Ảnh hưởng của dân tộc và tôn giáo đến bản đồ chính trị thế giới

Trước thập kỷ 1930, Phong trào Sanusi là phong trào Hồi giáo lớn nhất ở Libya. Đây là một phong trào hướng tới sự phục hưng tôn giáo đã được thay đổi nhằm tương thích với cuộc sống sa mạc. Các zawaayaa (chi nhánh) của nó đã được tìm thấy tại Tripolitania và Fezzan, nhưng ảnh hưởng lớn nhất của Sanusi nằm tại Cyrenaica. Nhằm cứu nguy tôn giáo khỏi sự bất ổn và tình trạng hỗn loạn, phong trào Sanusi đã mang lại cho những người dân bộ lạc Cyrenaican một sự gắn bó tôn giáo và những tình cảm thống nhất[70]. Phong trào Hồi giáo này, cuối cùng bị tiêu diệt bởi cả cuộc xâm lược của Ý và sau đó là bởi chính phủ Gaddafi[70], phong trào này mang nhiều tính bảo thủ và dù sao cũng có khác biệt so với Hồi giáo hiện nay ở Libya. Gaddafi quả quyết rằng ông là một tín đồ Hồi giáo cuồng nhiệt và chính phủ của ông đang giữ vai trò ủng hộ các viện Hồi giáo trên khắp thế giới thu hút thêm các tín đồ theo đạo Hồi[71]. Tuy nhiên, Hồi giáo Libya luôn được coi là theo truyền thống, nhưng không thô bạo so với Hồi giáo tại các nước khác. Hình thức Hồi giáo Sufism của Libya rất phổ biến trên toàn quốc[72].

doc35 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 04/12/2015 | Lượt xem: 1427 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Ảnh hưởng của dân tộc và tôn giáo đến bản đồ chính trị thế giới, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
và xuất hiện nhiều tôn giáo mới. Bản thân trong các tôn giáo khu vực và thế giới cũng có những biểu hiện khác trước: số tín đồ ngày càng tăng nhưng số tín đồ thực tế giảm, nghĩa là người ta theo đạo nhưng không hành đạo, nhiều tín đồ bỏ đạo để theo các “đạo mới”. Trong nội bộ các tôn giáo có sự chia rẽ thành những giáo phái với những tính chất cấp tiến, ôn hòa hoặc cực đoan. 2.4.2. Các hình thức tổ chức tôn giáo - Tôn giáo trong xã hội chưa có giai cấp (Tôn giáo nguyên thủy): Ăng - ghen cho rằng tôn giáo xuất hiện từ ngay trong thời kỳ nguyên thủy, từ những quan niệm hết sức dốt nát, tối tăm, nguyên thủy của con người về bản thân mình và thiên nhiên bao quanh họ. Các tôn giáo nguyên thủy, sơ khai thể hiện niềm tin bản năng của con người và lúc ấy chưa gắn với các lợi ích về kinh tế - xã hội. Các hình thức phổ biến của tôn giáo nguyên thủy là các dạng sau: + Tô tem giáo (thờ vật tổ): Tô tem theo ngôn ngữ của thổ dân Bắc Mỹ nghĩa là giống loài. Đây là hình thức tôn giáo cổ xưa nhất, thể hiện niềm tin vào mối quan hệ gần gũi, huyết thống giữa một cộng đồng người (thị tộc, bộ lạc) với một loài động thực vật hoăïc một đối tượng nào đó. Tô tem giáo thể hiện hình thức nhận biết đầu tiên về mối liên hệ của con người với các hiện tượng xung quanh. Chẳng hạn: một bộ lạc tồn tại được nhờ săn bắt một loài động vật nào đó dẫn đến xuất hiện một ảo tưởng về mối quan hệ giữa loài vật đó với cộng đồng người săn nó và cuối cùng con vật này lại trở thành tổ tiên chung – là một tô tem của một tập thể nào đó. + Ma thuật giáo: Ma thuật theo tiếng Hi lạp cổ là phép phù thủy. Đây là biểu hiện của việc người nguyên thủy tin vào khả năng tác động đến tự nhiên bằng những hành động tượng trưng (cầu khấn, phù phép, thần chú) nghĩa là bằng con đường siêu nhiên. Nhờ các biện pháp ma thuật, người nguyên thủy cố gắng tác động đến những sự kiện và làm cho nó diễn ra theo ý mình mong muốn. Về sau, ma thuật trở thành một thành tố quan trọng không thể thiếu được của các tôn giáo phát triển. Việc thờ cúng của bất kỳ tôn giáo nào cũng phải có ma thuật (cầu nguyện, làm phép). Tàn dư của ma thuật là các hiện tượng bói toán, tướng số ngày nay. + Bái vật giáo: Bái vật theo tiếng Bồ Đào Nha là bùa hộ mệnh, phép lạ. Bái vật giáo xuất hiện vào lúc mới hình thành tôn giáo và sự thờ cúng. Bái vật giáo đặt lòng tin vào những thuộc tính siêu nhiên của các vật thể như hòn đá, gốc cây, bùa, tượng Họ cho rằng có một lực lượng siêu nhiên, thần bí trú ngụ trong vật đó. Bái vật giáo là thành tố tất yếu của sự thờ cúng tôn giáo. Đó là sự thờ cúng các tượng gỗ, cây thánh giá hoặc lòng tin vào sức mạnh kỳ quái của các lá bùa + Vật linh giáo: Là hình thức tôn giáo xuất hiện muộn hơn, khi mà ý thức của con người đã đủ khả năng hình thành nên những khái niệm. Vật linh giáo là lòng tin ở linh hồn. Lòng tin này là cơ sở quan trọng để hình thành nên quan niệm về cái siêu nhiên của người cổ xưa. Giai đoạn này đã có ảo tưởng cho rằng có hai thế giới: một thế giới tồn tại thực sự và một thế giới siêu nhiên, trong đó thế giới siêu nhiên thống trị thế giới thực tại. Thế giới siêu nhiên này của người nguyên thủy cũng đầy đủ động vật, thực vật, các đối tượng do tinh thần tưởng tượng ra và không khác biệt gì lắm so với thế giới thực tại. - Tôn giáo trong xã hội có giai cấp: Khi xã hội phân chia giai cấp, xuất hiện các nhà nước, quốc gia với các vùng lãnh thổ riêng biệt, tôn giáo lúc này không chỉ còn là một nhu cầu tinh thần của quần chúng mà còn là một phương tiện để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị áp bức giai cấp và bóc lột của mình và thực hiện sự bành trướng, xâm lược vì vậy tôn giáo gắn liền với chính trị và bị dân tộc hóa. Từ đó đã dẫn đến sự xuất hiện các tôn giáo dân tộc và tôn giáo thế giới. + Tôn giáo dân tộc: Đặc trưng của tôn giáo dân tộc là tính chất quốc gia dân tộc của nó. Các vị thần được tạo lập mang tính quốc gia dân tộc và phạm vi quyền lực giới hạn trong phạm vi quốc gia. Thậm chí một số tôn giáo lớn cũng bị dân tộc hóa ở mỗi quốc gia và trở thành tôn giáo có tính chất quốc gia. Ví dụ Anh giáo (Thanh giáo), các dòng khác nhau của đạo Hồi + Tôn giáo thế giới: Sự phát triển của các tôn giáo vượt ra khỏi biên giới của một quốc gia đã hình thành nên các tôn giáo khu vực và thế giới như Phật giáo, Thiên chúa giáo, Hồi giáo Khác với các tôn giáo dân tộc, tôn giáo thế giới mang tính đa quốc gia, ảnh hưởng đến nhiều khu vực rộng lớn trên thế giới. 2.4.3. Các tôn giáo chính trên thế giới Trên thế giới hiện nay có hàng ngàn tôn giáo trong đó có 3 tôn giáo chủ yếu ảnh hưởng trên phạm vi không gian rộng lớn đó là : Cơ đốc giáo, Hồi giáo, Phật giáo). - Cơ đốc giáo : Bản đồ phân bố các quốc gia Cơ đốc giáo Có ba nhánh lớn là công giáo La Mã, Chính thống giáo Đông phương và Tin Lành. Là tôn giáo có số lượng tín đồ đông nhất trên thế giới, khoảng 2,1 tỷ tín đồ, chủ yếu ở Bắc Mỹ, Mỹ Latinh, châu Âu và rải rác ở nhiều nơi khác trên thế giới. Biểu tượng Cơ đốc giáo Nhà thờ St.Peter ở Vatican Cơ đốc giáo bắt nguồn từ Do Thái giáo ở Trung Đông và do Chúa Jesus sáng lập. Jesus Christ bị hành hình bằng cách đóng đinh trên cây thập