa trên hiệu quả kinh tế; Đảm bảo việc tuân thủ với các đạo luật mới ban hành, trong đó thể hiện tư tưởng cải cách triệt để, tạo điều kiện cho sự phát triển của các DN như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư… 2. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA Để thu hút nguồn vốn vay ODA đòi hỏi phải tăng cường tương ứng khả năng sử dụng vốn đầu tư một cách có hiệu quả. Không bố trí hoặc hạn chế bố trí nguồn vốn vay ODA cho những ngành, lĩnh vực, địa phương giải ngân chậm, sử dụng vốn vay nước ngoài không hiệu quả, đồng thời, tăng mức phân bổ nguồn vốn vay ODA cho những ngành, lĩnh vực và địa phương sử dụng nguồn vốn có hiệu quả và bảo đảm tiến độ thực hiện dự án. Đồng bộ hoá khung pháp lý, nghiên cứu và chỉnh sửa các quy định và nghị định liên quan đến sử dụng và quản lý nguồn vốn ODA. Tạo sự hài hoà và hoàn chỉnh các thủ tục hành chính giữa các nhà tài trợ và về phía chính phủ Việt Nam. Phát triển nguồn nhân lực cho dự án sử dụng nguồn vốn ODA, xây dựng các quy chuẩn và hướng tới chuyên môn hoá và chuyên nghiệp hoá các ban quản lý dự án. Các nghành, các địa phương rà soát lại các công trình sử dụng vốn ODA do mình quản lý để trình chính phủ, thủ tướng chính phủ ban hành các cơ chế chính sách nhằm tăng cường năng lực quản lý và sử dụng vốn ODA, đào tạo cán bộ quản lý dự án theo hướng chuyên nghiệp và bền vững. Cần thực hiện triệt để việc chống tham nhũng. Bên cạnh Luật chống tham nhũng, Nhà nước vẫn cần phải xây dựng một cơ chế, một thể chế chặt chẽ. Chẳng hạn, để thực hiện cơ chế công khai minh bạch, Chính phủ cần phải quy định rõ thế nào là thông tin mật và không mật, để công khai cho người dân giám sát. Nếu không có quy định này thì con số nào cũng được cho là mật, sẽ là một ngáng trở lớn cho việc công khai minh bạch. 3. Thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng vồn FDI Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có thể xem đây là một kênh tạo lập vốn mới nhiều tiềm năng, được chi phối bởi Luật đầu tư nước ngoài, nguồn vốn này có tác động tích cực đến đầu tư phát triển thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Do vậy, trước hết cần xây dựng chiến lược thu hút nguồn vốn này: Xác định rõ lộ trình, bước đi, lĩnh vực đầu tư, cơ chế ưu đãi, quy định các lệ phí và phí dịch vụ, điều kiện cung ứng điện nước, phương tiện giao thông, công nghệ thông tin… đồng thời hoàn thiện các thể chế có liên quan trong lĩnh vực tài chính, tín dụng, thương mại. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật pháp nói chung và luật đầu tư nói riêng một cách đồng bộ nhằm tạo cơ chế thông thoáng và môi trường đầu tư hấp dẫn. Rà soát thực trạng của các dự án trên từng địa bàn để phân loại và có chính sách hỗ trợ phù hợp. Các dự án trọng điểm, có tác động đến địa phương và khu vực sẽ được ưu tiên hỗ trợ trước. Cần đề ra chính sách ưu đãi cụ thể và thiết thực hơn nhằm khuyến khích các doanh nghiệp FDI thiực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu nhằm tạo cơ sở vững chắc cho công tác trả nợ. Nhưng không nên quy định cứng nhắc khiến cho các biện pháp ưu đãi có tác động ngược chiều trở thành các rào cản của đầu tư Từng bước hoàn thiện, chấn chỉnh lại