Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước – thực trạng và giải pháp

Lí do, mục đích chọn đề tài Ngân hàng thương mại nói chung và ngân hàng thương mại nhà nước nói riêng là định chế tài chính trung tâm và có đóng vai trò rất quan trọng trong hệ thống các tổ chức tín dụng ở nước ta hiện nay. Năm 2006, Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO với hàng loạt cam kết mở cửa thị trường trong đó có mở cửa thị trường tài chính tiền tệ. Điều này cũng có nghĩa là các ngân hàng thương mại của Việt Nam sẽ phải đứng trước sức ép cạnh tranh rất lớn từ các định chế tài chính hùng mạnh trong khu vực cũng như trên thế giới ngay tại chính sân chơi của mình. Để có thể cạnh tranh và phát triển các ngân hàng thương mại nhà nước Việt Nam cần phải đổi mới, trong đó có biện pháp cổ phần hóa. Tuy nhiên, cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước có nhiều đặc thù so với việc cổ phần hóa một doanh nghiệp nhà nước thông thường. Bởi ngân hàng thương mại nhà nước là doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ – một lĩnh vực rất nhạy cảm và có ảnh hưởng rất lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Trong khi đó, kinh nghiệm thực tiễn của Việt Nam về việc này hầu như là chưa có. Xuất phát từ thực tế đó, khóa luận được thực hiện với mong muốn góp phần làm rõ những vấn đề lí luận cũng như thực tiễn cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Qua đó, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc cũng như kiến nghị các giải pháp khắc phục nhằm thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước ở nước ta.

doc64 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 26/02/2013 | Lượt xem: 3068 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước – thực trạng và giải pháp, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g, nhà trẻ để đảm bảo phúc lợi cho người lao động trong ngân hàng cổ phần và những tài sản đó thuộc sở hữu của tập thể người lao động trong ngân hàng cổ phần quản lí. Về mặt chiến lược phát triển, theo Chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, sau khi cổ phần hóa các ngân hàng sẽ phát triển theo hướng trở thành các Tập đoàn Tài chính- Ngân hàng. Có thể nói, đây là bước phát triển tất yếu cho các ngân hàng thương mại nhà nước sau cổ phần hóa. Trên thế giới, mô hình Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng không phải là mới nhưng tại Việt Nam thì đây lại là vấn đề hết sức mới mẻ. Tập đoàn Tài chính- Ngân hàng là một chỉnh thể bao gồm nhiều thành viên hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực tài chính- ngân hàng, có các quan hệ liên kết về lợi ích kinh tế, tài chính, sản phẩm, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, được sắp xếp theo một cấu trúc tổ chức nhất định và được kiểm soát, điều hành bằng một bộ máy quản lí thống nhất. Về lĩnh vực kinh doanh, các Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng có thể theo một trong hai xu hướng sau: Một là mô hình tập đoàn kinh doanh tổng hợp bao gồm các dịch vụ ngân hàng- tài chính và các hoạt động sản xuất kinh doanh; Hai là tập đoàn tài chính chuyên về ngân hàng, chứng khoán và các dịch vụ tài chính. Trên thực tế, hệ thống các quy định pháp luật về Tập đoàn Tài chính- Ngân hàng ở nước ta hiện nay là hầu như chưa có. Chính phủ đang đẩy nhanh việc ban hành các văn bản pháp luật để có thể xây dựng một hướng đi cụ thể cho các ngân hàng thương mại nhà nước sau khi thực hiện xong cổ phần hóa. Việc xây dựng các Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng nằm trong đề án cổ phần hóa của các ngân hàng thương mại nhà nước đã và đang được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét và quyết định sao cho phù hợp với chiến lược phát triển chung của cả nền kinh tế. Chương III Thực trạng cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay và một số kiến nghị 3.1. Thực trạng cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay 3.1.1. Những thuận lợi trong quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước Tiến trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước trong thời gian vừa qua đã được thực hiện một cách thuận lợi nhờ vào quyết tâm của các Bộ, ban ngành, từ chủ trương của Đảng và Nhà nước. Chính phủ đã hết sức nỗ lực trong vấn đề lành mạnh hóa khu vực ngân hàng thông qua việc triển khai đề án củng cố, chấn chỉnh các Ngân hàng thương mại cổ phần năm 1980 và đề án cơ cấu lại các Ngân hàng thương mại nhà nước năm 2001. Các đề án đó đều nhằm lành mạnh hóa tài chính, tăng cường kỉ luật thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của hệ thống ngân hàng. Chương trình cải cách ngân hàng cũng nhận được sự hỗ trợ quan trọng về tài chính và kĩ thuật của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là của WB, IMF, ADB và Chính phủ nhiều quốc gia trên thế giới. Việc cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước được khởi động năm 2004 theo phương thức là đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế (về kiểm toán, định giá, phát hành...), minh bạch và an toàn hoạt động nhằm nâng cao năng lực tài chính, công nghệ và quản trị điều hành của các ngân hàng thương mại nhà nước sau cổ phần hóa. Ngày 30/3/2004 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 11/2004/CT-TTg nằhm tiếp tục đẩy mạnh việc sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các DNNN. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước được giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành tiến hành xây dựng đề án cổ phần hóa Ngân hàng Ngoại thương VCB và Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long MHB. Theo dự kiến thì quá trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước phải được hoàn thành trước năm 2010. Những nỗ lực của Chính phủ và bản thân các ngân hàng thương mại nhà nước đã và đang thúc đẩy tiến trình cổ phần hóa diễn ra nhanh chóng. Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm tạo ra môi trường pháp lí thuận lợi cho các ngân hàng thương mại nhà nước tiến hành cổ phần. Về phần mình, các ngân hàng thương mại nhà nước cũng tỏ rõ quyết tâm cổ phần hóa. Các ngân hàng thương mại nhà nước đang tiếp tục phát huy các thế mạnh của mình (như mạng lưới hoạt động rộng lớn, có đội ngũ khách hàng động đảo và ổn định, có thị phần lớn trong thị trường tài chính và ngày càng được hiện đại hóa...) và xây dựng đề án cổ phần hóa trình Chính phủ xem xét và quyết định thực hiện. 3.1.2. Một số vấn đề còn tồn tại vướng mắc đối với quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước Thứ nhất, sự thiếu vắng của các văn bản pháp lí điều chỉnh trực tiếp quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Cho đến thời điểm hiện nay, các quy định về mặt pháp lí của Nhà nước dành riêng cho quá trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước là hầu như chưa có. Số lượng các văn bản quy định về việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là ngân hàng còn rất hạn chế mà chỉ có các quy định về cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước nói chung. Hiện tại, vấn đề cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước được điều chỉnh bởi văn bản pháp lí có hiệu lực cao nhất là Nghị định của Chính phủ số109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần, kế đến là Thông tư của Bộ Tài chính số 146/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP, các văn bản khác hướng dẫn thực hiện Nghị định 109, Nghị Định số 69/2007/NĐ-CP ngày 20/04/2007 về việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam và một số văn bản pháp luật về chứng khoán, tổ chức tín dụng khác. Ngân hàng thương mại nhà nước không chỉ là doanh nghiệp nhà nước thông thường mà nó có nhiều đặc thù trong hoạt động nói chung cũng như trong vấn đề cổ phần hóa nói riêng. Và nếu áp dụng những quy định chung cho cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước vào quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước thì rõ ràng là sẽ có nhiều điểm không phù hợp. Điều đó gây không ít cản trở cho quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Thứ hai, sự thiếu minh bạch trong quá trình phát hành trái phiếu tăng vốn gây rủi ro cho các nhà đầu tư và làm ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng trong tiến trình cổ phần hóa. Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trước khi tiến hành cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước phải tăng vốn để đạt tới chỉ tiêu an toàn vốn theo quy định là 8%. Để làm được điều đó, các ngân hàng thương mại nhà nước phải phát hành trái phiếu để tăng vốn. Theo hình thức này, ngân hàng thương mại nhà nước sẽ cam kết với nhà đầu tư mua trái phiếu về quyền được mua cổ phiếu khi ngân hàng cổ phần hóa. Tuy nhiên, vấn đề tăng vốn bằng phát hành trái phiếu của ngân hàng là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ và hết sức nhạy cảm ở Việt Nam. Hầu hết các ngân hàng thương mại nhà nước không đưa ra tỉ lệ chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu là bao nhiêu hay thời gian để thực hiện quyền ưu đãi mua cổ phiếu của các trái chủ cũng chưa được xác định cụ thể. Sự thiếu minh bạch như vậy khiến cho các nhà đầu tư phải chịu nhiều rủi ro và ngay chính bản thân ngân hàng cũng bị giảm sút uy tín. Các nhà đầu tư luôn sẵn sàng đầu tư vì họ kì vọng rằng giá trị của ngân hàng sau khi cổ phần hóa sẽ tăng lên và họ chính là những người được hưởng thành quả đó. Nếu trong quá trình phát hành trái phiếu chuyển đổi có trục trặc thì hệ quả tất yếu là sự suy giảm lòng tin của các nhà đầu tư. Điều đó gây ảnh hưởng xấu cho các ngân hàng thương mại nhà nước tiến hành cổ phần hóa (đặc biệt là những ngân hàng tiến hành cổ phần hóa sau). Trong thực tế, việc phát hành trái phiếu tăng vốn của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam năm 2005 đã chứng minh cho những rủi ro mà các nhà đầu tư gặp phải khi mua trái phiếu. Trái phiếu tăng vốn năm 2005 của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực chất không phải là trái phiếu chuyển đổi mà là trái phiếu tăng vốn có kèm theo quyền mua cổ phiếu phổ thông của ngân hàng theo giá thị trường tại thời điểm cổ phần hóa. Nói cách khác, các trái chủ chỉ được tham gia đấu thầu không cạnh tranh khi ngân hàng thực hiện cổ phần hóa và dùng tiền gốc lẫn tiền lãi trái phiếu để mua cổ phiếu theo giá đấu giá. Có thể thấy các rủi ro mà nhà đầu tư gặp phải khi mua những trái phiếu đó là như sau: Rủi ro về thời gian thực hiện quyền ưu đãi mua cổ phiếu: Theo Quyết định số 230/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/9/2005 về việc cổ phần hóa ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thì ngân hàng Ngoại thương sẽ thực hiện bán cổ phần trong năm 2006. Tuy nhiên, thời điểm tiến hành bán đấu giá lần đầu ra công chúng chỉ được xác định khi có quyết định của Chính phủ về thời điểm cổ phần hóa ngân hàng Ngoại thương và trên thực tế, cho đến đầu năm 2008 ngân hàng Ngoại thương mới tiến hành bán cổ phần. Rủi ro về mức giá chuyển đổi: mức giá chuyển đổi được xác định dựa trên kết quả bán đấu giá cổ phiếu lần đầu ra công chúng và phụ thuộc hoàn toàn vào quan hệ cung cầu vào thời điểm bán đấu giá. Mặt khác, phương thức lựa chọn mức giá trúng thầu khi đấu giá cũng ảnh hưởng tới mức giá chuyển đổi. Giá chuyển đổi càng cao thì hệ số chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu càng thấp. Rủi ro về số lượng cổ phiếu chuyển đổi: Ngân hàng Ngoại thương cho rằng sẽ có đủ số lượng cổ phiếu để các trái chủ thực hiện quyền chuyển đổi tại lần đầu phát hành cổ phiếu vì “ hình thức cổ phần hóa là giữ nguyên vốn nhà nước tại ngân hàng, phát hành thêm cổ phiếu để thu hút thêm vốn và việc bán cổ phiếu theo nhiều đợt, mỗi đợt không quá 10% vốn điều lệ để tăng vốn”. Thế nhưng đó mới chỉ là dự kiến của ngân hàng trong khi Chính phủ mới là người có thẩm quyền quyết định ngân hàng cổ phần hóa theo hình thức nào, số lượng cổ phiếu được phép phát hành ra công chúng và dành cho trái chủ được thực hiện việc chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu. Hiện tượng phát hành trái phiếu không minh bạch như trên có nhiều lí do. Về phía ngân hàng, do sức ép tài chính và yêu cầu đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa mà phải tăng vốn càng nhanh càng tốt, lãi suất huy động càng thấp càng tốt. Về phía nhà đầu tư, do chưa tìm hiểu kĩ về cơ chế phát hành cũng như tâm lí đầu tư theo đám đông mua trái phiếu của ngân hàng. Cách thức phát hành trái phiếu huy động vốn như vậy có thể giúp cho ngân hàng thương mại nhà nước đạt được mục tiêu tăng vốn một cách nhanh chóng với lãi suất thấp. Nhưng về lâu về dài mà nói thì nó sẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới uy tín của ngân hàng. Các nhà đầu tư có thể đánh giá mức độ tín nhiệm thấp đối với các ngân hàng thương mại nhà nước sau khi cổ phần hóa. Mặt khác, trong thời gian gần đây trái phiếu chuyển đổi của một vài ngân hàng có hiện tượng sụt giá phản ánh rõ thái độ xem xét lại của nhà đầu tư đối với trái phiếu này. Điều đó khiến cho các ngân hàng thương mại nhà nước thực hiện cổ phần hóa sau gặp khó khăn trong việc tăng vốn theo hình thức phát hành trái phiếu như vậy. Thứ ba, khó khăn trong vấn đề xác định giá ngân hàng. Vấn đề xác định giá trị ngân hàng có thể nói là vướng mắc cơ bản nhất trong quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Xuất phát từ những đặc thù về chức năng và lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng mà việc xác định giá trị ngân hàng khi