Đề tài Bàn về chế độ kế toán khấu hao tài sản cố định hữu hình ở Việt Nam hiện nay

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 Phần I CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HIỆN HÀNH VỀ HẠCH TOÁN KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH 2 I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH 2 1. Khái niệm và tiêu chuẩn nhận biết tài sản cố định hữu hình. 2 2. Phân loại tài sản cố định hữu hình trong doanh nghiệp 3 3. Nguyên giá tài sản cố định. 3 4. Xác định thời gian sử dụng tài sản cố định hữu hình: 5 II. HAO MÒN VÀ TÍNH KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 7 1. Hao mòn tài sản cố định hữu hình. 7 2. Khấu hao tài sản cố định hữu hình. 7 III. NGUYÊN TẮC TRÍCH KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 8 IV.PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN KHẤU HAO TSCĐHH 9 1. Phương pháp khấu hao theo phương pháp đường thẳng. 9 2. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh:. 11 V. HẠCH TOÁN KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH THEO CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH 15 1. Chứng từ, sổ sách hạch toán khấu hao tài sản cố định hữu hình. 15 2. Tài khoản sử dụng. 15 3. Phương pháp hạch toán khấu hao tài sản cố định hữu hình. 16 4. Bảng tính và phân bổ khấu hao 17 5. Trình bày báo cáo tài chính 17 Phần II. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐÓNG GÓP VỚI CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HIỆN HÀNH VỀ KHẤU HAO TSCĐHH 18 I. SO SÁNH VỚI KẾ TOÁN QUỐC TẾ 18 1. So sánh với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS). 18 2. So sánh với kế toán MỸ 20 II. NHẬN XÉT VỀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HIỆN HÀNH VỀ KHẤU HAO TSCĐHH. 22 1.Về ưu điểm 23 2. Về nhược điểm 24 III. Ý KIẾN ĐÓNG GÓP ĐỂ HOÀN THIỆN VỀ CHẾ ĐỘ HẠCH TOÁN KHẤU HAO TSCĐHH 26 KẾT LUẬN 29 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 30

doc32 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/04/2013 | Lượt xem: 3440 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Bàn về chế độ kế toán khấu hao tài sản cố định hữu hình ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
mục đích kinh doanh như sau: Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc: là những tài sản cố định của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, cầu tầu, cầu cảng... Loại 2: Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, dây truyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ... Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải bao gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, băng tải... Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính phục vụ cho quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, chống mối mọt... Loại 5: Vườn cây lâu năm, súc vật làn việc hoặc cho sản phẩm: là các vườn cây lâu năm như vườn cây cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm cây xanh...; súc vật làm việc và cho sản phẩm như đàn voi, đàn ngựa, đàn trâu, đàn bò... Loại 6: Các loại tài sản cố định khác: là toàn bộ các tài sản cố định khác chưa liệt kê vào năm loại trên như tranh ảnh, các tác phẩm nghệ thuật... 3.Nguyên giá tài sản cố định Tuỳ theo từng loại tài sản cố định cụ thể, từng cách thức hình thành, nguyên giá tài sản cố định sẽ được xác định khác nhau. Theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC thì việc xác định nguyên giá được quy định như sau: * Tài sản cố định hữu hình mua sắm: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình mua sắm (kể cả mua mới và mua cũ) là giá mua thực tế phải trả công các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi trả tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ. Khoản chênh lệch giữa giá mua trả chậm và giá mua trả tiền ngay dược hạch toán vào chi phí tài chính theo kỳ hạn thanh toán, trừ khi số chênh lệch đó được tính vào nguyên giá của tài sản cố định hữu hình theo quy định vốn hoá chi phí lãi vay. * Tài sản cố định hữu hình mua dưới hình thức trao đổi: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình mua dưới hình thức trao đổi với một tài sản cố định hữu hình không tương tự hoặc tài sản khác là giá trị hợp lý của tài sản cố định hữu hình nhận về, hoặc giá trị hợp lý của tài sản đem trao đổi (sau khi cộng thêm các khoản phải trả thêm hoặc trừ đi các khoản phải thu về) cộng các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi trả tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử, lệ phí trước bạ... * Tài sản cố định hữu hình tự xây dựng hoặc tự sản xuất: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình tự xây dựng hoặc tự sản xuất là giá thành thực tế của tài sản cố định cộng các chi phí lắp đặt, chạy thử, các chi phí khác trực tiếp liên quan phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (trừ các khoản lãi nội bộ, các chi phí không hợp lý như nguyên vật liệu lãng phí, lao động hoặc các khoản phí khác vượt quá mức quy định trong xây dựng hoặc tự sản xuất). * Nguyên giá tài sản cố định hữu hình do đầu tư xây dựng cơ bản hình thành theo phương thức giao thầu: là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành, các chi phí khác có liên quan. * Tài sản cố định được cấp, được điều chuyển đến: Nguyên giá tài sản cố định hữu hình được cấp, được điều chuyển đến... là giá trị còn lại ghi trên sổ kế toán của tài sản cố định ở các đơn vị cấp, đơn vị điều chuyển... hoặc giá trị theo đánh giá thực tế của hợp đồng giao nhận cộng với các chi phí mà bên nhận tài sản phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp, lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ.. * Tài sản cố định hữu hình được cho, được biếu, được tặng, nhận vốn góp liên doanh, nhận lại vốn góp, do phát hiện thừa...là giá trị đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận cộng với các chi phí mà bên nhận phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như chi phí vận chuyển, bốc dỡ, chi phí nâng cấp, lắp đặt, chạy thử, lệ phí trước bạ (nếu có)... 