Chế định thừa kế trong luật dân sự Việt Nam năm 2005

MỤC LỤC 1. Khái niệm quyền thừa kế. 03 1.1. Giới thiệu. 03 1.2. Các khái niệm. 03 1.2.1. Khái niệm chế định quyền thừa kế. 03 1.2.2. Khái niệm di sản thừa kế. 03 2. Các quy định chung về thừa kế. 04 2.1. Đối với người để lại di sản. 04 2.2. Đối với người thừa kế. 04 2.3. Quyền hưởng và từ chối nhận di sản. 05 2.3.1. Quyền hưởng di sản. 05 2.3.2. Quyền từ chối nhận di sản. 06 2.4. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế. 06 2.4.1. Thời điểm mở thừa kế. 06 2.4.2. Địa điểm mở thừa kế. 07 2.5. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điểm. .07 2.6. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế. 08 2.7. Thừa kế thế vị. 08 3. Thừa kế theo di chúc. 09 3.1. Khái niệm di chúc và thừa kế theo di chúc 09 3.2. Người lập di chúc 09 3.3. Người thừa kế theo di chúc. 10 3.4. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 10 3.5. Các điều kiện có hiệu lực của di chúc 11 3.6. Hiệu lực pháp luật của di chúc 13 3.7. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc 14 3.8. Di chúc chung của vợ, chồng 14 3.8.1.Di chúc chung của vợ ,chồng: 14 3.8.2. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng 14 3.8.3. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng 14 3.9. Gửi giữ di chúc 14 3.10. Di chúc bị thất lạc, hư hại 15 3.11. Di sản dùng vào việc thờ cúng 15 3.12. Di tặng 15 3.13. Công bố di chúc. 16 3.14. Giải thích nội dung di chúc. 16 4. Thừa kế theo pháp luật. 16 4.1. Các trường hợp thừa kế theo quy định của pháp luật 17 4.1.1. Nhóm thứ nhất: 17 4.1.2. Nhóm thứ hai: 18 4.2. Diện thừa kế 18 4.3. Hàng thừa kế 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO

doc20 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 6585 | Lượt tải: 33download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Chế định thừa kế trong luật dân sự Việt Nam năm 2005, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỤC LỤC 1. Khái niệm quyền thừa kế. 03 1.1. Giới thiệu. 03 1.2. Các khái niệm. 03 1.2.1. Khái niệm chế định quyền thừa kế. 03 1.2.2. Khái niệm di sản thừa kế. 03 2. Các quy định chung về thừa kế. 04 2.1. Đối với người để lại di sản. 04 2.2. Đối với người thừa kế. 04 2.3. Quyền hưởng và từ chối nhận di sản. 05 2.3.1. Quyền hưởng di sản. 05 2.3.2. Quyền từ chối nhận di sản. 06 2.4. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế. 06 2.4.1. Thời điểm mở thừa kế. 06 2.4.2. Địa điểm mở thừa kế. 07 2.5. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điểm. .07 2.6. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế. 08 2.7. Thừa kế thế vị. 08 3. Thừa kế theo di chúc. 09 3.1. Khái niệm di chúc và thừa kế theo di chúc.. 09 3.2. Người lập di chúc.. 09 3.3. Người thừa kế theo di chúc. 10 3.4. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 10 3.5. Các điều kiện có hiệu lực của di chúc.. 11 3.6. Hiệu lực pháp luật của di chúc 13 3.7. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc 14 3.8. Di chúc chung của vợ, chồng 14 3.8.1.Di chúc chung của vợ ,chồng: 14 3.8.2. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng 14 3.8.3. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng 14 3.9. Gửi giữ di chúc 14 3.10. Di chúc bị thất lạc, hư hại 15 3.11. Di sản dùng vào việc thờ cúng.. 15 3.12. Di tặng.. 15 3.13. Công bố di chúc. 16 3.14. Giải thích nội dung di chúc. 16 4. Thừa kế theo pháp luật. 16 4.1. Các trường hợp thừa kế theo quy định của pháp luật 17 4.1.1. Nhóm thứ nhất: 17 4.1.2. Nhóm thứ hai: 18 4.2. Diện thừa kế 18 4.3. Hàng thừa kế 19 CHẾ ĐỊNH THỪA KẾ TRONG LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm quyền thừa kế. 1.1. Giới thiệu. Chế định quyền thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam. Quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế là những quyền cơ bản của công dân luôn luôn được pháp luật nhiều nước trên thế giới quan tâm theo dõi và bảo hộ. Việt Nam là một trong những nước đang phát triển, có nền văn hóa và đạo đức lâu đời, do việc coi trọng các phong tục tập quán tình cảm cha con, vợ chồng anh em đã khiến cho không ít người bỏ qua việc đảm bảo thi hành quyền để lại thừa kế và quyền thừa kế. Bên cạnh đó có không ít người đã lập di chúc nhưng bản di chúc này lại không rõ ràng khiến cho những người thừa kế phải nhờ pháp luật phân xử hộ làm giảm sút đi mối quan hệ tình cảm thân thuộc vốn có. Do đó việc hiểu các chế định về thừa kế là cần thiết để mọi công dân đảm bảo công bằng trong các mối quan hệ tài sản nói chung và quyền thừa kế nói riêng. 