tự, từ đó cây thập tự trở thành biểu tượng thiêng liêng của tín đồ Cơ đốc giáo . Các tín đồ phải noi gương Chúa trong tình yêu cuộc sống, tình yêu đồng loại, con người phải sống thánh thiện và đạt đến cuộc sống vĩnh hằng. Đây là một trong những tôn giáo lâu đời nhất trên thế giới và là tôn giáo có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến nền văn minh phương Tây. - Hồi giáo: Bản đồ phân bố các quốc gia Hồi giáo Hồi giáo ra đời vào thế kỷ thứ VII, do nhà tiên tri Môhamet sáng lập. Hiện nay hồi giáo có khoảng hơn 900 triệu tín đồ, phân chia thành 2 giáo phái: giáo phái Sunnit và Sili. Môhamet sử dụng tôn giáo nhằm tạo ra một sức mạnh về quân sự to lớn. Biểu tượng Hồi giáo Nhà thờ Hồi giáo Tuy nhiên trong quá trình phát triển do sự mở rộng lãnh thổ và gia tăng các tín đồ chịu ảnh hưởng của Hồi giáo đã làm đã làm giảm tính thống nhất về chính trị của thế giới Hồi giáo. Truyền thống xung đột giữa Thiên Chúa giáo, Do thái giáo và Hồi giáo lúc tăng lúc giảm chớ không bao giờ biến mất theo thời gian. Muhammad sáng lập ra Hồi giáo dựa trên sự xâm lăng tàn bạo tiến chiếm cả vùng Trung Đông, tới bắc Phi Châu, sang tới A Phú Hãn, Parkistan và sang cả Á Châu như Nam Dương, Phi Luật Tân và Mã Lai Á. Sau Công nguyên do tác động của Hồi giáo nên bản đồ chính trị các khu vực Tây Á, Tây Âu, Nam Âu biến động mạnh. Thế kỉ V đế chế LA Mã sụp đổ làm xuất hiện hàng loạt quốc gia mới ở Tây Âu, Trung Âu. Bản đồ chính trị châu Âu đã thay đổi một cách đáng kể. Khu vực Tây Âu hình thành nên các quốc gia mới: Tây Gốt và Van Đăng, Buốcgônđơ, Đông Gốt, Lôngba, Phrăng. Năm 711, Tây Gốt bị người Ả Rập xâm lược và phân chia thành 2 quốc gia là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Với sự trợ giúp của Hồi giáo, dân Palestine chiếm đất Do Thái từ đó. Mãi đến năm 1948 lần đầu tiên được sự ủng hộ của Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc, người dân Do thái lần lượt về lại cố hương sau gần hai ngàn năm lưu vong xa xứ. Họ buột người Palestine phải trả đất lại cho họ khiến cho rất nhiều dân Palestine phải lưu vong sang những nước Ả Rập trong vùng Trung Đông như Jordan, Ai Cập Có lẽ đây là khởi nguyên những cuộc tranh chấp tại Trung Đông giữa Do thái và khối à Rập mà Hoa kỳ là nước đở đầu cho Do Thái vì Do thái là thánh địa của Thiên Chúa giáo. Cuộc chiến khốc liệt năm 1968, lúc đó Kissinger là cố vấn an ninh quốc phòng cho Nixon, giữa Do thái và khối Ả Rập khiến Hoa kỳ đe dọa sẽ dùng bom nguyên tử bắt buộc Tổng thống Ai Cập lúc bấy giờ là Anwar Sadat phải rút quân. Về sau chính Sadat với sự trung gian của Tổng thống Jimmy Carter đã ký một thỏa ước hòa bình với Thủ tướng Do Thái là Menachem Begin để chấm dứt sự tranh chấp của hai nước. Chính sự hòa giải này đã khiến những người Hồi giáo quá khích ám sát Sadat năm 1981. Trong thế giới Hồi giáo, lí tưởng của một quốc gia thần học - chính trị vẫn tồn tại đến ngày nay. Hơn 20 năm nay trong khu vực thế giới Hồi giáo luôn luôn xảy ra các xung đột giữa các nhà nước Ảrập. Các quốc gia Hồi giáo đang cố gắng dựa vào nền tảng về tôn giáo để liên kết với nhau tạo thành một khối thống nhất rất cần sự nỗ lực cố gắng của cộng đồng Hồi giáo và cộng đồng quốc tế. - Phật giáo: Bản đồ phân bố các quốc gia theo Phật giáo Đạo Phật xuất hiện khoảng năm 560 trước công nguyên, người sáng lập là hoàng tử Ấn Độ Gaulama. Hoạt động của đạo phật ít gây ra những biến động về chính trị xã hội, do giáo lí của đạo Phật có nhiều quy định hạn chế các nhu cầu bản năng của con người, thực hiện theo chủ nghĩa khổ hạnh. Phật Thích Ca Mô Ni Biểu tượng của Phật giáo Đạo Phật ít can thiệp vào các hoạt động chính trị và sự phân hóa trong Phật giáo không bộc lộ gay gắt. So với các khu vực khác thì ở Đông Á và bán đảo Đông Dương ít có các cuộc xung đột dân tộc. Tư tưởng ôn hòa, từ bi hy xả của Phật giáo đã có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn hóa xã hội chính trị của cộng đồng phật giáo nên bản đồ chính trị khu vực ít có sự biến động lớn. Chương 3 Nghiên cứu vấn đề dân tộc tôn giáo ở Trung Đông – Bắc Phi. Trường hợp Ai Cập – Lybia 3.1. Trung Đông – Bắc Phi 3.1.1. Giới thiệu chung Vùng Bắc Phi, Trung Đông, là nơi sinh ra và là trung tâm tôn giáo của đạo  Hồi, đạo Do Thái, đạo Ki-tô. Vùng này, người theo đạo chiếm khoảng hơn 90% dân số, nơi đây từng trải qua các giai đoạn bạo lực và khoan dung. Trong thế kỷ 20, nó nằm ngay trong trung tâm các sự kiện quốc tế có vị trí địa chính trị chiến lược, kinh tế, văn hoá và tôn giáo đặc biệt quan trọng, nó là một vùng đất rất nhạy cảm trong các mối quan hệ tôn giáo, dân tộc. Với những đặc điểm trên, đạo Hồi ở Bắc Phi, Trung Đông phát triển nhanh khiến cho vùng này có nhiều biến đổi sâu sắc. Các nước Hồi giáo cũng như các xã hội Á châu nói chung không thể tự mình chuyển hướng sang xã hội duy lý hiện đại được, nên nhất thiết cần sự can thiệp từ bên ngoài để thúc đẩy các xã hội ấy thực hiện cải cách tùy theo sự chín mùi của tình hình. 3.1.2. Nguyên nhân của xung đột Theo nghiên cứu của các nhà khoa học chính trị, kinh tế-xã hội học và các nhà nghiên cứu chiến lược cho thấy, bạo loạn chính trị xẩy ra ở các nước phần đông số dân là người theo đạo Hồi: đây không phải là các quốc gia nghèo trên thế giới. Theo thống kê chưa đầy đủ của Hội đồng thống nhất kinh tế Arab: thu nhập bình quân đầu người của Libya là 8.903 USD, Tunisia: 3.423 USD, Ai Cập: 1.759 USD. Những phân phối nguồn lợi quốc gia tại Ai Cập và Tunisia rất bình đẳng. có tới 40% dân số Ai Cập sống với mức thu nhập dưới 2 USD/ngày. Tỷ lệ thất nghiệp tại 3 nước này là rất cao, trên dưới 30%.. Một đặc điểm nữa là những tín đồ theo đạo Hồi và tôn giáo đều sống tại các trung tâm đô thị lớn, là những nơi có trình độ dân trí cao. Bởi vậy, các nhà nghiên cứu chính trị-xã hội học đều khẳng định bạo động chính trị ở các nước này là tất yếu khách quan, trong đó có cả những nguyên nhân chủ quan. Trước hết, phải kể đến các nguyên nhân bên trong, nguyên nhân trực tiếp nội tâm của các nước Hồi giáo thuộc vùng Bắc Phi, Trung Đông: Việc các nước này từ lâu lệ thuộc quá nhiều vào nước ngoài, cả về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, nhất là sự lệ thuộc về kinh tế. Khi kinh tế toàn cầu suy giảm, nền tài chính, tiền tệ thế giới rơi vào khủng hoảng, chính các nước này bị tác động sớm và mạnh mẽ nhất. Đường lối chính trị, phương pháp lãnh đạo, điều hành đất nước của nhà cầm quyền các nước Hồi giáo đã rơi vào tình trạng sai lầm không thể đảo ngược. Đó là: độc đoán, chuyên quyền, gia đình trị, tham nhũng kéo dài, tạo nên sự bất bình ngày càng gia tăng của các tầng