Đề tài : Bộ 3 bất khả thi

Đ ánh giá tình hình lạm phát vừa qua, kinh tế Việt N am bất ổn từ nội tại chứ không phải do bên ngoài tác động vào. Một thời gian dài thị trường chứng khoán bong bóng, các doanh nghiệp đua nhau huy động vốn rồi đầu tư chéo, dòng vốn chạy lòng vòng mà không được dùng để đầu tư cho những dự án hiệu quả, sản xuất ra hàng hóa cho nền kinh tế. N hư vậy, bên cạnh quyết định kiểm soát vốn hay không, cần phải cân nhắc khả năng hấp thụ vốn, hiệu quả đầu tư của dòng vốn đối với nền kinh tế. Lượng vốn FDI là một chỉ tiêu quan trọng, nhưng hiệu quả của FDI mới thực sự là yếu tố quan trọng hàng đầu.D òng vốn FDI đổ vào càng nhiều thì chúng ta lại càng phải biết chọn lọc sao cho dòng vốn này đóng góp một cách hiệu quả nhất vào sự phát triển của đất nước.

pdf73 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 04/09/2014 | Lượt xem: 1936 | Lượt tải: 5download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài : Bộ 3 bất khả thi, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lại kết quả như mong đợi.Họ đã nhận ra rằng: không thể đồng thời thực hiện được ba mục tiêu kiểm soát vốn, ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ. Bằng việc kiểm soát vốn, cố định tỷ giá và làm cho đồng Ringgit phi quốc tế hóa của năm 1998, chính phủ đã có thể giải quyết vấn đề bộ ba bất khả thi – một lãi suất thấp hơn với một nền kinh tế không phải lo lắng về việc tháo ra của dòng vốn hay bất ổn tiền tệ. Một góc nhìn khác, Malaysia đã quản lý chính sách tiền tệ độc lập với mục tiêu kiểm soát vốn và cố định tỷ giá. Kể từ khi nền kinh tế được phục hồi năm 1999, có sự thay đổi dần những công cụ kiểm soát tỷ giá, và cả dòng vốn ra, dòng vốn vào cho cả người dân trong và ngoài nước. Nhưng việc neo giữ đồng Ringgit theo đồng đôla vẫn còn duy trì đến tháng 7/2005. Chương 2: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc điều hành chính sách vĩ mô Trang 45 Với sự thay đổi dần việc kiểm soát vốn, mở rộng tài khoản vốn và cố định tỷ giá, Malaysia một lần nữa phải đối diện với sự lựa chọn giữa độc lập tiền tệ và chính sách tỷ giá. Sự cân nhắc giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá càng gia tăng khi quốc gia này cố gắng giữ chính sách cố định tỷ giá. Dòng vốn ra và vào phải được thông qua NHTW và do đó tỷ giá hối đoái vẫn được giữ cố định. Masih (2005) nói rằng kể từ khi chính sách tiền tệ nhằm giữ cố định tỷ giá, có một sự mở rộng quá mức trong chính sách tài khóa nhằm đạt được mục tiêu trong nước như tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn, thu nhập cao hơn. Và kết quả là thâm hụt tài khóa liên tục từ năm 1998.Điều này thể hiện sự bất khả thi của “bộ ba” vì Malaysia bắt đầu kiểm soát vốn trong khi vẫn thực hiện cố định tỷ giá. Vấn đề này duy trì đến 21/7/2005 khi mà NHTW thông qua việc chuyển sang chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý. Và từ đó, Malaysia đã lấy lại được sự kiểm soát tiền tệ. Ringgit được giữ dưới chế độ thả nổi có quản lý, đồng tiền này được định giá theo giá trị một rổ tiền tệ, tuy vậy, NHTW không bao giờ tiết lộthành phần và tỷ trọng của rổ tiền tệ này. Tất cả điều này không có ý nghĩa gì quan trọng, sự thật là hệ thống hiện hành không khác biệt nhiều so với những gì Malaysia đã thực hiện trong giai đoạn trước khủng hoảng Đông Á. Từ khi thay đổi chính sách tỷ giá từ năm 2005, đồng Ringgit bị đánh giá cao hơn đồng USD khoảng 14%. Tỷ giá thay đổi từ mức RM3.78/US$ xuống RM3.30/US$ trong năm 2007.Tuy nhiên, giống như những nước đang phát triển khác, Malaysia vẫn thiên về chính sách ổn định tỷ giá hơn là thả nổi cho dao động tự do. Chế độ thả nổi có quản lý của tỷ giá và chính sách không quốc tế hóa đồng Ringgit là những nhân tố quan trọng cho phép BNM thiết lập mức lãi suất trên nền tảng những điều kiện trong nước, tạo nên một chính sách tiền tệ độc lập. 2.3.3 Những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đến Malaysia M ột thập kỷ sau khi khủng hoảng tiền tệ xảy ra, M alaysia lại một lần nữa nổi lên như một quốc gia phát triển nhanh nhất Châu Á với mức tăng trưởng 6.5% vào năm 2007. Thặng dư lớn tài khoản vốn, dự trữ ngoại hối lớn, nợ nước ngoài thấp, lạm phát thấp, tất cả điều này khẳng định rằng Malaysia đã bước ra khỏi khủng hoảng, bước sang một thời kỳ mới phát triển nhanh và ổn định. Cũng như các quốc gia Châu Chương 2: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc điều hành chính sách vĩ mô Trang 46 Á khác, Malaysia một lần nữa tiếp nhận một dòng vốn vào ào ạt vào giai đoạn 2006- 2007. Cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Mỹ và Châu Âu năm 2007 và trở nên nghiêm trọng vào đầu năm 2008, nó có một ít tác động đến M alaysia và một số quốc gia châu Á khác. Nhưng sau đó, cơn bão khủng hoảng bắt đầu lan sang các nước phát triển và đã chính thức tiến vào Malaysia cuối năm 2008 và đầu năm 2009. GDP thực trong quý 4/2008 tăng chỉ 0.1% so với cùng kỳ năm trước và 4.7% so với quý 3, và âm 6.2% quý đầu năm 2009. Dòng vốn ròng bắt đầu sụt giảm ở Malaysia từ quý 2 năm 2008 như được chỉ ra trong Table 1.