Báo cáo Tuyên bố thế giới về môi trường và phát triển

Qua một tiến trình dài lịch sự, từ năm 1972 tới năm 2012, một điều có thể dễ dàng khẳng định đầu tiên là thế giới đã và đang nỗ lực trong việc chung tay giải quyết các vấn đề môi trường và phát triển. Từ những nhận thức sơ khai ban đầu (tuyên bố Stockholm 1972), con người đã phát triển nó qua các thời kì, điều đó được thể hiện rõ qua các sự kiến lớn như RIO 92, RIO +10 và RIO +20. Mục tiêu của các hội nghị được đặt ra và nỗ lực giải quyết. Hội nghị sau đã cố gắng giải quyết những vấn đề còn tồn động của vấn đề trước. Một điều quan trọng đó là sự chung tay này đã thể hiện một tinh thần đoàn kết của nhận loại, cùng nhau tiến tới một xã hội theo đúng nghĩa phát triển bền vững , cùng nhau xóa đói giảm nghèo, cùng nhau giải quyết biến đổi khí hậu và cùng nhau phát triển Tuy nhiên, một thế giới rộng lớn với hơn 7 tỷ người như hiện này, với hằng trăm quốc gia lớn nhỏ, với mức độ phát triển khác nhau thì để đạt được sự đồng thuận chung trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực là điều vô cùng khó khắn, điều mà các nhà lãnh đạo thế giới cần nỗ lực hơn nữa để đưa ra hướng giải quyết trong tương lai.

pdf31 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 21/02/2014 | Lượt xem: 3182 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Báo cáo Tuyên bố thế giới về môi trường và phát triển, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
y tuyên bố ấy. ­ Thiết lập một sự chung sức toàn cầu mới và hình dáng thông qua việc tạo dựng những cấp độ hợp tác giữa các quốc gia, những thành phần chính trong các xã hội và nhân dân ­ Hoạt động đề đạt những hiệp định quốc tế tôn trọng quyền lợi của mọi người và bảo vệ sự toàn vẹn của hệ thống môi trường và phát triển toàn cầu. ­ Công nhận bản chất toàn bộ và phụ thuộc lẫn nhau của trái đất, ngôi nhà chúng ta. Tuyên bố về môi trường và phát triển (thông qua 27 nguyên tắc): 1. Con người là trung tâm của những mối quan tâm về sự phát triển lâu dài. Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích và lành mạnh mạnh hài hoà với thiện nhiện. 13 2. Phù hợp với hiến chương Liên Hợp Quốc và những nguyên tắc của luật pháp quốc tế, các quốc gia có chủ quyền khai thác những tài nguyên của mình theo những chính sách về môi trường và phát triển của mình, và có trách nhiệm bảo đảm rằng những hoạt động trong phạm vi quyền hạn và kiểm soát của mình không gây tác hại gì đến môi trường của các quốc gia khác hoặc của những khu vực ngoài phạm vi quyền hạn quốc gia. 3. Cần được thực hiện quyền được phát triển để đáp ứng một cách bình đẳng những nhu cầu về phát triển và môi trường của của các thế hệ hiện nay và tương lai. 4. Để thực hiện được sự phát triển lâu bền, sự bảo vệ môi trường nhất thiết sẽ là một bộ phận cấu thành của quá trình phát triển và không thể xem xét tách rời quá trình đó. 5. Tất cả các quốc gia và tất cả các dân tộc cần hợp tác trong nhiệm vụ chủ yếu là xoá bỏ nghèo nàn như một yêu cầu không thể thiếu được cho sự phát triển lâu bền để giảm những sự chênh lệch về mắc sống và để đáp ứng tốt hơn những nhu cầu của đại đa số nhân dân trên thế giới. 6. Chúng ta cần dành sự ưu tiên đặc biệt cho tình hình và những nhu cầu đặc biệt của các nước đang phát triển, nhất là những nước kém phát triển nhất và những nước dễ bị tổn hại về môi trường, những động quốc tế trong lĩnh vực môi trường và phát triển cũng nên chú ý đến những quyền lợi và nhu cầu của tất cả các nước. 7. Các quốc gia cần hợp tác trong tinh thần chung lưng đấu cật toàn cầu để gìn giữ, bảo vệ và phục hồi sự lành mạnh và tính toàn bộ của hệ sinh thái của trái đất. Vì sự đóng góp khác nhau vào việc làm thoái hoá môi trường toàn cầu, các quốc gia có những trách nhiệm chung nhưng khác biệt nhau. Các nước phát triển công nhận trách nhiệm của họ trong sự mưu cầu quốc tế về sự phát triển lâu bền do những áp lực mà xã hội của họ gây cho môi trường toàn cầu và do những công nghệ và những nguồn tài chính họ chi phối, điều khiển. 8. Để đạt được sự phát triển lâu bền và một chất lượng cuộc sống cao hơn cho mọi người, các quốc gia nên giảm dần và loại trừ những phương thức sản xuất và tiêu dùng không lâu bền và đẩy mạnh những chính sách dân số thích hợp. 9. Các quốc gia nên hợp tác để củng cố xây dựng năng lực nội sinh cho sự phát triển lâu bền bằng cách nâng cao sự hiểu biết khoa học thông qua trao đổi kiến thức khoa học và công nghệ, và bằng cách đẩy mạnh sự phát triển, thích nghi truyền bá và chuyển giao công nghệ, kể cả những công nghệ mới và canh tân. 10. Những vấn đề môi trường được giải quyết tốt nhất với sự tham gia của các công dân quan tâm, ở cấp độ thích hợp, ở cấp độ quốc gia, mỗi cá nhân sẽ có quyền thông tin thích hợp liên quan đến môi trường do các nhà chức trách nắm giữ, bao gồm thông tin về những nguyên liệu và hoạt động nguy hiểm trong cộng đồng, và cơ hội tham gia vào những quá trình quyết định. Các quốc gia cần làm cho thuận tiện và khuyến khích tuyên truyền và sự tham gia của nhân dân bằng cách phổ biến thông tin rộng rãi. Nhân dân cần được tạo điều kiện tiếp cận có hiệu quả những văn bản luật pháp và hành chính, kể cả uốn nắn và sửa chữa. 11. Các quốc gia cần ban hành luật pháp hữu hiệu về môi trường, những tiêu chuẩn môi trường, những mục tiêu quản lý và những ưu tiên phải phản ánh nội dung môi trường và phát triển mà chúng gắn với những tiêu chuẩn một vài nước áp dụng có thể không phù hợp và gây tổn phí về kinh tế và xã hội không biện minh được cho các nước khác, nhất là các nước đang phát triển. 12. Các nước nên hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế thế giới thoáng và giúp đỡ lẫn nhau dẫn đến sự phát triển kinh tế và phát triển lâu bền ở tất cả các nước để nhằm đúng hơn 14 vào những vấn đề thoái hoá môi trường. Những biện pháp chính sách về thương mại và những mục đích môi trường không nên trở thành phương tiện phân biệt đối xử độc đoán hay vô lý hoặc một sự ngăn cản trá hình đối với thương mại quốc tế. Cần tránh những hoạt động đơn phương để giải quyết những vấn đề thách thức của môi trường ngoài phạm vi quyền hạn của nước nhập cảng. Những biện pháp môi trường nhằm giải quyết những vấn đề môi trường ngoài ngoài biên giới hay toàn cầu cần dựa trên sự nhất trí quốc tế cao nhất có thể đạt được. 13. Các nước cần soạn thảo luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường cho những nạn nhân của sự ô nhiễm và tác hại môi trường khác. Các quốc gia cũng cần hợp tác một cách khẩn trương và kiên quyết hơn để phát triển hơn nữa luật quốc gia về trách nhiệm pháp lý và bồi thường về những tác hại môi trường do những hoạt động trong phạm vi quyền hạn hay kiểm soát của họ gây ra cho những vùng ngoài phạm vi quyền hạn của họ 14. Các quốc gia nên hợp tác một cách có hiệu quả để ngăn cản sự đặt lại và chuyển giao cho các quốc gia khác bất cứ một hoạt động nào và một chất nào gây sự thoái hoá môi trường nghiêm trọng hoặc xét thấy có hại cho sức khoẻ con người. 