1.2. Các khái niệm. 1.2.1. Khái niệm chế định quyền thừa kế. Chế định quyền thừa kế là một chế định pháp luật dân sự, bao gồm các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc chuyển dịch tài sản của người chết cho người khác theo một trình tự nhất định, đồng thời quy định phạm vi quyền, nghĩa vụ và phương thức bảo vệ các quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. 1.2.2. Khái niệm di sản thừa kế. Di sản thừa kế là tài sản của người chết để lại cho những người còn sống. Theo điều 634 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định di sản bao gồm: tài sản riêng và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Tài sản riêng tức là những tài sản thuộc phần sở hữu riêng của người chết đứng tên lúc còn sống. Tài sản chung với người khác là phần tài sản do lúc còn sống người chết đã đồng tạo ra cùng chung với một người khác như góp vốn cùng sản xuất kinh doanh, …thì lúc chết phần tài sản đó cũng được đưa vào di sản của người chết. 2. Các quy định chung về thừa kế. 2.1. Đối với người để lại di sản. Người để lại di sản là người mà sau khi chết có tài sản để lại cho người khác theo trình tự thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người để lại di sản chỉ có thể là cá nhân, không phân biệt bất cứ điều kiện nào (thành phần xã hội, mức độ năng lực hành vi,…). Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở,…Khi còn sống họ có quyền đưa các loại tài sản này vào lưu thông dân sự hoặc lập di chúc cho người khác hưởng tài sản của mình sau khi chết. Trường hợp công dân có tài sản thuộc quyền sở hữu riêng, không lập di chúc sau khi chết, tài sản này sẽ chia theo quy định pháp luật. Đối với pháp nhân, tổ chức thì tài sản của pháp nhân, tổ chức dùng để duy trì hoạt động của pháp nhân, tổ chức đó. Không cá nhân nào có quyền định đoạt tài sản của pháp nhân, tổ chức. Khi pháp nhân, tổ chức bị giải thể, phá sản,…thì tài sản được giải quyết theo quy định pháp luật. 2.2. Đối với người thừa kế. Người thừa kế là người được hưởng di sản của người đã chết theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Người thừa kế có các quyền , nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại. Người thừa kế theo pháp luật chỉ có thể là cá nhân và phải là người có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại sản. Người thừa kế theo di chúc có thể là cá nhân hoặc tổ chức hoặc nhà nước. - Nếu người thừa kế là cá nhân thì phải là người còn sống khi mở thừa kế hoặc người đã thành thai vào thời điểm mở thừa kế và sinh ra vẫn còn sống cũng là người thừa kế. - Người thừa kế là pháp nhân, tổ chức thì phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Người thừa kế có các quyền và nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại như sau: Nghĩa vụ: + Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. + Trong trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lí di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế. + Trong trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại tương ứng. Quyền: Theo nguyên tắc chung, mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ngoài ra, người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản mình đối với người khác. Ví dụ: Người thừa kế đang có món nợ phải trả hoặc đang phải bồi thường thiệt hại cho người khác, người này viện cớ không có tài sản để thực hiện nghĩa vụ nhưng lại từ chối nhận quyền hưởng di sản thừa kế để không chịu trả nợ hoặc bồi thường thiệt hại. 2.3. Quyền hưởng và từ chối nhận di sản. 2.3.1. Quyền hưởng di sản. Như đã nói ở trên, theo nguyên tắc chung mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật, trừ các trường hợp được quy định tại khoản 1 điều 643 Bộ luật dân sự 2005: - Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó. - Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản. - Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng. - Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Những người quy định tại khoản 1 điều này vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. 