Đầu tư danh mục cũng bắt đầu thoát vốn kể từ quý 2/2008. Thống kê cho thấy, đây là mức tháo vốn lớn nhất từ trước đến nay ở M alaysia với 92.4 tỷ Ringgit trong năm 2008, trong khi đó dòng vốn vào ròng năm 2007 là 18.335 tỷ. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giảm mạnh (95%) từ mức 17.392 tỷ Ringgit quý 2/2008 xuống còn 0.881 tỷ vào quý 3 cùng năm. Tính cả năm 2008, FDI đã giảm 9%. M ột trong những viễn cảnh quan trọng của việc tự do hóa nguồn vốn năm 1997 là mở rộng có hạn chế dòng vốn ra và thu hút dòng vốn vào để tăng nguồn dự trữ ngoại hối và tăng giá đồng Ringgit. Chính sách này có thể được quan sát từ xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Malaysia. Trong năm 2006, đầu tư trực tiếp ra ngoài của các công ty Malaysia đạt mức 22.2 tỷ Ringgit, tương đương với mức FDI vào M alaysia.Năm 2007, đầu tư bên ngoài của người M alaysia tăng hơn 37.9 tỷ Ringgit, lần đầu tiên vượt qua FDI là 29.1 tỷ Ringgit. Năm 2008, dòng vốn ra đạt mức 47 tỷ Ringgit, một lần nữa vượt qua FDI là 26.7 tỷ Ringgit và kết quả là thâm hụt tài khoản vốn của Malaysia là 20.5 tỷ Ringgit. Bảng 2.4: Dữ liệu tài khoản tài chính Malaysia 2007-2009 2007 2008 Quý I 2008 Quý II 2008 Quý III 2008 Quý IV 2008 Quý I 2009 Tài khỏan tài chính -37,81 -123,90 26,45 -12,31 -61,48 -76,57 -29,76 Đầu tư trực tiếp -9,14 -20,50 -2,98 2,91 -18,97 -4,36 3,19 Chương 2: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc điều hành chính sách vĩ mô Trang 47 Nước ngòai -38,22 -47,10 -6,33 -14,48 -19,5 6,43 0,435 Trong Malaysia 29,08 26,70 3,36 17,39 0,88 5,07 2,761 Đầu tư chứng khóan (thuần) 18,36 -92,40 21,07 -24,02 -56,18 -33,27 -12,15 Đầu tư khác (thuần) -46,92 -11,00 7,56 8,84 13,79 -41,19 -20,79 Chính thức -5,79 -2,70 -0,71 1,61 -2,74 -0,86 -0,967 Khu vực tư -41,14 -8,30 8,28 7,24 16,53 -40,34 -18,832 Lưu ý: Chỉ bao gồm sự chuyển giao vốn tài chính trong tín dụng thương mại, khỏan cho vay ngắn và dài hạn và các khỏan chuyển giao vốn khác m à không được ghi lại dưới hình thức đầu tư trực tiếp, đầu tư chứng khóan hay dưới dạng tài sản dự trữ. Nguồn: Ngân hàng Negara Thống kê hàng tháng 2.3.4 Kinh nghiệm trong việc quản lý Bộ ba bất khả thi của Malaysia M alaysia đã quản lý nguồn ngoại hối đồng thời lại duy trì cùng lúc 2 chính sách ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ như thế nào? Hannoun (2001) đã phát biểu: “không thể đồng thời thực hiện ba mục tiêu nhưng các nhà làm chính sách có thể mở rộng các lựa chọn khác, tuy nhiên phải cân nhắc cẩn thận”. Có một vài cách mà NHTW M alaysia đã sử dụng để quản lý, điều hành bộ ba như: (1) dùng dự trữ quốc gia để giảm thiểu tác động của khủng khoảng, (2) định giá thấp tỷ giá, (3) can thiệp nhằm chống lại việc định giá thấp đồng Ringgit, (4) hạn chế dòng vốn ra. Dự trữ ngoại hối nhằm giảm tác động khủng hoảng Lượng dự trữ ngoại hối tính cho cả các quốc gia Châu Á trong những năm gần đây là con số khổng lồ. Nhiều quốc gia Châu Á, những đất nước chịu nhiều ảnh hưởng Chương 2: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc điều hành chính sách vĩ mô Trang 48 từ cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á gia tăng dự trữ ngoại hối một cách rõ rệt. Nguồn dự trữ thậm chí còn tăng nhanh hơn nữa từ sau năm 2000.Năm 2006, trong 10 nước có nguồn dữ trữ lớn nhất thế giới trong đó có đến 8 quốc gia thuộc Châu Á. Giống như những quốc gia Châu Á khác, Malaysia cũng xây dựng nguồn ngoại hối to lớn sau khủng hoảng 1997. Năm 1998, dự trữ ngoại hối khoảng 99 tỷ Ringgit (tương dương 26 tỷ USD) nhưng tăng đến mức 317,44 tỷ Ringgit (91,6 tỷ USD) vào năm 2008, tăng đến 3,5 lần. Đây là con số cộng dồn từ nhiều năm trước đó. Bảng 2 sẽ cho thấy rõ hơn về tình hình ngoại hối sau năm 1997 của Malaysia (chủ yếu từ thặng dư tài khoản vốn hơn là thông qua dòng vốn vào). Phân loại này của dự trữ, được biết đến như “dự trữ thu nhập” nhằm nói đến dự trữ quốc gia được xây dựng từ kết quả hoạt động của đất nước từ thặng dư thương mại và thặng dư tài khoản vốn. Loại này của dự trữ thì có thể tin cậy và có thể thực hiện khi nó cần chuẩn bị cho việc xây dựng dự trữ thông qua dòng vốn vào từ đầu tư ngắn hạn trên thị trường tài chính hay vay mượn nước ngoài. Từ bảng 2 ta thấy rằng trước 1997, tích lũy dự trữ không cao ở Malaysia.M ặc dù M alaysia tiếp nhận dòng vốn vào khá lớn, bù lại, quốc gia này thâm hụt tài khoản vốn, dẫn đến sự mất cân bằng do thay đổi dự trữ.Nhưng sau năm 1997, đồng Ringgit bị định giá thấp nhằm gia tăng khả năng cạnh tranh quốc tế cho các nhà xuất khẩu M alaysia.Thặng dư tài khoản vãng lai lớn xây dựng dự trữ ngoại hối quốc gia lên mức chưa từng có từ trước đến nay bất chấp sự thâm hụt của tài khoản vốn suốt thời gian này. Bảng 2.5: Thay đổi trong dự trữ ngọai hối, tài khỏan vãng lai, tài khỏan tài chính và sai số thống kê từ năm 1990 – 2008 (RM Billion) Năm Dự trữ ngọai hối (cộng dồn tích lũy) Thay đổi trong dự trữ Tài khỏan vãng lai Tài khỏan tài chính Sai số thống kê 1990 27,025 5,365 -2,483 4,829 3,019 1991 30,452 3,427 -11,644 15,466 -0,395 1992 47,195 16,744 -5,622 22,285 0,081 1993 76,435 29,239 -7,926 22,795 9,370 Chương 2: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc điều hành chính sách vĩ mô Trang 49 1994 68,172 -8,262 -14,77 3,175 3,333 1995 63,769 -4,403 -21,467 19,140 -1,896 1996 70,014 6,245 -11,226 11,642 -6,371 1997 59,122 -10,892 -16,697 6,182 -0,377 1998 99,424 40,301 37,394 -10,00 12,913 1999 117,243 17,819 47,895 -25,152 -4,924 2000 109,066 -8,176 32,252 -23,848 -16,580 2001 113,585 4,518 27,687 -14,791 -8,378 2002 128,181 14,595 30,494 -11,941 -3,958 2003 167,689 39,781 50,624 -12,146 1,302 2004 251,689 83,728 57,302 19,347 7,709 2005 265,240 13,550 78,367 -36,991 -27,825 2006 290,396 25,158 93,504 -43,488 -24,857 2007 355,694 45,296 100,410 -37,805 -17,309 2008 317,445 -18,250 129,935 -123,011 -25,174 (Nguồn: Ngân hàng Negara Thống kê hàng tháng) Hình 2.8: Dự trữ ngoại hối của Malaysia tăng lên đến mức cao nhất vào năm 2008 Chương 2: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc điều hành chính sách vĩ mô Trang 50 Sự can thiệp của chính phủ vào tỷ giá Sukhdave (2008) đã chỉ ra 3 nhân tố chính mang lại sự thành công cho quá trình điều hành can thiệp vào tỷ giá của chính phủ. Đầu tiên, sự minh bạch thông tin về dòng vốn vào tự nhiên và những điều kiện thị trường.NHTW Malaysia có một hệ thống thông báo nội bộ để kiểm soát sự chu chuyển của tài khoản vốn, do đó, có thể dễ dàng quản lý tỷ giá. Thứ hai, NHTW phải nắm giữ một lượng dự trữ đủ lớn để đảm bảo can thiệp thành công. Thứ ba, NHTW phải có đủ công cụ tài chính để kiểm soát những ảnh hưởng từ việc can thiệp này lên tính thanh khoản trong thị trường nội địa. Cho phép định tỷ giá thấp Lựa chọn chính sách được ưu thích đối với các quốc gia đứng trươc dòng vốn ra khá lớn là cho phép đồng tiền định giá thấp.Theo nguyên tắc, sự linh hoạt tỷ giá là một kỹ thuật điều chỉnh lớn cho thương mại quốc tế và dòng vốn (Hannoun, 2007).Giá trị tiền tệ nên được định giá thấp đối với những quốc gia từng trải qua thâm hụt tài khoản vãng lai và sự đi ra của dòng vốn. Điều này sẽ giúp giảm thâm hụt cán cân thanh toán trong tương lai. Ngoài ra, một đất nước có thể từ bỏ việc tích lũy dự trữ khi tỷ giá được xác định theo thị trường. Đồ thị 2.8 cho thấy xu hướng giảm của REER từ tháng 9/2008 theo sau đó là sự sụp đổ của thị trường tài chính do sự đổ của Lehman Brothers ở Mỹ. Không giống như thời kỳ khủng hoảng tiền tệ Châu Á, sự sụp giảm giá trị của đồng Ringgit là do những yếu tố nền tảng của nền kinh tế, mà đúng hơn là do sự sụp giảm nhu cần xuất khẩu và sự tháo chạy của dòng vốn. Định giá thấp đồng Ringgit có Chương 2: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc điều hành chính sách vĩ mô Trang 51 thể giúp cải thiện hoạt động xuất khẩu của đất nước, do đó, giới hạn những tác động tiêu cực từ sự suy thoái toàn cầu. Hình 2.9: Chỉ số REER của Malaysia giảm mạnh từ tháng 9/2008 Hạn chế dòng vốn ra Nếu cán cân thanh toán trở nên xấu đi, một trong những ứng phó của chính sách là thắt chặt dòng vốn ra ngay lập tức. Kiểm soát dòng vốn được lựa chọn, nhưng nó phải là phương án cuối cùng. Malaysia đã kiểm soát dòng vốn ra suốt thời kỳ khủng hoảng Châu Á. Mặc dù ảnh hưởng của việc kiểm soát vốn này còn để lại nhiều tranh cãi cho đến ngày nay, nhưng những kiểm soát này sẽ mang đến những người làm chính sách Malaysia đạt được thời gian cho đất nước để phục hồi từ khủng hoảng. Tuy nhiên, có những chi phí liên quan đến việc kiểm soát vốn đã được đưa ra. Một khi những giải pháp của một đất nước là kiểm soát vốn, đặc biệt là kiểm soát dòng vốn ra, các nhà đầu tư sẽ nghĩ rằng họ có thể bị ngăn cản một lần nữa trong tương lai, điều này có thể ngăn cản cả những dòng vốn vào hữu ích. 2.3.5 Kết luận M alaysia đã hồi phục sau Khủng hoảng tiền tệ Châu Á và đã có được những nền tảng tốt cho sự phát triển từ năm 1999. Với việc thay đổi từ từ kiểm soát vốn của năm 1998 và mở cửa tài khoản vốn khi cố định tỷ giá, đất nước đã phát hiện ra tính phụ thuộc vào nhau của Bộ ba bất khả thi, từ bỏ chính sách độc lập tiền tệ, ưu tiên ổn định tỷ giá và tự do hóa tài chính. Điều này duy trì đến tháng 7/2005 khi Malaysia thông qua chế độ thả nổi tỷ giá có quản lý và quản lý dòng vốn. Điều này cho phép các nhà làm chính sách cân bằng giữa ổn định tỷ giá với độc lập tiền tệ và mở cửa tài Chương 2: Kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong việc điều hành chính sách vĩ mô Trang 52 khoản vốn. Nhưng để đạt được cả ba mục tiêu trên đòi hỏi phải có sự can thiệp của chính phủ vào thị trường và can thiệp thì sẽ tốn nhiều chi phí. Theo xu hướng ngày càng tự do hóa tài chính của thế giới, nhiều quốc gia Châu Á đang đối mặt với bộ ba bất khả thi để chấp nhận một chế độ với ít ổn định tỷ giá hơn hay ít độc lập tiền tệ hơn. Và M alaysia