tiến hành cổ phần hóa là rất khó khăn và phức tạp. Phần lớn tài sản của ngân hàng là những loại tài sản mà giá trị của chúng rất khó xác định. Đó là giá trị thương hiệu, là các khoản tín dụng, là các tài sản vô hình khác... Xác định giá trị của những tài khoản đó không giống như xác định giá trị những tài sản thông thường khác, không dựa vào giá trị sổ sách, mệnh giá hay giá thị trường mà còn phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác như: tình hình kinh doanh của ngân hàng, mức độ rủi ro, tính thanh khoản, mức sinh lời dự tính, tỷ giá hối đoái... Phải nói rằng vấn đề xác định giá trị các tài sản vô hình của ngân hàng thương mại nhà nước là vấn đề rất phức tạp. Giá trị thương hiệu đang được đặt ra và trên thực tế nó đã mang lại lợi ích đáng kể cho các ngân hàng thương mại nhà nước. Nhưng giá trị thương hiệu là bao nhiêu, được xác định trên cơ sở nào thì vẫn chưa được xác định. Bản quyền bí quyết công nghệ cũng là những tài sản vô hình cần được lựa chọn phương pháp đánh giá thích hợp. Ví dụ chương trình hiện đại hóa được áp dụng tại các ngân hàng thương mại nhà nước, ngoài chi phí bản quyền đã trả cho nhà cung ứng, chi phí triển khai, vận hành để áp dụng thành công dự án cũng phải được xác định bổ sung... Bên cạnh đó, việc xác định giá trị các bất động sản của ngân hàng cũng không kém khó khăn. Mạng lưới hoạt động của các ngân hàng thương mại nhà nước có ở hầu khắp các tỉnh, thành trong cả nước. Có nơi xây trụ sở trên đất thuê, có nơi nhận quyền sử dụng đất trả tiền một lần, có nơi thì nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ cá nhân. Mặt khác, lợi thế thương mại của vị trí đất cũng cần phải được đề cập. Những điều đó khiến cho quá trình đánh giá chính xác tài sản của ngân hàng là bất động sản gặp nhiều trở ngại. Thứ tư, khó khăn trong việc xác định cơ cấu sở hữu vốn điều lệ. Việc xác định cơ cấu sở hữu vốn điều lệ tại ngân hàng sau cổ phần hóa theo quy định của pháp luật hiện hành cũng làm nảy sinh một số vấn đề cho quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Tỷ lệ nắm giữ cổ phần của Nhà nước trong ngân hàng sau cổ phần hóa là tối thiểu 51%. Điều đó giúp cho Nhà nước duy trì được ảnh hưởng của mình đối với ngân hàng cổ phần hóa và hướng phát triển của ngân hàng sau cổ phần hóa không lệch ra ngoài đường lối chung của Nhà nước. Tuy nhiên, xác định tỷ lệ sở hữu cổ phần của Nhà nước như vậy làm phát sinh một số vấn đề. Thứ nhất, vấn đề Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối trong ngân hàng sau cổ phần hóa ảnh hưởng rất lớn tới việc quản lí ngân hàng sau cổ phần. Chúng ta biết rằng sở dĩ các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, làm ăn thua lỗ chính là bắt nguồn từ sở hữu và phương thức quản lí. Do sở hữu là của Nhà nước, người điều hành do Nhà nước bổ nhiệm. Người quản lí đại diện cho nhà nước nắm quyền quản lí doanh nghiệp dẫn đến tự chủ nhưng không chịu trách nhiệm, lợi ích của cá nhân được giao quyền quản lí doanh nghiệp quá lớn nên phát sinh nhiều tiêu cực. Doanh nghiệp thì luôn luôn có tâm lí ỉ lại, trông chờ vào sự bao cấp của nhà nước, hoạt động kém năng động, tính hiệu quả thấp. Cổ phần hóa là để xác định rõ ràng người làm chủ đích thực có quyền định đoạt trong quản lí, rõ trách nhiệm trong quản lí và điều hành, tăng cường được tính cạnh trạnh, tránh được thất thoát vốn và tài sản. ở ngân hàng thương mại nhà nước sau khi cổ phần hóa, việc Nhà nước nắm giữ 51% cổ phần chi phối cũng có nghĩa là Nhà nước vẫn là người định đoạt lớn nhất trong ngân hàng và cơ cấu quản lí ngân hàng. Ngân hàng sau cổ phần rất dễ lại bị lâm vào tình trạng “ bình mới rượu cũ”. Các bài học về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trước đây cho thấy rất rõ điều này. Có nơi, giám đốc để doanh nghiệp thua lỗ 10 năm liên tiếp và sau khi cổ phần hóa vẫn đại diện sở hữu nhà nước tiếp tục làm giám đốc. Trong trường hợp đó, hầu như toàn bộ ban lãnh đạo cũ vẫn được giữ nguyên. Nó tạo ra tình trạng cổ phần hóa rồi nhưng cơ chế trông chờ, ỷ lại nếu có thay đổi cũng chỉ thay đổi được rất ít. Bên cạnh tỷ lệ cổ phần chi phối của Nhà nước, vấn đề tỷ lệ sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư chiến lược của ngân hàng cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề. Một trong những mục tiêu khi cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước là nhằm tranh thủ kinh nghiệm quản lí, điều hành cũng như công nghệ hiện đại của các nhà đầu tư mà đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược. Các nhà đầu tư chiến lược thường là các định chế tài chính hùng mạnh, có uy tín, có kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Họ sẵn sàng góp vốn cũng như những thế mạnh quản lí vào ngân hàng thương mại nhà nước khi cổ phần hóa với mong muốn cùng tạo lập nên một ngân hàng giàu mạnh và cùng chia sẻ những thành quả đạt được. Tuy nhiên, với quy định của pháp luật hiện nay thì các nhà đầu tư chiến lược chỉ được nắm không quá 20% tổng số vốn điều lệ của ngân hàng sau cổ phần. Với tỉ lệ sở hữu cổ phần như vậy, các nhà đầu tư chiến lược không thể có ảnh hưởng lớn đối với việc quản lí cũng như điều hành ngân hàng và điều đó khiến cho các nhà đầu tư chiến lược giảm nhiệt tình đối với quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Nó cũng khiến cho mục tiêu tranh thủ vốn, công nghệ quản lí , điều hành cũng như tranh thủ uy tín của các nhà đầu tư chiến lược trở nên khó đạt được hoặc có đạt được nhưng không được như mong muốn. Mong muốn khi cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước là kinh doanh đạt hiệu quả tốt hơn, kết hợp hài hòa các lợi ích để không ngừng phát triển và hội nhập. Tuy nhiên, cũng phải cần xem xét lại khía cạnh Nhà nước nắm cổ phần chi phối và tỉ lệ sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư chiến lược. Nếu như không giải quyết tốt những vấn đề đó thì sẽ rơi vào cổ phần hóa hình thức, không khác mấy so với trước khi cổ phần hóa và không đạt được các mục tiêu cổ đặt ra. Thứ năm, khó khăn trong việc xác định tổ chức tư vấn cổ phần hóa. Cổ phần hóa ngân hàng là một vấn đề rất nhạy cảm. Đảng và Nhà nước ta đã coi ngân hàng chính là huyết mạch của nền kinh tế, đặc biệt các ngân hàng thương mại nhà nước lại được coi là chủ lực của hệ thống ngân hàng quốc gia. Cho nên, việc tìm được đối tác thẩm định giá trị ngân hàng và tư vấn cho quá trình cổ phần hóa là điều không hề đơn giản. Trong thực tế, việc lựa chọn nhà tư vấn cổ phần hóa cho ngân hàng thương mại nhà nước đều thực hiện chậm trễ so với dự kiến của các ngân hàng. Hiện nay, nguyên tắc lựa chọn các tổ chức tư vấn tiềm năng là: Tổ chức tư vấn tài chính độc lập, có uy tín quốc tế, có kinh nghiệm thực hiện tư vấn cổ phần hóa ngân hàng thương mại, có định chế tài