15. Để bảo vệ môi trường, các quốc gia cần áp dụng rộng rãi phương pháp tiếp cận ngăn ngừa tuỳ theo khả năng từng quốc gia, ở chỗ nào có nguy cơ tác hại nghiêm trọng hay không thể sửa được, thì không thể nêu lý do là thiếu sự chắc chắn khoa học hoàn toàn để trì hoãn áp dụng các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự thoái hoá môi trường. 16. Các nhà chức trách quốc gia nên cố gắng đẩy mạnh sự quốc tế hoá những chi phí môi trường và sự sử dụng các biện pháp kinh tế, căn cứ vào quan điểm cho rằng về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải chịu phí tổn ô nhiễm, với sự quan tâm đúng mức đối với quyền lợi chung và không ảnh hưởng xấu đến nền thương mại và đầu tư quốc tế. 17. Căn cứ sự đánh giá như một công cụ quốc gia về tác động đối với môi trường của những hoạt động có thể gây tác động xấu đối với môi trường và tuân theo quyết định của một cơ quan quốc gia có thẩm quyền. 18. Các quốc gia cần thông báo ngay cho các quốc gia khác về bất cứ một thiên tai nào hay tình hình khẩn cấp nào có thể gây những tác hại đột ngột đối với môi trường của các nước đó. Cộng đồng quốc phải ra sức giúp các quốc gia bị tai hoạ này. 19. Các quốc gia cần thông báo trước và kịp thời cung cấp thông tin có liên quan cho các quốc gia có khả năng bị ảnh hưởng về những hoạt động có thể gây ảnh hưởng xấu đáng kể đến môi trường vượt ra ngoài biên giới và cần tham khảo ý kiến của các quốc gia này sớm và có thiện ý. 20. Phụ nữ có một vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường. Do đó việc họ tham gia đầy đủ là cần thiết để đạt được sự phát triển lâu bền. 21. Cần phát huy tính sáng tạo, những lý tưởng và sự can đảm của thanh niên thế giới để tạo nên một sự chung lưng đấu cật để đạt được sự phát triển lâu bền và bảo đảm mọi tương lai tốt hơn cho tất cả mọi người. 22. Nhân dân bản xứ và những cộng đồng của họ và các cộng đồng khác ở địa phương có vai trò quan trọng trong quản lý và phát triển môi trường vì sự hiểu biết và tập tục truyền thống của họ. Các quốc gia nên công nhận và ủng hộ thích đáng bản sắc văn hoá và những mối quan tâm của họ, khiến họ tham gia có hiệu quả vào việc thực hiện một sự phát triển lâu bền. 15 23. Môi trường trường và tài nguyên thiên nhiên của các dân tộc bị áp bức, bị thống trị và bị chiếm đóng cần phải được bảo vệ. 24. Chiến tranh vốn dĩ là phá hoại sự phát triển lâu bền. Do đó, các quốc gia cần phải tôn trọng luật pháp quốc tế, bảo vệ môi trường trong thời gian có xung đột vũ trang và hợp tác để phát triển môi trường hơn nữa, như các quốc gia cảm thấy cần thiết. 25. Hoà bình, phát triển và sự bảo vệ môi trường phụ thuộc nhau và không thể chia cắt được. 26. Các quốc gia cần giải quyết mọi bất hoà về môi trường một cách hoà bình và bằng những biện pháp thích hợp theo Hiến chương Liên Hợp Quốc. 27. Các quốc gia và dân tộc cần hợp tác có thiện ý và với tình thần chung lưng đấu cật trong việc thực hiện các nguyên tắc để thể hiện trong bản tuyên bố này và trong sự phát triển hơn nữa luật pháp quốc tế trong lĩnh phát triển lâu bền. Tuyên bố về Môi trường và phát triển nêu ra 27 nguyên tắc không ràng buộc pháp lý, nhằm hướng tới một tuyên bố về Quyền Môi trường để đảm bảo trách nhiệm bảo vệ môi trường của mọi người trong các hoạt động phát triển. Tuyên bố đưa ra nguyên tắc tiếp cận (1)“phòng ngừa là chính” yêu cầu các dự án phải làm đánh giá tác động môi trường; (2)“trách nhiệm chung có phân biệt” các nước phát triển, tùy nước sẽ có trách nhiệm liên quan đặc biệt về việc gây áp lực lên môi trường, tài nguyên toàn cầu; (3)“người gây ô nhiễm phải trả tiền” cá nhân doanh nghiệp sử dụng tài nguyên, môi trường và gây ô nhiễm phải có trách nhiệm tài chính để giảm thiểu khả năng gây sự cố môi trường. Tuyên bố RIO về môi trường và phát triển ra đời sau tuyên bố đầu tiên tại hội nghị Stockholm 20 năm, vậy sau 20 năm đó, nhận thức của nhân loại đối với các vấn đề khoogn còn là mới có gì thay đổi và tiến bộ hơn không? Sau 20 năm các vấn đề môi trường được thế giới nhìn nhận với nhiều điểm khác biệt và tiến bộ. Lần đầu tiên khái niệm phát triển bền vững được khẳng định tại một hội nghị cấp quốc tế, sự nhìn nhận của con người đã hoàn toàn khác, sự công bằng không chỉ ở thế hệ hiện tại như ở Stockholm năm 1972 mà đã vươn tới tương lại. Vấn đề toàn cầu đã được nhìn nhận ở Stockholm 1972 tuy nhiên, sự khác biệt về đóng góp và sự suy thoái môi trường toàn cầu giữa các nhóm nước phát triển và đang phát triển mới được nhìn nhận củ thể và đưa vào nguyên tắc, thể hiện rõ hơn trong Công ước khung về biến đổi khí hậu tại RIO 92. Trong tuyên bố RIO còn đề cập tới vai trò của nhiều thành phần khác nhau đối với các vấn đề môi trường và phát triển như phụ nữ, các nhà khoa học, các cư dân bản địa, điều mà chưa thấy ở tuyên bố Stockholm 20 về trước. 2.2.2 Tuyên bố các nguyên tắc về rừng Khi đưa ra các nguyên tắc về rừng hội nghị đã không nhận được sự thống nhất giữa các quốc gia nên các nguyên tắc chỉ được xem như là một tuyên bố chứ không được kí kết dưới hình thức công ước như các vấn đề khác. Các nước công nghiệp hóa muốn có công ước nhằm ngăn cấm sự triệt phá các khu rừng nhiệt đới, nơi hàng năm có 17 triệu ha rừng bị mất đi,kéo theo sự tổn thất đa dạng sinh học rất lớn trên thế giới.Trong khi đó Malaisia và Ấn Độ lại cho rằng cần phải đề cập tới tất cả các loại rừng chứ không chỉ rừng nhiệt đới như: rừng ôn đới ở Liên Xô, Mỹ, Canada, Châu Âu. Những nước Châu mỹ La tinh cho rằng: việc khai thác rừng nhiệt đới Amazon là chủ quyền và trách nhiêm riêng của những nước trong khu vực, không thể có sự áp đặt của các nước khác. Hơn nữa.vấn đề khai thác rừng nhiệt đới không chỉ đơn thuần là vấn dề sinh thái mà còn là vấn đề chính trị, kinh tế của các nước đang phát triển. Trong số các nguyên tắc về rừng, có những nguyên tắc sau: 16 ­ Tất cả các nước phải tham gia vào việc “phủ xanh thế giới” thông qua việc trồng rừng và bảo vệ rừng. ­ Các nước có quyền sử