4. Xác định thời gian sử dụng tài sản cố định hữu hình: a. Đối với tài sản cố định còn mới (chưa qua sử dụng), doanh nghiệp phải căn cứ vào khung thời gian sử dụng tài sản cố định quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính để xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định. b. Đối với tài sản cố định đã qua sử dụng, thời gian sử dụng của tài sản cố định được xác định như sau: Thời gian sử dụng của tài sản cố định = Giá trị hợp lý của tài sản cố định –––––––––––––––––– Giá bán của tài sản cố định mới cùng loại (hoặc của tài sản cố định tương đương trên thị trường) X Thời gian sử dụng của tài sản cố định mới cùng loại xác định theo Phụ lục 1 (ban hành kèm theo Quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003) Trong đó: Giá trị hợp lý của tài sản cố định là giá mua hoặc trao đổi thực tế (trong trường hợp mua bán, trao đổi), giá trị còn lại của tài sản cố định (trong trường hợp được cấp, được điều chuyển), giá trị theo đánh giá của Hội đồng giao nhận (trong trường hợp được cho, biếu tặng, nhận vốn góp),… c. Trường hợp doanh nghiệp muốn xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định khác với khung thời gian sử dụng quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, doanh nghiệp phải giải trình rõ các căn cứ để xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định đó để Bộ Tài chính xem xét, quyết định theo ba tiêu chuẩn sau: - Tuổi thọ kỹ thuật của tài sản cố định theo thiết kế; - Hiện trạng tài sản cố định (thời gian tài sản cố định đã qua sử dụng, thế hệ tài sản cố định, tình trạng thực tế của tài sản...); - Tuổi thọ kinh tế của tài sản cố định. d. Trường hợp có các yếu tố tác động (như việc nâng cấp hay tháo dỡ một hay một số bộ phận của tài sản cố định...) nhằm kéo dài hoặc rút ngắn thời gian sử dụng đã xác định trước đó của tài sản cố định, doanh nghiệp tiến hành xác định lại thời gian sử dụng của tài sản cố định theo ba tiêu chuẩn quy định tại khoản 3 Điều này tại thời điểm hoàn thành nghiệp vụ phát sinh, đồng thời phải lập biên bản nêu rõ các căn cứ làm thay đổi thời gian sử dụng II. HAO MÒN VÀ TÍNH KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 1. Hao mòn tài sản cố định hữu hình Hao mòn tài sản cố định: là sự giảm dần giá trị sử dụng và giá trị của tài sản cố định do tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bào mòn của tự nhiên, do tiến bộ kỹ thuật... trong quá trình hoạt động của tài sản cố định. Hao mòn tài sản cố định được phân thành hai loại: Hao mòn hữu hình: là hao mòn vật lý trong quá trình sử dụng do bị cọ sát, bị ăn mòn, bị hư hỏng từng bộ phận. Hao mòn hữu hình của tài sản cố định có thể diễn ra dưới hai dạng: Hao mòn dưới dạng kỹ thuật xảy ra trong quá trình sử dụng. Hao mòn do tác động của thiên nhiên (độ ẩm, hơi nước, không khí...) không phụ thuộc vào việc sử dụng. Do có sự hao mòn hữu hình nên tài sản cố định hữu hình mất dần giá trị sử dụng lúc ban đầu, cuối cùng phải thay thế bằng một tài sản khác. Hao mòn vô hình: là sự giảm giá trị của tài sản cố định hữu hình do tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Nhờ có tiến bộ khoa học kỹ thuật mà tài sản cố định hữu hình được sản xuất ra ngày càng có nhiều tính năng với năng suất cao hơn và chi phí ít hơn. Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc của tiến bộ khoa học kỹ thuật cùng với xu hướng toàn cầu hoá, cạnh tranh mạnh mẽ, yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng chính vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp phải theo kịp và đáp ứng nhu cầu đó nên tài sản cố định hữu hình phải chịu ảnh hưởng ngày càng lớn của hao mòn vô hình. 2. Khấu hao tài sản cố định hữu hình * Khái niệm và ý nghĩa của khấu hao tài sản cố định hữu hình: Trong quá trình đầu tư và sử dụng, dưới tác động của môi trường tự nhiên và điều kiện làm việc cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, tài sản cố định hữu hình bị hao mòn dần về giá trị và hiện vật. Phần giá trị hao mòn được chuyển dịch vào giá trị sản phẩm làm ra dưới hình thức trích khấu hao. Như vậy, khấu hao tài sản cố định hữu hình chính là sự biểu hiện bằng tiền của phần giá trị tài sản cố định đã hao mòn. Hao mòn tài sản cố định hữu hình là hiện tượng khách quan làm giảm giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định hữu hình. Đồng thời trích khấu hao tài sản cố định hữu hình là biện pháp chủ quan nhằm thu hồi vốn đầu tư để tái tạo lại tài sản cố định hữu hình khi nó bị hư hỏng. Ý nghĩa của khấu hao: Về mặt kinh tế, khấu hao cho phép doanh nghiệp phản ánh được gía trị thực của tài sản, đồng thời làm giảm lợi nhuận ròng của doanh nghiệp. Về mặt tài chính, khấu hao là một phương tiện tài trợ giúp cho doanh nghiệp thu hồi được bộ phận giá trị bị mất của tài sản cố định. Về mặt thuế, khấu hao là một khoản chi phí được trừ vào lợi tức chịu thuế, tức là được tính vào chi phí kinh doanh hợp lệ. Về mặt nguyên tắc kế toán,việc khấu hao tài sản cố định hữu hình là việc đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu nhận được và chi phí bỏ ra trong kỳ. Việc tính khấu hao tài sản cố định có thể tiến hành theo nhiều phương pháp khác nhau tuỳ thuộc vào quy định của Nhà nước và chế độ quản lý tài sản đối với doanh nghiệp và yêu cầu quản lý của doanh nghiệp. III.NGUYÊN TẮC TRÍCH KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH Mọi tài sản cố định của doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động kinh doanh đều phải trích khấu hao. Mức trích khấu hao tài sản cố định được hạch toán vào chi phí kinh doanh trong kỳ. Doanh nghiệp không được tính và trích khấu hao đối với những tài sản cố định đã khấu hao hết nhưng vẫn sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Đối với những tài sản cố định chưa khấu hao hết đã hỏng, doanh nghiệp phải xác định nguyên nhân và quy trách nhiệm đền bù, đòi bồi thường thiệt hại... và tính vào chi phí khác Những tài sản cố định không tham gia vào hoạt động kinh doanh thì không phải trích khấu hao. Bao gồm: tài sản cố định thuộc dự trữ của Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý, giữ hộ; tài sản cố định phục vụ cho các hoạt động phúc lợi trong doanh nghiệp như nhà trẻ, câu lạc bộ...; những tài sản cố định phục vụ nhu cầu toàn xã hội, không phục vụ cho hoạt động kinh doanh của riêng doanh nghiệp như đê cập, cầu cống, đường xá.. mà Nhà nước giao cho doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp cho thuê tài sản cố định hoạt động phải trích khấu hao đối với tài sản cố định cho thuê Doanh nghiệp đi thuê tài sản cố định tài chính phải trích khấu hao tài sản cố định thuê tài chính như tài sản cố định thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp theo quy định hiện hành. Trong trường hợp ngay tại thời điểm khởi đầu thuê tài sản, doanh nghiệp đi thuê tài sản cố định tài chính cam kết không mua tài sản thuê trong hợp đồng thuê tài chính theo thời hạn thuê trong hợp đồng. Việc trích và thôi trích khấu hao tài sản cố định được thực hiện bắt đầu từ ngày (theo số ngày của tháng) mà tài sản cố định tăng, giảm, hoặc ngừng tham gia vào hoạt động kinh doanh. Quyền sử dụng đất lâu dài là tài sản cố định vô hình đặc biệt, doanh nghiệp ghi nhận là tài sản cố định vô hình theo nguyên giá nhưng không được trích khấu hao. IV.PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN KHẤU HAO TSCĐHH Tài sản cố định trong một doanh nghiệp nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại. Vì vậy mà việc áp dụng một phương pháp khấu hao đúng cho các ngành nghề kinh doanh, loại hình doanh nghiệp là rất khó. Việc áp dụng một phương pháp khấu hao nó còn ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp và đặc biệt nó còn ảnh hưởng đến nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước. Chính điều này mà trong các văn bản quy định từ trước tới nay về tính và trích khấu hao tài sản cố định được Bộ Tài chính quy định một cách chặt chẽ. 1Phương pháp khấu hao theo phương pháp đường thẳng a.