chính, có đội ngũ phân tích ngành ngân hàng, có kinh nghiệm trong việc tư vấn phát hành cổ phiếu tại Châu á và các thị trường mới nổi hoặc có kinh nghiệm đối với hoạt động cổ phần hóa tại các nước thuộc khối Chủ nghĩa xã hội trước đây, có kinh nghiệm làm việc tại Việt Nam và hoạt động của ngân hàng cổ phần hóa, sử dụng các bảng đánh giá mới nhất để đánh giá kinh nghiệm của các nhà tư vấn. Đồng thời, quy trình lựa chọn tổ chức tư vấn quốc tế gồm 4 bước với sự tham gia xét duyệt chặt chẽ của ngân hàng được cổ phần hóa, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính để lựa chọn tổ chức tư vấn cũng như mức phí trước khi giao cho ngân hàng được cổ phần hóa trực tiếp đàm phán và kí kết hợp đồng tư vấn. Như vậy, do gặp phải những điều kiện chặt chẽ về tổ chức tư vấn, về quy trình lựa chọn, về giá cả cho nên việc lựa chọn và thuê tổ chức tư vấn là rất khó khăn. Trong điều kiện khó khăn của ngân sách Nhà nước hiện nay, các ngân hàng đành phải chấp nhận chậm tiến độ để đảm bảo cho lợi ích Nhà nước. Hơn nữa, theo yêu cầu của Ban chỉ đạo cổ phần hóa thì ngân hàng phải đàm phán chi tiết với từng tổ chức tư vấn là ứng viên. Quá trình này cũng xảy ra rất nhiều vướng mắc do có sự khác biệt giữa yêu cầu của ngân hàng được cổ phần hóa và phương thức đề xuất giải quyết của nhà tư vấn. Yêu cầu của ngân hàng không theo các thông lệ quốc tế khiến cho nhà tư vấn trở nên lúng túng. Có những yêu cầu vượt quá khuôn khổ tài chính và liên quan đến pháp luật mà nhà tư vấn không thể đưa ra giải pháp hợp lí. Một minh chứng là khi ngân hàng Ngoại thương Việt Nam lựa chọn tổ chức tư vấn. Mỗi một đối tác tư vấn xác định giá trị của ngân hàng Ngoại thương theo một mức giá khác nhau. Chính phủ yêu cầu ngân hàng Ngoại thương phải chọn lựa nhà tư vấn thế nào để sau này xác định giá trị ngân hàng không làm thất thoát tài sản của Nhà nước. Trong khi đó, ngân hàng Ngoại thương lại quan tâm tới việc xác định đúng giá trị thương hiệu và giúp họ phát triển sau cổ phần hóa. Có thể nói, vấn đề lớn nhất ở đây là chúng ta quá thiếu kinh nghiệm, ra đề bài nhưng lại không rõ mình cần cái gì nên nhà tư vấn không thể giải quyết được. [ 11, tr.47] Thứ sáu, khó khăn trong việc xử lí nợ xấu của ngân hàng thương mại nhà nước trước khi cổ phần hóa. Theo số liệu mà Ngân hàng Nhà nước công bố gần đây thì tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại nhà nước ở nước ta hầu hết đều ở mức thấp. Những số liệu đó được đưa ra dựa trên kết quả phân loại nợ theo Quyết định 493 của Ngân hàng Nhà nước về phân loại nợ của ngân hàng. Tuy nhiên, theo báo cáo kiểm toán của một số tổ chức kiểm toán quốc tế thì tỷ lệ nợ xấu của các ngân hàng thương mại quốc doanh Việt Nam là rất cao, lên tới hàng chục phần trăm. Vấn đề là ở chỗ quan điểm phân loại nợ theo các quy định pháp luật Việt Nam có sự khác biệt rất lớn so với các tiêu chuẩn quốc tế. Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng nhà nước thì: “ Nợ xấu là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (dưới chuẩn), nhóm 4 (nghi ngờ) và nhóm 5 (có khả năng mất vốn)”. Cụ thể là nhóm 3 trở xuống gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và gốc trên 90 ngày. Đồng thời, tại Điều 7 của Quyết định cũng quy định các ngân hàng thương mại căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để hạc toán các khoản vay vào các nhóm thích hợp. Như vậy, nợ xấu theo pháp luật Việt Nam được xác định dựa trên 2 yếu tố: quá hạn 90 ngày và khả năng trả nợ đáng lo ngại. Định nghĩa trên có thể coi là đã sát với thông lệ quốc tế trong cách hiểu về nợ xấu. Tuy nhiên, việc áp dụng nó trong thực tế có rất nhiều vấn đề ảnh hưởng tới thực trạng nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Cho đến nay, hầu hết các ngân hàng thương mại đều mới chỉ hạch toán nợ xấu theo thời gian quá hạn trên 90 ngày còn việc xác định khả năng trả nợ của khách hàng đang gặp rất nhiều khó khăn và phần lớn các ngân hàng đều chưa hoặc đang thí điểm áp dụng yếu tố này. Một lí do khác là tình trạng tài chính của một bộ phận lớn các doanh nghiệp ở nước ta, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước đều gặp rất nhiều khó khăn, vốn tự có chỉ đạt từ 5%- 10% tổng vốn hoạt động, khả năng sinh lời rất thấp... Và vì vậy, nếu các ngân hàng thương mại áp dụng phương pháp phân tích dòng tiền tương lai và xếp hạng tín dụng thì đa số các doanh nghiệp đó không thể vay vốn, toàn bộ số nợ hiện tại của họ có thể xếp hạng là nợ xấu. Tình trạng đó khiến cho các ngân hàng thương mại lúng túng và thường thì các ngân hàng vẫn cho vay cũng như không coi đó là nợ xấu. Việc xác định nợ xấu như vậy là dựa nhiều trên cơ sở định lượng mà chưa coi trọng cơ sở định tính, chưa tuân theo các tiêu chuẩn phân loại nợ quốc tế. Các ngân hàng thương mại nhà nước trên thực tế vẫn có thể cho vay đảo nợ, biến nợ quá hạn thành nợ trong hạn hoặc gia hạn nợ mà không đánh giá đúng khả năng trả nợ... Khi cổ phần hóa và hội nhập sâu vào kinh tế quốc tế, các ngân hàng thương mại nhà nước sẽ vấp phải nhiều khó khăn do tiêu chuẩn phân loại nợ còn cách xa thực tế. Quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước đòi hỏi phải giải quyết triệt để các tranh chấp kinh tế, giải quyết nợ xấu, nợ tồn đọng...Việc xử lí nợ xấu với thực trạng như vậy sẽ tốn rất nhiều thời gian, gây ảnh hưởng xấu đến tiến trình cổ phần hóa. Thứ bảy, khó khăn trong xử lí tài chính khi cổ phần hóa. Theo quy định của pháp luật cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, các ngân hàng thương mại nhà nước phải tiến hành kiểm kê, đối chiếu, phân loại tài sản, công nợ và xử lí các vấn đề tài chính trước khi tiến hành định giá. Tuy nhiên, khi triển khai cụ thể những công việc này thì các ngân hàng lại gặp phải những khó khăn không nhỏ. Đó là do hoạt động ngân hàng có nhiều đặc thù so với hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước khác nên khi thực hiện đã vấp phải một số vướng mắc chưa được hướng dẫn tại Thông tư của Bộ Tài chính số 146/2007/TT-BTC ngày 06/12/2007 hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP hoặc đã hướng dẫn nhưng chưa phù hợp với đặc thù hoạt động của ngân hàng. Xử lí tài sản là một trở ngại lớn đối với ngân hàng khi họ chưa được tự phát mại tài sản, nhất là khi khách hàng không hợp tác và các cơ quan chức năng nhiều khi chưa hỗ trợ hiệu quả. Hay khi bán tài sản trên đất của doanh nghiệp nhà nước vay tiền ngân hàng, giá trị quyền sử dụng đất thường bị chính quyền địa phương thu vào ngân sách nhà nước mà không dùng để trả cho ngân hàng. Có trường hợp ủy ban nhân dân tỉnh thu hồi đất đang thế chấp ngân hàng cho đơn vị khác thuê, chỉ đề bù giá trị tài sản trên đất với mức thấp. Việc bán tài sản công khai chưa có hướng dẫn cụ thể vì tổ chức đấu giá liên quan đến giấy phép và quy định về đấu giá. Bên cạnh đó, nợ quá hạn theo tiêu chuẩn quốc tế tại các ngân hàng thương mại nhà nước là rất lớn. Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy số nợ tồn đọng trong các ngân hàng thương mại nhà nước rất nhiều, lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng. Trong khi đó, thực tế hoạt động của Tổ chức xử lí nợ quốc gia( DATC) và các tổ chức xử lí nợ tồn đọng trong thời gian qua cho thấy các cơ chế hiện hành vẫn chưa thực sự phù hợp. Trước hết, về cơ chế xử lí nợ, các quy định áp dụng cho DATC hầu như không tạo quyền ưu tiên trong việc tiếp cận và khai thác thông tin đánh giá khoản nợ cho nên đã gây ra không ít khó khăn trong việc mua và xử lí nợ. Thứ hai, xét về cơ chế tạo cung cầu cho xử lí nợ. Cơ chế quản lí tài chính hiện hành không buộc các doanh nghiệp nhà nước có nợ tồn đọng phải thực hiện việc bán nợ cho DATC. Do vậy mà vì tâm lí sợ trách nhiệm, sợ đụng chạm và mất quyền lợi nên các doanh nghiệp nhà nước thường chọn phương án tiếp tục treo nợ trong sổ kế toán để đảm bảo an toàn hơn là bán với giá thấp cho DATC rồi phải giải trình và gánh chịu những phiền phức có thể phát sinh. Nguồn cung về nợ tồn đọng mặc dù là có nhưng lại bị hạn chế bởi tâm lí và nhận thức của chính chủ nợ- là các doanh nghiệp nhà nước nói chung và các ngân hàng thương mại nhà nước nói riêng. Thứ ba, xét về mục tiêu xử lí nợ. Kinh nghiệm ở nhiều quốc gia cho thấy việc xử lí nợ tồn đọng thường gắn liền và phục vụ cho một chính sách kinh tế cụ thể của đất nước chứ không thường chỉ nhằm xử lí nợ tồn đọng ở trong từng doanh nghiệp. Vì vậy, các nước như Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia không đặt vấn đề bảo toàn vốn và có lợi nhuận làm nguyên tắc hoạt động cho các tổ chức xử lí nợ mà thay vào đó, họ yêu cầu các tổ chức xử lí nợ phải tối đa hóa giá trị thu hồi để giảm thiểu gánh nặng ngân sách mà Chính phủ phải bỏ ra để hỗ trợ cho chương trình xử lí nợ tồn đọng. Còn ở Việt Nam, chúng ta lại yêu cầu các tổ chức xử lí nợ quốc gia phải hoạt động với mục đích vừa làm lành mạnh hóa tài chính, thúc đẩy cổ phần hóa lại vừa theo cơ chế hạch toán kinh doanh. Và như vậy là để bảo toàn vốn theo yêu cầu của cơ chế tài chính áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước thì DATC buộc phải cân nhắc chọn lựa kĩ những khoản nợ ít gặp rủi ro mất vốn nhất để xử lí. Điều này làm cho quá trình xử lí nợ chậm lại và số lượng các khoản nợ được xử lí cũng ít đi. Đó chính là mâu thuẫn trong giữa một bên là mục tiêu chính sách và một bên là yêu cầu phải bảo toàn vốn và có lợi nhuận. Nó đòi hỏi phải có một cơ chế phù hợp, giải quyết được những vướng mắc phát sinh, tạo điều kiện cho DATC và các tổ chức xử lí nợ khác hoạt động có hiệu quả nhằm thúc đẩy quá trình cổ phần hóa. Ngoài ra, việc xử lí các khoản nợ của ngân hàng thương mại nhà nước còn vấp phải một số những vướng mắc từ chính những quy định của pháp luật về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước. Các văn bản pháp lí điều chỉnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước hiện nay còn có những quy định đề cao quyền lợi của các doanh nghiệp cổ phần hóa hơn là quyền lợi của các chủ nợ (thường là các ngân hàng) trong quá trình cổ phần hóa. Nó khiến cho các doanh nghiệp nhà nước có tâm lí ỷ lại vào việc xử lí nợ của nhà nước mà không chủ động giải quyết các khoản nợ trước khi cổ phần hóa, nhất là các khoản nợ vay của ngân hàng thương mại nhà nước. Đến lượt mình, các ngân hàng thương mại nhà nước phải tìm cách xử lí những khoản nợ đó khi tiến hành cổ phần hóa. Thứ tám, khó khăn trong việc huy động vốn khi cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Một vấn đề được quan tâm rất nhiều là sau khi cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước phải đảm bảo được năng lực hội nhập kinh tế quốc tế, đủ năng lực cạnh tranh với các ngân hàng trong nước và trên thế giới. Điều đó là rất khó khăn bởi vì quy mô của các ngân hàng thương mại nhà nước là tương đối nhỏ so với khu vực cũng như trên thế giới. Hiện nay, một ngân hàng hạng trung bình trên thế giới có quy mô vốn hoạt động khoảng 1 tỷ USD trở lên. Và để đủ năng lực cạnh tranh thì các ngân hàng thương mại Việt Nam sau khi cổ phần hóa phải đạt quy mô vốn tối thiểu là tương đương với mức đó, tức là khoảng 16 000 tỷ đồng. Trong đó, Nhà nước sẽ nắm giữ 51% nghĩa là vốn Nhà nước ở các ngân hàng thương mại phải đạt tối thiểu 8 160 tỷ đồng. Điều đó là rất khó thực hiện do vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay là rất thấp so với yêu cầu này. Đây là một thách thức lớn cho ngân hàng thương mại nhà nước khi cổ phần hóa. Hiện nay, theo các phương án đưa ra thì việc tăng vốn nhà nước có thể bằng hai hình thức. Phương án thứ nhất là giữ nguyên vốn Nhà nước hiện có tại ngân hàng , xem đó là 51% và phần còn lại sẽ huy động bằng cách phát hành thêm cổ phiếu thu hút vốn từ các cổ đông trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phương án này gặp hạn chế ở chỗ là khi phần vốn nhà nước còn quá thấp thì số 49% huy động thêm cũng không đáng kể gì và năng lực tài chính của ngân hàng được tăng lên cũng sẽ không đáng kể. Chẳng hạn, một ngân hàng có tổng trị giá 5000 tỷ đồng thì theo phương án này, số còn lại được phép huy động tối đa cũng chỉ được 4804 tỷ đồng. Xác định tỷ lệ vốn như vậy rõ ràng không đạt được mục tiêu cổ phần hóa là tăng năng lực tài chính cho ngân hàng có đủ khả năng cạnh tranh với các ngân hàng quốc tế khác. Phương án thứ hai là bổ sung vốn Nhà nước để mức vốn điều lệ của ngân hàng tăng đến đâu thì mức vốn của Nhà nước tăng đến đó, luôn đảm bảo nhà nước chiếm giữ tỷ trọng 51%. Tuy nhiên phương thức này lại có hạn chế là khả năng bổ sung vốn từ ngân sách nhà nước. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, hiện nay ngân sách nhà nước còn gặp nhiều khó khăn, không đủ vốn để luôn duy trì tỷ lệ 51% khi mức vốn điều lệ của ngân hàng tăng cao. Đó là trở ngại không nhỏ đối với ngân hàng thương mại nhà nước khi cổ phần hóa.