Cung trong nông thôn

Nông nghiệp là ngành giữ vai trò quan trọng và đóng góp lớn cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của đất nước. Nông nghiệp nước nhà còn gặp nhiều khó khăn trong xu thế hội nhập của thế giới và chống trọi với thiên tai hằng năm. Nhà nước, cơ quan chức năng cùng với người nông dân cần nỗ lực hơn để nông nghiệp Việt Nam phát triển hơn nữa.

ppt31 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 06/11/2013 | Lượt xem: 2107 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Cung trong nông thôn, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
- Quy luật cung: Trong điều kiện các yếu tố khác không đổi lượng cung về một sản phẩm trên thị trường tỉ lệ thuận với giá cả của sản phẩm đó. + Tuy nhiên vẫn có nhiều loại sản phẩm hàng hóa không tuân theo quy luật cung : sản phảm nông sản tươi sống vào mùa thu hoạch rộ mặc dù giá giảm nhưng lượng cung không giảm vì nếu không tiêu thụ ngay sẽ bị giảm phẩm chất.... -Biểu cung: Là bảng liệt kê lượng hàng hóa được cung ở các mức giá khác nhau. Bảng 1. Biểu cung về gạo ở thị trường huyện A 2.1.3. Đặc điểm của cung nông sản Tính thời vụ cao => nhiễu loạn giá Tính trễ của đuờng cung Sản phẩm nông nghiệp và thị trường nông sản mang tính chất vùng và khu vực Một bộ phận lớn như nông sản, lương thực, thực phẩm được tiêu dùng nội bộ hoặc với tư cách là tư liệu sản xuất, Thị truờng cạnh tranh hoàn hảo => nguời bán nguời mua là nguời chấp nhận giá => luợng cung của một cá nhân không ảnh huởng nhiều tới cung thị truờng 2.1.4. Đặc điểm của cung NS trong nông thôn việt nam Nguời bán chủ yếu là các hộ gia đình, quy mô sản xuất nhỏ lẻ => thiếu phuơng tiện bảo quản, chế biến => tỉ lệ hao hụt lớn, giảm chất luợng sản phẩm => khả năng mặc cả, đảm bảo về giá thấp => thua thiệt về giá _ Nông sản đa dạng, phong phú về chủng loại, chủ yếu là sản phảm thô, chưa qua chế biến Đặc điểm của cung NS trong nông thôn việt nam Chất luợng chưa cao, an toàn thực phẩm, mối lưu tâm của toàn xã hội Luợng cung phụ thuộc vào mục tiêu sản xuất của hộ, sản xuất để tiêu dùng hay để bán Xu huớng chung: tỉ suất hàng hóa nông sản ngày càng lớn Nhiều thành phần tham gia chuỗi cung ứng NS. Nguời sản xuất tạo ra nhiều giá trị gia tăng nhưng lại thu đuợc lợi nhuận thấp nhât trong chuỗi Đặc điểm của cung NS trong nông thôn Việt Nam Nhiều thành phần trung gian tham gia kênh phân phối => chênh lệch giữa giá cổng trại và giá bán cho nguời tiêu dùng cuối cùng lớn Tiếp cận thông tin thị truờng của nguời dân côn hạn chế => thua thiệt vè giá bán sản phẩm Mối liên kết giữa các thành phần trong chuỗi cung ứng thấp SP có chất luợng tốt hơn nguời sản xuất chọn lựa để cung ứng cho thị truờng thành thị, sản phẩm có chất luợng kém đuợc cung ứng ở thị truờng nông thôn 2.2. Thực trạng và giải pháp cung nông sản trong nông thôn 1.Thực trạng - Nông sản của nước ta dưới dạng hộ gia đình, quy mô nhỏ lẻ là phổ biến nên sẽ gặp khó khăn khi thị trường yêu cầu với số lượng lớn, chất lượng cao, bảo đảm tính đồng bộ về quy cách Nông sản nước ta phải đối mặt và cạnh tranh quyết liệt đối với hàng nông sản của nước ngoài trên thị trường cả trong và ngoài nước, nhất là nông sản có chất lượng cao như các sản phẩm sữa, thịt bò, hoa quả... từ các nước như Úc, Nhật, Mỹ Hàng nông sản đối mặt với thực trạng được mùa mất giá + Đầu tháng 11/2011, giảm mạnh xuống còn dưới 40.000 đồng/kg, so với mức hơn 50.000 đồng/kg hồi tháng 5/2011. Có lúc giá cà phê chỉ còn 30.000 – 35.000 đồng/kg. Giá cà phê