cũng không là trường hợp ngoại lệ.Thật sự, những gì Malaysia đã trải qua trong thời kỳ khủng hoảng vừa qua đã minh chứng rằng quốc gia này cũng không thoát khỏi tình trạng bộ ba bất khả thi. D o đó, lựa chọn khôn ngoan nhất để thực hiện trong tương lai là tự do hóa tài chính, duy trì ổn định giá và tỷ giá linh hoạt --o0o-- Chương 3: Liên hệ Việt Nam Trang 53 CHƯƠNG 3 LIÊN HỆ VIỆT NAM 3.1 Dự trữ ngoại hối và mẫu hình trung gian của bộ ba bất khả thi ở Việt Nam so với các nước khác Sau các cuộc khủng hoảng này thì các quốc gia thị trường mới nổi mới bắt đầu theo đuổi mẫu hình bộ ba bất khả thi với tỷ giá linh hoạt có quản lý, duy trì độc lập tiền tệ và tăng cường hội nhập về tài chính. Do đó, họ phải đối mặt với áp lực của việc nâng giá đồng tiền, và biện pháp giải quyết chính là gia tăng nắm giữ dự trữ ngoại hối và kèm theo đó là chính sách can thiệp vô hiệu hóa – điển hình là Trung Quốc, từ 2005 đã đẩy mạnh thực hiện chính sách trên. Hình 3.1 Tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP. Dựa vào kết quả đo lường chỉ số hội nhập tài chính KAOPEN của Aizenman, Chinn, Ito (2008) cho thấy mở cửa và hội nhập tài chính là một xu hướng không thể tránh khỏi đối với các quốc gia đang phát triển. Một trong những lợi ích mang lại cho các quốc gia đang phát triển là dòng vốn vào. Dòng vốn này đã góp phần làm thỏa mãn cơn khát vốn cho các dự án đầu tư, hỗ trợ thương mại dài hạn và kích thích thị trường tài chính phát triển mạnh mẽ…từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia này. Tuy nhiên, hội nhập tài chính là con dao hai lưỡi (double – edged sword), nó cũng mang lại không ít vấn đề cho các quốc gia đang phát triển. Dòng vốn vào, một mặt gây áp lực nâng giá trị đồng tiền làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu từ đó tác Chương 3: Liên hệ Việt Nam Trang 54 động xấu đến cán cân vãng lai, mặt khác thành phần chiếm tỷ trọng lớn của dòng vốn này là ngắn hạn với mục đích đầu cơ gây ra tình trạng lạm phát và bong bóng tài sản và đẩy nền kinh tế vào chu kì hưng thịnh – suy thoái (boom – bust). Và cuối cùng nền kinh tế bị đẩy vào con đường khủng hoảng khi dòng vốn đột ngột đảo chiều (sudden stop) trong tình trạng cán cân vãng lai thâm hụt Dựa vào những lợi ích và hạn chế từ hội nhập tài chính có thể thấy việc hội nhập là cần thiết nhưng cũng cần thực hiện các biện pháp kiểm soát dòng vốn ở một mức độ nhất định nhằm hạn chế “tác dụng phụ” của nó. Và cũng dễ dàng nhận thấy rằng để gia tăng hội nhập tài chính thì quốc gia phải thực hiện đánh đổi giữa ổn định tỷ giá và độc lập về tiền tệ Với những tác động không tốt của dòng vốn vào đối với nền kinh tế thì việc kiểm soát vốn ở một mức độ nào đó là cần thiết. 3.2 Chính sách vĩ mô và kiểm soát dòng vốn vào. Hình 3.2 : Dòng vốn đầu vàoNguồn: D. Ostry và đồng sự (2010), Figure 1. Chương 3: Liên hệ Việt Nam Trang 55 Tóm lại, vấn đề dữ trữ ngoại hối ở Việt Nam và Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng, tuy nhiên lại có một điểm khác biệt quan trọng, đó là quy mô. Trung Quốc đã dùng dự trữ ngoại hối để can thiệp thành công vào bộ ba bất khả thi, nhưng Việt Nam có vẻ chưa sẵn sàng cho điều này Hình 3.3: Tăng trưởng dự trữ ngoại hối Việt Nam từ 2005-2012 Hình 3.4 :Dự trữ ngoại hối Việt Nam 2007-2012 Dễ nhìn thấy trên biểu đồ, đã có sự tăng vọt kể từ quý I/2010 đến thời điểm hiện tại và đây có thể coi là mức dự trữ ngoại hối cao nhất từ giữa năm 2009. Trước Chương 3: Liên hệ Việt Nam Trang 56 đó, ngoại hối Việt Nam từng đạt 23,9 tỷ USD vào năm 2008 và liên tục giảm cho đến 2011 trong bối cảnh kinh tế thế giới khó khăn. Hồi tháng 9, báo chí trong nước dẫn nguồn bản tin nghiên cứu thị trường của ngân hàng BIDV cho biết, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam đã đạt mốc 22-23 tỷ USD, tương ứng khoảng 11,5 tuần nhập khẩu - cao hơn cả con số cập nhật của A DB công bố. Dự trữ ngoại hối đóng vai trò quan trọng việc đánh giá tiềm lực tài chính của một quốc gia. Hầu hết các quốc gia duy trì và quản lý dự trữ ngoại hối nhằm phục vụ các mục tiêu cơ bản như thực hiện chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá, duy trì tính thanh khoản của thị trường ngoại hối để hạn chế tác động tiêu cực trong trường hợp xảy ra khủng hoảng tài chính. Dự trữ ngoại hối giúp duy trì lòng tin về khả năng đảm bảo thanh toán nghĩa vụ nợ nước ngoài của nền kinh tế, khả năng hỗ trợ giá trị của đồng nội tệ, thể hiện khả năng đảm bảo tài chính của quốc gia, góp phần thu hút đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài. Đây cũng là nguồn dự trữ cho các trường hợp khẩn cấp và thảm họa mang tính quốc gia. Do vậy, trong Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt hôm 27/7/2012, người đứng đầu Chính phủ đã yêu cầu chỉ tiêu tỉ lệ dự trữ ngoại hối nhà nước so với tổng dư nợ nước ngoài ngắn hạn hàng năm phải đảm bảo trên 200%. Nếu so khuyến nghị của IMF, dự trữ ngoại hối của một quốc gia nên tương đương 12 đến 14 tuần nhập khẩu, thì