[ 11, tr.54] 3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước 3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước Thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ ban hành các văn bản pháp quy trực tiếp điều chỉnh quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Như đã trình bày ở phần trên, sự thiếu vắng các văn bản trực tiếp điều chỉnh vấn đề cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước khiến cho các ngân hàng thương mại nhà nước cũng như các chủ thể có liên quan rất lúng túng trong việc tiến hành cổ phần hóa ngân hàng. Việc áp dụng các văn bản pháp lí điều chỉnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là cần thiết nhưng các ngân hàng thương mại nhà nước có những đặc thù riêng và đòi hỏi phải có những quy định dành riêng cho quá trình cổ phần hóa các ngân hàng đó. Để đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước theo đúng kế hoạch và mong muốn của Đảng và Nhà nước, cần phải tích cực ban hành các văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp điều chỉnh các vấn đề nảy sinh trong quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Cụ thể là ban hành các thông tư hướng dẫn áp dụng các quy định của Nghị định của Chính phủ số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 vào quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Các thông tư này phải bám sát được thực tiễn cổ phần hóa các ngân hàng thương mại nhà nước nhằm tháo gỡ những vướng mắc đang tồn tại cũng như tạo ra môi trường pháp lí thuận lợi cho các ngân hàng tiến hành cổ phần hóa một cách thuận lợi. Thứ hai, về vấn đề phát hành trái phiếu tăng vốn. Việc phát hành trái phiếu tăng vốn là rất cần thiết nhằm nâng cao năng lực tài chính của ngân hàng thương mại nhà nước để thực hiện chương trình cổ phần hóa. Tuy nhiên, trong quá trình phát hành trái phiếu tăng vốn như đã trình bày ở trên có nhiều hạn chế khiến cho các nhà đầu tư phải gánh chịu nhiều rủi ro, gây ảnh hưởng xấu đối với uy tín của ngân hàng cổ phần hóa. Để khắc phục tình trạng đó, cần bổ sung quy định khi các ngân hàng thương mại nhà nước phát hành trái phiếu tăng vốn thì cần phải có văn bản nói rõ về những đặc điểm của loại trái phiếu này. Các thông tin về trái phiếu phải được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên trang web chính thức của ngân hàng cũng như trong bản cáo bạch. Mặt khác, cần quy định rõ về việc phát hành trái phiếu tăng vốn của ngân hàng thương mại nhà nước theo hướng xích lại gần hơn với các thông lệ quốc tế cả về chuẩn mực lẫn cách thức phát hành. Các ngân hàng thương mại nhà nước phải có các giải pháp hỗ trợ đảm bảo tính thanh khoản của trái phiếu như ủy quyền cho các công ty chứng khoán mua hoặc bán trái phiếu làm tăng giao dịch tại thị trường. Các trái phiếu này sẽ được lưu kí và giao dịch trên thị trường chứng khoán và sẽ trở thành cơ hội đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Việc phát hành trái phiếu tăng vốn thành công sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại cổ phần nâng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn, đảm bảo khả năng cân đối nguồn vốn để đầu tư trung và dài hạn. Thứ ba, về vấn đề xác định giá trị ngân hàng. Những khó khăn gặp phải trong việc định giá tài sản ngân hàng là do các ngân hàng thương mại nhà nước có hệ thống cồng kềnh, quy mô dàn trải, một phần rất lớn các tài sản đã và đang được đầu tư không chỉ ở thị trường trong nước mà còn tại thị trường quốc tế. Chất lượng tài sản phụ thuộc nhiều vào tình hình kinh doanh, chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp vay vốn( cụ thể là khả năng trả nợ của khách hàng). Mặt khác, một lí do nữa là tài sản vô hình của các ngân hàng là loại tài sản rất khó xác định và ngày càng đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động của ngân hàng. Thiết nghĩ, để giải quyết vấn đề này cần: Một là, nên thu gọn bộ máy tổ chức, giải thể hoặc sáp nhập các đơn vị thành viên hoạt động kém hiệu quả, đồng thời tiến hành hạch toán tài chính dứt điểm đối với các đơn vị đó, chuyển toàn bộ nợ xấu cho các tổ chức xử lí nợ. Bên cạnh đó, để xử lí tình trạng nợ tồn đọng quá lớn ở các ngân hàng thương mại nhà nước, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước cần ban hành các văn bản pháp lí quy định rõ trách nhiệm buộc các doanh nghiệp nhà nước phải chủ động xử lí những tồn tại về tài chính. Tránh trường hợp các doanh nghiệp nhà nước vay vốn ngân hàng và dồn lại cho đến khi cổ phần hóa để được Nhà nước xử lí trừ vào vốn Nhà nước, tạo ra gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước cũng như các ngân hàng thương mại nhà nước. Hai là, có quy định rõ ràng về việc mời các tổ chức tài chính lớn và có kinh nghiệm xác định giá trị ngân hàng, đảm bảo tính công khai và độc lập. Khi xác định giá trị ngân hàng thương mại nhà nước thì cần phải xem xét đầy đủ các yếu tố như chất lượng tài sản, tỷ lệ nợ xấu, hiệu quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu ROA, ROE, nghĩa vụ về các khoản nợ, thu nhập của người lao động, công nghệ ngân hàng, sản phẩm dịch vụ cung cấp. Tránh tình trạng định giá cao theo ý chí của các nhà đầu tư hay định giá thấp gây thất thoát tài sản của Nhà nước. Cần phải tính đến các lợi thế của ngân hàng như mạng lưới hoạt động rộng khắp, đã chiếm lĩnh phần lớn thị phần tại các thanh phố lớn và các khu vực kinh tế năng động, thương hiệu của các ngân hàng đã được khẳng định...Sau đó, tập hợp các nhân tố như đã nêu lập giá khung rồi đưa ra hội thảo lấy ý kiến của các chuyên gia, các nhà phân tích, các nhà thẩm định để xác định giá trị tài sản trước khi tiến hành cổ phần hóa. Thứ tư, về vấn đề cơ cấu sở hữu vốn điều lệ. Cổ phần hóa được xem là cơ hội cũng như là sức ép tạo động lực cho các ngân hàng thương mại nhà nước tự chủ trong kinh doanh. Rất nhiều bài học kinh nghiệm cho thấy việc cổ phần hóa ồ ạt là nguyên nhân dẫn đến sự thất thoát lớn tài sản của Nhà nước, phá vỡ hệ thống cấu trúc của nền kinh tế. Điều đó sẽ càng đặc biệt nghiêm trọng khi lĩnh vực cổ phần hóa là lĩnh vực tài chính ngân hàng. Vai trò chi phối của Nhà nước trong ngân hàng sau cổ phần hóa là cần thiết để giữ vững và phát huy vai trò của các ngân hàng thương mại nhà nước trong nền kinh tế. Tuy nhiên, cũng cần phải hiểu rằng khi thực hiện cổ phần hóa, tuy hình thức sở hữu có sự thay đổi nhất định nhưng vai trò chủ đạo của Nhà nước tại ngân hàng vẫn được đảm bảo. Vấn đề không chỉ dừng lại ở đó, mục tiêu lớn hơn là làm sao để các ngân hàng thương mại nhà nước sau cổ phần hóa không bị lâm vào tình trạng “ bình mới rượu cũ” mà còn phải phát huy phát huy tốt hơn vai trò chủ đạo của mình trong việc triển khai thực hiện chính sách tiền tệ của quốc gia dưới một cơ chế quản lý phù hợp hơn. Vì vậy, giải pháp đặt ra là nhất thiết Nhà nước phải nắm giữ 51% vốn điều lệ để đảm bảo vai trò chi phối của mình nhưng không phải đối với tất cả các ngân hàng thương mại nhà nước cổ phần hóa. Nhà nước chỉ nên nắm giữ cổ phần chi phối tập trung ở một hoặc hai ngân hàng để nâng cao năng lực tài chính và phát triển nó trở thành ngân hàng thương mại lớn ngang tầm các đối thủ cạnh tranh trong khu vực và quốc tế. Làm như vậy Nhà nước sẽ giảm bớt được áp lực cho ngân sách khi phải dàn trải cho các ngân hàng mà vẫn đảm bảo được rằng các chính sách tiền tệ của mình vẫn được thực hiện. Mặc dù vậy, cũng cần phải lưu ý là trong việc Nhà nước không nắm cổ phần chi phối ở các ngân hàng còn lại phải được thực hiện theo một