lớp, giai cấp trong xã hội. Khi các đảng phái đối lập, các nhóm Hồi giáo cực đoan trỗi dậy, nêu chiêu bài “dân chủ”, “chống tham nhũng”, “chống độc quyền, chống gia đình trị”, bởi vậy, các cuộc biểu tình rất dễ tranh thủ được sự ủng hộ của người dân, làm cho làn sóng bạo động chính trị ngày càng bùng phát. Các quốc gia trong vòng xoáy rối loạn ở Trung Đông, Bắc Phi, có sự cách biệt giàu nghèo quá lớn trong xã hội, dân chúng bức xúc với chính sách, ứng xử của chính quyền. Phần lớn nhân dân chán ghét các vị Tổng thống đã tồn tại quá lâu, độc đoán, tham nhũng, không tạo được niềm tin về cải cách, thiếu hướng đi mới cho các vấn đề phát triển kinh tế-xã hội; không thực hiện các lời hứa hẹn. Các lực lượng đòi cải cách Hồi giáo toàn diện từ trước đến nay không được nói đến bởi các phương tiện truyền thôngphương Tây cũng như thế giới, mặc dù ai cũng biết là đa số giới trẻ hiện chiếm đa số tuyệt đối tại các nước Hồi giáo đều rất mực đòi hỏi cải cách toàn diện xã hội, kể cả việc cần duyệt lại toàn bộ kinh Kuran trên căn bản giải thích mới phù hợp với trào lưu của thế giới đương đại, chứ không thể giao cho mấy ông giáo sỹ cực đoan nắm quyền giải thích Kuran theo lối cổ xưa được nữa. Từ ba nguyên nhân trên, dẫn đến nguyên nhân thứ tư là, nhà cầm quyền không nhận được sự trung thành, ủng hộ thật lòng của nhân dân, của quân đội và lực lượng cảnh sát, khi xảy ra binh biến, rốt cuộc, các lực lượng này phản ứng yếu ớt, thậm chí buông xuôi, bỏ qua. Tuy nhiên, có những nguyên nhân sâu xa từ bên ngoài (mà không nên gọi là khách quan), về thực chất, đã nhúng tay, lúc thô bạo, lúc tinh vi, xảo quyệt. Nghiên cứu các sự kiện chính trị ở một số nước Bắc Phi và Trung Đông, mở đầu từ Tunisia vào cuối năm 2010 tới nay có thể thấy, các biến động chính trị-xã hội đó xuất phát từ hai nhóm nguyên nhân: nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân sâu xa. Về nguyên nhân trực tiếp: Nguyên nhân trực tiếp dẫn tới các biến động chính trị-xã hội ở một số nước Bắc Phi và Trung Đông, mở đầu từ Tunisia, xuất phát từ chính tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội và chính trị ở các nước đó như nạn thất nghiệp gia tăng; sự bất bình đẳng trong xã hội; sự chênh lệch quá lớn giữa người giàu và người nghèo; chính quyền ở các nước đó bảo thủ và trì trệ trong nhiều năm (Tổng thống Tunisia Ben Ali cầm quyền sau cuộc đảo chính cung đình vào năm 1987 và kéo dài  trong suốt 24 năm; Tổng thống Ai Cập H.Mubarak cầm quyền sau vụ đảo chính vào tháng 10-1981, trong 30 năm; nhà lãnh đạo Lybia Gaddafi lên nắm quyền sau cuộc đảo chính quân sự năm 1969, trong 42 năm; Thủ tướng Bahrain Khalifa Ibn Salman Al Khalifa cầm quyền 40 năm và là thủ tướng lâu đời nhất trên thế giới; Tổng thống Yemen Ali Abdullah Saleh cầm quyền năm 1978 trong suốt 33 năm). Tình trạng khủng hoảng này càng trở nên trầm trọng hơn do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu bùng phát từ Mỹ năm 2008 và đến nay vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc. Bản thân chính phủ các nước châu Phi và Trung Đông trong những năm gần đây cũng đã từng nhận thấy tình trạng khủng hoảng này và chính họ đã đề ra “Sáng kiến của các nước châu Phi và Trung Đông về dân chủ hoá” với 6 nội dung cơ bản. Một là, cải cách dân chủ ở các nước châu Phi và Trung Đông cần phải được thực hiện từ bên trong các nước đó mà không được áp đặt từ bên ngoài. Hai là, quá trình cải cách dân chủ cần phải được thực hiện từng bước để không làm tổn hại đến an ninh và sự ổn định. Ba là, quá trình cải cách cần phải phục vụ lợi ích của khu vực chứ không phải các “kẻ thù” từ bên ngoài. Bốn là, việc giải quyết cuộc xung đột giữa các nước Arập và Israel là điều kiện tiên quyết để tiến hành thắng lợi cuộc cải cách chính trị. Năm là, khi tiến hành cải cách dân chủ cần phải tính đến đặc điểm của từng nước trong khu vực chứ không thực hiện theo một công thức cố định. Sáu là, không cho phép các tổ chức Hồi giáo cực đoan sử dụng thành quả của các cuộc cải cách và mở cửa. Xem xét 6 nội dung chủ yếu của Sáng kiến dân chủ hoá trên đây có thể thấy, sáng kiến này chỉ mang tính hình thức mà chưa đề cập đến nội dung và bản chất. Ngoài ra, khó có thể đáp ứng tất cả 6 điều kiện, hoặc điều kiện thứ tư là giải quyết cuộc xung đột giữa các nước Arập và Israel. Do đó, sẽ khó có thể diễn ra cuộc cải cách dân chủ ở các nước châu Phi và Trung Đông. Từ những năm 1980-1990, một số nước trong khu vực châu Phi và Trung Đông đã có những nỗ lực cải cách dân chủ nhất định dưới tác động của các quá trình toàn cầu hoá. Chương trình cải cách do các nước Arập đề xuất đã từng được trình bày tại Hội nghị lần thứ XVI của Liên đoàn các nước Arập ở Tunisia vào ngày 22 và ngày 23-5-2004. Khi chuẩn bị Hội nghị  này, Bộ trưởng Ngoại giao các nước Arập bị chia rẽ thành hai phe. Những ai nỗ lực kết nối quan điểm của họ với Mỹ kết thành một phe, còn phe khác phản đối chính sách của Mỹ và Israel ở Trung Đông. Trong khi đó, đại diện của phe thân Mỹ bày tỏ thái độ sẵn sàng hợp tác với Mỹ trong chủ trương cải cách Trung Đông, còn phe chống đối tuyên bố rằng “Đề án Đại Trung Đông” của Mỹ là sự can thiệp vào công việc nội bộ của các nước Arập. Hội nghị các nước Arập ở Tunisia còn chứng tỏ các nước trong khu vực này không có khả năng đạt được sự đồng thuận ngay cả về những vấn đề cấp bách nhất (1). Đến năm 2010, dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế toàn cầu, những mâu thuẫn do khủng hoảng kinh tế-xã hội và chính trị ở các nước châu Phi và Trung Đông trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, chỉ cần có tác động kích động châm ngòi là có thể bùng phát thành các cuộc bạo động chính trị. Trong điều kiện đó, các mạng xã hội như Twitter, Facebook, đặc biệt là trang web của Wikileaks, đã có tác động châm ngòi rất quan trọng. Chính thủ tướng của Tunisia đã tuyên bố, mạng Internet đã châm ngòi cho các biến chuyển chính trị ở quốc gia này (2). Về nguyên nhân sâu xa.Có hai nguyên nhân sâu xa dẫn tới các biến động chính trị-xã hội ở các nước Bắc Phi và Trung Đông từ cuối năm 2010 tới nay. Một là, các nước trong khu vực Bắc Phi và Trung Đông vừa đang ở trong tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội và chính trị, vừa đang bị tranh giành ảnh hưởng giữa các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga,Ấn Độ, Nhật Bản, các nước EU, trước hết là nhằm sở hữu quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, khí đốt, nguyên tố đất hiếm, quặng kim loại và thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng như thị trường đầu tư. Trong đó, Trung Quốc đang tỏ ra có ảnh hưởng “lấn lướt” các nước khác, kể cả Mỹ. Đây là điều mà Washington không thể chấp nhận được trong bối cảnh Mỹ đang bắt đầu chuyển sang giai đoạn cạnh tranh quyết liệt với Trung Quốc trong nhiều lĩnh vực trên phạm vi toàn cầu (5,6,7). Hai là, các mâu thuẫn nảy sinh từ cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội và chính trị ở các nước trong khu vực này đã bị một số thế lực bên ngoài, trước hết là ở Mỹ, lợi dụng để kích động nhằm nhanh chóng thay đổi chế độ cầm quyền, tạo cơ hội để thiết lập ảnh hưởng trong thời kỳ “hậu cách mạng”. Theo Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ, kịch bản các cuộc bạo động chính trị đã và đang diễn ra ở nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông được thực hiện theo cái gọi là “Đề án Đại Trung Đông” mà nhiều đời tổng thống ở Mỹ đã từng ấp ủ. Do đó, Mỹ quyết định thực hiện giai đoạn mới trong chiến lược của họ ở châu Phi và Trung Đông là “phá cũ để xây mới”. 