dụng rừng vì những nhu cầu phát triển kinh tế và xã hội của mình. Việc sử dụng ấy phải dựa trên các chính sách quốc gia phù hợp với sự phát triển bền vững. ­ Việc sử dụng bền vững rừng sẽ đòi hỏi đến những hình bền vững trong sản xuất và tiêu thụ ở mức độ toàn cầu. ­ Rừng phải được quản lý để đáp ứng các nhu cầu về xã hội, kinh tế, sinh thái, văn hoá và tinh thần của các thế hệ hiện đại và tương lai. ­ Những lợi ích mang lại do các sản phẩm công nghệ sinh học và vật chất gen thu được từ rừng phải được chia xẻ, trên cơ sở thoả thuận lẫn nhau, với các nước mà ở đó có rừng. ­ Rừng trồng là những nguồn mà về mặt môi trường rất đúng đắn để cung cấp năng lượng tái sinh và các vật liệu thô cho xây dựng. Việc sử dụng gỗ làm nhiên liệu là đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển. Những nhu cầu đó phải được đáp ứng thông qua việc sử dụng bền vững rừng và tái trồng rừng. Các khu rừng trồng sẽ là nơi đáp ứng công ăn việc làm và làm giảm sức ép đe doạ chặt phá các khu rừng già. Các kế hoạch quốc gia phải nhằm vào việc bảo vệ những mẫu độc đáo của rừng, bao gồm cả những khu rừng già, rừng có giá trị về văn hoá, tinh thần, lịch sử, tôn giáo hoặc các giá trị khác. ­ Trợ giúp tài chính quốc tế, kể cả một số trợ giúp từ khu vực tư nhân phải được đáp ứng cho các quốc gia đang phát triển để giúp họ bảo vệ rừng của mình. ­ Các nước cần có các kế hoạch lâm nghiệp bền vững dựa trên các nguyên tắc chỉ đạo đúng đắn về môi trường. Cái đó bao gồm việc quản lý các khu vực xung quanh rừng theo những phương cách đúng đắn về mặt sinh thái. ­ Kế hoạch lâm nghiệp phải tính đến cả giá trị kinh tế và giá trị phi kinh tế của rừng, và những chi phí về môi trường và những lợi ích thu được do khai thác hoặc bảo vệ rừng. Những chính sách làm suy thái rừng thì phải tránh. ­ Việc lập quy hoạch và thực hiện các chính sách rừng quốc gia phải lôi cuốn được sự tham gia rộng rãi của nhiều tầng lớp nhân dân, bao gồm cả phụ nữ, những người sinh sống trong rừng, nhân dân bản xứ, các ngành công nghiệp, những công nhân và các tổ chức phi chính phủ. ­ Các chính sách về rừng phải nhằm trợ giúp cho tính đồng nhất, nền văn hoá và những quyền của nhân dân bản xứ và những người sinh sống trong rừng. Những kiến thức của họ về bảo vệ và sử dụng lâu bền rừng phải được tôn trọng và sử dụng trong việc phát triển các chương trình lâm nghiệp. Họ phải được đáp ứng những hình thức về hoạt động kinh tế và sở hữu đất đai để làm sao khuyến khích được sự sử dụng bền vững rừng và cung cấp cho họ đủ điều kiện để sinh sống và tồn tại. ­ Việc buôn bán các sản phẩm rừng phải dựa trên các nguyên tắc không phân biệt được các quốc gia thoả thuận. Các biện pháp đơn phương sẽ không được sử dụng để hạn chế hoặc cấm buôn bán quốc tế về gỗ và các lâm sản khác. ­ Các biện pháp buôn bán phải nhằm khuyến khích được việc chế biến tại địa phương và tạo giá cao hơn đối với những sản phẩm đã được chế biến. Các khoản thuế và các hàng rào thị trường khác đối với loại sản phẩm này phải được giảm hoặc loại bỏ. 17 ­ Phải có sự kiểm soát về các chất gây ô nhiễm, như là chất tạo lắng đọng axit có hại cho rừng chẳng hạn. Tuy rằng các tuyên bố về quản lý và phát triển rừng bền vững nêu ra các lợi ích vốn có của rừng, đồng thời trình bày nhiều biện pháp nhằm quản lý, phát triển rừng một cách tổng thể, ưu tiên bảo vệ rừng và phát triển kinh tế rừng một cách hợp lý cho các nước đang phát triển nhưng các tuyên bố vẫn mang tính chất chung chung, tính ràng buộc gần như không có do đây chỉ là “tuyên bố”, các nội dung có tính khái quát cao nhưng lại nhẹ về biện pháp định hướng củ thể. 2.2.3 Công ước khung về biến đổi khí hậu [3] Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) được kí kết nhằm mục đích ngăn chặn sự can thiệp nguy hiểm của các hoạt động phát triển đối với hệ thống khí hậu bằng cách đưa ra các nguyên tắc và cam kết cho các bên kí kết. Công ước phân chia các quốc gia thành hai nhóm: những nước đã công nghiệp hóa và nhóm nước còn lại. Các nước công nghiệp đã góp phần lớn thay đổi khí hậu. Theo UNFCCC các nước công nghiệp có trách nhiệm hàng đầu trong việc hạn chế sự nóng lên toàn cầu và trách nhiệm trợ giúp các nước đang phát triển ứng phó các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. UNFCCC kêu gọi các nước công nghiệp đưa mức phát thải khí nhà kính của họ ở mức năm 1990 vào năm 2000. Công ước đưa ra một số cam kết nổi trội sau: ­ Cung cấp thông tin về chất lượng của các loại khí nhà kính mà mình phát ra, và số lượng có thể được hấp thụ bởi các bể chứa của mình. ­ Công bố những số lượng cập nhật định kỳ về các chương trình nhằm kiểm soát khí thải, và thích ứng với sự biến đổi khí hậu. ­ Ðẩy mạnh việc quản lý đúng đắn và bảo vệ những nơi hấp thụ khí nhà kính như cây cối, rừng và biển. ­ Hợp tác trong việc lập quy hoạch về các tác động của sự biến đổi khí hậu đến các vùng ven biển, đến tài nguyên nước và nền nông nghiệp. ­ Hợp tác trong việc bảo vệ những khu vực dễ bị lụt hoặc hạn hán, đặc biệt là ở Châu Phi. ­ Thông tin cho công chúng biết về sự biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của nó, và đẩy mạnh và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia vào việc triển khai ứng phó. Nhằm tăng cường cơ sở pháp lý về trách nhiệm thực hiện Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCC), tháng 12/1997 tại Kyoto của Nhật Bản, Hội nghị các Bên lần thứ 3 của (UNFCC) đã thông qua Nghị định thư Kyoto với “Mục tiêu là hỗ trợ các nước đang phát triển thực hiện phát triển bền vững và các nước phát triển thực hiện cam kết giảm phát khí thải cacbon dioxit (CO2) và các chất khí gây hiệu ứng nhà kính”. Nghị định thư Kyoto đã được 159 quốc gia ký kết và đã được Nga ký kết vào 3/1999. Nghị định thư qui định, trong giai đoạn đầu có hiệu lực, từ năm 2008 đến năm 2012, Nga cũng như các nước công nghiệp phát triển phải cắt giảm lượng khí thải CO2 xuống mức 5,2% như năm 1990 bằng việc giảm sử dụng than, khí đốt, dầu mỏ chuyển sang sử dụng năng lượng sạch như năng lượng mặt trời, sức gió. 2.2.4 Công ước đa dạng sinh học [4] Văn bản về công ước đa dạng sinh học của Hội nghị đã được nhóm chuyên gia và Ủy ban thương lượng chính phủ, do UNEP thành lập và biên soạn. Tại hội nghị, một số nội dùng về bảo tồn và quản lý tài nguyên sinh học đã được hầu hết các nước thống nhất như: 18 thành lập các khu bảo tồn đa dạng sinh học, kiểm soát và loại trừ các loài ngoại lai có thể đe dọa các hệ sinh thái, các loài và