điều kiện áp dụng:TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao đường thẳng “Các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ.TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao nhanh là máy móc,thiết bị,dụng cụ làm việc đo lường,thí nghiệm,thiết bị và phương tiện vận tải,dụng cụ quản lý,súc vật, vườn cây lâu năm.Khi thực hiện trích khấu hao nhanh,doanh nghiệp phải đảm bảo có lãi b.Nội dung phương pháp : 1- Căn cứ các quy định trong Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định ban hành kèm theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC, doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định; - Xác định mức trích khấu hao trung bình hàng năm cho tài sản cố định theo công thức dưới đây: Mức trích khấu hao Nguyên giá của tài sản cố định trung bình hàng năm = –––––––––––––––––––––––––– của tài sản cố định Thời gian sử dụng Theo chuần mực VASo3 thì công thức tính khấu hao tài sản cố định hữu hình theo phương pháp đường thẳng là : Mức trích khấu hao NG của TSCĐ –giá trị thu hồi ước tính trung bình hàng năm = –––––––––––––––––––––– của tài sản cố định Thời gian sử dụng - Mức trích khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng. 2. Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao trung bình của tài sản cố định bằng cách lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia (:) cho thời gian sử dụng xác định lại hoặc thời gian sử dụng còn lại (được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của tài sản cố định. 3. Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng tài sản cố định được xác định là hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao luỹ kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của tài sản cố định đó. Trên thực tế hiện nay, phương pháp khấu hao đường thẳng được áp dụng phổ biến. Phương pháp này cố định mức khấu hao theo thời gian nên có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, tăng số lượng sản phẩm làm ra để hạ giá thành, tăng lợi nhuận. Theo quy định chung, để đơn giản cách tính thì tài sản cố định hữu hình tăng trong tháng, tháng sau mới trích khấu hao. Tài sản cố định hữu hình giảm trong tháng, tháng sau mới thôi trích khấu hao. Do vậy, để xác định khấu hao của tháng sau phải căn cứ vào tình hình tăng, giảm tài sản cố định hữu hình của tháng này. Vì số khấu hao của tháng này chỉ khác tháng trước trong trường hợp có biến động tăng hoặc giảm tài sản cố định hữu hình. Cho nên, để giảm bớt công việc tính toán hàng ngày, người ta chỉ tính số khấu hao tăng thêm hoặc làm giảm bớt trong tháng và căn cứ vào số khấu hao đã trích tháng trước để xác định số khấu hao phải trích tháng này theo công thức sau: Số khấu hao Số khấu hao Số khấu hao của những Số khấu hao phải trích = đã tính + TSCĐ tăng thêm trong - những TSCĐ trong tháng tháng trước tháng trước giảm đi trong tháng trước Mức khấu hao trung bình hàng năm được phép làm tròn số đến con số hàng đơn vị. Nếu số thập phân đầu tiên lớn hơn 5 thì làm tròn lên 1 đơn vị, nếu số thập phân đầu tiên nhỏ hơn 5 thì số hàng đơn vị giữ nguyên. Ưu điểm của phương pháp này là dễ dàng, đơn giản, chi phí khấu hao được phân bổ đều vào các kỳ, tránh được sự biến động lớn về chi phí giữa các kỳ. Vì vậy ổn định việc kinh doanh của doanh nghiệp, thuận lợi công việc kiểm tra, tính toán. Bên cạnh đó, phương pháp khấu hao đường thẳng cũng có một số nhược điểm: trong một số doanh nghiệp và một số ngành nghề kinh doanh có đặc điểm kinh doanh theo mùa vụ, theo hợp đồng... thì việc xác định chi phí khấu hao theo phương pháp này là không phù hợp vì những kỳ doanh nghiệp không thực hiện công việc kinh doanh nhưng vẫn có chi phí khấu hao. Không những thế, một số doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả nên muốn khấu hao nhanh để mở rộng, tái đâu tư nhanh hơn... thì phương pháp này không giải quyết được vấn đề. 2. Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh: a.Điều kiện áp dụng : Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh phải thoả mãn đồng thời các điều kiện sau: + Là tài sản cố định đầu tư mới (chưa qua sử dụng); + Là các loại máy móc, thiết bị; dụng cụ làm việc đo lường, thí nghiệm b. Nội dung của phương pháp: Mức trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp số dư giảm dần có điều chỉnh được xác định như: - Xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định: Doanh nghiệp xác định thời gian sử dụng của tài sản cố định theo quy định tại Chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định ban hành kèm theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC của Bộ Tài chính. - Xác định mức trích khấu hao năm của tài sản cố định trong các năm đầu theo công thức dưới đây: Trong đó: Tỷ lệ khấu hao nhanh xác định theo công thức sau: Tỷ lệ khấu khao nhanh (%) = Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng X Hệ số điều chỉnh Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng xác định như sau: Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng (%) = 1 ––––––––––––––––– Thời gian sử dụng của tài sản cố định X 100 Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của tài sản cố định quy định tại bảng dưới đây: Thời gian sử dụng của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh (lần) Đến 4 năm ( t £ 4 năm) 1,5 Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t £ 6 năm) 2,0 Trên 6 năm (t > 6 năm) 2,5 Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định, thì kể từ năm đó mức khấu hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia cho số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định.Mức trích khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12 tháng.Phương pháp này được áp dụng với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh. 3. Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm: a.Điều kiện áp dụng Tài sản cố định tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao theo phương pháp này là các loại máy móc, thiết bị thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau: + Trực tiếp liên quan đến việc sản xuất sản phẩm; + Xác định được tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của tài sản cố định; + Công suất sử dụng thực tế bình quân tháng trong năm tài chính không thấp hơn 50% công suất thiết kế. b. Nội dung của phương pháp: Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm như sau: - Căn cứ vào hồ sơ kinh tế- kỹ thuật của tài sản cố định, doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của tài sản cố định, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế. - Căn cứ tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của tài sản cố định. - Xác định mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định theo công thức dưới đây: Mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định = Số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng X Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm Trong đó: Mức trích khấu hao Nguyên giá của tài sản cố định bình quân tính cho = –––––––––––––––––––––––––– một đơn vị sản phẩm Sản lượng theo công suất thiết kế - Mức trích khấu hao năm của tài sản cố định bằng tổng mức trích khấu hao của 12 tháng trong năm, hoặc tính theo công thức sau: Mức trích khấu hao năm của tài sản cố định = Số lượng sản phẩm sản xuất trong năm X Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm Trường hợp công suất thiết kế hoặc nguyên giá của tài sản cố định thay đổi, doanh nghiệp phải xác định lại mức trích khấu hao của tài sản cố định Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp khấu hao theo sản lượng, khối lượng sản phẩm như sau: Căn cứ vào hồ sơ kinh tế- kỹ thuật của tài sản cố định, doanh nghiệp xác định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công suất thiết kế của tài sản cố định, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế. Căn cứ vào tình hình thực tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của tài sản cố định. V. HẠCH TOÁN KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH THEO CHẾ ĐỘ HIỆN HÀNH Mọi tài sản cố định hữu hình trong doanh nghiệp phải có bộ hồ sơ riêng (bộ hồ sơ gồm: biên bản giao nhận tài sản cố định, hợp đồng, hoá đơn mua tài sản và các chứng từ có liên quan) được theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao theo đúng quy định. Tài sản cố định hữu hình được phân loại, thống kê, đánh số và có thẻ riêng, được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng sử dụng tài sản cố định, được phản ánh trong sổ theo dõi tài sản cố định hữu hình. Doanh nghiệp phải thực hiện quản lý, sử dụng đối với những tài sản hữu hình đã hết nhưng vẫn tham gia vào hoạt động kinh doanh như những tài sản cố định hữu hình bình thường khác. Định kỳ mỗi năm tài chính doanh nghiệp phải tiến hành kiểm kê tài sản cố định hữu hình. Mọi trường hợp phát hiện thừa, thiếu tài sản cố định hữu hình đều phải lập biên bản, tìm nguyên nhân và có biện pháp xử lý. 1. Chứng từ, sổ sách hạch toán khấu hao tài sản cố định hữu hình * Chứng từ dùng để phản ánh khấu hao tài sản cố định hữu hình bao gồm: .Biên bản giao nhận tài sản cố định (số hiệu 01- TSCĐ) là một chứng từ bắt buộc. Nó phản ánh nguyên giá tài sản cố định tăng từ đó cho phép chúng ta trích khấu hao tăng làm căn cứ để tính và trích khấu hao tài sản cố định. . Biên bản thanh lý tài sản cố định hữu hình (số hiệu- TSCĐ) phản ánh nguyên giá, giá trị tài sản cố định giảm làm căn cứ để chúng ta xoá sổ kế toán tài sản cố định đồng thời ghi giảm khấu hao tài sản cố định. *Sổ sách dùng để ghi chép, phản ánh khấu hao tài sản cố định gồm: . Sổ tổng hợp: thường là sổ cái TK 214 Tuỳ vào hình thức sổ mà doanh nghiệp áp dụng như: hình thức nhật ký chung, nhật ký chứng từ, nhật ký sổ cái mà sổ cái tài khoản 214 có kết cấu, hình thức riêng. . Sổ chi tiết phản ánh khấu hao tài sản cố định bao gồm: sổ tài sản cố định, bảng tính và phân bổ khấu hao. 2. Tài khoản sử dụng Theo chế độ kế toán Việt Nam hiện hành thì tài khoản được sử dụng để hạch toán khấu hao tài sản cố định là tài khoản 214 : Hao mòn tài sản cố định. * Tài khoản 214: Hao mòn tài sản cố định Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hao mòn tài sản cố định hữu hình trong quá trình sử dụng do trích khấu hao và những khoản tăng, giảm hao mòn khác của các loại tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp. Kết cấu: . Bên Nợ: phản ánh giá trị hao mòn tài sản cố định hữu hình giảm do thanh lý, nhượng bán, điều chuyển nội bộ, mang đi góp vốn liên doanh... . Bên Có: phản ánh giá trị hao mòn của tài sản cố định hữu hình tăng do trích khấu hao, do đánh giá lại tài sản cố định hữu hình. .Dư Có: phản ánh giá trị hao mòn của tài sản cố định hữu hình hiện có ở doanh nghiệp. Tài khoản 214 được chi tiết thành: 2141: Hao mòn tài sản cố định hữu hình 2142: Hao mòn tài sản cố định đi thuê tài chính 2143: Hao mòn tài sản cố định vô hình Ngoài ra kế toán còn sử dụng tài khoản 211 * Tài khoản 211: Tài sản cố định hữu hình Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và biến động tăng, giảm của tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp theo nguyên giá. Kết cấu: . Bên Nợ: - Phản ánh nguyên giá tài sản cố định hữu hình tăng do được cấp, mua sắm, xây dựng cơ bản hoàn thành bàn giao, do các đơn vị tham gia liên doanh góp vốn, do biếu tặng... Điều chỉnh tăng nguyên giá tài sản cố định hữu hình do xây lắp, do cải tạo nâng cấp,... Điều chỉnh tăng nguyên giá tài sản cố định hữu hình do đánh giá lại. . Bên Có: - Phản ánh nguyên giá tài sản cố định hữu hình giảm do điều chuyển cho đơn vị khác, do nhượng bán, thanh lý... Nguyên giá giảm do tháo dỡ bớt một số bộ phận hoặc do đánh giá lại. . Dư Nợ: Nguyên giá tài sản cố định hiện có ở doanh nghiệp 3. Phương pháp hạch toán khấu hao tài sản cố định hữu hình - Định kỳ (tháng, quý,... tuỳ theo từng doanh nghiệp) trích khấu hao tài sản cố định hữu hình vào chi phí sản xuất kinh doanh, đồng thời phản ánh hao mòn tài sản cố định hữu hình, kế toán ghi: Nợ TK 627 (6274- chi tiết theo từng phân xưởng): Chi phí sản xuất chung về KHTSCĐHHHH Nợ TK 641 (6414): Chi phí bán hàng về KHTSCĐHH Nợ TK 642 (6424): Chi phí quản lý doanh nghiệp về KHTSCĐHH Có TK 214 (2141): Hao mòn TSCĐHH trích trong kỳ Khi trích hao mòn dùng cho hoạt động văn hoá vào