3.1.3. Động thái của các nước trước biến động ở Bắc Phi, Trung Đông Ngay khi biến động xảy ra ở Ai Cập, Iran đã lên án phương Tây kích động biểu tình. Mỹ, EU đã lên tiếng kêu gọi Chính phủ các nước hạn chế các hành động quân sự để trấn áp người biểu tình; Nga kêu gọi các nước giải quyết căng thẳng thông qua thỏa thuận hòa bình. Phát biểu sau cuộc hội đàm với người đồng cấp Anh William Hague tại London (Anh) hôm 15/2, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov lên tiếng cảnh báo việc khuyến khích làn sóng nổi dậy ở Trung Đông tiếp sau các cuộc biểu tình mới gây chấn động thế giới Arab là "phản tác dụng". Theo Ngoại trưởng Lavrov, mọi căng thẳng đều cần phải được giải quyết thông qua thỏa thuận hòa bình. Ông cũng cảnh báo không nên áp đặt chế độ dân chủ theo mô hình cụ thể. Ngoại trưởng Lavrov cho rằng cần khuyến khích tất cả các bên nhất trí với nhau và việc áp đặt một mô hình dân chủ cụ thể sẽ là phản tác dụng. Từ Washington, Tổng thống Mỹ Barak Obama kêu gọi Chính phủ các nước tránh các hành động đàn áp những người biểu tình đòi dân chủ. “Tôi tin rằng, hậu quả từ các cuộc khủng hoảng ở Ai Cập, Tunisia sẽ là bài học cho các quốc gia khác, không chỉ ở Trung Đông, Châu Phi mà còn ở nhiều khu vực khác trên thế giới. Tổng thống Obama công khai mong muốn chính quyền của Tổng thống Libya ra đi, nhưng vẫn tỏ thái độ không mấy sốt sắng về một sự can thiệp của nước ngoài và nhất là Washington không muốn tạo cảm giác là cuộc cách mạng được hậu thuẫn của Mỹ. Tuy nhiên, các nhà phân tích chính trị quốc tế nhận định, Mỹ có thể sớm can dự vào một cuộc chiến tranh nữa ở Trung Đông. Ngày 1 tháng 3 năm 2011, Liên hợp quốc thông qua một nghị quyết chưa từng có: đình chỉ tư cách thành viên của Libya tại Hội đồng Nhân quyền LHQ. Mỹ và nhiều nước phương Tây thực hiện lệnh cấm vận, phong toả tài sản của Libya và gia đình ông Gaddafi. Trước đó, Hội đồng Bảo an LHQ nhất trí thông qua Nghị quyết 1970, cấm vận vũ khí đối với Libya. Nghị quyết này yêu cầu Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) ở La Hay điều tra và có thể truy tố những người chịu trách nhiệm về việc người biểu tình thiệt mạng ở Libya. Xung đột đã xảy ra Vào lúc 16h45 GMT (tức 23h45 Hà Nội), Chiến dịch “Bình Minh Odyss ey”mở màn cuộc tiến công đường không của các nước NATO gồm Pháp, Anh, Mỹ đã ồ ạt thực hiện cuộc tấn công vào các hệ thống phòng thủ của quân đội Libya trong chiến dịch “Bình Minh Odyss ey” nhằm áp đặt vùng cấm bay trên bầu trời Libya. Sau khi nã ít nhất 112 quả tên lửa Tomahawk vào lãnh thổ Libya. Tin đầu tiên theo thông báo của nhà cầm quyền Libya: đã có 48 người thiệt mạng và 150 người bị thương trong các cuộc không kích. Truyền hình quốc quốc gia Libya nói “kẻ thù viễn chinh” đã bỏ bom các khu vực dân thường ở thủ đô Tripoli, cũng như các bể dự trữ nhiên liệu cung cấp cho thành phố miền đông Misrata. Cuộc xung đột ở Libya, các nhóm Giáo sĩ cực đoan nhìn thấy sáo trộn tại những nơi có biến động chính trị là cơ hội để tiến lên nắm quyền xoay chuyển tình hình sao có lợi cho chủ trương bảo thủ Hồi giáo chống lại phương Tây. Sáo trộn sẽ dẫn đến chỗ người nghèo khó trong vùng vốn đã khốn khổ sẽ bị khốn khổ hơn. Các tổ chức khủng bố quốc tế sẽ dựa vào đó để tuyên truyền về sự thất bại của các thế lực tay sai củaphương Tây và là thành quả của cao trào khủng bố quốc tế cũng như chủ trương Hồi giáo cực đoan. Một số nước sẽ lợi dụng nhảy vào tạo ảnh hưởng. Tình trạng bất ổn chính trị ở các nước Hồi giáo Bắc Phi, Trung Đông không những được coi là một khó khăn địa chiến lược chính trị, địa kinh tế rất lớn đối với phương Tây, đặc biệt là Mỹ, mà còn là "cơn ác mộng" đe dọa kinh tế thế giới vốn đang chật vật để thoát khỏi di chứng của cuộc khủng hoảng kinh tế cách đây không lâu. 3.2. Ai Cập – Lybia 3.2.1. Ai Cập a. Quá trình thành lập nhà nước Qua những tài liệu và tư liệu khảo cổ học cũng như theo sự ghi chép của các sử gia Hy lạp Herodotes, Diodore, Strabon và nhất là Manetho với tài liệu “Lịch sử Ai Cập”cho chúng ta thấy Ai Cập là một trong những trung tâm văn minh lớn của nhân loại. Văn minh Ai Cập phát triển ở vùng Đông Bắc châu Phi, trải qua 4 giai đoạn là Tảo vương quốc (3200 – 3000 TCN), Cổ vương quốc (3000 – 2200 TCN), Trung vương quốc (2200 – 1570 TCN) và Tân vương quốc (1570 – 1100 TCN). Xã hội có giai cấp và Nhà nước xuất hiện vào thời kỳ đầu của Cổ vương quốc. Trước khi Nhà nước hình thành, đất nước Ai Cập tồn tại các thiết chế chính trị đầu tiên gọi là các châu (Nome), được hình thành do sự tan rã của các công xã thị tộc. Đứng đầu mỗi châu là thủ lĩnh (nomarque), ông ta có quyền tổ chức chính quyền, quân đội, tụ hội nhân dân và xây dựng các công trình thủy lợi để tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp. Năm 3200 TCN, bằng các cuộc chiến tranh chính phục và thôn tính, vua Thượng Ai Cập là Menes đã đánh chiếm Hạ Ai Cập và sát nhập hai vùng này thành một nhà nước thống nhất và đến thời Cổ vương quốc, chế độ chiếm hữu nô lệ hình thành. Bước sang thời Trung – Tân vương quốc, nhà nước Ai Cập đã đạt đến sựphồn thịnh và trở thành một đế quốc rộng lớn có lãnh thổ trải dài từ Bắc Phi sang tận Trung Đông, Nam Á. Thiết chế chính trị - xã hội được hình thành với đầy đủ những đặc tính cơ bản của nó. b.Nguyên nhân diễn biến của xung đột: - Nguyên cớ trực tiếp bắt đầu từ việc cử nhân Mô-ha-mét Bu-a-zi, 26 tuổi ở Tuy-ni-di thất nghiệp, buộc phải đi bán rau quả rong trên vỉa hè Thủ đô. Ngày 17-12-2010, do bị cảnh sát tịch thu gánh hàng rong, quá phẫn uất đã tự thiêu và sau đó chết trong bệnh viện. Lập tức, tia lửa nhanh chóng lan rộng trở thành bão lửa. Nhiều cuộc