nơi cư trú của chúng. Khôi phục các loài bị đe dọa và tái nhập chung về nơi cư trú tự nhiên của chúng. Tuy nhiều còn nhiều bất đồng giữa các quốc gia, chủ yếu là các vấn đề tài chính giúp đỡ các nước đang phát triển thực hiện Công ước. Ngoài ra còn các vấn đề khác như: Điều kiện để các nước phát triển tiếp cận với các nguồn gen và tài nguyên sinh học hiện có nhiều ở các khu rừng nhiệt đới của các nước đang phát triển, điều kiện để các nước đang phát triển tiếp cận với công nghệ hợp lý về mặt sinh thái và những công nghệ mới nhằm sử dụng các chất và tài nguyên phát hiện ở các khu rừng nhiệt đới của họ, vấn đề quyền sử hữu trí tuệ với công nghệ sinh học sản sinh ra từ các nguồn tài nguyên nói trên. Các nước đang phát triển đòi hỏi tài trợ về vốn, công nghệ và sự hợp tác công bằng hợp lý. Còn các nước phát triển nhất là Mỹ chỉ nhấn mạnh quyền sở hữu trí tuệ à không cam kết thực thi các chính sách ưu đãi về tài chính về chuyển giao công nghệ cần thiết cho các nước đang phát triển. Tuy còn nhiều vấn đề chưa được sự nhất trí cao nhưng công ước cũng thể hiện một sự thành công đáng kể. Công ước đặc biệt nêu lên các biện pháo nhằm bảo tồn và phát triển giá trị đa dạng sinh học trên toàn cầu trên cả lĩnh vực kĩ thuật và quản lý nói chung. Công ước đa dạng sinh học đã được 153 quốc gia kí kết tại Rio. 2.2.5 Chương trình nghị sự 21 Chương trình hành động 21 (Agenda 21) là chỉ nam cho sự nghiệp và các chính sách của mỗi cá nhân bước tiếp vào thế kỷ sau. Chương trình hành động 21 luận giải rằng các vấn đề dân số, tiêu thụ và công nghệ là những động lực trước tiên dẫn đến sự biến đổi môi trường. Nó phân tách ra những nhu cầu nào cần phải được giải quyết nhằm làm giảm các mẫu hình tiêu thụ lãng phí và không hiệu quả ở một số nơi trên thế giới, đồng thời khích lệ sự phát triển gia tăng nhưng bền vững ở những nơi khác. Nó đã đưa ra các chính sách và các chương trình nhằm đạt được sự cân bằng bền vững giữa tiêu thụ, dân số và khả năng duy trì cuộc sống của trái đất. Nó lý giải về một số công nghệ và kỹ thuật cần được phát triển nhằm đáp ứng các nhu cầu của con người trong khi vẫn quản lý được một cách thận trọng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Chương trình hành động 21 đã đưa ra những lựa chọn nhằm chống lại sự suy thoái về đất, không khí và nước, bảo vệ rừng và tính đa dạng của các loài động vật. Chương trình nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói và tiêu thụ quá mức, vấn đề y tế và giáo dục, vấn đề thành phố và nông dân. Tất cả mọi người đều có vai trò giáo dục, vấn đề thành phố và nông dân. Tất cả mọi người đều có vai trò ở đây: các chính phủ, các nhà kinh doanh, các hiệp hội thương mại, các nhà khoa học, các nhà giáo, các người dân bản xứ, phụ nữ, thanh niên và trẻ em. Chương trình hành động 21 không xa lánh việc kinh doanh. Nó chỉ ra rằng, phát triển bền vững là con đường đi đến khắc phục sự nghèo đói và suy thoái môi trường. Chúng ta hiện đang đánh giá sự thành công trong phát triển kinh tế chủ yếu bằng số lượng tiền bạc mà nó mang lại. Các hệ thống tính toán đo đếm giá trị của các nguồn tài nguyên thiên nhiên và chi phí phải trả do sự suy thoái môi trường. Về nguyên tắc người gây ô nhiễm phải gánh chịu mọi chi phí do ô nhiễm gây ra. Ðể giảm được những rủi ro do sự phá huỷ gây ra, việc đánh giá về mặt môi trường phải được tiến hành trước khi khởi đầu các dự án có khả năng gây ra các tác động xấu. Các chính phủ cần phải giảm hoặc loại bỏ những trợ cấp không phù hợp với sự phát triển bền vững. 19 Một đề tài lớn của Chương trình hành động 21 là vấn đề cần thiết phải loại trừ tận gốc sự nghèo đói bằng cách tạo ra cho những người nghèo có nhiều cơ hội hơn trong việc sử dụng những nguồn tài nguyên mà họ cần để sinh sống trên một cơ sở bền vững. Bằng cách chấp nhận thực hiện chương trình hành động 21, các nước công nghiệp hoá đã nhận thức được rằng họ có một vai trò lớn hơn trong việc làm sạch môi trường so với các quốc gia nghèo gây ra ô nhiễm tương đối ít hơn. Các Quốc gia giàu có hơn cũng đã hứa hẹn dành chi phí nhiều hơn trong việc giúp đỡ các quốc gia khác để phát triển theo các cách ít gây ra các tác động môi trường. Ngoài vấn đề kinh phí, các quốc gia cần sự giúp đỡ trong việc tạo lập các kiến thức chuyên môn, năng lực để xây dựng kế hoạch và thực hiện các quyết định về phát triển bền vững. Cái đó đòi hỏi phải có sự chuyển giao thông tin và các kỹ năng. Chương trình hành động 21 yêu cầu các chính phủ phải thực hiện chiến lược quốc gia về phát triển bền vững. Chiến lược ấy phải được xây dựng với sự tham gia rộng rãi của nhiều thành phần, kể cả các tổ chức phi chính phủ và công chúng. Chương trình hành động 21 đặt phần lớn trách nhiệm (cho các chính phủ quốc gia) nhằm tạo ra những thay đổi đồng thời cũng chỉ ra rằng các Chính phủ cần phải cộng tác trên tinh thần bằng hữu rộng rãi với các tổ chức Quốc tế, với các tổ chức kinh doanh, với các chính quyền từ cấp khu vực quốc gia, tỉnh đến cấp địa phương, với các nhóm phi chính phủ và các nhóm công dân khác. Như Chương trình hành động 21 đã chỉ ra, chỉ có sự cộng tác mang tính toàn cầu mới đảm bảo được rằng mọi quốc gia sẽ có được một tương lai an toàn hơn và phồn vinh hơn. Nêu lên những thách thức trong thế kỷ XXI; khẳng định nguyện vọng của nhân loại phát triển theo cách thức bảo đảm kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, xoá đói giảm nghèo, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường. Chương trình nghị sự 21 toàn cầu bao gồm 4 phần chính và 40 chương 20 Tóm tắt văn kiện “Chương trình nghị sự 21” ` 1. Lời nói đầu của Chương trình hành động 21 Phần 1: Những khía cạnh kinh tế xã hội 2. Hợp tác quốc tế 3. Ðấu tranh với nghèo khó 4. Thay đổi các mẫu hình tiêu thụ 5. Dân số và tính bền vững 6. Bảo vệ và nâng cao sức khoẻ của con người 7. Ðịnh cư một cách bền vững 8. Ra quyết định về sự phát triển bền vững Phần 2: Bảo tồn và quản lý nguồn tài nguyên 9. Bảo vệ khí quyển 10. Quản lý lâu bền đất 11. Ðấu tranh với việc phá rừng 12. Ðấu tranh đối với hoang mạc hoá và hạn hán 13. Phát triển bền vững miền núi 14. Phát triển bền vững nông nghiệp và nông thôn 15. Bảo vệ sự đa dạng sinh học 16. Quản lý công nghệ sinh học 17. Bảo vệ và quản lý đại dương 18. Bảo vệ và quản lý nước ngọt 19. Sử dụng an toàn các hoá chất độc 20. Quản lý các chất thải nguy hại 21. Quản lý chất thải rắn và nước cống rãnh 22. Quản lý các chất thải phóng xạ Phần 3: Tăng cường vai trò của nhóm