thời điểm cuối năm, ghi: Nợ TK 431 (4313): Ghi giảm quỹ khen thưởng phúc lợi Có TK 214 (2141): Hao mòn TSCĐHH Tài sản cố định hữu hình đánh giá lại thei quyết định của Nhà nước + Trường hợp đánh giá lại nguyên giá tài sản cố định hữu hình, ghi: Nợ TK 211: Nguyên giá TSCĐHH đánh giá lại Có TK 412: Chênh lệch đánh giá lại tài sản tăng Có TK 214 (2141): Hao mòn TSCĐHH tăng thêm + Trường hợp điều chỉnh tăng gía trị hao mòn: Nợ TK 412: Chênh lệch đánh giá lại tài sản Có TK 214 (2141): Hao mòn TSCĐ tăng + Trường hợp điều chỉnh làm giảm giá trị hao mòn: Nợ TK 214 (2141): Hao mòn TSCĐ giảm Có TK 412: Chênh lệch đánh giá lại tài sản + Trường hợp đánh giá giảm nguyên giá tài sản cố định hữu hình, ghi: Nợ TK 412: Giá trị còn lại TSCĐHH đánh giá lại giảm Nợ TK 214 (2141): Chênh lệch đánh giá lại tài sản giảm Có TK 211: Nguyên giá TSCĐHH giảm Trường hợp giảm tài sản cố định hữu hình thì đồng thời với việc phản ánh giảm nguyên giá tài sản cố định hữu hình phải phản ánh giảm giá trị hao mòn của tài sản cố định hữu hình. Trường hợp tài sản cố định hữu hình đã tính đủ khấu hao cơ bản thì không tiếp tục tính khấu hao nữa.-Đối với tài sản cố định hữu hình đầu tư, mua sắm bằng nguồn kinh phí sự nghiệp, kinh phí dự án, bằng quỹ phúc lợi khi hoàn thành dùng vào hoạt động sự nghiệp hoặc dự án, hoặc dùng cho phúc lợi thì không trích khấu hao vào chi phí sản xuất kinh doanh mà phải trích khấu hao tài sản cố định hữu hình một năm một lần. 4.Bảng tính và phân bổ khấu hao (Bảng phụ lục ) 5.Trình bày báo cáo tài chính . Trong báo cáo tài chính, doanh nghiệp phải trình bày theo từng loại TSCĐ hữu hình về những thông tin sau: (a) Phương pháp xác định nguyên giá TSCĐ hữu hình; (b) Phương pháp khấu hao; Thời gian sử dụng hữu ích hoặc tỷ lệ khấu hao; (c) Nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại vào đầu năm và cuối kỳ; (d) Bản Thuyết minh báo cáo tài chính (Phần TSCĐ hữu hình) phải trình bày các thông tin: - Nguyên giá TSCĐ hữu hình tăng, giảm trong kỳ; - Số khấu hao trong kỳ, tăng, giảm và lũy kế đến cuối kỳ; - Giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình đã dùng để thế chấp, cầm cố cho các khoản vay; - Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản dở dang; - Các cam kết về việc mua, bán TSCĐ hữu hình có giá trị lớn trong tương lai. - Giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình tạm thời không được sử dụng; - Nguyên giá của TSCĐ hữu hình đã khấu hao hết nhưng vẫn còn sử dụng; - Giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình đang chờ thanh lý; - Các thay đổi khác về TSCĐ hữu hình. Phần II.MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐÓNG GÓP VỚI CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HIỆN HÀNH VỀ KHẤU HAO TSCĐHH I.SO SÁNH VỚI KẾ TOÁN QUỐC TẾ 1 So sánh với chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) là chuẩn mực mang tính hướng dẫn cao nhất đối với quốc gia.Vì vậy khi nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới(WTO) thì việc điều chỉnh chế độ kế toán Việt Nam phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế là việc làm hết sức cần thiết.Do đó chuẩn mực kế toán Việt Nam về khấu hao TSCĐHH cũng dựa trên nền tảng của chuẩn mực kế toán quốc tế.và có một số các thay đổi phù hợp với đặc điểm kế toán Việt Nam.Những thay đổi tạo ra những nét riêng cho chuẩn mực kế toán nước ta.Và khi nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế và kế toán Việt Nam,em n hận thấy có một số các đặc điểm giống và khác nhau giữa kế toán Việt Nam với chuẩn mực kế toán quốc tế. a.Điểm giống nhau -Về giá trị thu hồi ước tính :Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS03) và chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) đều đề cập đến giá trị thu hồi ước tính.Tuy nhiên chế độ quản lý và trích khấu hao (QĐ 206\2003\QĐ_BTC )không đề cập đến giá trị thu hồi ước tính -Về phương pháp tính khấu hao :Chuẩn mực Kế toán Việt Nam kế thừa 3 phương pháp tính khấu hao TSCĐHH của IAS :phương pháp khấu hao theo đương thẳng,phương pháp theo số dư giảm dần có điều kiện,phương pháp khấu hao thep sản lượng sản phẩm. b.Điểm khác nhau -Về giá trị thu hồi ước tính : Ở chế độ quản lý và trích khấu hao (QĐ 206\2003\QĐ_BTC )không đề cập đến giá trị thu hồi ước tính,nhưng trong chuẩn mực kế toán quốc tế có đề cập đến giá trị thu hồi ước tính -Về công thức tính khấu hao TSCĐHH :Đối với ÍAS khi tính khấu hao thì trừ đi phần giá trị thu hồi ước tính,còn đối với quyết định 206\2003\QĐ-BTC thì khi tính khấu hao,tính luôn cả phần giá trị thu hồi ước tính.Cụ thể như -Đối với phương pháp khấu hao theo đường thẳng,thì công thức tính khấu hao của : +Đối với kế toán Việt Nam.công thức tính là Mức trích khấu hao Nguyên giá của tài sản cố định trung bình hàng năm = –––––––––––––––––––––––––– của tài sản cố định Thời gian sử dụng +Đối với kế toán quốc tế,công thức tính là Mức trích khấu hao nguyên giá của TSCĐ –giá trị thu hồi ước tính trung bình hàng năm = –––––––––––––––––––––– của tài sản cố định Thời gian sử dụng- Sự khác nhau về cách tính khấu hao,sẽ làm cho giá trị tính khấu hao sẽ khác nhau và chi phí giá thành sản phẩm cũng khác nhau.Em nhận thấy rằng giá trị ước tính của TSCĐHH trong doanh nghiệp thường rất cao,và nhiều tài sản khi đã thu hồi được hết giá trị khấu hao,nhưng vẫn được tiếp tục sửa dụng.Như vậy các doanh nghiệp sẽ tính chi phí giá thành sản phẩm cao trong thời kỳ mà TSCĐHH vẫn được tính khấu hao như vậy sẽ giảm sự cạnh tranh về giá của sản phẩm của doanh nghiệp.,đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay của Việt Nam khi đã gia nhập WTO thì cạnh tranh để sinh tồn ngày càng quyết liệt hơn,.Mặt khác,Việt Nam cũng có rất nhiều các nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư,thì nguyên tắc chuẩn mực kế toán Việt Nam phải phù hợp với nguyên tắc Kế toán quốc tế.Do vây công thức tính khấu hao của TSCĐHH cũng phải phù hợp với IAS,và phù hợp với các nước trên thế giới. 2 So sánh với kế toán MỸ Kế toán Mỹ được rất nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu để làm nền tảng xây dựng chuẩn mực,và kế toán Mỹ cũng ảnh hưởng rất lớn.Mặt khác trong quá trình học ở trường em cũng được học về kế toán Mỹ,>Chính vì vậy,em đã chọn kế toán Mỹ để so sánh với kế toán Việt Nam,Trong quá trình nghiên cứu,em đã nhận thấy giữa kế toán Việt Nam và Kế toán Mỹ có một số các đặc điểm giống nhau và khác nhau như sau : a.về điểm giống nhau -Về giá trị thu hồi ước tính :Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS03) và kế toán Mỹ đều đề cập đến giá trị thu hồi ước tính.Tuy nhiên chế độ quản lý và trích khấu hao (QĐ 206\2003\QĐ_BTC )không đề cập đến giá trị thu hồi ước tính -Về phương pháp tính khấu hao :Chuẩn mực Kế toán Việt Nam và kế toán Mỹ đều có 3 phương pháp tính khấu hao :phương pháp khấu hao theo đương thẳng,phương pháp theo số dư giảm dần có điều kiện,phương pháp khấu hao thep sản lượng sản phẩm. b.Về điểm khác nhau -Về giá trị thu hồi ước tính : -Về giá trị thu hồi ước tính : Ở chế độ quản lý và trích khấu hao (QĐ 206\2003\QĐ_BTC )không đề cập đến giá trị thu hồi ước tính,nhưng trong kế toán Mỹ đề cập đến giá trị thu hồi ước tính.