bộ máy quản lý và các tổ chức xét duyệt nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Vừa tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện đúng theo luật pháp của Việt Nam, vừa tạo điều kiện cho việc quản lý dự án một cách chặt chẽ, có hiệu quả kinh tế cao. Chủ động chấn chỉnh và hoàn thiện công tác quản lý kinh tế - tài chính trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp chủ động phát triển nhưng phải quản lý và kiểm soát chặt chẽ được các hoạt động này nhằm đảm bảo an toàn xã hội, an ninh kinh tế và chủ quyền quốc gia. KẾT LUẬN. Qua bài tập nghiên cứu về mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỷ suất lợi nhuận và quy mô vốn đầu tư, chúng ta thấy: đây là mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau. Lãi suất (lãi suất thực tế) là yếu tố hai mặt tác động đến quy mô vốn đầu tư. Lãi suất cao khuyến khích tiết kiệm, hạn chế dòng vốn chảy ra nước ngoài nhưng lại làm hạn chế quy mô vốn vay cho đầu tư. Nếu lãi suất thấp làm giảm tiết kiệm, dòng vốn chảy ra nước ngoài tăng, dẫn đến không đủ cho nhu cầu về quy mô vốn. Quy mô vốn vay cũng tác động lại lãi suất, cầu vốn tăng làm lãi suất tăng và ngược lại. Tỷ suất lợi nhuận là yếu tố có tính chất dẫn dắt đầu tư vào lĩnh vực nào,quy mô bao nhiêu và có lên tăng quy mô hay không. Nhưng khi tăng quy mô vốn đầu tư thì các nhà đầu tư phải đối mặt với vấn đề hiệu quả biên của vốn giảm dần. Do vậy, các nhà đầu tư chỉ quyết định tiếp tục đầu tư ( tăng quy mô vốn) khi hiệu quả biên của vốn lớn hơn lãi suất tiền vay. Thực trạng đầu tư ở việt nam trong giai đoạn nghiên cứu có nhiều thành tựu nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, hiệu quả đầu tư đem lại chưa phù hợp với nguồn lực hiện có. Một trong những nguyên nhân này xuất phát từ yếu tố chúng ta chưa vận dụng phù hợp mối quan hệ trên vào công cuộc đầu tư. Vì vậy, để đầu tư đạt hiệu quả cao, nhà nước cần có những biện pháp kinh tế vĩ mô phù hợp, sử dụng công cụ lãi suất, tỷ suất lợi nhuận để điều chỉnh hoạt động đầu tư. Qua đó, đưa đầu tư phát triển thật sự trở thành động lực tăng trưởng kinh tế, góp phần đưa việt nam tiến nhanh trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Giáo trình kinh tế đầu tư_ PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt; TS.Từ Quang Phương. Nhà xuất bản đại học Kinh Tế Quốc Dân năm 2007. 2. Giáo trình Kinh tế phát triển_ GS.TS. Vũ Thị Ngọc Phùng. NXB Lao động_Xã hội_2006. 3.Bản tin số 12_4.2008(Bộ KH&ĐT): Đánh giá so sánh tình hình phát triển kinh tế_ xã hội năm 2007 của việt Nam và khu vực. 4.Giáo trình: Lịch sử các học thuyết kinh tế _PGS.TS.Trần Bình Trọng.Nhà xuất bản Thống Kê năm 2004. 5.Giáo trình: Kinh tế vĩ mô_PGS.TS.Nguyễn Văn Công. NXB Lao động_ Xã hội_2006. 6.Giáo trình: Tài chính tiền tệ. 7.Tạp chí: Kinh tế và dự báo ( Bộ KH & ĐT) 8.Tap chí: Thị trường tài chính. 9.Tap chí:Kinh tế và phát triển. 10.Tạp chí:Nghiên cứu kinh tế. 11.Kinh tế học_ Paul Samuelson. 12.Một số trang web điện tử:

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docVận dụng mối quan hệ giữa lãi suất vốn vay, tỉ suất lợi nhuận vốn đầu tư với quy mô vốn đầu tư để giải thích tình hình đầu tư ở Việt Nam.doc
Luận văn liên quan