giảm mạnh là do các trang trại cà phê đang bước vào vụ thu hoạch rộ. Sự dồi dào về nguồn cung là nguyên nhân chính khiến giá cà phê giảm. + Gía vải thiều vào chính vụ tại vườn có khi chỉ 2ngđ/kg + … + Mạng lưới kinh doanh hàng nông sản vừa thiếu, vừa yếu, nhiều khâu nấc trung gian; sự liên kết giữa các chủ thể trong hoạt động từ sản xuất tới tiêu thụ nông sản chưa chặt chẽ và thiếu tính bền vững + Hạ tầng thương mại còn yếu kém, nhất là ở địa bàn nông thôn, miền núi gây trở ngại cho việc vận chuyển hàng nông sản đi xa để tiêu thụ. + Nông sản củaViệt Nam cung ứng trên thị trường chất lượng sản phẩm chưa cao, chủng loại còn đơn điệu và chủ yếu là nông sản thô hoặc mới qua sơ chế, nên giá trị gia tăng đem lại còn thấp. + Các măt hàng như rau củ quả chính vụ đặc biệt là các loại rau để ăn sống khi không kịp cung ứng trên trị trường không kịp thường bị hư hỏng gây thiệt hại. + Gía các loại nông sản này lúc chính vụ thường rất rẻ và tăng cao khi có bão lũ mất mùa. Giải pháp Tổ chức và mở rộng mạng lưới cung hàng nông sản ở địa bàn nông thôn Đẩy mạnh mối quan hệ liên kết giữa các “nhà” như nhà nước, nhà nông, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp trên cơ sở xử lý hài hòa lợi ích của các bên tham gia trong chuỗi giá trị hàng nông sản theo quy luật Phát triển công nghiệp chế biến nhằm nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị các mặt hàng nông sản Khuyến khích đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở nông thôn đồng thời có chính sách hỗ trợ cho các hợp tác xã, chủ trang trại và hộ nông dân về giống, phân bón, kỹ thuật sản xuất, phòng chống dịch bệnh, dự trữ bảo quản 3.Cung phân bón trong nông thôn 3.1. Lý thuyết về cung phân bón Đặc điểm Mang tính thời vụ Được cung cấp bởi các nhà sản xuất lớn Lượng cung bị ảnh hưởng bởi giá trong nước và quốc tế Lượng cung cho nông thôn bao gồm: Lượng sản xuất trong nước và lượng nhập khẩu 3.2. Thực trạng + Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại phân bón vô cơ được cung ứng bởi nhiều nhà sản xuất khác nhau + Thị trường phân bón trong nước còn nhiều bất ổn + Phân bón cung trong nước còn phụ thuộc nhiều vào lượng nhập khẩu + Tình trạng sản xuất kinh doanh phân bón giả, kém chất lượng ngày càng tăng Hiện nay, ngành sản xuất phân hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng 45% nhu cầu của nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu gần như toàn bộ phân đạm urê, kali và phân phức hợp DAP, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK với tổng số trên 3 triệu tấn/năm. Riêng đối với phân khoáng kali, do phải nhập khẩu hoàn toàn nên tiêu thụ kali ở nước ta bị phụ thuộc thị trường nước ngoài. Mỗi năm nông dân Việt  Nam đã sử dụng tới khoảng 5 triệu tấn phân bón vô cơ qui chuẩn, không kể phân hữu cơ và các loại phân bón khác do các cơ sở tư nhân và công ty TNHH sản xuất, cung ứng. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công bố tại năm 2011: + Sản xuất và nhập khẩu phân bón cả nước ước đạt khoảng 9,8 triệu tấn phân bón các loại, tăng 10,26% so với năm 2010; trong đó sản xuất trong nước đạt 5,645 triệu tấn. Năm 2012 dự báo cả nước cần khoảng 9,88 triệu tấn phân bón các loại, trong đó khả năng sản xuất trong nước là 7,25 triệu tấn + Trên thị trường xuất hiện nhiều loại phân bón giả, kém chất lượng, một lượng lớn phân kém chất lượng có nguồn gốc từ Trung Quốc gây thiệt hại cho nông dân và nhà sản xuất.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pptnho_m_9_1241.ppt