-Về công thức tính khấu hao TSCĐHH :Đối với kế toán Mỹ khi tính khấu hao thì trừ đi phần giá trị thu hồi ước tính,còn đối với quyết định 206\2003\QĐ-BTC thì khi tính khấu hao,tính luôn cả phần giá trị thu hồi ước tính.Cụ thể như - Phương pháp tính khấu hao theo phương pháp đường thẳng +Đối với kế toán Mỹ,công thức tính là Mức trích khấu hao nguyên giá củaTSCĐ–giá trị thu hồi ướctính trung bình hàng năm = –––––––––––––––––––––– của tài sản cố định Thời gian sử dụng - Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần +Đối với kế toán Mỹ :Thì phương pháp tính khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh,thì có 2 phương pháp tính Thứ nhất :Phương pháp khấu hao giảm dần với tỷ suất không đổi Là phương pháp khấu hao giảm dần mà số năm phục vụ của tài sản được cộng lại với nhau.Kết quả đó trở thành mẫu số của dãy phân số được áp dụng để tính chi phí phải khấu hao của tài sản trong việc phân bổ tổng mức khấu hao trên số năm hữu ích ước tính.Tử số của phân số là thứ tự nghịch đảo của những năm riêng biệt trong đời sống hữu dụng ước tính của tài sản. Thứ hai :Phương pháp khấu hao giảm dần với tỷ suất không đổi Là phương pháp khấu hao giảm dần được tính bằng tỷ lệ cố định nhân với giá trị còn lại (giảm dần với tỷ suất không đổi )của tài sản. Trong đó : Tỷ lệ cố định là tỷ lệ (%)=2 * tỷ lệ ( %)theo phương pháp khấu hao đường thẳng Cả 2 phương pháp này có mức khấu hao cao hơn trong những năm đầu của vòng đời tài sản - Phương pháp khấu hao theo sản lượng. +Đối với kế toán Mỹ : Mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định = Số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng X Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm Trong đó: Mức trích khấu hao Nguyên giá TSCĐ-giá trị thu hồi ước tính bình quân tính cho = –––––––––––––––––––––––––– một đơn vị sản phẩm Sản lượng theo công suất thiết kế Khi so sánh công thức tính của các phương pháp khấu hao của kế toán Việt Nam với Kế toán Mỹ,em nhận thấy giữa kế toán Việt Nam và kế toán Mỹ có sự khác nhau cơ bản trong công thức,đó là Kế toán Việt Nam không tính đến giá trị thu hồi ước tính,còn đối với kế toán Mỹ thì tính đến giá trị thu hồi ước tính.Như vậy thì xác định mức khấu hao phải trích trong tháng(năm )của cùng một tài sản có nguyên giá như nhau,thì theo kế toán Mỹ sẽ có giá trị nhỏ hơn so với kế toán Việt Nam.Do đó mà kế toán Mỹ sẽ đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu hơn so với kế toán Việt Nam.Vì đối với TSCĐHH khi thanh lỹ sẽ thu hồi được số tiền lớn như nhà cửa,ô tô.Vì vậy không tính đến giá trị thu hồi ước tính khấu hao TSCĐHH,đã gián tiếp làm cho mức khấu hao được hạch toán vào chi phí cao hơn thực tế.Do đó làm cho giá thành sản phẩm cao hơn giảm mức cạnh tranh trên thị trường. Khi so sánh công thức tính khấu hao theo phương pháp giảm dần có điều chỉnh,em nhận thấy kế toán Việt Nam và kế toán Mỹ không có sự khác nhau nhiều về công thức tính khấu hao.Tuy nhiên em nhận thấy nếu có 2 công thức tính như của kế toán Mỹ như vậy sẽ giúp cho các doanh nghiệp sẽ lựa chọn được phương pháp tính phù hợp với tài sản của doanh nghiệp hơn.Nhưng theo phương pháp của Việt Nam như vậy sẽ đơn giản trong việc áp dụng,nhưng nó lại tính chung cho những tài sản có các điều kiện :là tài sản đó thuộc lĩnh vực có công nghệ đòi hỏi phải thay đổi, phát triển nhanh.. II.NHẬN XÉT VỀ CHẾ ĐỘ KẾ TOÁN HIỆN HÀNH VỀ KHẤU HAO TSCĐHH. Chế độ kế toán Việt Nam được xây dựng dựa trên cơ sở nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế,và kế toán ở một số các nước khác trên thế giới.Vì vậy chế độ kế toán Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu về hạch toán kế toán ở trong các doanh nghiệp.Trong quá trình được học ở trường,cũng như trong quá trình nghiên cứu so sánh chế độ kế toán Việt Nam hiện nay so với chuẩn mực kế toán quốc tế,cũng như kế toán ở một số các quốc gia khác.Em nhận thấy rằng chế độ kế toán Việt Nam về khấu hao TSCĐHH đã đạt được những thành tựu trong quá trình xây dựng chế độ kế toán đó là đáp ứng được yêu cầu về hạch toán kế toán tại các doanh nghiệp.Tuy nhiên trong quá trình xây dựng chuẩn mực kế toán,em nhận thấy tồn tại một số các nhược điểm ở trong chế độ kế toán về khấu hao TSCĐHH 1.Về ưu điểm Theo quyết định 206/2003/QĐ-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2003 của Bộ Tài chính, song song với việc thực hiện hạch toán khấu hao tài sản cố định hữu hình như đã trình bày ở các phần đã nêu trên còn quy định về chế độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Việc trích khấu hao tài sản cố định hữu hình phải tuân thủ theo nguyên tắc, số khấu hao luỹ kế và giá trị còn lại trên sổ kế toán của tài sản cố định hữu hình phải có hồ sơ riêng và được theo dõi một cách chặt chẽ. Các doanh nghiệp có thể chủ động điều động tài sản cố định giữa các đơn vị thành viên, nhượng bán, thanh lý... Việc trích khấu hao hoặc thôi không trích khấu hao được thực hiện theo nguyên tắc tròn tháng. Doanh nghiệp không được trích khấu hao đối với tài sản cố định đã khấu hao hết nhưng vẫn sử dụng. Tài sản cố định bị hư hỏng mà vẫn chưa khấu hao hết, phải xác định trách nhiệm, bắt bồi thường thiệt hại và xử lý tổn thất. Tài sản cố định chờ thanh lý sẽ không được trích khấu hao nữa. Đối với tài sản cố định thuê tài chính, doanh nghiệp phải theo dõi, quản lý, sử dụng và trích khấu hao như đối với tài sản cố định thuộc sở hữu của mình. Tài sản cố định thuê hoạt động không phải trích khấu hao, chi phí thuê tài sản cố định được hạch toán vào chi phí kinh doanh. Như vậy, việc quản lý và trích khấu hao tài sản cố định nói chung và đối với tài sản cố định hữu hình nói riêng khá chặt chẽ với từng trường hợp và đối tượng sử dụng tài sản cố định hữu hình. Mặc dù việc phân loại tài sản vào công cụ lao động hay tài sản cố định còn có nhiều bất cập, đôi khi chưa thật sự thuận tiện cho doanh nghiệp nếu chỉ căn cứ vào giá trị và thời gian sử dụng của tài sản phân loại. -Về nguyên tắc khấu hao TSCĐHH :chế độ kế toán hiện nay về khấu hao TSCĐHH cũng đưa ra những nguyên tắc tính khấu hao TSCĐHH.