mức đạt được hiện tại của Việt Nam còn thấp, song so dữ liệu quá khứ thì tình hình đã được cải thiện một cách nhanh chóng và đáng kể trong vòng hơn 1 năm trở lại đây. 3.3 Tự do hóa đồng vốn ở Việt Nam Nguồn vốn FDI chảy vào Việt Nam đang suy giảm.Thực tế, từ chỗ chỉ chiếm gần 6% tổng FDI vào khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 1990-2000, đến giai đoạn 2005-2010, Việt Nam đã chiếm trên 10,29% tổng FDI, đạt cao nhất tới 17% Chương 3: Liên hệ Việt Nam Trang 57 trong năm 2008. Tuy nhiên, sang năm 2009, vốn FDI vào Việt Nam có dấu hiệu tăng chậm lại so với trước và tạo một xu hướng giảm vào năm 2010 và 2011. Sự suy giảm của FDI vào Việt Nam được nhìn thấy rõ rệt vào năm 2011. Sau khi đạt rất cao vào tháng 4/2011, với số vốn đăng ký lên tới 1.370 triệu USD, FDI bắt đầu chiều suy giảm và xuống đáy ở con số 185 triệu USD trong tháng 12/2011. Sang năm 2012, mặc dù khởi đầu với một sự gia tăng đáng kể trong luồng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam, tuy nhiên, sự gia tăng không bền vững với sự lên xuống thất thường. Kết thúc năm 2012, vốn FDI đăng ký mới chỉ đạt hơn 13 tỷ USD, chỉ bằng 84,7% năm 2011 và kém khá xa kế hoạch đề ra từ đầu năm là thu hút 15-17 tỷ USD. Trong 2 tháng năm 2013, theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), cả nước có 99 dự án mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký là 532 triệu USD, bằng 46,1% so với cùng kỳ năm 2012 và 31 lượt dự án đăng ký tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký tăng thêm là 98,3 triệu USD, bằng 19,7% so với cùng kỳ năm 2012. Tính chung, tổng vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm là 630,3 triệu USD, bằng 38,1% so với cùng kỳ năm 2012. Việc thiếu vắng các dự án lớn đã khiến cho tổng lượng vốn đăng ký giảm mạnh. Chương 3: Liên hệ Việt Nam Trang 58 Như vậy, dòng FDI vào Việt Nam có xu hướng chậm lại so với thời gian trước, và có vẻ như dòng vốn đang tìm đến các điểm dừng chân khác trong khu vực, nơi mà có ít rủi ro và hấp dẫn hơn Việt Nam. Trong số các nước khu vực Đông Nam Á, thì Singapore dẫn đầu danh sách về thu hút FDI, tiếp sau đó là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Việt Nam.Lượng vốn FDI đổ vào Việt Nam rất lớn ngay sau thời điểm Việt Nam gia nhập WTO năm 2007. Đi kèm với đó là chính sách tung tiền ra để đảm bảo tiền đồng không lên giá thể hiện qua tín dụng tăng (Hình 3). Kết quả là lạm phát năm 2008 tăng rất nhanh, lên mức đỉnh hơn 20%. Từ đó, Ngân hàng Nhà nước đã thi hành nhiều biện pháp mạnh như khống chế lãi suất tiền gửi dưới mức 12% rồi mới lỏng dần về cuối năm để kiềm chế lạm phát. Như vậy, với dòng vốn vào nhiều cộng với tung tiền ra để giữ tiền đồng không tăng giá đã làm chính sách tiền tệ không độc lập khi phải thực hiện các biện pháp bị động để kiềm chế lạm phát. Một đỉnh của tam giác bất khả thi bị hi sinh. Thời gian sau đó, khi lượng vốn vào chậm dần đi và khủng hoảng kinh tế lan rộng, chính phủ phải tung ra gói kích cầu năm 2009. Giữ được chính sách tiền tệ độc lập Chương 3: Liên hệ Việt Nam Trang 59 với chính sách tài khóa và cho phép dòng vốn ra vào nhưng những nhà điều hành đã không thể duy trì được giá tiền đồng cố định.Lại một lần nữa bộ ba bất khả thi xuất hiện. Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 60 CHƯƠNG 4 GIẢI PHÁP ĐIỀU HÀNH VĨ MÔ NỀN KINH TẾ VIỆT NAM – GÓC NHÌN TỪ BỘ BA BẤT KHẢ THI 4.1 Giải pháp cho Việt nam trong giai đoạn 2011-2020 4.1.1 Nhóm giải pháp chủ đạo Tăng trưởng kinh tế Việt Nam cho năm 2013 được EIU dự báo là 5.3% sẽ phụ thuộc rất nhiều vào sự ổn định kinh tế vĩ mô và có thể bị ảnh hưởng bởi sự không nhất quán trong chính sách kinh tế. Việc Việt Nam đề ra quá nhiều mục tiêu đã làm cho thị trường nghi ngờ về khả năng thực hiện.Tác giả cho rằng, cần tập trung vào một số mục tiêu trọng tâm, các mục tiêu khác cần phải chấp nhận như biến số phụ thuộc. Theo đó, 3 giải pháp chính cũng là 3 chính sách chính cần được thực hiện tốt như sau: 4.1.1.1Giải pháp cho kiểm soát vốn Việt Nam hiện tại cần kiểm soát vốn cho đến khi giải quyết hết bất ổn trong nội tại kinh tế. Việc kiểm soát như thế có thể xảy ra dưới các hình thức khác nhau mà điển hình nhất là đánh thuế cao trên các dòng vốn ngắn hạn, đi liền với việc miễn thuế đối với các dòng vốn mang tính dài hạn.Hoặc như việc yêu cầu các định chế tài chính muốn đi vay hoặc phát hành cổ phiếu thì cần phải được xếp hạng tín nhiệm.Đây chính là những phương thức mà chúng ta cần phải thực hiện trong thời gian tới. Một là, thể hiện rõ quan điểm, Việt Nam đang kiểm soát vốn có chọn lọc. Như đã trình bày, IMF đang thay đổi quan điểm của mình về kiểm soát vốn đối với các quốc gia mới nổi khi dòng vốn đang ào ạt chạy vào quốc gia đang phát triển do chênh lệch lãi suất. Do đó, Việt Nam không phải quá lo ngại về những khó khăn phải đối diện khi làm trái các hướng dẫn về hội nhập tài chính của IMF. Như vậy, trước mắt Việt Nam cần quy định rõ đối tượng, quy mô, chính sách ưu tiên cho từng dòng vốn. Phân loại và hướng dẫn rõ ràng, phân nhiệm cho các cơ quan chuyên môn. Và hơn hết là thể hiện quan điểm khuyến khích dòng vốn đầu tư lâu dài, hướng sản xuất, các ngành mũi nhọn mà chúng ta đang tập trung quy hoạch phát triển. Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 61 Hai là, kiểm soát nhưng không bóp nghẹt dòng vốn Học theo kinh nghiệm Trung quốc, phân khúc thị trường theo đối tượng nhà đầu tư. Khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vốn và làm ăn lâu dài ở Việt Nam. Ba là, ưu tiên kiểm soát dòng vốn ra (outflow) đối với cả FDI và FII. Bên cạnh yếu tố hấp thụ vốn mà tác giả sẽ trình bày ở phần sau, chính phủ cần phân định rõ mức thắt chặt kiểm soát cần áp dụng.Tạm thời, dòng vốn ra nên được kiểm soát chặt để tránh dòng vốn rút ra ồ ạt khi có bất ổn. Bốn là, xây dựng lộ trình mở cửa tài khoản vốn. Tuy nhiên, đích đến không phải là tự do hóa tài chính hoàn toàn Hình dưới đây mô tả các mức độ mở cửa tài khoản vốn, từ mức E thắt chặt hoàn toàn, đến mức D, C, B, A theo chiều hội nhập tài chính tăng dần. Với lập luận hệ thống tài chính chúng ta còn yếu kém so với khu vực và các quốc gia phát triển, chúng ta không nên đưa ra lộ trình tự do hóa tài chính hoàn toàn, vì hướng đi đó sẽ đẩy Việt Nam vào khủng hoảng trầm trọng. Để làm rõ luận điểm này, chúng ta sẽ phân tích về khả năng cạnh tranh và cơ sở hạ tầng của Việt Nam với các quốc gia khác trong khu vực: Hình 4.2: Lựa chọn chính sách kiểm soát vốn cho nền kinh tế Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 62 Theo như phụ lục: Các chỉ số cấu thành chỉ số năng lực cạnh tranh của các nước ASEAN Nguồn: Báo cáo cạnh tranh toàn cầu, 2011, WEF cho thấy sự khác biệt đáng kể về sự phát triển của hệ thống tài chính giữa Việt Nam và các quốc gia ASEAN nói riêng, và giữa các quốc gia đang phát triển với các quốc gia phát triên nói chung. Hiện nay hệ thống tài chính nước ta đang thiếu tính đa dạng, thiếu các công cụ hạn chế rủi ro, tiềm lực tài chính và năng lực quản trị ngân hàng còn yếu, hệ thống giám sát thận trọng, hiệu quả chưa được thiết lập... Những hạn chế này là rào cản đối với việc hội nhập và phát triển bền vững của nước ta với khu vực. Do vậy, đẩy mạnh hợp tác, mở cửa cho phép các hoạt động tài chính - ngân hàng diễn ra ở tầm khu vực trong điều kiện trên đây sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro bất ổn cho Việt Nam. Cho nên, tác giả khuyến nghị, Việt Nam chỉ nên mở cửa tài khoản vốn đến mức C (xem hình) là vừa. Năm là, định hướng dòng vốn và kiểm soát hiệu quả đầu tư Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 63 Theo đó, chỉ số KAOPEN hiện tại của Việt Nam là 0.156049 (Nguồn: Excel database của Chinn-Ito). Tác giả đề nghị trong vòng 6-12 tháng tới giữ nguyên mức này, sau đó tăng lên trong khoảng 0.2-0.3 cho đến 2020. 4.1.1.2Giải pháp cho chính sách tỷ giá Hiện nay trên thế giới tồn tại 3 chế độ tỷ giá chính: chế độ tỷ giá cố định, chế độ tỷ giá thả nổi và chế độ trung gian. Hình sau là phân loại của IM F về các loại tỷ giá hối đoái đang tồn tại ở hơn 180 quốc gia trên thế giới. Hình 4.6 Thống kê của IMF về các chế độ tỷ giá hối đoái Bảng 4.2 Thống kê những ưu và nhược điểm của từng cơ chế tỷ giá: Chế độ tỷ giá Ưu điểm Nhược điểm 1. Chế độ tỷ giá cố định - Thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế vì nó mang lại một môi trường ổn định, thuận lợi, ít rủi ro cho các hoạt động kinh doanh. Buộc các chính phủ phải hoạch định và thực thi các chính sách vĩ mô. - Thường chịu sức ép lớn mỗi khi xảy ra các cơn sốc từ bên ngoài hoặc từ thi trường hàng hoá trong nước, bởi khi đó mức chênh lệch thực tế quá lớn về giá trị giữa nội tệ và ngoại tệ sẽ dẫn đến phá vỡ mức cân bằng tỷ giá. Các chế độ tỷ giá hối đoái Neo cố định Chuẩn tiền tệ Chế độ trung gian Dải băng tỷ giá Con rắn tiền tệ Thả nổi có quản lý Thả nổi tỷ giá Thả nổi điều chỉnh thông qua cung cầu Tỷ giả thả nổi hoàn toàn Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 64 - Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế nhằm tránh những xung đột về mục tiêu chính sách và những biến động về tỷ giá. - Chế độ tỷ giá cố định làm mất tính chủ động của chính sách tiền tệ, khiến cho NHNN gặp khó khăn trong việc thay đổi lượng tiền cung ứng. Đặc biệt, nó làm cho các quốc gia dễ rơi vào tình trạng "nhập khẩu lạm phát" không mong muốn. 2. Chế độ tỷ giá thả nổi - Giúp cán cân thanh toán cân bằng: Giả sử một nước nào đó có cán cân vãng lai thâm hụt khiến nội tệ giảm giá. Điều đó thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu cho đến khi cán cân thanh toán trở nên cân bằng. - Đảm bảo tính độc lập của chính sách tiền tệ. Góp phần ổn định kinh tế, tránh được những cú sốc bất lợi từ bên ngoài, vì khi giá cả nước ngoài tăng sẽ làm cho tỷ giá tự điều chỉnh theo cơ chế PPP để ngăn ngừa các tác động ngoại lai. - Là nguyên nhân gây nên sự bất ổn do các hoạt động đầu cơ làm méo mó, sai lệch thị trường, có khả