Bài tập cá nhân tố tụng dân sự (tình huống)

ĐỀ BÀI Anh A có hộ khẩu thường trú tại quận HB thành phố HP kết hôn với chị P có hộ khẩu thường trú tại thành phố MT thuộc tỉnh TG. Sau khi kết hôn năm 2000 anh A và chị B có mua chung một căn nhà tại quận 1 thành phố H và sống chung tại đây cho tới 12/2005 nhưng chưa chuyển hộ khẩu.Cũng trong thời gian này anh chị có hùn vốn mua chung với anh C một lô đất tại quận BT thành phố H. Do mâu thuẫn vợ chồng từ tháng 1/2006 chị B bỏ về sinh sống tại thành phố MT thuộc tỉnh TG (có đăng ký tạm trú). Ngày 1/3/2007 anh A gửi đơn đến tòa án quận 1 thành phố H yêu cầu xin ly hôn với chị B và chia tài sản chung vợ chồng. Hỏi: a) Theo anh (chị), tòa án quận 1 thành phố H có thẩm quyền giải quyết vụ án không? Tại sao? b) Giả sử anh A và chị B không yêu cầu ly hôn mà chỉ yêu cầu giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng. Hãy xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết?

doc4 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 3708 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Bài tập cá nhân tố tụng dân sự (tình huống), để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ĐỀ BÀI Anh A có hộ khẩu thường trú tại quận HB thành phố HP kết hôn với chị P có hộ khẩu thường trú tại thành phố MT thuộc tỉnh TG. Sau khi kết hôn năm 2000 anh A và chị B có mua chung một căn nhà tại quận 1 thành phố H và sống chung tại đây cho tới 12/2005 nhưng chưa chuyển hộ khẩu.Cũng trong thời gian này anh chị có hùn vốn mua chung với anh C một lô đất tại quận BT thành phố H. Do mâu thuẫn vợ chồng từ tháng 1/2006 chị B bỏ về sinh sống tại thành phố MT thuộc tỉnh TG (có đăng ký tạm trú). Ngày 1/3/2007 anh A gửi đơn đến tòa án quận 1 thành phố H yêu cầu xin ly hôn với chị B và chia tài sản chung vợ chồng. Hỏi: a) Theo anh (chị), tòa án quận 1 thành phố H có thẩm quyền giải quyết vụ án không? Tại sao? b) Giả sử anh A và chị B không yêu cầu ly hôn mà chỉ yêu cầu giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng. Hãy xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết? BÀI LÀM a) Theo em Tòa án quận 1 thành phố H không có thẩm quyền giải quyết vụ án, bởi: Theo tình huống mà đề bài đưa ra, ta có thể xác định đây là những tranh chấp về hôn nhân và gia đinh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Đó là vụ án về lý hôn và chia tài sản khi ly hôn (Khoản 1 Điều 27 BLTTDS năm 2004), trong đó anh A là nguyên đơn, chị B là bị đơn. Theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 BLTTDS thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án này là Tòa án nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bị đơn. Điều 52 BLTTDS quy định:”1. Nơi cư trú của cá nhân là nơi người đó thường xuyên sinh sống. 2. Trường hợp không xác định đuợc nơi cư trú của cá nhân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú là nơi người đó đang sinh sông”. Và cũng theo quy định tại Điều 12 Luật cư trú thì nơi cư trú đó của cá nhân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú. Nơi thường trú là nơi cá nhân đó sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn ở một chỗ nhất định và đã đăng ký thường trú. Trường hợp cá nhân không có hộ khẩu thường trú và không có nơi thường xuyên sinh sống thì nơi cư trú của người đó là nơi tạm trú (nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú) và có đăng ký tạm trú. Như vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án trong tình huống này sẽ là tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc; có nghĩa là phải xác định được nơi cư trú, làm việc của chị B. Chị B và anh A sống chung với nhau từ sau khi kết hôn năm 2000 đến tháng 12/2005 nhưng chưa chuyển hộ khẩu ở Quận 1 thành phố H. Nhưng đến tháng 1/2006 do mâu thuẫn vợ chồng, chị B đã chuyển về sinh sống tại thành phố MT thuộc tỉnh TG (có đăng ký tạm trú). Đây cũng chính là nơi có hộ khẩu thường trú của chị B. Vậy trường hợp này nơi cư trú của chị B được xác định là thành phố MT thuộc tỉnh TG. Vậy Tòa án quận 1 thành phố H không có thẩm quyền giải quyết vụ án. Trong trường hợp này anh A nếu muốn Tòa án quận 1 thành phố H giải quyết thì phải thỏa thuận được bằng văn bản với chị B về việc yêu cầu tòa án nơi anh A cư