2.3.2. Quyền từ chối nhận di sản. Bên cạnh quyền hưởng di sản thì người thừa kế còn có quyền từ chối nhận di sản được điều 642 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định như sau: - Người thừa kế có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của mình đối với người khác. - Việc từ chối di sản phải được lập thành văn bản, người từ chối phải báo cho những người thừa kế khác, người được giao nhiệm vụ phân chia di sản, cơ quan công chứng hoặc UBND xã, phường, thị trấn nơi có địa điểm mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản. - Thời hạn từ chối nhận di sản là sáu tháng, kể từ ngày mở thừa kế (ngày mở thừa kế là ngày người để lại di sản qua đời). Sau sáu tháng kể từ ngày mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận di sản. 2.4. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế. 2.4.1. Thời điểm mở thừa kế. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế. Theo khoản 1 điều 633 Bộ luật dân sự quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Toà án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày mà Toà án tuyên bố người đó chết có hiệu lực pháp luật ( căn cứ theo điều 81 Bộ luật dân sự 2005). Theo quy định của pháp luật về thừa kế như đã nêu trên, thì việc xác định thời điểm mở thừa kế rất quan trọng vì tại thời điểm đó xác định được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của người để lại thừa kế gồm có những gì và đến khi chia di sản còn bao nhiêu. Việc xác định tài sản của người chết để lại rất quan trọng vì cần đề phòng tình trạng tài sản đó có thể bị người khác phân tán hoặc chiếm đoạt. Thời điểm thừa kế cũng là thời điểm xác định những người thừa kế. Trong trường hợp tòa án tuyên bố một người là đã chết thì tùy từng trường hợp tòa án xác định ngày chết của người đó. Nếu không xác định được ngày chết thì ngày mà quyết định của tòa án tuyên bố người đó là đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết. Ví dụ: Trong lũ lụt thân nhân của người bị tai nạn yêu cầu tòa án tuyên bố người đó là đã chết. Qua điều tra xác minh, nếu biết chính xác được ngày xảy ra tai nạn thì tòa án có thể tuyên bố ngày chết của người bị tai nạn là ngày xảy ra tai nạn. 2.4.2. Địa điểm mở thừa kế. Theo khoản 2 điều 633 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản. Việc pháp luật quy định địa điểm mở thừa kế vì khi chia di sản thừa kế các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành các công việc như kiểm kê ngay tài sản của người đã chết (trong trường hợp cần thiết) hoặc xác định những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật. 2.5. Việc thừa kế của những người có quyền thừa kế của nhau mà chết cùng một thời điểm. Theo điều 641 Bộ luật dân sự năm 2005, con hoặc cháu của người để lại di sản cùng chết vào một thời điểm với người để lại di sản thì cháu hoặc chắt của họ được thừa kế thế vị. Xét theo nguyên tắc thì không thể có trường hợp hai người chết cùng một thời điểm. Nhưng trong thực tế xảy ra có những trường hợp nhiều người chết trong một tai nạn mà không thể xác định được ai chết trước, ai chết sau. Vì vậy buộc phải suy đoán họ chết cùng thời điểm. Nếu hai người thừa kế tài sản của nhau mà được coi là chết cùng một thời điểm thì họ sẽ không được thừa kế của nhau. Di sản của mỗi người được chia cho những người thừa kế của họ. Pháp luật quy định như vậy để việc chia di sản thừa kế được tiến hành bình thường không ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế khác. 2.6. Thời hiệu khởi kiện về thừa kế. Đối với người thừa kế Theo khoản 1 điều 645 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định : Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Đối với các chủ nợ của người để lại di sản Theo khoản 2 điều 645 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 quy định : Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là ba năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. 