năng gây nên lạm phát cao và tăng nợ nước ngoài. - Hạn chế các hoạt động đầu tư và tín dụng do tâm lý lo sợ sự biến động theo hướng bất lợi của tỷ giá. Khi mới ra đời, chế độ tỷ giá thả nổi tự do được cho là phương thức hữu hiệu vạn năng cho sự phát triển của nền kinh tế. Tuy nhiên, thực tế chứng minh rằng, càng thả nổi tỷ giá thì sự phát triển kinh tế càng kém ổn định. Bởi lẽ, biến động của tỷ giá rất phức tạp, chịu tác động của nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, tâm lý, xã hội... đặc biệt là nạn đầu cơ. Trên thực tế thì lại không có thị trường thuần tuý nên không thể có một chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn. Sự can thiệp của chính phủ vào thị Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 65 trường ngoại hối làm cho tỷ giá hối đoái có những diễn biến thuận lợi hơn nên chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý ngày càng được nhiều quốc gia lựa chọn đặc biệt là các nước đang phát triển. 3. Chế độ tỷ giá trung gian Có 3 kiểu can thiệp của chính phủ: Kiểu can thiệp vùng mục tiêu: chính phủ quy định tỷ giá tối đa, tối thiểu và sẽ can thiệp nếu tỷ giá vượt quá các giới hạn đó. Kiểu can thiệp tỷ giá chính thức kết hợp với biên độ dao động: Tỷ giá chính thức có vai trò dẫn đường, chính phủ sẽ thay đổi biên độ dao động cho phù hợp với từng thời kỳ. Kiểu tỷ giá đeo bám: chính phủ lấy tỷ giá đóng cửa ngày hôm trước làm tỷ giá mở cửa ngày hôm sau và cho phép tỷ giá dao động với biên độ hẹp. Hiện nay, chế độ tỷ giá "bán thả nổi" hay con rắn tiền tệ có nhiều tính ưu việt hơn và được nhiều nước sử dụng, đặc biệt là các nước đang phát triển. Gần với thả nổi hơn hay gần với cố định hơn, biên độ giao động là bao nhiêu chính là sự linh hoạt chủ động mà chính sách này mang lại cho chính phủ các quốc gia. Việc lựa chọn chế độ tỷ giá xoay quanh 2 vấn đề chính : M ối quan hệ giữa các nền kinh tế quốc gia với cả hệ thống toàn cầu và mức độ linh hoạt của các chính sách kinh tế trong nước. Thứ nhất, lựa chọn chế độ tỷ giá là lựa chọn hệ thống mở cửa hay đóng cửa. Các phương án lựa chọn hệ thống tỷ giá thiên về hoặc tỷ giá cố định hoặc tỷ giá linh hoạt. Một quốc gia lựa chọn tỷ giá cố định tức là chấp nhận sự ràng buộc đối với các chính sách kinh tế quốc gia. Các chính sách kinh tế của quốc gia bị lệ thuộc vào tỷ giá hối đoái cố định,vì vậy việc hoạch định chính sách đối nội rất bị động. Từ đó có thể thấy rằng sự lựa chọn này ngang với việc áp đặt các ràng buộc quốc tế vào các chính sách kinh tế quốc gia. Nói rộng hơn, lựa chọn cơ chế hối đoái là một chính sách quan Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 66 trọng, tác động trực tiếp đến mức độ mở cửa thương mại, và quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối. Thứ hai, chúng ta cần quan tâm đến mức độ linh hoạt của các chính sách kinh tế đối nội.Nhiều nghiên cứu cho rằng tỷ giá hối đoái cố định quá cứng nhắc nên che mất những thông tin cần thiết cho thị trường hoạt động đúng hướng.Đó là vì đồng tiền không còn thể hiện giá trị thị trường thực của chúng.Sự che đậy thông tin nào tạo ra tính không chắc chắn, kích thích các kẻ đầu cơ tấn công các đồng tiền cố định và nhiều nước sẽ mất sạch cả dự trữ ngoại hối khi cố gắng bảo vệ đồng tiền của mình chứ không chịu để nó mất giá.Cuộc khủng hoảng tiền tệ 1997 là một minh chứng cho điều này. Lựa chọn có thay đổi chế độ tỷ giá hay không còn chịu ảnh hưởng bởi mức dự trữ ngoại hối mà quốc gia đó có. Theo phân tích trên, chế độ tỷ giá phù hợp cho Việt nam chính là chế độ mà Việt Nam đang áp dụng.Bằng cách đối chiếu với định nghĩa của IMF, tác giả khẳng định rằng chính sách tỷ giá của Việt Nam là tỷ giá cố định có điều chỉnh chứ không phải thả nổi có quản lý như công bố.Sau khi điều chỉnh tỷ giá cho phù hợp với cung cầu thị trường, áp lực phá giá đồng nội tệ đã giảm đi.Tuy nhiên, trong giai đoạn tới, Việt Nam có thể phải tiếp tục phá giá ở một mức vừa phải để cân bằng lại dự trữ ngoại hối sau đà sụt giảm nghiêm trọng năm 2010.Nhâp siêu vẫn là vấn đề nền kinh tế cần giải quyết trong khi xuất khẩu Việt Nam chưa tìm lại được vị thế sau cuộc khủng hoảng toàn cầu 2008. Tác giả khuyến nghị: Một là, tiếp tục giữ ổn định tỷ giá trong ngắn hạn Hai là, chuẩn bị cho đợt điều chỉnh phá giá nhẹ đồng tiền trong giai đoạn từ 6- 12 tháng tới. Ba là, cân đối và đề ra mức dự trữ ngoại hối mục tiêu. Theo tính toán của tác giả, dựa trên công thức và biến số từ Chinn-Ito, chỉ số ổn định tỷ giá Việt Nam giai đoạn hiện nay là 0,522328. Tác giả khuyến nghị trong vòng 1 năm tới sẽ giữ chỉ số ERS(Exchange Rate Stability) dao động quanh khoảng 0,5 và tiến tới mức 0,65 cho đến 2020 khi mà dự trữ ngoại hối Việt Nam đủ lớn cho an ninh tài chính quốc gia. 4.1.1.3Giải pháp cho chính sách tiền tệ: Với chính sách tỷ giá và chính sách kiểm soát vốn như trên, chính sách tiền tệ Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 67 được định hướng là tương đối độc lập.Chính sách lãi suất là