biểu tình, bạo loạn liên tiếp nổ ra ở các tỉnh, thành phố khác của Tuy-ni-di. Hàng chục người chết, hàng trăm người bị thương trong các cuộc trấn áp. Như lửa đổ thêm dầu, các cuộc biểu tình ngày càng nhiều và đông. Trước sức ép của các lực lượng biểu tình, ngày 14-2-2011, Tổng thống Tuy-ni-di B.A-li cùng gia đình trốn chạy khỏi đất nước kết thúc 23 năm cầm quyền. Biến động chính trị dữ dội ở Tuy-ni-di nhanh chóng lan sang nhiều nước khác ở Bắc Phi, Trung Đông. Ở Ai Cập - nước đông dân nhất thế giới A-rập (hơn 80 triệu), nhiều cuộc biểu tình, bạo động chính trị quy mô lớn đòi Tổng thống H.Mu-ba-rắc từ chức. Ngày 11-2-2011, Phó tổng thống Ai Cập Ô.Su-lây-man phát biểu trên truyền hình tuyên bố Tổng thống Ai Cập H.Mu-ba-rắc “quyết định từ chức” kết thúc 32 năm cầm quyền liên tục. Ở An-giê-ri, từ ngày 6 đến 8 tháng 1-2011, biểu tình, bạo loạn cũng bùng phát ở trên 20 tỉnh, thành phố, trên 80 người đã thiệt mạng, hàng trăm người bị thương. Nhiều cuộc biểu tình, bạo động chính trị xảy ra ở các nước khác như Li-bi, Y-ê-men, Xy-ri, Ba-ranh - Tìm hiểu, người ta thường nghĩ ngay đến nguyên nhân can thiệp từ bên ngoài, đứng đầu là Mỹ. Nguyên nhân này thể hiện rõ nhất khi các nước phương Tây dưới danh nghĩa thực hiện Nghị quyết 1973 của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thiết lập vùng cấm bay ở Li-bi tiến hành không kích đất nước này và đòi Tổng thống Li-bi “từ chức ngay lập tức”. Cách thức can thiệp trực tiếp hoặc gián tiếp của các nước phương Tây vào công việc nội bộ của các quốc gia có chủ quyền nơi đây khiến người ta liên tưởng đến Đề án Trung Đông Lớn (The Greater Middle East) của Mỹ nhằm thay đổi biên giới của 24 quốc gia, từ Châu Phi, Trung Đông tới Trung Á, làm bàn đạp để Mỹ tiến tới thiết lập quyền kiểm soát đối với toàn bộ lục địa Á-Âu. Đề án Trung Đông Lớn đã từng được nhiều đời Tổng thống Mỹ xây dựng cách đây hơn 30 năm nhằm mục đích trước hết và quan trọng nhất là bảo đảm duy trì nguồn cung cấp dầu mỏ liên tục, thường xuyên cho Mỹ từ khu vực này. Theo dự báo, đến năm 2025, khoảng 2/3 nhu cầu dầu mỏ của Mỹ được đáp ứng từ khu vực Trung Đông. Hiện nay, ở khu vực này đã tập trung các căn cứ quân sự chủ yếu của Mỹ, trong đó có 10 sân bay quân sự lớn nhất và một số căn cứ hải quân phục vụ lực lượng hải quân tiến công của Mỹ. Hơn 200 ngàn quân Mỹ thường trực ở Áp-ga-ni-xtan, I-rắc và trên bán đảo A-rập. Hơn nữa, gần đây ở khu vực địa chính trị quan trọng này, vị trí của Mỹ bị lấn lướt bởi Trung Quốc và Nga. Tháng 11-2006, Trung Quốc tổ chức thành công Hội nghị Thượng đỉnh Trung Quốc-châu Phi, việc mà Mỹ chưa từng làm được. Điều đó ngăn cản Mỹ trong thực hiện chiến lược năng lượng, khả năng kiểm soát khu vực và tham vọng lãnh đạo thế giới. Biến động chính trị ở Bắc Phi và Trung Đông là cơ hội vàng để Mỹ có thể dựng lên các chính quyền thân Mỹ có khả năng phục vụ cho các mục tiêu chiến lược của Mỹ và các nước phương Tây. Chính quyền thân Mỹ, cho dù từng nhiều năm là đồng minh thân cận như chính quyền của nguyên Tổng thống H.Mu-ba-rắc ở Ai Cập nhưng khi không còn tác dụng phục vụ lợi ích của Mỹ cũng lập tức bị Mỹ loại bỏ. Để can thiệp, Mỹ và đồng minh vẫn thực hiện cách thức quen thuộc: Sử dụng các trang mạng xã hội (Facebook, Twitter, YouTube) kích động cho chuỗi các sự kiện bùng nổ, lan rộng. Tiếp theo các cuộc biểu tình đường phố dần từ  nhỏ đến lớn với những yêu sách chính trị và kinh tế-xã hội, ở một số nơi kết hợp với bạo động để gây áp lực đối với chính quyền sở tại từ bên trong. Đồng thời, bên ngoài gia tăng áp lực với những tuyên bố của các nhân vật trong chính quyền Mỹ và phương Tây ủng hộ lực lượng chống đối, hối thúc chuyển giao quyền lực và đưa ra những khả năng can thiệp quân sự... Nhưng, nguyên nhân sâu xa, căn bản là các nguyên nhân nội tại, bắt nguồn từ chính thực tế của đất nước và cuộc sống của người dân nơi đây.. Thể chế nhà nước khá đặc biệt.  Nhiều quốc gia theo chế độ cộng hòa ra đời từ các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Tuy-ni-di và Ai Cập từ giữa thế kỷ XX đã là những nước cộng hòa, các đảng cầm quyền đã mang tên là Đảng Dân chủ (Đảng Dân chủ quốc gia Ai Cập, Tập hợp dân chủ Hiến pháp Tuy-ni-di). Nhưng trên thực tế, sau khi giành được độc lập, hầu hết các nhà lãnh đạo A-rập hiện đại này đều dần trở thành những “tổng thống vua” đứng đầu đất nước suốt đời và đều ở tư thế “truyền ngôi” cho con tựa như chế độ phong kiến. Nguyên Tổng thống Ai Cập H.Mu-ba-rắc giữ vị trí đứng đầu đất nước suốt từ năm 1981, nguyên Tổng thống Tuy-ni-di B.A-li từ năm 1987, Tổng thống Y-ê-men A. Xa-lê cũng tại vị liên tục từ năm 1978 v.v. Thể chế nhà nước đặc biệt là một nguyên nhân dẫn đến đường lối điều hành đất nước dần bảo thủ, trì trệ, chuyên chế, mở đường cho ai thâu tóm được quyền lực nhà nước thì cũng thâu tóm luôn các nguồn tài nguyên quốc gia, tham nhũng ngày càng nặng nề, kéo dài. Theo điều tra năm 2009 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Chính phủ Ai Cập xếp thứ 111, Y-ê-men xếp thứ 146 trên 180 quốc gia về chỉ số tham nhũng. Vì lợi ích riêng, họ khó có thể cho dân biết một cách minh bạch, tường tận các vấn đề quan trọng quốc kế, dân sinh và càng khó cho dân tham gia quyết định các chính sách quốc gia. Họ không thể thực hiện dân chủ thực chất, không thể quy tụ, đoàn kết được nhân dân. Điều kiện cá nhân cầm quyền suốt đời dễ dẫn đến lạm dụng quyền lực, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, gia đình trị, “cha truyền con nối”, thu vén những món lợi khổng lồ cho bản thân và gia đình, lối sống đặc quyền, đặc lợi, xa hoa tạo ra những bất công xã hội ngày càng gay gắt, tích tụ đến mức bùng phát không kiểm soát được. Sau thất bại của nguyên Tổng thống Tuy-ni-di và Ai Cập, Tổng thống Y-ê-men A.Xa-lê chấp nhận phương án chuyển giao quyền lực hòa bình và tuyên bố từ chức. * Đời sống nhân dân khó khăn.  