trú, làm việc giải quyết theo điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS. Có ý kiến cho rằng vì khối tài sản chung của anh A và chị B là bất động sản thì phải áp dụng điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS để giải quyết, theo đó, tòa án quận 1 thành phố H vẫn có thẩm quyền giải quyết vụ án. Bởi theo quy định tại Điều 174 BLDS:”1. Bất động sản là các tài sản bao gồm: a) Đất đai; b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; c) Các tài sản gắn liền với đất đai;…”. Theo em ý kiến này không hợp lý. Vì đối với một vụ án ly hôn có kèm yêu cầu phân chia tài sản chung của vợ chồng thì về nguyên tắc, Tòa án phải giải quyết ly hôn trước rồi mới tiến hành chia tài sản được, nếu không có vấn đề ly hôn thì sẽ trở thành chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Do đó Tòa án cũng không thể tách vụ án ra làm hai để giải quyết được mà phải giải quyết luôn trong một vụ án, cho nên trường hợp này, tòa án có thẩm quyền giải quyết phải là tòa án nơi cư trú của bị đơn nếu các bên không có thỏa thuận khác. b) Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án quận 1 thành phố H hoặc Tòa án quận BT thành phố H tùy theo yêu cầu của nguyên đơn vì: Theo đề bài, ngày 1/3/2007 anh A gửi đơn đến Tòa án quận 1 thành phố H yêu cầu xin ly hôn với chị B và chia tài sản chung của vợ chồng. Nếu như anh A và chị B không yêu cầu ly hôn mà chỉ yêu cầu giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ chồng thì có thể xem đây là tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ta thấy về mặt pháp lý thì hôn nhân của hai người vẫn tồn tại (hôn nhân chỉ chấm dứt về mặt pháp lý khi ly hôn; một bên vợ, chồng chết hoặc bị Toà án tuyên bố là đã chết). Do đó, tranh chấp về vấn đề này sẽ thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 27 BLTTDS. Sau khi sau khi kết hôn năm 2000 anh A và chị B có mua chung một căn nhà tại quận 1 thành phố H và sống chung tại đây cho tới 12/2005 nhưng chưa chuyển hộ khẩu. Cũng trong thời gian này anh chị có hùn vốn mua chung với anh C một lô đất tại quận BT thành phố H. Căn cứ khoản 1 Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình 2000 thì căn nhà và lô đất trên chính là tài sản chung của vợ chồng. Như vậy tài sản chung mà vợ chồng anh A chị B có tranh chấp chính là căn nhà và lô đất, được xác định là tranh chấp về bất động sản bởi vì đối tượng của vụ tranh chấp này chính là bất động sản (Điều 174 BLDS). Đối với những tranh chấp, yêu cầu liên quan đến bất động sản sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án nơi có bất động sản (Điểm c Khoản 1 Điều 35 BLTTDS). Bởi lẽ, bất động sản là một loại tài sản gắn liền với đất không thể dịch chuyển được và thông thường các giấy tờ, tài liệu liên quan đến bất động sản sẽ do cơ quan nhà đất hoặc chính quyền địa phương nơi có bất động sản đó lưu giữ. Do vậy, Tòa án nơi có bất động sản sẽ là Tòa án có điều kiện tốt nhất để tiến hành xác minh, xem xét tại chỗ tình trạng của bất động sản. Đối với các tranh chấp về bất động sản, các bên đương sự không có quyền thỏa thuận về việc yêu cầu Tòa án nơi không có bất động sản giải quyết. Tuy nhiên, theo tình huống của đề bài, căn nhà mà anh A và chị B mua chung nằm tại quận 1 thành phố H, còn lô đất mà anh chị hùn vốn mua chung với anh C ở tại quận BT thành phố H. Như vậy, tài sản chung tranh chấp của anh chị là bất động sản có ở những địa phương khác nhau. Căn cứ vào Điểm i Khoản 1 Điều 36 BLTTDS thì trường hợp này nguyên đơn có quyền lựa chọn Tòa án nơi có một trong các bất động sản giải quyết mà không cần điều kiện nào (theo hướng dẫn tại Mục 5 Phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTPTANDTC ban hành ngày 31/03/2005). TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội 2005; 2. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004; 3. Bộ luật dân sự năm 2005 4. Luật cư trú năm 2006; 5. Luật hôn nhân và gia đình năm 200; 6. Trường Đại học Luật Hà Nội, Câu hỏi và bài tập về luật tố tụng dân sự, Nxb.CAND, Hà Nội 2003; 7. Nghị quyết của HĐTPTANDTC số 01/2005/NQ-HĐTP ban hành ngày 31/03/2005 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBài tập cá nhân tố tụng dân sự (tình huống).doc
Luận văn liên quan