xã hội chính 23. Mở đầu 24. Phụ nữ trong sự nghiệp phát triển bền vững 25. Trẻ em và thanh niên trong sự nghiệp phát triển bền vững 26. Ðẩy mạnh vai trò của nhân dân bản xứ 27. Quan hệ đồng tác với các tổ chức phi chính phủ 28. Chính quyền địa phương 29. Công nhân và các nghiệp đoàn 30. Thương mại và Công nghiệp 31. Các nhà khoa học và công nghệ 32. Tăng cường vai trò của nông dân Phần 4: Phương tiện để thực hiện: 33. Cung cấp tài chính cho phát triển bền vững 34. Chuyển giao công nghệ 35. Khoa học vì phát triển bền vững 36. Giáo dục, đào tạo và sự nhận thức của công chúng 37. Tạo lập năng lực cho phát triển bền vững 38. Tổ chức về phát triển bền vững 39. Luật quốc tế 40. Thông tin phục vụ việc ra quyết định 21 2.3 Kết quả ­ Thế giới nâng cao được nhận thức về môi trường, có rất nhiều thành tựu cụ thể đã đạt được, đặc biệt là chương trình nghị sự 21 của địa phương: 113 quốc gia trên thế giới xây dựng và thực hiện chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia. ­ Các nước phát triển đã nhận thức được rằng họ có một vai trò lớn hơn trong việc làm sạch môi trường so với các quốc gia nghèo gây ra ô nhiễm tương đối ít hơn: kinh phí, kiến thức chuyên môn, công nghệ… 2.4 Việt Nam với RIO 92 [15] Tại hội nghị RIO 92, Việt Nam đã cử đoàn tham dự, đồng thời Việt Nam đã tham gia kí kết các công ước quan trọng được thông qua trong hội nghị. Việt Nam tham gia Công ước Đa dạng sinh học Việt Nam là quốc gia được thiên nhiên ưu đãi về sự phong phú, đa dạng của các hệ sinh thái, các loài và tài nguyên di truyền. Nhận rõ tầm quan trọng của việc bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, Việt Nam đă trở thành một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn Công ước. Ngày 17 tháng 10 năm 1994, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định số 279 QĐ/CTN về việc phê chuẩn Công ước Đa dạng sinh học. Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm làm đầu mối thực hiện Công ước này. Việt Nam tham gia Công ước khung về biến đổi khí hậu Việt Nam đã phê chuẩn Công ước khung về biến đổi khí hậu tháng 11 năm 1994 và phê chuẩn Nghị định thư Kyoto tháng 9 năm 2002. Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao làm Cơ quan đầu mối của Chính phủ tham gia và thực hiện KP. Tháng 3 năm 2003, Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Tài nguyên và Môi trường được chỉ định làm Cơ quan thẩm quyền quốc gia về Cơ chế Phát triển sạch. Ban Tư vấn-Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế Phát triển sạch cũng đã được thành lập vào tháng 4 năm 2003 với sự tham gia của đại diện các Bộ, Cơ quan có liên quan. Thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của việt Nam) Hội nghị RIO 92, đã vạch ra con đường phát triển cho các quốc gia trên thế giới và Việt Nam nói riêng, đó là con đường phat triển bền vững. Trong 20 năm thực hiện phát triển bền vững đất nước, nhất là sau khi Định hướng chiến lược phát triển bền vững (Chương tr.nh nghị sự 21 của Việt Nam) được ban hành (ngày 17 tháng 8 năm 2004), Việt Nam đạt được nhiều thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường. Bên cạnh đó, công cuộc thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam vẫn c.n nhiều hạn chế, thách thức. Để thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam, hàng loạt chính sách đ. Được ban hành trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường và thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững mà Việt Nam đã kí kết. Trong các văn bản này, quan điểm phát triển bền vững của Việt Nam đã được khẳng định, đặc biệt rõ nét trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 1991 – 2000; Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và được tái khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX , X và XI của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 cũng nhấn mạnh “Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là 22 yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược”. Phát triển bền vững đã trở thành đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước. Để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững đất nước, Chính phủ Việt Nam đã ban hành “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Chương tr.nh nghị sự 21 của Việt Nam). CTNS 21 của một số ngành và địa phương cũng đ. Được xây dựng và ban hành. Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã kí những công ước quốc tế có liên quan tới phát triển bền vững. Các cam kết này đã được Chính phủ giao cho các Bộ, ngành có liên quan làm đầu mối, chịu trách nhiệm quản lý, phối hợp tổ chức, lồng ghép trong các kế hoạch và chương trình phát triển ở các cấp để thực hiện. 3 TUYÊN BỐ THIÊN NIÊN KỶ [9] 3.1 Bối cảnh ra đời Tại Phiên họp toàn thể thứ 8, từ 6 đến 8 /9/2000, những người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ họp tại Trụ sở Liên Hợp Quốc (New York). Hội nghị đã thông qua 189 quốc gia nhất trí thông qua Tuyên bố Thiên niên kỷ và cam kết đạt được 8 mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG) vào năm 2015. Đây là một bước tiến mới của các nhà lãnh đạo trên thế giới về những thách thức toàn cầu trong thế kỷ 21, chung sức giải quyết những thách thức này. Tuyên bố đã đặt ra các mục tiêu phát triển cụ thể và mang tính toàn cầu, đặt ra thời gian biểu nhằm thực hiện các mục tiêu. Tuyên bố Thiên niên kỷ và các MDG là lộ trình tiến tới xây dựng một thế giới mà ở đó không còn nghèo đói, tất cả trẻ em được học hành, sức khoẻ của người dân được nâng cao, môi trường được duy trì bền vững và mọi người được hưởng tự do, công bằng và bình đẳng. Mục tiêu: - Thiết lập mối quan hệ đối tác toàn cầu vì mục đích phát triển. - Đảm bảo bền vững về môi trường - Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác. - Nâng cao sức khỏe bà mẹ và trẻ em. - Giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em. - Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao năng lực, vị thế cho phụ nữ. - Đạt phổ cập giáo dục tiểu học. - Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói. 3.2 Nội dung Tuyên bố thiên niên kỉ nêu ra tám vấn đề lớn về phát triển và bảo vệ môi trường. - Các giá trị và nguyên tắc - Hoà bình, an ninh và giải trừ quân bị - Phát triển và xoá bỏ đói nghèo - Bảo vệ môi trường chung của chúng ta. - Quyền con người, dân chủ và quản lý tốt - Bảo vệ những nhóm dễ bị tổn thương - Đáp ứng các nhu cầu đặc biệt của châu Phi 23 - Tăng cường năng lực của Liên Hợp Quốc