Cũng giống các nước khác, khủng hoảng kinh tế thế giới đã ảnh hưởng rất lớn đến các nước A-rập. Tuy nhiên, do các nước này phụ thuộc quá nhiều vào nước ngoài về chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, nhất là về kinh tế (Ai Cập mỗi năm nhận 1,5 tỉ USD viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ) nên khi kinh tế toàn cầu suy giảm, nền tài chính, tiền tệ thế giới rơi vào khủng hoảng, các nước này bị tác động sớm và mạnh mẽ nhất. Tình hình kinh tế phát triển chậm, lạm phát tăng, không thể giải quyết vấn đề thất nghiệp, nhất là với thế hệ trẻ. Tình trạng thất nghiệp, đói nghèo, giá cả leo thang, mù chữ, tội phạm và tệ nạn xã hội gia tăng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng xa tạo nên mâu thuẫn xã hội gay gắt. Ví dụ, ở Ai Cập, hơn 40% số dân có mức thu nhập 2 USD/ngày, 1/3 số dân mù chữ, năm 2010 giá lương thực, thực phẩm tăng 20%, lạm phát lên đến 13%, thất nghiệp chiếm 25%. Ai Cập từng là một trong những “trụ cột” sản xuất lương thực của thế giới, nay lại trở thành một trong những nước nhập khẩu lớn nhất thế giới. Theo Bộ Nông nghiệp Ai Cập, năm 2010, khoảng 40% tổng sản lượng lương thực thực phẩm, trong đó có 60% bột mỳ - loại lương thực chủ yếu - được nhập khẩu. Giá ngũ cốc leo thang nhanh, riêng giá lúa mỳ đã tăng hơn 50%. Các nước khác trong khu vực tình hình không sáng sủa hơn. Ở Y-ê-men, năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp lên đến hơn 30% Chính đời sống khó khăn, thiếu thốn về vật chất, lại bị o ép, thiếu dân chủ, tự do về chính trị đã khiến bất bình của dân ngày càng gia tăng. Khi các đảng phái đối lập, các nhóm Hồi giáo cực đoan trỗi dậy, được hỗ trợ của bên ngoài, nêu khẩu hiệu “dân chủ”, “chống tham nhũng”, “chống độc quyền, gia đình trị” vốn là “gót chân Asin” của nhà cầm quyền đã lôi kéo được nhân dân.  * Mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc không được giải quyết từ gốc.  Điều này có thể thấy rõ nhất ở Li-bi, nơi mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa các bộ tộc sống ở miền Tây (bang Tri-pô-li-a với trung tâm là thủ đô Tri-pô-li) với cư dân ở miền Đông (bang Ki-re-na-it với trung tâm là Ben-ga-di). Mâu thuẫn này đã được Mỹ và các nước đồng minh triệt để lợi dụng, ủng hộ lực lượng nổi dậy ở miền Đông chống lại Tổng thống M.Ca-đa-phi vốn là người sinh ra ở miền Tây. Biến động chính trị do nhiều nguyên nhân, được tích tụ trong thời gian dài vừa sâu xa vừa trực tiếp, những toan tính lợi ích của các lực lượng chính trị trong mỗi nước và tham vọng cạnh tranh quyền lực, lợi ích giữa các cường quốc trên thế giới khiến cho các mâu thuẫn, xung đột ở Bắc Phi, Trung Đông thêm phức tạp, kéo dài. Khi các tổng thống đã ra đi, liệu tự do, dân chủ, công bằng, no ấm của người dân có được thực hiện? Bởi xoá bỏ một chính phủ và lập mới một chính phủ là hai việc khác nhau. Một chính phủ được bên ngoài hậu thuẫn lập nên vì lợi ích của họ thì chính phủ đó khó có thể hành động độc lập trước hết vì lợi ích của quốc gia, dân tộc mình.  Tìm nguyên nhân cũng chính là rút ra bài học cảnh tỉnh, cảnh giác cho nhiều quốc gia, dân tộc trên thế giới. Với Việt Nam, bài học sâu xa, căn bản, quan trọng nhất luôn là lấy dân làm gốc. Phải “khoan thư sức dân làm kế sâu rễ, bền gốc” (Trần Hưng Đạo), bởi “chở thuyền là dân mà lật thuyền cũng là dân” (Nguyễn Trãi). Khi dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, công bằng, không bức xúc vì tham nhũng, dân sẽ bảo vệ Đảng, Chính phủ. Khi đó, không một thế lực bên ngoài nào dù mạnh và mưu mô quỷ quyệt đến đâu có thể can thiệp, gây rối, lật đổ. “Nước lấy dân làm gốc. Gốc có vững, cây mới bền” (Hồ Chí Minh). Bài học không mới nhưng vẫn luôn nóng bỏng tính thời sự trong học và thực hành đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý - lấy dân làm gốc. 3.2.2. LYBIA Bản đồ Libya Nguon: CIA map – CIA World Factbook Là một quốc gia tại Bắc Phi. Nước này có biên giới giáp với Địa Trung Hải ở phía bắc, Ai Cập ở phía đông, Sudan ở phía đông nam, Tchad và Niger ở phía nam, Algérie và Tunisia ở phía tây. Với diện tích hơi lớn hơn bang Alaska, Libya là nước lớn thứ tư ở châu Phi và thứ 17 trên thế giới[2]. Thủ đô của Libya là thành phố Tripoli, với 1,7 triệu trong tổng số 5,8 triệu dân cả nước. Ba khu vực truyền thống của quốc gia này là Tripolitania, Fezzan và Cyrenaica. Cái tên "Libya" bắt nguồn từ chữ "Lebu" trong tiếng Ai Cập, để chỉ những người dân Berber sống ở phía tây sông Nil, và được đưa vào tiếng Hy Lạp để trở thành "Libya". Ở thời Hy Lạp cổ đại, thuật ngữ "Lybya" có nghĩa rộng hơn, gồm toàn bộ Bắc Phi ở phía tây Ai Cập, và đôi lúc còn bao gồm toàn bộ lục địa châu Phi. Quá trình thành lập nhà nước Bằng chứng khảo cổ học cho thấy ít nhất từ tám nghìn năm trước Công Nguyên, đồng bằng ven biển Libya đã có những người dân thuộc văn hoá đồ đá mới biết thuần hóa gia súc và trồng cấy lương thực[6]. Nền văn hóa này đã phát triển từ hàng nghìn năm trong vùng, hàng nghìn năm trước khi các lực lượng từ châu Âu cổ tới đây thống trị, cho tới khi nó bị thay thế bởi người Berber. Vùng đất trở thành nước Libya hiện đại ngày nay đã từng bị chinh phục ở nhiều mức độ khác nhau từ bên ngoài bởi người Phoenicia, Carthage, Hy Lạp, La Mã, Vandal, ngoài ra Đế chế Byzantine từng cai trị toàn bộ hay từng phần của Libya. Ngoài một số phế tích tại Cyrene, Leptis Magna và Sabratha của người Hy Lạp và người La Mã, hiện nay có rất ít di vật của hai nền văn hóa cổ đó trên đất Libya. Người Phoenicia là những người đầu tiên thành lập các cảng thương mại ở Libya khi những thương nhân tại Tyre (Liban hiện nay) phát triển các mối quan hệ thương mại với các bộ lạc người Berber và thiết lập các hiệp ước với họ nhằm đảm bảo sự hợp tác trong việc khai thác các nguyên liệu thô[7] [8]. Tới thế kỷ thứ 5 TCN, Carthage, thuộc địa lớn nhất của người Phoenicia đã mở rộng quyền bá chủ của mình ra hầu hết toàn bộ vùng Bắc Phi ngày nay, nơi một nền văn minh riêng biệt, được gọi là Punic, đang hình thành. Những khu định cư của người Punic ở dọc bờ biển Libya gồm Oea (Tripoli), Labdah (sau này là Leptis Magna) và Sabratha, tại một vùng sẽ được gọi chung là Tripolis, hay "Ba thành phố", và thủ đô Tripoli ngày nay của Libya cũng có tên xuất phát từ đó. Người Hy Lạp cổ đại đã chinh phục Đông Libya, khi theo thông lệ, những người dân từ hòn đảo Thera đông đúc theo lời sấm tại Delphi đi tìm kiếm một vùng đất mới ở Bắc Phi. Năm 631 trước Công Nguyên họ bắt đầu biết đến thành phố Cyrene[9].Trong vòng 200 năm, người Hy Lạp lập bốn thành phố quan trọng khác trong vùng đất Libya là: Barce (Al Marj); Euhesperides (sau này là Berenice, Benghazi) hiện nay; Teuchira (sau này là Arsinoe, Tukrah hiện nay); và Apollonia (Susah), cảng Cyrene. Cùng với Cyrene, chúng được gọi là Pentapolis (Năm thành phố). Người La Mã đã thâu tóm các vùng thuộc Libya, và trong hơn 400 năm, Tripolitania và Cyrenaica trở thành các tỉnh thịnh vượng của La Mã[10]. Những tàn tích thời La Mã, như những tàn tích ở Leptis Magna, minh chứng cho sinh khí từng có ở vùng này, khi các thành phố thịnh vượng và thậm chí là các thị trấn nhỏ hơn đều có chung tình trạng phát triển với mức sống cao ở đô thị. Các nhà buôn và thợ thủ công từ nhiều vùng của đế chế Roma đã tới Bắc Phi, nhưng đặc điểm của các thành phố Tripolitania vẫn mang nhiều nét Punic của