2.7. Thừa kế thế vị. Theo điều 677 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định thừa kế thế vị như sau : Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. Vậy thừa kế thế vị theo nguyên tắc : Con sẽ được hưởng di sản thừa kế của cha mẹ (ông bà chết để lại cho con, con chết để lại cho cháu, cháu chết để lại cho chắt,.....) 3. Thừa kế theo di chúc. 3.1. Khái niệm di chúc và thừa kế theo di chúc. Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Như vậy di chúc phải có các yếu tố sau: - Thể hiện ý chí của cá nhân mà không phải là của bất cứ chủ thể nào khác. - Mục đích của việc lập di chúc là chuyển di sản của mình cho người khác. - Di chúc chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết. Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc. Nội dung cơ bản của thừa kế theo di chúc là chỉ định người thừa kế và phân định tài sản, quyền và nghĩa vụ tài sản. 3.2. Người lập di chúc. - Người lập di chúc chỉ định một hoặc nhiều người trong di chúc và cho họ hưởng một phần hay toàn bộ tài sản của mình. - Người lập di chúc là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi được điều 647 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau : - Người đã thành niên có quyền lập di chúc, trừ trường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình. - Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Người lập di chúc thỏa các điều kiện trên có các quyền sau theo điều 648 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định : - Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế. - Phân định phần di sản cho từng người thừa kế; - Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; - Giao nghĩa vụ cho người thừa kế; - Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản. 3.3. Người thừa kế theo di chúc. Người nhận di sản thừa kế theo di chúc là những người có quyền nhận di sản do người chết để lại theo sự định đoạt trong di chúc. Người thừa kế theo di chúc có thể là người trong hàng thừa kế, ngoài hàng thừa kế hoặc cơ quan, tổ chức kể cả Nhà nước và phải tuân theo quy định tại điều 635 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau : - Nếu người được chỉ định thừa kế là cá nhân thì người đó phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế, vì chỉ những người còn sống mới có năng lực pháp luật dân sự để hưởng thừa kế. Tuy nhiên người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết thì họ vẫn là người để lại di sản chết thì họ vẫn là người thừa kế theo di chúc của người để lại di sản. - Nếu người thừa kế là cơ quan, tổ chức thì cơ quan, tổ chức phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. 3.4. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 (Mục 2.3.2) hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 (Mục 2.5) của Bộ luật Dân sự : - Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng. - Con đã thành niên mà không có khả năng lao động. 3.5. Các điều kiện có hiệu lực của di chúc. Di chúc có hiệu lực khi thỏa các điều kiện sau: - Người lập di chúc phải có năng lực chủ thể: là người từ đủ 18 tuổi có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc. - Người lập di chúc tự nguyện: Người lập di chúc phải tự nguyện khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép. - Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội: ý chí của người lập di chúc phải phù hợp với ý chí của Nhà nước, đạo đức xã hội. - Hình thức của di chúc không trái quy định của pháp luật: Di chúc phải được lập dưới một hình thức nhất định bằng di chúc văn bản hoặc di chúc miệng. + Di chúc bằng văn bản: là loại di chúc được thể hiện dưới dạng chữ viết (viết tay, đánh máy, in) có chứng nhận hoặc không có chứng nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. * Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: theo điều 655 BLDS năm 2005 quy định: Người lập di chúc phải tự tay viết và kí vào bản di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm chứng cũng phải tuân theo quy định tại điều 653 BLDS năm 2005: 1. Di chúc phải ghi rõ: a) Ngày, tháng, năm lập di chúc; b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc; c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản hoặc xác định rõ các điều kiện để cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản; d) Di sản để lại và nơi có di sản; đ) Việc chỉ định người thực hiện nghĩa vụ và nội dung của nghĩa vụ. 2. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu; nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc * Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: điều 656 BLDS quy định: Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc. Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Ðiều 653 và Ðiều 654 của Bộ luật này. Điều 654: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây: 1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc; 2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc; 3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự. * Di chúc bằng văn bản có chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận của công chứng nhà nước: Điều 657. Di chúc có công chứng hoặc chứng thực Người lập di chúc có thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực bản di chúc. ***Ngoài ra theo điều 660 BLDS quy định thì di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúc đã được chứng nhận, chứng thực bao gồm: 1. Di chúc của quân nhân tại ngũ có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội trở lên, nếu quân nhân không thể yêu cầu công chứng hoặc chứng thực; 2. Di chúc của người đang đi trên tàu biển, máy bay có xác nhận của người chỉ huy phương tiện đó; 3. Di chúc của người đang điều trị tại bệnh viện, cơ sở chữa bệnh, điều dưỡng khác có xác nhận của người phụ trách bệnh viện, cơ sở đó; 4. Di chúc của người đang làm công việc khảo sát, thăm dò, nghiên cứu ở vùng rừng núi, hải đảo có xác nhận của người phụ trách đơn vị; 5. Di chúc của công dân Việt Nam đang ở nước ngoài có chứng nhận của cơ quan lãnh sự, đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước đó; 6. Di chúc của người đang bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, người đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh có xác nhận của người phụ trách cơ sở đó. + Di chúc miệng: toàn bộ ý chí của người lập di chúc thể hiện bằng lời nói. Di chúc miệng chỉ được công nhận khi người lập di chúc ở trong tình trạng tính mạng bị đe dọa nghiêm trọng mà không thể lập di chúc viết được (bị bệnh sắp chết, bị tai nạn có nguy cơ chết,…). Người lập di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại và cùng kí tên. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày tuyên bố ý chí di chúc phải công chứng hoặc chứng thực. Sau ba tháng kể từ ngày lập di chúc miệng nếu người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng bị hủy bỏ. 3.6. Hiệu lực pháp luật của di chúc Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế. Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây: - Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc. - Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế. Trong trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật. Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực. Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật. Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật. 3.7. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc - Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc vào bất cứ lúc nào. - Trong trường hợp người lập di chúc bổ sung di chúc thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật. - Trong trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị huỷ bỏ. 3.8. Di chúc chung của vợ, chồng 3.8.1. Di chúc chung của vợ ,chồng: Vợ, chồng có thể lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung. 3.8.2. Sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung của vợ, chồng - Vợ, chồng có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung bất cứ lúc nào. - Khi vợ hoặc chồng muốn sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc chung thì phải được sự đồng ý của người kia; nếu một người đã chết thì người kia chỉ có thể sửa đổi, bổ sung di chúc liên quan đến phần tài sản của mình. 3.8.3. Hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng -Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết. 3.9. Gửi giữ di chúc: Người lập di chúc có