Đó là việc khấu hao những TSCĐHH tham gia vào trong quá trình sản xuất kinh doanh hoặc Các TSCĐ ngừng hoạt động để sửa chữa lớn vẫn phải trích khấu hao TSCĐ -Về phương pháp tính khấu hao :Chế độ kế toán hiện nay cũng kế thừa 3 phương pháp tính khấu hao của chuẩn mực kế toán quốc tế :phương pháp khấu hao theo đường thẳng,phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần có điều chỉnh,phương pháp khấu hao theo sản lượng.Và 3 phương pháp khấu hao này cũng được nhiều các quốc gia trên thế giới thừa nhận.Vì vậy chế độ kế toán hiện nay về khấu hao đã xây dựng phương pháp khấu hao phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế. -Về hạch toán khấu hao TSCĐHH :Chế độ kế toán hiện nay,đã xây dựng các nguyên tắc hạch toán phù hợp :hạch toán tăng khấu hao,hạch toán giảm khấu hao trong các tình huống.Vì vậy đã thống nhất về phương pháp hạch toán khấu hao TSCĐHH,do đó giúp các doanh nghiệp thống nhất về phương pháp hạch toán khấu hao TSCĐHH -Về việc quản lý và trích khấu hao tài sản cố định trong các doanh nghiệp :Chế độ kế toán cũng xây dựng bảng tính và phân bổ khấu hao,để doanh nghiệp tính được khấu hao tăng,khấu hao giảm trong kỳ,tính được mức trích khấu hao trong kỳ và tính được mức khấu hao lũy kế của doanh nghiệp.Từ đó giúp cho việc quản lý tài sản dễ dàng hơn :vì biết được khấu hao lũy kế,doanh nghiệp có thể biết được giá trị còn lại của TSCĐHH còn là bao nhiêu.Và từ đó cũng biết được tình hình khấu hao của TSCĐ trong doanh nghiệp. -Về công thức tính khấu hao :Việc xác định được mức trích khấu hao trong kỳ là bao nhiêu là công việc hết sức quan trọng..Để đáp ứng được yêu cầu đó thì chế độ kế toán đã đưa ra được công thức xác định mức trích khấu hao của từng TSCĐ trong tháng là bao nhiêu.Đồng thời chế độ cũng qui định về các tiêu chuẩn để lựa chọn cách tính khấu hao phù hợp.Vì vậy mà mỗi phương pháp có một cách tính khấu hao riêng phù hợp với đặc điểm của từng tài sản 2 Về nhược điểm -Chưa có sự thống nhất giữa chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) 03 và Quyết định 206/2003/QĐ-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 12 tháng 12 năm 2003 về các nội dung sau : +Về quy định nhận biết TSCĐHH : Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 03 thì các tài sản được ghi nhận là TSCĐHH phải thoả mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Nguyên giá tài sản cố định phải được xác định một cách đáng tin cậy; Thời gian sử dụng ước tính trên một năm; Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành. Còn theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC ngày 12/12/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành chế độ quản lý sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định, quy định “ thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên” và gí trị từ 10.000.000 đồng ( mười triệu đồng) trở lên. Quy định về thời gian sử dụng giữa chuẩn mực (trên một năm) với chế độ tài chính (từ một năm) đã không thống nhất làm cho kế toán doanh nghiệp rất lúng túng khi xác định TSCĐHH. Do vậy, thời gian sử dụng TSCĐHH nên được quy định là “ước tính trên một năm”, vì nếu từ một năm thì trong năm sản xuất kinh doanh không cần ghi nhận TSCĐHH để khấu hao dần vào chi phí sản xuất kinh doanh. +Về phương pháp khấu hao TSCĐHH : VAS 03 cũng quy định ba phương pháp khấu hao TSCĐHH, gồm: phương pháp khấu hao theo đường thẳng; phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần; phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm. Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, số khấu hao hàng năm không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Theo phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần, số khấu hao giảm dần hàng năm trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng số đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra. Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐHH phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản đó. Nhưng theo Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC thì quy định doanh nghiệp được lựa chọn các phương pháp trích khấu hao phù hợp với từng loại TSCĐ của doanh nghiệp. Nếu theo phân loại, TSCĐ của doanh nghiệp bao gồm các loại sau: Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc Loại 2: Máy móc, thiết bị... Loại 3: Phương tiện vận tải Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý Loại 5: Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm Loại 6: Các loại tài sản cố định khác. Như vậy, doanh nghiệp lựa chọn các phương pháp trích khấu hao phù hợp với loại TSCĐ là hợp lý. Nếu phù hợp với từng thứ TSCĐHH thì rất phân tán, việc theo dõi rất phức tạp. -Về công thức tính khấu hao của TSCĐHH : chế độ kế toán hiện nay (quyết định 206\2003\QĐ-BTC)khi đưa ra công thức tính khấu hao cho 3 phương pháp khấu hao,đều không tính đến giá trị thu hồi ước tính.Chính vì vậy mà chi phí khấu hao TSCĐHH của doanh nghiệp vào trong giá thành sản phẩm sẽ cao do đó giảm sức cạnh tranh.Nhưng nếu theo công thức của chế độ hiện nay sẽ không đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí. -Về.điều kiện áp dụng khấu hao TSCĐHH theo phương pháp đường thẳng :có một số nội dung chưa rõ như : “Các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả kinh tế cao được khấu hao nhanh nhưng tối đa không quá 2 lần mức khấu hao xác định theo phương pháp đường thẳng để nhanh chóng đổi mới công nghệ.TSCĐ tham gia vào hoạt động kinh doanh được trích khấu hao nhanh là máy móc,thiết bị,dụng cụ làm việc đo lường,thí nghiệm,thiết bị và phương tiện vận tải,dụng cụ quản lý,súc vật, vườn cây lâu năm.Khi thực hiện trích khấu hao nhanh,doanh nghiệp phải đảm bảo có lãi”.Trong quyết định 206\2003\QĐ-BTC chưa quy định,chưa chỉ rõ “thế nào là doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả kinh tế cao “ III Ý KIẾN ĐÓNG GÓP ĐỂ HOÀN THIỆN VỀ CHẾ ĐỘ HẠCH TOÁN KHẤU HAO TSCĐHH Trên cơ sở nghiên cứu về chế độ kế toán khấu hao TSCĐHH,và so sánh chế độ kế toán với chuẩn mực kế toán quốc tế,cũng như có sự so sánh với kế toán Mỹ.Em đã nhận thấy chế độ kế toán hiện hành về khấu hao TSCĐHH đã đạt được những kết quả tốt trong quá trình xây dựng chế độ.Tuy nhiên,em nhận thấy chế độ kế toán hiện hành vẫn tồn tại những nhược điểm cần khắc phục.Vì vậy,em xin có ý kiến để góp phần hoàn thiện chế độ kế toán hiện hành về khấu hao TSCĐHH.