người Punic và nét Cyrenaica của người Hy Lạp. Người Ả Rập đã chinh phục Libya vào thế kỷ thứ 7. Trong những thế kỷ tiếp theo, nhiều người bản địa đã theo đạo Hồi, tiếng Ả Rập và văn hoá. Đế chế Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ đã chinh phục nước này vào giữa thế kỷ 16, Libya tiếp tục là một phần của đế chế đó, dù tại nhiều thời điểm hầu như nó đã trở thành một vùng tự trị, cho tới khi bị Ý xâm chiếm năm 1911. Sau các cuộc kháng chiến bất thành, Libya bị biến thành một nước thuộc địa[11]. Năm 1934, Ý chấp nhận cái tên "Libya" (đã được người Hy Lạp sử dụng để chỉ cả vùng Bắc Phi, ngoại trừ Ai Cập), làm tên chính thức của thuộc địa này, khi ấy nó gồm các tỉnh Cyrenaica, Tripolitania và Fezzan. Vua Idris I, Emir xứ Cyrenaica, lãnh đạo cuộc kháng chiến của người Libya chống lại sự chiếm đóng của Ý giữa hai cuộc thế chiến. Từ năm 1943 tới 1951, Tripolitania và Cyrenaica nằm dưới quyền chiếm đóng của Anh trong khi Pháp chiếm đóng Fezzan. Năm 1944, Idris trở về nước từ nơi bị trục xuất là Cairo nhưng không thể cư trú thường xuyên tại Cyrenaica cho tới khi một số quyền chiếm đóng của nước ngoài bị bãi bỏ năm 1947. Theo các điều khoản của hiệp ước hòa bình năm 1947 với các nước Đồng Minh, Ý từ bỏ mọi yêu sách đối với Libya Ngày 21 tháng 11 năm 1949, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua một nghị quyết tuyên bố rằng Libya sẽ trở thành một nước độc lập trước ngày 1 tháng 1 năm 1952. Idris đại diện cho Libya tại các cuộc đàm phán của Liên Hiệp Quốc sau đó. Khi Libya tuyên bố nền độc lập của mình ngày 24 tháng 12 năm 1951, nó trở thành nước đầu tiên giành được độc lập thông qua Liên Hiệp Quốc và một trong những thuộc địa đầu tiên của châu Âu ở châu Phi giành lại được độc lập[13]. Libya tuyên bố trở thành quốc gia theo chính thể quân chủ lập hiến dưới quyền Vua Idris. Lybia là một trong những quốc gia có số dân trên diện tích thấp nhất trên thế giới, 90% dân số sống trên một vùng chiếm chưa tới 10% lãnh thổ, đa số dọc theo bờ biển. Hơn nửa triệu người sống tại đô thị, và tập trung đông nhất ở hai thành phố lớn là Tripoli và Benghazi Người Lybia bản địa chủ yếu gồm người Ả Rập và người Berber. Có một số lương nhỏ người Tuareg và Tebu sống tập trung ở phía nam, sống theo kiểu du mục hay bán du mục. Trong số người nước ngoài sống tại Lybia, nhóm đông nhất là các công dân từ các quốc gia châu Phi gồm Bắc Phi (chủ yếu là người Ai Cập và Tunisia), Tây Phi và người Phi vùng Hạ Sahara Người Berber ở Lybia và người Ả Rập chiếm 97% dân số, 3% còn lại là người Phi da đen, người Hy Lạp, Maltese, Ý, Ai Cập, Pakistan, Thổ, Ấn Độ và Tunisia Ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất ở Libya là tiếng Ả Rập, và đây cũng là ngôn ngữ chính thức. Tiếng Tamazight, tuy không phải là ngôn ngữ chính thức nhưng được người Berber ở Libya sử dụng. Ngoài ra, người Tuareg nói tiếng Tamahaq, thứ ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Tamasheq duy nhất được biết đến ở vùng phía bắc. Tiếng Ý và tiếng Anh thỉnh thoảng được sử dụng tại các thành phố lớn, dù những người nói tiếng Ý chủ yếu đều đã có tuổi. Các phe nhóm tham gia xung đột hiện nay ở Libya Trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị và xã hội ở Libya đang ngày càng xấu đi, thì tình trạng xung đột kéo dài 3 năm nay, kể từ khi chính quyền của nhà lãnh đạo, Đại tá Moamer Kadhafi bị lật đổ, đất nước Bắc Phi này đã trở thành cuộc đối đầu đẫm máu giữa một bên là phong trào Anh em Hồi giáo ở Libya cùng với các phần tử có quan hệ với tổ chức khủng bố Al-Qaeda, với bên còn lại là đội quân do tướng về hưu Khalifa Haftar lãnh đạo. Kể từ sau sự sụp đổ của chính quyền Kadhafi vào năm 2011, chính quyền mới ở Libya đã liên tục bị mất dần sự kiểm soát, và khoảng trống quyền lực ấy đã tạo ra cuộc xung đột giữa các nhóm phiến quân, các bộ lạc và các tổ chức Hồi giáo. Có 4 lực lượng chính tham gia vào cuộc xung đột hiện nay, trong đó có 3 lực lượng hiện đang dồn tổng lực để chiếm lấy các địa điểm chiến lược như sân bay Tripoli, trong khi nhóm còn lại thì đang "ém mình" chờ thời cơ. Lực lượng thứ nhất bao gồm khoảng 20 tổ chức vũ trang Hồi giáo, với các binh sĩ nước ngoài và địa phương. Những phần tử này nhận lệnh từ các tổ chức có quan hệ thường xuyên với Al-Qaeda hoặc từ tổ chức Anh em Hồi giáo ở vùng Misrata thuộc Libya, với mục tiêu chính là chiếm quyền kiểm soát thủ đô Tripoli. Lực lượng này cũng tham gia vào các cuộc đụng độ với đội quân của tướng Khalifa Hafta ở miền Đông Libya. Tướng Khalifa Hafta. Tại miền Tây, các phiến quân Hồi giáo đã lập ra cái mà họ gọi là "Lữ đoàn lá chắn", trong khi tại các thành phố Benghazi và Derna, lực lượng này lại tập hợp dưới cái tên "Ansar Al-Sharia" (Những người ủng hộ bộ luật Hồi giáo Al-Sharia). Tổ chức này mới bị Mỹ liệt vào danh sách khủng bố. Lực lượng thứ hai bao gồm các nhân vật theo tư tưởng tiến bộ và ủng hộ chính quyền Trung ương. Nhóm này đang kiểm soát sân bay quốc tế Tripoli, với 2 nhóm chính là Lữ đoàn Qaqaa và Lữ đoàn Tia chớp. Bên cạnh đó còn có nhiều nhóm vũ trang nhỏ hơn đến từ thành phố Zintan. Đây cũng chính là lực lượng đóng vai trò quan trọng trong việc lật đổ ông Kadhafi hồi năm 2011. Nhóm thứ ba là tổ chức "Quân đội quốc gia" do tướng Khalifa Haftar cầm đầu chiến đấu chủ yếu ở phía Đông Nam Benghazi, với chiến lược tiến hành không kích nhằm vào các phần tử Hồi giáo cực đoan cùng với các đợt tiến công lẻ tẻ trên bộ. Không giống như hai lực lượng đầu tiên, đội quân của ông Haftar là một lực lượng mới xuất hiện từ đầu năm 2014, song đã thu hút được sự tham gia của nhiều nghìn người ủng hộ. Số lượng người tham gia đông đảo này đã hình thành nên một lực lượng gần giống như quân đội của chính phủ tại khu vực Benghazi. Tuy nhiên, tướng Haftar vẫn chưa nhận được sự công nhận từ Chính phủ Libya hay bất kì bộ lạc lớn nào tại nước này. Lực lượng thứ tư xuất hiện trong không gian của các bộ lạc ở Libya, vốn bị các tay súng Hồi giáo cực đoan cách ly ngay từ sau năm 2011. Các bộ lạc tại Libya vẫn giữ được ở mức độ nhất định sự đồng thuận và phối hợp, nhưng họ cũng không nghiêng hẳn về bên nào trong cuộc xung đột hiện nay. Hành động đáng kể nhất mà lực lượng này đã làm là lên án các "nhóm vũ trang Misrata", vốn bị coi là đã ủng hộ ông Gaddafi trong cuộc nội chiến năm 2011. Vào đầu tuần vừa qua, ông Issa Abdul Majid, thủ lĩnh bộ lạc Tebu cho biết tình hình tại Libya đang ngày càng trầm trọng và cũng giống như thủ lĩnh của nhiều bộ lạc khác, ông không muốn can dự vào cuộc xung đột đang diễn ra giữa hai phe Hồi giáo và cải cách tại Libya hiện nay. Trước