Các vấn đề trên được đề cập khá chi tiết, củ thể, đã quan tâm và chú ý nhiều hơn tới các thành phần nghèo đói trong xá hội như nhóm những người dễ bị tổn thương do các vụ xung đột vũ trang, các nước nghèo trên thế giời. Tuy nhiên, tuyên bố còn mang nặng tính “đường lối” chứ chưa có hành động và kế hoạch củ thể. 4 HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH TRÁI ĐẤT VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 2002 (RIO +10) 4.1 Bối cảnh [1] Sau 10 năm kể từ hội nghị thượng đỉnh Trái Đất Rio 1992 Tổng thư kí Liên hợp quốc tổng kết lại: “Tình trạng tiêu thụ vô độ tiếp tục đe dọa đến các chu kỳ tự nhiên của sự sống trên trái đất. Chỉ riêng các nước phát triển đã không tiến xa trong việc tôn trọng những cam kết đã đưa ra tại Rio, cả trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của chính mình, cả trong việc giúp đỡ các nước nghèo chống lại nghèo đói”. Jan Pronk, đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Kofi Annan cho biết “Con số những người sống dưới mức nghèo khổ vẫn giữ nguyên, thậm chí còn cao hơn so với mức năm 1992”. Chương trình nghị sự 21 thông qua nhưng việc không có thỏa thuận, quy ước về rừng nên diện tích rừng nguyên sinh vẫn bị cắt giảm ở mức đáng báo động. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc gia, Chương trình nghị sự 21 vẫn có những thành công nhất định, đã có hơn 4 tỉ USD được huy động để cắt giảm khí nhà kính, bảo tồn các vùng đất ngập nước, bảo vệ tài nguyên nước và bảo vệ tầng ozon trên toàn thế giới. Năng lượng tái tạo, trong đó năng lượng gió cũng đã được triển khai rộng rãi. Nghị định thư Kyoto được đưa ra đã 5 năm nhưng một số nước giàu vẫn chưa ký kết tham gia; trong đó đáng kể nhất vẫn lại là nước Mỹ, quốc gia gây ô nhiêm lớn nhất thế giới : Khí thải của Mỹ chiếm ¼ tổng số lượng khí thải của thế giới, và trong vòng 10 năm, lượng khí thải của Mỹ tăng 18%. Kinh tế thế giới ảm đạm do chịu ảnh hưởng của sự suy thoái kinh tế Mỹ và Nhật Bản. Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, ở châu Phi nạn đói trở nên tồi tệ, do chính sách sử dụng đất bất hợp lý ở một số nước điển hình là chương trình tịch thu đất của Tổng thống Zimbabwe Mugabe, nước cung cấp lương thực quan trọng cho khu vực. Nghèo đói cũng làm căn bệnh AIDS ở châu Phi và các nước đang phát triển càng tồi tệ, hơn 20 triệu người đã bị chết vì AIDS trên toàn thế giới trong vòng 20 năm. 4.2 Nội dung hội nghị [20] Hội nghị có sự tham gia của 104 người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ, hơn 9.000 đại biểu, 8.000 tổ chức phi chính phủ và 4.000 thành viên của các báo chí tập trung cho Hội nghị thượng đỉnh. Đáng chú ý là Tổng thống Mỹ Bush vắng mặt. Việt Nam tham gia Hội nghị với mục tiêu xoá đói giảm nghèo và nâng cao mức sống của người dân, Việt Nam phải tăng trưởng, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá. Mục tiêu của Hội nghị thượng đỉnh Trái đất Rio +10 là hòa hợp các nội dung môi trường và phát triển, đạt được thoả thuận xoá đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển bằng cách tăng trưởng kinh tế mà không làm hại môi trường, hướng tới phát triển bền vững. Các hoạt động trong hội nghị Tổng thống Nam Phi Thabo Mbeki tuyên bố: “Một cộng đồng người với những hòn đảo giàu có bao quanh là bờ biển nghèo đói thì không thể bền vững”. Ông cho rằng, đây là 24 lần đầu tiên trong lịch sử loài người, cộng đồng thế giới có đủ năng lực, kiến thức và phương cách để xóa đói giảm nghèo. Nội dung chính tập trung về: - Sự “ toàn cầu hóa hàng ngày và khắp mọi nơi” và cố gắng tìm các giải pháp cho những vấn đề cản trở tiến trình phát triển bền vững. - Sự “ phát triển kinh tế theo hướng thương mại và tự do hóa tài chính” được xem là một vấn đề lớn “đã gây nhiều khó khăn cho việc theo đuổi các mục tiêu môi trường và xã hội…” - Nội dung chi tiết được đại diện các quốc gia nhắc đến trong bài báo cáo của họ: - Rũ bỏ sự phát triển dập khuôn: “Các quốc gia nghèo cần phải gia tăng nhu cầu tiêu thụ tài nguyên của họ, nhưng không đi theo con đường mà các nước giàu và các nền kinh tế phát triển quá nhanh trong nửa thế kỷ qua”. Như vậy, thách thức đối với các nước có nền kinh tế tụt hậu là phải đối đầu đó là sự lựa chọn một hướng đi thân thiện môi trường và xóa nghèo. - Tách biệt tăng trưởng kinh tế khỏi gia tăng sử dụng tài nguyên. - Thu hẹp khoảng cách sinh thái của các nước giàu và nghèo. - Đảm bảo quyền mưu sinh, tập trung vấn đề xóa đói giảm nghèo. - Xoay quanh vấn đề tăng viện trợ hay tăng sự hòa nhập vào thị trường thế giới - Tập trung củng cố quyền và cơ hội cho người nghèo, nhất là phụ nữ. - Chuyển sang kỉ nguyên năng lượng sạch (năng lượng mặt trời, gió, thủy triều…) - Rút ngắn chu trình cung cấp tài nguyên, giữ gìn thiên nhiên. Hội nghị thông qua Tuyên bố Johanesburg: Tuyên bố Johanesburg: - Cam kết phát triển bền vững, thông qua “Kế hoạch hành động của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về phá triển bền vững”. Tăng cường sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các quốc gia trong phát triển bền vững: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. - Nhất trí thông qua “Chương trình để thực hiện Chương trình Nghị sự 21 của Hội nghị Rio năm 1992” và cam kết tiếp tục hành động vì sự phát triển bền vững. Khẳng định Hội nghị Rio là một cột mốc quan trọng để thiết lập một chương trình nghị sự cho phát triên bền vững. - Đưa ra 3 mục tiêu bao quát, thiết yếu, cũng là thách thức phải đối mặt cho phát triển bền vững: chống nghèo khổ; thay đổi hình thức tiêu dùng và mô hình sản xuất; bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên để phục vụ kinh tế, xã hội. - Mở cửa cho những đối tác ngoài chính phủ được đóng góp phần của họ vào sự nghiệp phát triển công bằng và bền vững thông qua những cam kết. Thúc đẩy các hoạt động đa phương để giải quyết các vấn đề môi trường. 