lộ trình phù hợp. Bên cạnh đó, cần có các quy định khuyến khích các nhà đầu tư tham gia mua cổ phần của ngân hàng thương mại nhà nước, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược. Các nhà đầu tư chiến lược thường là các định chế tài chính lớn trên thế giới, có kinh nghiệm và uy tín, có tiềm lực tài chính mạnh, khả năng quản lí tốt, trình độ công nghệ tiến tiến. Hợp tác với các nhà đầu tư chiện lược thì ngoài sự hỗ trợ về tài chính, các ngân hàng thương mại nhà nước sẽ được hỗ trợ về phương thức quản lí và trình độ công nghệ. Điều này tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và phát triển dài hạn. Việc có được các nhà đầu tư nước ngoài uy tín trong hội đồng quản trị ngân hàng sau cổ phần sẽ là một đảm bảo rất lớn đối với công chúng về độ tin cậy của ngân hàng. Thứ năm, về vấn đề lựa chọn tổ chức tư vấn cổ phần hóa. Mặc dù đã có rất nhiều quy định khá chặt chẽ về việc lựa chọn tổ chức tư vấn cổ phần hóa cho các ngân hàng thương mại nhà nước nhưng vấn đề này vẫn gặp phải nhiều khó khăn do sức ép về thời gian và chi phí thuê tổ chức tư vấn. Về vấn đề này, cần phải hiểu rõ rằng cổ phần hóa là một quá trình phức tạp, không thể vì nóng vội mà ép tiến độ để rồi chất lượng cổ phần hóa không được đảm bảo. Chính vì vậy, các văn bản điều chỉnh quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước nên loại bỏ những quy định mang tính thúc ép về mặt thời gian để việc lựa chọn các tổ chức tư vấn đảm bảo diễn ra theo đúng mong muốn. Việc chọn ra các tổ chức tư vấn vừa đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe lại vừa có chi phí thấp và trong một thời gian ngắn là rất khó mà thực hiện được. Đồng thời, cũng cần có quy định đề cao vai trò của ngân hàng thương mại trong việc lựa chọn ra tổ chức tư vấn bởi chính các ngân hàng thương mại( là những đối tượng của quá trình cổ phần hóa cũng như chính là khách hàng của các tổ chức tư vấn) là người hiểu rõ hơn ai hết nhu cầu của mình và vấn đề làm việc với các tổ chức tư vấn sẽ diễn ra thuận lợi hơn. Hơn nữa, pháp luật cũng cần có những quy định cụ thể về tiêu chí lựa chọn các nhà tư vấn sao cho phù hợp với yêu cầu của cổ phần hóa. Bên cạnh đó, thủ tục lựa chọn các nhà tư vấn cũng đòi hỏi phải minh bạch và đơn giản hơn. Như vậy sẽ tránh được trường hợp ban lãnh đạo ngân hàng lựa chọn nhà tư vấn chỉ dựa trên lợi ích của mình mà bỏ qua lợi ích của các chủ thể khác và quá trình lựa chọn nhà tư vấn cũng diễn ra dễ dàng hơn. Thứ sáu, về vấn đề xử lí nợ tồn đọng. Việc xử lí nợ xấu cũng như là kiểm soát không để nợ xấu phát sinh của ngân hàng thương mại nhà nước khi cổ phần hóa không được như mong muốn, đặc biệt khi thực hiện phân loại nợ theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước. Để có thể xử lí dứt điểm các khoản nợ xấu thì cần phải ban hành các quy phạm pháp luật xác định rõ các tiêu chí phân loại nợ và kết quả phân loại nợ phải được xác định kết hợp theo cả hai tiêu chí định lượng và định tính. Theo đó, nợ xấu không chỉ được xác định dựa trên tiêu chí quá hạn về thời gian của các khoản vay mà còn phải xác định dựa vào khả năng chi trả của khách hàng. Việc xử lí nợ xấu và tăng cường năng lực tài chính cho các ngân hàng thương mại nhà nước cần phải được thực hiện các giải pháp “làm sạch” một cách thực chất bảng cân đối tài sản của ngân hàng. Trước hết, cần bổ sung quy định hỗ trợ nguồn tài chính cho các ngân hàng trích lập đủ dự phòng để có thể bù đắp những tổn thất có thể xảy ra khi khách hàng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Sau đó, chuyển nhượng các khoản nợ xấu cho các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có đủ khả năng và thẩm quyền xử lí nợ. Đối với các khoản nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước, có thể xử lí theo hướng ngân hàng thương mại nhà nước chuyển sang cho Công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của Bộ tài chính (DATC) để tiếp tục theo dõi, xử lí theo thẩm quyền. Còn các khoản nợ của các tổ chức, cá nhân khác, ngân hàng thương mại nhà nước được phép bán nợ cho DATC hoặc các doanh nghiệp, cá nhân có đủ năng lực tài chính( kể cả các tổ chức, cá nhân nước ngoài) thông qua tổ chức đấu giá công khai. Đối với các khoản nợ xấu cho vay theo chỉ định, chương trình, kế hoạch của nhà nước thì ngân hàng thương mại nhà nước có thể thỏa thuận để bán nợ cho DATC, Quỹ hỗ trợ phát triển hoặc các tổ chức có chức năng mua bán nợ khác. Đối với những khoản nợ xấu của các doanh nghiệp mà ngân hàng không chuyển giao cho công ty mua bán nợ và các tổ chức cá nhân khác thì cần có có cơ chế để ngân hàng có thể chủ động áp dụng các biện pháp cơ cấu lại tài chính và hoạt động của doanh nghiệp. Như vậy sẽ giúp cho tình hình nợ xấu của ngân hàng được giải quyết tốt hơn. Thứ bảy, về vấn đề xử lí tài chính của ngân hàng. Để các ngân hàng thương maị nhà nước tiến hành tốt việc xử lí tài chính trước khi cổ phần hóa, cần phải ban hành các quy định tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng, khách hàng cũng như với các cơ quan chức năng của nhà nước trong việc xử lí các tài sản của ngân hàng thương mại. Có cơ chế hiệu quả để khách hàng hợp tác khi ngân hàng có yêu cầu xử lí tài sản đúng quy định. Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng nhà nước như cơ quan thi hành án, cơ quan đăng kí quốc gia về giao dịch bảo đảm...cũng phải có trách nhiệm trong việc xử lí tài sản của ngân hàng. Sự tham gia của các cơ quan này chắc chắn sẽ tạo ra nhiều thuận lợi cho quá trình xử lí tài chính của ngân hàng thương mại nhà nước. Ngoài ra, cần phải sửa đổi cơ chế hoạt động của Tổ chức xử lí nợ quốc gia DATC theo hướng tạo điều kiện để tiếp cận và khai thác thông tin đánh giá các khoản nợ, không đặt vấn đề bảo toàn vốn và có lợi nhuận làm nguyên tắc hoạt động cho các tổ chức xử lí nợ mà thay vào đó, yêu cầu các tổ chức xử lí nợ phải tối đa hóa giá trị thu hồi để giảm thiểu gánh nặng ngân sách mà Chính phủ phải bỏ ra để hỗ trợ cho chương trình xử lí nợ tồn đọng. Mặt khác, cũng phải sửa đổi các quy định không phù hợp trong các văn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà đề cao quyền lợi của các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hơn là quyền lợi của ngân hàng cho vay khiến cho các doanh nghiệp nhà nước nảy sinh tâm lí ỷ lại vào việc xử lí nợ của nhà nước mà không chủ động giải quyết các khoản nợ trước khi cổ phần hóa, nhất là các khoản nợ vay của ngân hàng thương mại nhà nước nhằm giảm nhẹ gánh nặng cho các ngân hàng thương mại nhà nước khi xử lí tài chính. 