thể yêu cầu cơ quan công chứng lưu giữ hoặc gửi người khác giữ bản di chúc. Trong trường hợp cơ quan công chứng lưu giữ bản di chúc thì phải bảo quản, giữ gìn theo quy định của pháp luật về công chứng. Cá nhân giữ bản di chúc có các nghĩa vụ sau đây: - Giữ bí mật nội dung di chúc. - Giữ gìn, bảo quản bản di chúc; nếu bản di chúc bị thất lạc, hư hại thì phải báo ngay cho người lập di chúc. - Giao lại bản di chúc cho người thừa kế hoặc người có thẩm quyền công bố di chúc, khi người lập di chúc chết. Việc giao lại bản di chúc phải được lập thành văn bản, có chữ ký của người giao, người nhận và trước sự có mặt của hai người làm chứng. 3.10. Di chúc bị thất lạc, hư hại - Kể từ thời điểm mở thừa kế, nếu bản di chúc bị thất lạc hoặc bị hư hại đến mức không thể hiện được đầy đủ ý chí của người lập di chúc và cũng không có bằng chứng nào chứng minh được ý nguyện đích thực của người lập di chúc thì coi như không có di chúc và áp dụng các quy định về thừa kế theo pháp luật. - Trong trường hợp di sản chưa chia mà tìm thấy di chúc thì di sản được chia theo di chúc. 3.11. Di sản dùng vào việc thờ cúng. Nhà nước tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân nên điều 670 BLDS quy định như sau: 1. Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thoả thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng. Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật. 2. Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng. 3.12. Di tặng. - Di tặng là việc người lập di chúc dành một phần di sản để tặng cho người khác. Việc di tặng phải được ghi rõ trong di chúc. - Người được di tặng không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần được di tặng, trừ trường hợp toàn bộ di sản không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người lập di chúc thì phần di tặng cũng được dùng để thực hiện phần nghĩa vụ còn lại của người này. 3.13. Công bố di chúc. - Trong trường hợp di chúc bằng văn bản được lưu giữ tại cơ quan công chứng thì công chứng viên là người công bố di chúc. - Trong trường hợp người để lại di chúc chỉ định người công bố di chúc thì người này có nghĩa vụ công bố di chúc; nếu người để lại di chúc không chỉ định hoặc có chỉ định nhưng người được chỉ định từ chối công bố di chúc thì những người thừa kế còn lại thoả thuận cử người công bố di chúc. - Sau thời điểm mở thừa kế, người công bố di chúc phải sao gửi di chúc tới tất cả những người có liên quan đến nội dung di chúc. - Người nhận được bản sao di chúc có quyền yêu cầu đối chiếu với bản gốc của di chúc. - Trong trường hợp di chúc được lập bằng tiếng nước ngoài thì bản di chúc đó phải được dịch ra tiếng Việt và phải có công chứng. 3.14. Giải thích nội dung di chúc. Trong trường hợp nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì người công bố di chúc và những người thừa kế phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Khi những người này không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì coi như không có di chúc và việc chia di sản được áp dụng theo quy định về thừa kế theo pháp luật. Trong trường hợp có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực. 4. Thừa kế theo pháp luật. Ta có thể hiểu một cách đơn giản thừa kế theo pháp luật là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người thừa kế theo qui định của pháp luật thừa kế. Theo điều 674 Bộ luật dân sự 2005: "Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật qui định". Những người thừa kế theo qui định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, dù cho người đó có bị hạn chế năng lực hành vi hay thậm chí bị mất năng lực hành vi thì người đó vẫn có quyền thừa kế. Đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của công dân về quyền thừa kế nên mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc hưởng di sản thừa kế từ người chết và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại trong phạm vi di sản mình nhận được. Vì phạm vi những người thừa kế rộng nên pháp luật chia ra các trường hợp thừa kế; các diện thừa kế và các hàng thừa kế. 4.1. Các trường hợp thừa kế theo quy định của pháp luật: Ở nước ta từ xưa đến nay đã có rất nhiều văn bản pháp luật