25 4.3 Kết quả [21,22] Hội nghị đã thông qua “Kế hoạch thực hiện của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững” và “Tuyên bố Johanesburg về phát triển bền vững” Nội dung chính của “Kế hoạch thực hiện của Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững” 1. Xóa đói giảm nghèo: 2. Thay đổi cơ cấu và sản xuất không bền vững 3. Bảo vệ và quản lý TNTN phục vụ phát triển kinh tế xã hội 4. Phát triển bền vững trong thế giới toàn cầu hóa 5. Y tế và phát triển bền vững 6. Phát triển bền vững ở các quốc đảo nhỏ đang phát triển 7. Phát triển bền vững cho châu Phi 8. Sáng kiến phát triển bền vững trong các khu vực khác - Phát triển bền vững ở châu Mỹ Latinh và Caribe - Phát triển bền vững ở châu Á Thái Bình Dương - Phát triển bền vững ở Tây Á - Phát triển bền vững trong Ủy ban Kinh tế châu Âu 9. Phương tiện thực hiện. 10. Khuôn khổ cho phát triển bền vững Những vấn đề chưa đạt được: - Thiếu hiệp ước có hiệu quả trong việc xóa bỏ đói nghèo và bảo vệ môi trường. - Không đưa ra cam kết hoặc thời gian biểu cụ thể nào để các nước giàu chấm dứt trợ giá nông phẩm nhằm giúp những nước nghèo có cơ hội cạnh tranh. - Mức viện trợ và việc xoá nợ cho các nước nghèo không được cải thiện. - Không có kế hoạch quốc tế nào được đưa ra để giải quyết vấn đề khủng hoảng giá cả hàng hoá. 4.4 Việt Nam với RIO +10 Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự hội nghị RIO +10. Tại hội nghị Việt Nam đã trình bày Chương trình Nghị sự 21 của mình . Văn kiện này khẳng định lại cam kết giải quyết các vấn đề phát triển bền vững mà Việt Nam lần đầu tiên đưa ra tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới ở Rio cách đây một thập kỷ. 5 HỘI NGHỊ THƯỢNG ĐỈNH TRÁI ĐẤT VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG (RIO +20) 5.1 Bối cảnh Diễn ra vào thời điểm thế giới phải đối mặt với nhiều thách thức to lớn, như kinh tế lâm vào khủng hoảng, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, đa dạng sinh học suy giảm và các hệ sinh thái tự nhiên suy thoái, hội nghị Rio+20 lại càng có ý nghĩa và được đánh giá là cơ 26 hội vàng để cộng đồng quốc tế định hướng chính sách và hành động thúc đẩy phát triển bền vững cả về kinh tế, xã hội và môi trường. Trước thềm hội nghị, Tổng Thư ký LHQ Ban Ki-moon đã nhấn mạnh Rio+20 là cơ hội chỉ có một lần trong một thế hệ con người để đặt thế giới vào con đường phát triển bền vững và phổ quát, trong đó các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và phúc lợi được cân bằng. 5.2 Nội dung [14] Ngày 20/6, Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc (LHQ) về phát triển bền vững (Rio+20) đã bắt đầu ngày làm việc đầu tiên tại thành phố Rio de Janeiro của Brazil. Hội nghị có sự tham dự của hơn 90 nguyên thủ và đại diện 191 trong tổng số 193 thành viên LHQ với trọng tâm chính là thảo luận các biện pháp thúc đẩy công cuộc xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường, phát triển bền vững. Tại chủ đề chính của hội nghị: “Tương lai mà chúng ta mong muốn,” các cuộc thảo luận tập trung vào cải thiện khuôn khổ thể chế để phát triển bền vững và phát triển nền kinh tế xanh trong bối cảnh phát triển bền vững và xóa đói nghèo. Theo Ban tổ chức, công việc chuẩn bị cho Rio+20 nhấn mạnh tới 7 lĩnh vực cần ưu tiên quan tâm để phát triển bền vững, đó là: việc làm, năng lượng, an ninh lương thực, nông nghiệp bền vững, nước, đại dương và khả năng sẵn sàng đối phó với thiên tai. Văn kiện “Tương lai mà chúng ta mong muốn” được xem như tuyên bố chung của hội nghị. Văn kiện bao gồm một số điểm chính như sau: - Đặt nền tảng cho nền kinh tế xanh nhằm cải thiện phúc lợi con người, công bằng xã hội, giảm các rủi ro môi trường. - Đề xuất phát động quy trình đàm phán liên chính phủ để thống nhất các mục tiêu phát triển bền vững thay thế cho các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ của LHQ vào năm 2015. - Tái khẳng định cam kết trước đây của các nước về loại bỏ dần trợ cấp năng lượng hóa thạch không hiệu quả hay khuyến khích tiêu thụ lãng phí. - Cam kết hành động nhằm giảm tác động của ô nhiễm môi trường đến hệ sinh thái biển; đề xuất đến năm 2025 các nước phải có biện pháp giảm đáng kể rác biển. - Kêu gọi quy trình đàm phán liên chính phủ để đưa ra báo cáo thẩm định cần bao nhiêu tiền hỗ trợ phát triển bền vững, cần sử dụng công cụ nào để huy động tài chính vào năm 2014. - Kêu gọi các nước giàu trích 0,7% GDP trợ giúp các nước đang phát triển phát triển bền vững vào năm 2015. - Đề xuất tổ chức cuộc họp của Đại hội đồng LHQ vào tháng 9 tới nhằm thông qua nghị quyết nâng cao quyền hạn của Chương trình Môi trường LHQ (UNEP) ngang với các tổ chức khác của LHQ. 5.3 Kết quả và ý nghĩa [14] Những thành công của hội nghị 27 Thành quả lớn nhất của hội nghị là 692 cam kết trị giá 513 tỉ USD từ các chính phủ, doanh nghiệp, tổ chức dân sự dành cho các dự án phát triển bền vững. - Hỗ trợ nỗ lực của 400 công ty lớn về xóa bỏ nạn phá rừng trong chuỗi cung cấp của các công ty vào năm 2020. Indonesia, Úc và Colombia cam kết bảo vệ đại dương để bảo đảm an ninh lương thực. - Ngân hàng Bank of America (Mỹ) đã cam kết cho vay 50 tỉ USD cho các dự án phát triển bền vững. LHQ cam kết thực hiện chương trình trị giá 50 tỉ USD nhằm đưa năng lượng sạch đến các nước nghèo nhất. - Đáng chú ý là các cam kết đối với dự án các trường học từ 140 nước về trồng 100 triệu cây xanh, dự án hỗ trợ 5.000 nữ doanh nhân trong các ngành công nghiệp xanh ở châu Phi, dự án tái chế 800.000 tấn nhựa polyvinyl chloride (PVC) mỗi năm ở châu Âu vào năm 2020. Những vấn đề chưa làm được của hội nghị: - Văn kiện “Tương lai mà chúng ta mong muốn" là văn kiện không có tính ràng buộc, hiệu quả của nó phụ thuộc vào hành động tự nguyện của mỗi quốc gia. - Văn kiện thiếu những cam kết cụ thể. Ví dụ: Tái khẳng định cần thiết phải đạt phát triển bền vững nhưng thực hiện như thế nào thì bỏ ngỏ. Thiếu các mục tiêu cụ thể về an ninh năng lượng, lương thực và nước; không đặt lộ trình cụ thể để giảm dần trợ cấp nhiên liệu hóa thạch. - Hội nghị cũng hoãn quyết định về đàm phán công ước bảo vệ biển thêm ba năm vì Mỹ, Canada, Nga và Venezuela phản đối. - Các nước phát triển kêu gọi thành lập quỹ phát triển bền vững 30 tỉ USD nhưng đề xuất này không được đưa vào văn kiện. 5.4 Việt Nam với RIO +20 Nhận lời mời của Liên Hợp Quốc, thay mặt Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân dẫn đầu Đoàn cấp cao Việt Nam tham dự Hội nghị LHQ về phát triển bền vững tại TP Rio de Janeiro, Brazil, từ ngày 18 -25/6. Tham gia Đoàn dự Hội nghị LHQ về phát triển bền vững (Rio + 20) có: Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, Đại sứ, Trưởng Phái đoàn Đại diện thường trú Việt Nam tại LHQ Lê Hoài Trung, Đại sứ Việt Nam tại Brazil Dương Nguyên Tường, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Hữu Vũ, Thứ trưởng Bộ Tài Nguyên và Môi trường Bùi Cách Tuyến, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Nguyễn Đăng Khoa và Thứ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Nguyễn Trọng Đàm. Báo cáo quốc gia tại RIO +20 của Việt