3.2.2. Kiến nghị đảm bảo thực hiện pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước Để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước diễn ra nhanh chóng và thuận lợi thì việc hoàn thiện các quy định pháp luật có liên quan như trên chưa chưa đủ mà còn cần phải có cơ chế đảm bảo cho các quy định đó được thực hiện đầy đủ trên thực tế. Trước hết, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Do việc cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước là một việc hết sức cần thiết, là đòi hỏi khách quan và là một trong những giải pháp tốt nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Cho nên, phổ biến chủ trương cổ phần hóa cũng như các quy định của pháp luật là một nội dung quan trọng để giúp người dân, nhà đầu tư và khách hàng của ngân hàng được cổ phần hóa có thể hiểu được tính cần thiết, mục tiêu, hiệu quả và lợi ích mà cổ phần hóa mang lại cho họ, cho chính ngân hàng và cả nền kinh tế. Không những vậy, công tác tuyên truyền pháp luật ở đây còn giúp cho bản thân ban lãnh đạo và người lao động của ngân hàng được cổ phần hóa hiểu rõ chủ trương chính sách của Nhà nước và nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật hơn. Cần đăng tải thường xuyên các thông tin về chủ trương của Nhà nước, về các quy định pháp luật điều chỉnh quá trình quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng, các Website của các Bộ, ban ngành... để người lao động, khách hàng, các nhà đầu tư hiểu và ủng hộ chủ trương cổ phần hóa, tránh tâm lí hoang mang, lo sợ, rút tiền ồ ạt dẫn đến rủi ro thanh khoản và những tác động dây chuyền tiêu cực khác, hay tâm lí làm việc không ổn định của chính người lao động trong ngân hàng... Thực hiện tốt công tác tuyên truyền như vậy sẽ tạo ra nhiều thuận lợi cho tiến trình cổ phần hóa diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, phải tạo ra những cơ chế nhằm đảm bảo các chủ thể có liên quan thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luật về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Việc này có thể được thực hiện bằng cách quy định theo hướng tăng cường trách nhiệm cho ngân hàng trong việc thực hiện tiến trình cổ phần hóa. Mặt khác, tạo điều kiện cho các cơ quan nhà nước có thể giám sát một cách chặt chẽ quá trình thực hiện quy trình cổ phần hóa của ngân hàng. Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước là một quá trình phức tạo và có ảnh hưởng lớn tới nhiều lĩnh vực khác trong nền kinh tế, việc đảm bảo cho các quy định pháp luật về vấn đề này được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, chặt chẽ là yêu cầu tất yếu. Tạo ra được cơ chế đảm bảo thực hiện như vậy sẽ giúp cho quá trình cổ phần hóa diễn ra nhanh chóng, minh bạch, đạt được các mục tiêu đã đề ra. Tóm lại, trong bối cạnh hội nhập, tương lai mở cửa ngân hàng không còn xa, yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, phát triển công nghệ và đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh là một yêu cầu sống còn đối với các ngân hàng. Cổ phần hóa sẽ tạo ra động lực buộc các ngân hàng phải tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động và hội nhập thành công. Vấn đề đặt ra ở đây là phải giải quyết được những tồn tại trong quá trình cổ phần hóa và vạch ra hướng đổi mới cho ngân hàng sau cổ phần hóa để có thể phát huy được vai trò chủ đạo của mình trong các chính sách tiền tệ của quốc gia và góp phần thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế đất nước. Kết luận Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước là vấn đề vừa mang tính cấp thiết vừa mang tính chiến lược lâu dài trong môi trường cạnh tranh và hội nhập kinh tế hiện nay của đất nước. Do đó, điều quan trọng hiện nay là phải xác định được mục tiêu cổ phần hóa, xác định những điều kiện cần và đủ để giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình cổ phần hóa. Bên cạnh đó, phải đảm bảo được rằng ngân hàng sau khi cổ phần hóa đáp ứng được các chuẩn mực hội nhập kinh tế quốc tế, đủ năng lực cạnh tranh được với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới. Với mong muốn góp phần tìm hiểu và nghiên cứu về quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước cũng như góp phần đưa ra những giải pháp thúc đẩy quá trình này, chúng tôi đã chọn đề tài: “ Cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước – thực trạng và giải pháp”. Thực hiện đề tài này, khóa luận đã phân tích cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước, đi sâu phân tích các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh vấn đề này. Qua đó, rút ra những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng tới tiến trình thực hiện cổ phần hóa cũng như đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục các tồn tại, đặc biệt là các giải pháp mang tính pháp lí. Việc hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước có ý nghĩa rất quan trọng để thúc đẩy tiến trình này. Trong khuôn khổ của một khóa luận tốt nghiệp, tác giả hy vọng với những kết quả nghiên cứu đã đạt được trên đây sẽ góp phần giúp hiểu rõ thêm và thúc đẩy quá trình cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước. Trong quá trình nghiên cứu, chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp...Hy vọng khóa luận sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích cho những ai quan tâm tới chủ trương cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước của Đảng và Nhà nước hiện nay. Danh mục tài liệu tham khảo Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản toàn quốc lần thứ VII. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1992. Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản toàn quốc lần thứ VIII. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 1996. Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản toàn quốc lần thứ IX. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội 2001. Văn kiện Đại hội Đảng cộng sản toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị quốc gia Hà Nội. Hiến pháp 1992. Luật các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2004). Luật chứng khoán 2005. Luật doanh nghiệp 2005. Nghị định số109/2007/NĐ-CP ngày 26/06/2007 của Chính phủ về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần. Thông tư của Bộ Tài chính số 146/2007/TT-BTC ngày 06 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn thực hiện một số vấn đề về tài chính khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần theo quy định tại Nghị định số 109/2007/NĐ-CP. Luận văn thạc sĩ Kinh tế – Tài chính ngân hàng “ Giải pháp nâng cao hiệu quả cổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước- Thạc sĩ Trần Nguyễn thảo Uyên Thời báo kinh tế năm 2007. Tạp chí Luật học Tháng 1 năm 2006. Báo đầu tư 2007. Giáo trình Luật ngân hàng Đại học Luật Hà Nội 2007.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCổ phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước – thực trạng và giải pháp.doc
Luận văn liên quan