để chế độ kế toán khấu hao TSCĐHH ngày càng phù hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế cũng như phù hợp với đặc điểm kế toán Việt Nam. Thứ nhất :Về công thức tính khấu hao tài sản cố định hữu hình Để đảm bảo nguyên tắc phù hợp giữa doanh thu và chi phí,thì công thức tính khấu hao TSCĐHH phải tính đến cả yếu tố giá trị thu hồi ước tính.Vì trên thực tế,giá trị thu hồi ước tính của TSCĐHH là rất lớn như ô tô,nhà cửa … Nếu chỉ tiêu giá trị thu hồi ước tính được áp dụng,thì công thức tính của các phương pháp tính khấu hao TSCĐHH sẽ là Đối với phương pháp khấu hao theo phương pháp đường thẳng : Mức trích khấu hao nguyên giá của TSCĐ –giá trị thu hồi ước tính trung bình hàng năm = –––––––––––––––––––––– của tài sản cố định Thời gian sử dụng Đối với phương pháp khấu hao theo sản lượng : Mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định = Số lượng sản phẩm sản xuất trong tháng X Mức trích khấu hao bình quân tính cho một đơn vị sản phẩm Trong đó: Mức trích khấu hao Nguyên giá TSCĐ-giá trị thu hồi ước tính bình quân tính cho = –––––––––––––––––––––––––– một đơn vị sản phẩm Sản lượng theo công suất thiết kế Trong đó : giá trị thu hồi ước tính của TSCĐHH là chỉ tiêu nói lên số tiền có thể thu được khi tiến hành thanh lý những tài sản đã hết khấu hao. Đây chính là một trong những đặc điểm quan trọng cơ bản của TSCĐHH,là tài sản có lạc hậu hư hỏng đến mức nào thì vẫn còn là 1 lượng giá trị cố định có thể thu hôi fđược,(kể cả trong trường hợp 100% hình thái vật chất của TS thu hồi dưới dạng phế liệu.Nhưng trong công thức tính khấu hao,không đề cập đến giá trị thu hồi ước tính như vậy sẽ làm cho cách tính đơn giản hơn,loại bỏ được một số ước tính như ước tính về giá trị thu hồi,nhưng theo em không tính giá trị thu hồi ước tính là không hợp lý vì +Trên thực tế có rất nhiều TSCDDHH khi thanh lý sẽ thu hồi được (bán đi )có số tiền rất lơn như nhà cửa,ô tô …..Nếu không tính tới giá trị thu hồi thì ta gián tiếp làm cho mức khấu hao được hạch toán vào chi phí cao hơn thực tế. +Giá trị thu hồi là cái vốn có của TSCĐHH,việc sửa dụng giá trị thu hồi sẽ làm cho TSCĐHH không bao giờ được phép khấu hao hết giá trị thu hồi ước tính. +Theo chế độ kế toán của các nước tiên tiến,kể cả Mỹ và chuẩn mực kế toán quốc tế đều tính giá trị thu hồi ước tính vào công thức xác định khấu hao,.Và giá trị thu hồi ước tính là chỉ tiêu giới hạn để khống chế tổng khấu hao lũy kế của TSCĐHH. Từ những lý do trên em nghĩ công thức tính khấu hao nên tính đến giá trị còn lại,tức là lấy nguyên giá của TSCĐHH –giá trị thu hồi ước tính. Thứ2 : Phải có sự thống nhất giữa VAS03 và quyết định 206\2003\QĐ-BTC : + Về quy định nhận biết TSCĐHH: Quy định về thời gian sử dụng giữa chuẩn mực (trên một năm) với chế độ tài chính (từ một năm) đã không thống nhất làm cho kế toán doanh nghiệp rất lúng túng khi xác định TSCĐHH. Do vậy, thời gian sử dụng TSCĐHH nên được quy định là “ước tính trên một năm”, vì nếu từ một năm thì trong năm sản xuất kinh doanh không cần ghi nhận TSCĐHH để khấu hao dần vào chi phí sản xuất kinh doanh. + Về phương pháp khấu hao TSCĐHH: Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC thì quy định doanh nghiệp được lựa chọn các phương pháp trích khấu hao phù hợp với từng loại TSCĐ của doanh nghiệp.Như vậy, doanh nghiệp lựa chọn các phương pháp trích khấu hao phù hợp với loại TSCĐ là hợp lý. Nếu phù hợp với từng thứ TSCĐHH thì rất phân tán, việc theo dõi rất phức tạp.Do vậy Quyết định số 206/2003/QĐ-BTC nên quy định ba phương pháp khấu hao TSCĐHH, gồm: phương pháp khấu hao theo đường thẳng; phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần; phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm,để giúp các doanh nghiệp có phương pháp khấu hao TSCĐHH một các hợp lý,tránh hiện tượng các doanh nghiệp lúng túng trong việc lựa chọn phương pháp khấu hao. Thứ 3 Trong quyết định 206\2003\QĐ-BTC cần phải quy định rõ hơn một số điểm như sau : Tiêu chuẩn để đánh giá một doanh nghiệp là làm ăn có hiệu quả kinh doanh :doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời tốt,doanh nghiệp có hệ số thanh toán phù hợp với tình hình kinh doanh của doanh nghiệp,và uy tín của doanh nghiệp với các đối tác kinh doanh. KẾT LUẬN Doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả thì các doanh nghiệp phải có phương pháp tính chi phí một cách hợp lý,để phù hợp doanh thu.Vì vậy việc khấu hao TSCĐHH trong doanh nghiệp là một việc rất quan trọng do :Khấu hao tài sản cố định nói chung và khấu hao tài sản cố định hữu hình nói riêng là những hoạt động thường xuyên và không tách rời trong quá trình hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Khấu hao tài sản cố định hữu hình có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Một thay đổi nhỏ trong chính sách, chế độ quản lý tài sản cố định hữu hình và trích khấu hao tài sản cố định hữu hình cũng đưa đến những thay đổi đáng kể trong việc hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp. Chình vì thế, việc nghiên cứu về các hình thức, cách thức trích khấu hao tài sản cố định hữu hình cũng như quản lý tài sản cố định hữu hình cần được quan tâm đúng mức. Mọi chính sách và chế độ về khấu hao tài sản cố định hữu hình đưa ra cần đảm bảo cho việc thực hiện thông suốt, nhất là phải tạo điều kiện tốt nhất về mặt bảo toàn vốn kinh doanh, quay vòng vốn nhanh cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đề án này đã giải quyết được các vấn đề sau: Phần 1 :Chế độ kế toán hiện hành về hạch toán khấu hao tài sản cố định hữu hình Phần 2:Một số kiến nghị đóng góp với chế độ kế toán hiện hành Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình hướng dẫn của cô Phạm Thị Thủy đã giúp em hoàn thành được đề án này. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.PGS.TS.Đặng Thị Loan.Giáo trình kế toán tài chính doanh nghiệp.NXB Đại học kinh tế quốc dân,2006. 2.Chuẩn mực kế toán quốc tế.NXB chính trị quốc gia,xuất bản lần thứ 2,2002 3.Chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam.NXB Thống kê,2008. 4.Quyết đinh số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính về việc ban hành và công bố (06)chuẩn mực kế toán Việt Nam. 5.Thông tư số 23/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 03 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn kế toán thực hiện 6 chuẩn mực kế toán ban hành theo quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 của Bộ trưởng Bộ tài chính. 6 các tạp chí :tạp chí kế toán 7.Các trang web về kinh tế,kế toán MỤC LỤC

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docBàn về chế độ kế toán khấu hao TSCĐ hữu hình ở Việt Nam hiện nay.doc
Luận văn liên quan