Nam đã vẽ lại con đường tiến tới phat triển bền vững của Việt Nam sau 20 năm kể từ hội nghị về môi trường và con người tại Stockholm năm 1972 đã nêu lên những gì mà chúng ta đã làm được, chưa làm được, những hạn chế và thách thức trong thời gian tới. Thay mặt cho Chính phủ Việt Nam, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã nêu 3 đề xuất quan trọng với Hội nghị Rio+20. Một là, Liên Hợp Quốc cần đưa ra tập hợp các mục tiêu phát triển bền vững hướng tới 2020 và 2030, và thành lập một cơ chế giám sát và đánh giá các mục tiêu phát triển bền vững. Các mục tiêu phát triển bền vững cần có tính phổ cập và áp dụng được cho tất cả các 28 quốc gia, nhưng cho phép các cách tiếp cận phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia, thể hiện sự gương mẫu và trách nhiệm của các nước có trình độ phát triển cao. Hai là, tại các khu vực trên thế giới như Đông Á, Đông Nam Á, Bắc và Nam Mỹ, cần bố trí hợp lý các trung tâm khu vực về kinh tế xanh. Các trung tâm này sẽ theo dõi các chỉ số chính về kinh tế xanh của các quốc gia trong khu vực, tư vấn xây dựng chính sách và các thực tiễn tốt cho các quốc gia, tổ chức các hội thảo định kì sáu tháng về kinh tế xanh, giúp Liên Hợp Quốc chuẩn bị và công bố các báo cáo thế giới định kì sáu tháng về kinh tế xanh, và tổ chức các hội nghị thế giới về kinh tế xanh và phát triển bền vững. Ba là, Việt Nam kêu gọi Liên Hợp Quốc thành lập một mạng lưới và xây dựng một chương trình nhằm ứng phó với nước biển dâng nhanh chóng và hiệu quả, kết hợp kiến thức, kĩ thuật và nguồn lực của các quốc gia phát triển và đang phát triển nhằm ứng phó với vấn đề toàn cầu này. Việt Nam sẵn sàng làm thành viên tích cực của mạng lưới này của Liên Hợp Quốc. 29 KẾT LUẬN Qua một tiến trình dài lịch sự, từ năm 1972 tới năm 2012, một điều có thể dễ dàng khẳng định đầu tiên là thế giới đã và đang nỗ lực trong việc chung tay giải quyết các vấn đề môi trường và phát triển. Từ những nhận thức sơ khai ban đầu (tuyên bố Stockholm 1972), con người đã phát triển nó qua các thời kì, điều đó được thể hiện rõ qua các sự kiến lớn như RIO 92, RIO +10 và RIO +20. Mục tiêu của các hội nghị được đặt ra và nỗ lực giải quyết. Hội nghị sau đã cố gắng giải quyết những vấn đề còn tồn động của vấn đề trước. Một điều quan trọng đó là sự chung tay này đã thể hiện một tinh thần đoàn kết của nhận loại, cùng nhau tiến tới một xã hội theo đúng nghĩa phát triển bền vững , cùng nhau xóa đói giảm nghèo, cùng nhau giải quyết biến đổi khí hậu và cùng nhau phát triển… Tuy nhiên, một thế giới rộng lớn với hơn 7 tỷ người như hiện này, với hằng trăm quốc gia lớn nhỏ, với mức độ phát triển khác nhau thì để đạt được sự đồng thuận chung trên nhiều mặt, nhiều lĩnh vực là điều vô cùng khó khắn, điều mà các nhà lãnh đạo thế giới cần nỗ lực hơn nữa để đưa ra hướng giải quyết trong tương lai. Và, không thể phủ nhận vao trò to lớn của các hội nghị, các tuyên bố của môi trường trong quá trình phát triển. Các công ước, các hiệp định đã đưa các quốc gia tham gia vào một khuôn khổ, mà ở đó, họ chỉ có thể “hành động có ích” cho môi trường chung của nhân loại, các tuyên bố đã vạch đường chỉ lối cho quá trình tiến tới thực hiện phát triển bền vững ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia nghèo trên thế giời. Đặc biệt, các hội nghị là điều kiện kêu gọi sự giúp đỡ các nước nghèo trên thế giới, như chúng ta thấy nhiều hội nghị đã đạt được những cam kết về vay vốn ưu đãi cho các nước nghèo, viện trợ không hoàn lại, cũng cấp vốn cho các sự án phát triển bền vững… Trong nhiều năm qua, đi cùng con đường với nhiều quốc gia đang phat triển trên thế giới, Việt Nam cũng đã nỗ lực hết mình trong công cộng giảm thiểu các tác động xấu của hoạt động phát triển lên môi trường. Qua các kì hội nghị, Việt Nam đã tham gia nhiều công ước như Công ước về Đa dạng sinh học, Công ước khung về biến đổi khí hậu… Hơn 20 năm trôi qua kể từ hội nghị RIO 92 Việt Nam đã xây dựng và đang bước dần trên con đường tiến tới sự phát triển, con đường mà thế giới vạch ra ở hội nghị RIO 92 vạch ra và phát triển qua các kì họp RIO +10, RIO +20 cho nhân loại. 30 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Axel Michaelowa and David Lehmkuhl. Rio+10 – Much Talk, Little Action 2. Bộ tài nguyên và môi trường, “Kế hoạch quốc gia thực hiện công ước Stockholm về chất hữu cơ khó phân hủy”, 2006 3. Công ước khung về biến đổi khí hậu, 1992 4. Công ước đa dạng sinh học, 1992 5. Công ước Stockholm về các chất hữu cơ khó phân hủy (POPs) 6. Lưu Đức Hải, “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững”, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2008 7. Liên Hợp Quốc, “Tuyên bố Stockholm 1972” 8. Liên Hợp Quốc, “Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển”, 1992 9. Liên Hợp Quốc,“Tuyên bố Thiên niên kỷ”, 2000 10. Lê Văn Khoa, “Môi trường và phát triển bền vững”, NXB Gíáo dục, 2010 11. Nguyễn Sinh Cúc, “Cơ sở lý luận để xây dựng hệ thống chi tiêu đánh giá phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay” 12. Nguyễn Xuân Cự, Nguyễn Thị Phương Loan, “Môi trường và con người”, NXB Gíáo dục, 2010 13. Nguyễn Đắc Hy, “Phát triển bền vững trong tầm nhìn của thời đại”, Viện sinh thái và môi trường (EEI), 2003 14. Nguyễn Ngọc Sinh, “Đốm sáng RIO” 15. Trương Quang Học, “ Phát triển bền vững-Chiến lược phát triển toàn cầu thế kỷ 21”, Trung tâm nghiên cứu con người và môi trường – Đại học quốc gia Hà Nội 16. Tường Duy Kiên, “Môi trường với quyền con người và vận dụng quyền con người trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam”, Học viên chính trị - Hành chính quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, 2010 17. United Nations A/CONF.199/20 WSSD 4 September 2002 "Johannesburg Declaration on Sustainable Development" 18. United Nations A/CONF.199/20 WSSD 4 September 2002 "Plan of Implementation of the World Summit on Sustainable Development" 19. UNEP, “Stockholm 1972 Report of the united nations conference on the human environment”, 1972 20. UN WSSD, “ Report of the World Summit on Sustainable Development”, 2002 21. UN WSSD, “Johannesburg Declaration on Sustainable Development”, 2002 22. UN WSSD, “Plan of Implementation of the World Summit on Sustainable Development”, 2002 23. 24. 25. 26. va-van-dung-quyen-con-nguoi-trong-bao-ve-moi-truong-o-Viet-Nam 27. 31

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdftuyen_bo_moi_truong_va_con_nguoi__4797.pdf
Luận văn liên quan