liệt kê các trường hợp thừa kế theo pháp luật. Và cùng với sự tiến bộ của hệ thống pháp luật thì các văn bản này ngày càng hoàn thiện hơn, cho đến nay thì các trường hợp được nêu ra trong Bộ luật dân sự năm 2005 được coi là chi tiết và đầy đủ nhất. Theo điều 675 Bộ luật dân sự năm 2005 thì các trường hợp thừa kế theo pháp luật được chia ra làm 2 nhóm sau đây: 4.1.1. Nhóm thứ nhất: Nhóm di sản thừa kế hoàn toàn được chia theo pháp luật (nhóm di sản được thừa kế tuyệt đối) bao gồm các trường hợp: - Không có di chúc. - Di chúc không hợp pháp toàn bộ. - Di chúc hợp pháp nhưng toàn bộ di chúc không có hiệu lực thi hành do tất cả người thừa kế theo di chúc người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc hoặc đều không có quyền hưởng di sản hoặc đều từ chối quyền hưởng di sản; cơ quan tổ chức được hưởng thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế. Ví dụ: Bố mẹ A sinh được 4 người con. Tài sản chung của bố mẹ A là một căn nhà. Bố A chết không để lại di chúc. Vậy mẹ và anh em A được chia tài sản như thế nào? Trường hợp này chia di sản theo pháp luật như sau: Di sản của Bố A để lại là 1/2 giá trị căn nhà (do căn nhà là tài sản chung của bố mẹ A) sẽ được chia cho 5 người: mẹ A, A, và 3 anh em của A. 4.1.2. Nhóm thứ hai: Di sản vừa được chia theo di chúc vừa được chia theo quy định của pháp luật (Nhóm di sản thừa kế tương đối) bao gồm: - Có một phần di sản không được định đoạt trong di chúc. - Có một phần di chúc không có hiệu lực pháp luật. - Có một hoặc một số người trong những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; một hoặc một số cơ quan, tổ chức trong số các cơ quan, tổ chức được thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế hoặc có một hoặc một số người trong những người thừa kế không được quyền hưởng di sản hay từ chối quyền hưởng di sản theo di chúc. 4.2. Diện thừa kế: Diện những người thừa kế là phạm vi những người hưởng di sản thừa kế của người chết theo qui định của pháp luật. Diện những người thừa kế được pháp luật dựa trên ba mối quan hệ chính với người để lại di sản: - Quan hệ hôn nhân: Xuất phát từ việc kết hôn giữa vợ và chồng. - Quan hệ huyết thống: quan hệ giữa những người cùng dòng máu như ông bà với cha mẹ, cha mẹ với các con, anh chị em ruột. - Quan hệ nuôi dưỡng: Xuất phát từ sự quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau giữa những người không cùng huyết thống hay không có quan hệ hôn nhân như cha mẹ nhận con nuôi. 4.3. Hàng thừa kế: Theo điều 676 Bộ luật dân sự Việt Nam quy định như sau: - Những người thừa kế theo pháp luật (hàng thừa kế) được quy định thứ tự như sau: + Hàng thừa kế thứ nhất gồm: Vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. + Hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột, cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. + Hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cô ruột, cậu ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại. - Những người được hưởng thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau. - Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản. Ví dụ: Hai vợ chồng anh A có xây được một căn nhà. Nhưng anh A mất mà không để lại di chúc. Vậy con riêng của anh A có được hưởng tài sản không? Anh A mất và không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự thì hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết; Như vậy, con đẻ sẽ được hưởng di sản thừa kế từ bố, mẹ đẻ của mình không phân biệt là con trong hay ngoài giá thú, không phân biệt có ở trong cùng 1 hộ khẩu hay không. Những người trong cùng một hàng thừa kế sẽ được hưởng các phần bằng nhau của di sản. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bộ luật dân sự nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28/10/1995. 2. Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân. 3. Trang web Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật - Văn phòng Quốc hội nước Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, 4. Trang web diễn đàn luật học, 6. Trang web dân luật,

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docChế định thừa kế trong luật dân sự Việt Nam năm 2005.doc
Luận văn liên quan