đó, tình trạng xung đột tại Libya bắt đầu nổ ra sau khi ông Kadhafi bị giết chết và chính quyền mới không thể thành lập được một lực lượng quân đội đủ mạnh để đảm bảo tình hình an ninh. Chính quyền Trung ương cũng không thành công trong việc hoà giải dân tộc thời hậu nội chiến. Tại các nước láng giềng trong khu vực, sự trỗi dậy của phe Hồi giáo ở Ai Cập, Tunisia, Algeria, Mali, Yemen... cũng là nguồn cổ vũ cho phe Hồi giáo ở Libya. Theo một số nguồn tin an ninh Libya, hiện có khoảng 15.000 chiến binh Hồi giáo nước ngoài đang tham chiến, nhưng phục vụ các lực lượng, phe phái khác nhau, tại Libya. Khói bốc lên trong vụ cháy kho chứa dầu do trúng đạn pháo trong cuộc giao tranh giữa các phe phái gần sân bay ở Tripoli ngày 2/8. Ảnh: THX-TTXVN Các nhóm Hồi giáo ở Libya cảm nhận được sự đe doạ đến từ tổ chức của ông Haftar cũng như các nhóm dân quân khác. Chính điều này đã thu hút các tay súng từ Algeria và Ai Cập, những người hiện đang đóng vai trò quan trọng trong các tổ chức Hồi giáo ở Libya. Lực lượng này càng được củng cố sau khi các tay súng người Libya trở về từ Syria và Iraq. Cũng cần phải nói thêm rằng sự thất bại của phe Hồi giáo trong cuộc bầu cử nghị viện vừa qua cũng là một nguyên nhân dẫn đến sự đối đầu giữa phe này với phần còn lại của đất nước Bắc Phi này. Theo một số nguồn tin từ Libya, trong vòng 3 năm qua, phe Hồi giáo đã tập hợp được một lượng lớn vũ khí cả từ lực lượng quân đội dưới thời Kadhafi, lẫn từ nước ngoài. Trong những ngày cuối của cuộc nội chiến năm 2011, các tay súng Hồi giáo ở Misrata đã thu được hàng trăm xe tăng và tên lửa đất đối không từ tay quân đội Kadhafi. Cũng trong 3 năm qua, các nhóm Hồi giáo như Lữ đoàn Lá chắn, Phòng tác chiến Hồi giáo Cách mạng đã thành lập được nhiều trại huấn luyện tân binh với trang, thiết bị rất hiện đại. Tổ chức “Ansar Al-Sharia” (Những người ủng hộ bộ luật Hồi giáo Al-Sharia), vốn bị coi là tán ác như Al-Qaeda và tổ chức “Nhà nước Hồi giáo tại Iraq và vùng Levant” (ISIL) cho biết họ muốn áp dụng "luật của Chúa"(tức là luật Al-Sharia) trên toàn cõi Libya, và rằng các cuộc bầu cử và tiến trình dân chủ hoá trong thời gian vừa qua tại quốc gia này, là hành động của những kẻ bội giáo, bất chấp một sự thật làhọ đã lợi dụng một cách triệt để quốc hội và chính phủ Libya trong suốt 2 năm qua để làm mất trật tự, trị an của đất nước. Trên chiến trường, Ansar Al-Sharia tập trung vào các cuộc đối đầu với lực lượng của tướng Haftar ở miền Đông Libya, trong khi các nhóm từ Misrata lại tập trung ở miền Tây. Theo các nguồn tin thân cận với tướng Haftar, trong tháng 7 vừa qua, tổng số binh sĩ và nhân viên làm việc dưới quyền viên tướng về hưu này, đã lên đến 70.000 người, trong đó có 40.000 tân binh. Tuy nhiên, nguồn tin này cũng cho biết con số thành viên của các nhóm Hồi giáo còn lớn hơn nhiều, và họ nhận được sự trợ giúp rất lớn từ bên ngoài. Trong 2 tháng qua, lực lượng của ông Haftar đã tiến hành nhiều cuộc tấn công vào các doanh trại của nhóm Ansar Al-Sharia ở Benghazi và Derna, nhưng sau đó phe Hồi giáo nhanh chóng rút lui về các đô thị, gây khó khăn cho đối phương. Trước đó, lực lượng dưới quyền tướng Haftar có khả năng thắt chặt vòng vây ở các khu vực nông thôn ngoại ô Benghazi, song hiện nay họ đã bắt đầu tiền vào các thành phố. Nếu nhìn vào sự chồng chéo về cấu trúc cũng như tổ chức của các bên tham chiến hiện nay tại Libya, ngay cả những người lạc quan nhất cũng phải nhận định rằng cuộc xung đột hiện nay ở Libya sẽ vẫn còn tiếp diễn với quy mô ngày càng rộng lớn hơn, và đương nhiên cũng sẽ đẫm máu hơn. Bản đồ thể hiện thành phần dân tộc ở Libyauninhabited Nguon: CIA map [1], traced by xyzzy This vector image was created with Inkscape. – Traced from Map No. 501564. Tôn giáo: Đạo Hồi Libya Tôn giáo thống trị ở Libya là Hồi giáovới 97% dân số theo tín ngưỡng này.]Hầu như toàn bộ người Hồi giáo Libya đều thuộc dòng Hồi giáo Sunni, nó có ảnh hưởng lớn cả trên tinh thần cá nhân và các chính sách của chính phủ. Trước thập kỷ 1930, Phong trào Sanusi là phong trào Hồi giáo lớn nhất ở Libya. Đây là một phong trào hướng tới sự phục hưng tôn giáo đã được thay đổi nhằm tương thích với cuộc sống sa mạc. Các zawaayaa (chi nhánh) của nó đã được tìm thấy tại Tripolitania và Fezzan, nhưng ảnh hưởng lớn nhất của Sanusi nằm tại Cyrenaica. Nhằm cứu nguy tôn giáo khỏi sự bất ổn và tình trạng hỗn loạn, phong trào Sanusi đã mang lại cho những người dân bộ lạc Cyrenaican một sự gắn bó tôn giáo và những tình cảm thống nhất[70]. Phong trào Hồi giáo này, cuối cùng bị tiêu diệt bởi cả cuộc xâm lược của Ý và sau đó là bởi chính phủ Gaddafi[70], phong trào này mang nhiều tính bảo thủ và dù sao cũng có khác biệt so với Hồi giáo hiện nay ở Libya. Gaddafi quả quyết rằng ông là một tín đồ Hồi giáo cuồng nhiệt và chính phủ của ông đang giữ vai trò ủng hộ các viện Hồi giáo trên khắp thế giới thu hút thêm các tín đồ theo đạo Hồi[71]. Tuy nhiên, Hồi giáo Libya luôn được coi là theo truyền thống, nhưng không thô bạo so với Hồi giáo tại các nước khác. Hình thức Hồi giáo Sufism của Libya rất phổ biến trên toàn quốc[72]. Ngoài đa số tuyệt đối tín đồ Hồi giáo Sunni, có một cộng đồng thiểu số rất nhỏ Cơ đốc giáo, gồm hầu hết là người nước ngoài. Cũng có một cộng đồng Anh giáo nhỏ, gồm phần lớn là công nhân nhập cư châu Phi tại Tripoli; nó là một phần của Giáo khu Ai Cập[73]. Cũng có khoảng 40.000 tín đồ Công giáo La Mã tại Libya với hai giám mục, một tại Tripoli (phục vụ cộng đồng Ý) và một tại Benghazi (dành cho cộng đồng Malta). Tới thời gian gần đây Libya vẫn là nơi có một trong những cộng đồng người Do Thái lớn nhất thế giới và đã từng tồn tại ít nhất từ năm 300 TCN[74]. Một loạt các cuộc tàn sát người Do Thái bắt đầu từ tháng 11 năm 1945 và kéo dài gần ba năm đã làm suy giảm đáng kể số lượng người Do Thái ở Libya.[75] Năm 1948, khoảng 38.000 người Do Thái còn sống tại nước này. Từ khi Libya tuyên bố độc lập năm 1951, đa số cộng đồng Do Thái đã di cư khỏi đất nước. Một loạt các cuộc tàn sát người Do Thái khác diễn ra sau cuộc Khủng hoảng Suez năm 1956, buộc khoảng 100 người Do Thái phải bỏ chạy. Khi Gaddafi lên nắm quyền lực, số người Do Thái còn lại bị tịch thu gia sản và những khoản nợ của người khác đối với họ bị xóa bỏ. Tuy nhiên, gần đây Gaddafi đã thông báo rằng những khoản bồi thường thích hợp sẽ được chi trả cho những người Do Thái Libya đã bỏ đất nước ra đi.[76] Dù Giáo đường Do Thái chính ở Tripoli đã được tu bổ lại năm 1999, nó vẫn chưa được mở cửa cho công chúng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docdan_toc_ton_giao_nhom_4_8658.doc