một công cụ chủ lực của chính sách tiền tệ, vì vậy, mục tiêu theo đuổi của chính sách lãi suất phải nằm trong mục tiêu của chính sách tiền tệ, quá trình hoàn thiện cơ chế điều hành lãi suất trong từng thời kỳ luôn phải đảm bảo mục tiêu bao trùm của chính sách tiền tệ là ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều đó có nghĩa, sự thay đổi cơ chế điều hành lãi suất không được gây ra những cú sốc thị trường, đảm bảo tính ổn định và thực hiện các mục tiêu kiểm soát lạm phát, tăng trưởng kinh tế. Đây là nguyên tắc cơ bản trong hoạch định chính sách lãi suất từng thời kỳ, và cũng là định hướng mà chính sách tiền tệ cần lưu ý. Điều hành chống lạm phát Điều hành chính sách tiền tệ phải từng bước, nhưng cần nhất quán và phù hợp với tốc độ điều chỉnh của thị trường tài chính, vì vậy tác giả tin tưởng rằng mức độ thắt chặt bằng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng dưới 20% trong năm 2012 và có thể duy trì trong một số năm tiếp theo là hợp lý để tạo lập kỳ vọng ổn định về lạm phát của thị trường. Để Việt Nam thành công với chính sách tiền tệ kiềm chế lạm phát, cần phải: Một là, chính sách tiền tệ phải nhất quán. Hiệu quả của chính sách tiền tệ phụ thuộc rất lớn vào niềm tin của thị trường, thể hiện ngay từ lúc tạo lập kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp cho một kỳ kinh doanh phía trước, bao gồm cả kế hoạch về giá. Nếu thị trường tin tưởng vào khả năng kiểm soát lạm phát của cơ quan chính sách, các kỳ vọng lạm phát đã được hình thành ngay từ giai đoạn đầu của một kỳ kinh tế. Tuy nhiên, để có được sự tin tưởng của thị trường, cơ quan chính sách phải tạo lập được niềm tin thông qua tính nhất quán, cương quyết của chính sách tiền tệ. Việt Nam đã có những bài học rất rõ ràng về vấn đề này trong kiểm soát lạm phát thời gian qua dẫn tới việc thị trường không tin rằng chính sách tiền tệ có thể làm giảm lạm phát được. Khôi phục lại niềm tin này cần thời gian và vì vậy NHNN cần kiên định mục tiêu giảm dự nợ tín dụng trong thời gian đủ dài. Đối với lãi suất huy động, do những bất cập về cấu trúc thị trường hiện nay làm nảy sinh tình trạng cạnh tranh lãi suất thiếu lành mạnh, cũng như là diễn biến của lãi suất thực huy động có thể làm kỳ vọng lạm phát gia tăng nên việc thực hiện duy trì mức lãi suất trần trong giai đoạn này là cần thiết để bình ổn mặt bằng lãi suất. Tình Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 68 trạng đua nhau tăng lãi suất cho vay và lãi suất huy động trong năm 2010 là sự biểu hiện rõ nét của tình trạng cạnh tranh thiếu lành mạnh. Hai là, chính sách tiền tệ cần sự hỗ trợ từ chính sách tài khóa. Do cấu trúc thể chế trong thực thi chính sách tài chính và tiền tệ, việc thực hiện chính sách kiểm soát lạm phát ở Việt Nam không thể thành công nếu không có sự cam kết chi tiêu từ chính sách tài khóa. Việc này cho thấy tăng trưởng mức cầu từ chi tiêu của chính phủ phải hợp lý và rõ ràng. M ột thực trạng cần nhắc đến là, có một kênh gián tiếp xảy ra: khi chi tiêu chính phủ tăng thì nguồn tài trợ sẽ gián tiếp chảy từ NHNN thông qua vòng chu chuyển của trái phiếu chính phủ qua các ngân hàng thương mại. Điều này cho thấy chính sách tiền tệ có thể sẽ bị động do chính sách tài khóa mở rộng và việc này làm giảm hiệu quả của chính sách tiền tệ. Do vậy, cắt giảm chi tiêu công và tập trung chi tiêu vào các hạng mục đầu tư có hiệu quả và các hạng mục mang lại lợi ích xã hội cao hơn là cố gắng chi tiêu để tăng trưởng kinh tế nhờ vào sức cầu của chi tiêu chính phủ. Đây chính là điều mà các chính sách thắt chặt đầu tư công đang thể hiện hiện nay Ba là, điều hành chính sách tiền tệ phải phối hợp nhịp nhàng với tính kiên định trong chính sách tỷ giá.NHNN phải thực hiện kiểm soát ngoại hối chặt chẽ.Việc này là quan trọng giúp cho quá trình điều hành chính sách tỷ giá được chủ động, minh bạch và có cơ sở để điều hành chính sách tỷ giá nhịp nhàng. Bốn là, phải chú ý đến mặt trái của chính sách tiền tệ thông qua công cụ lãi suất. Nếu nâng lãi suất lên quá cao chẳng những không ổn định được tình hình vĩ mô, năm 2010, chính sách điều hành của chính phủ vẫn tập trung vào việc kiểm soát lạm phát, mục tiêu duy trì chỉ số CPI cả năm 2010 ở mức dưới 8%. Đây là chính sách đúng và hợp lý trong giai đoạn hiện nay.Tuy nhiên việc đẩy lãi suất lên quá cao để thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt không những không giúp thị trường ổn định mà còn khiến kinh tế gặp khó khăn thực sự. Thay vì chỉ cần áp mức lãi suất huy động và cho vay tương ứng là 10% và 13% thì lãi suất trên thị trường đã cao hơn lãi suất mục tiêu tới 4 – 5%. Lãi suất tiền đồng lên cao khiến doanh nghiệp phải đi “đường vòng” bằng cách vay ngoại tệ với lãi suất thấp hơn rồi đổi ra tiền đồng để đưa vào sản xuất.Điều này đã góp phần tạo áp lực lên thị trường ngoại hối cuối năm.Sự không thống nhất về vai trò Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 69 điều hành cũng ảnh hưởng tới tình hình lãi suất. Việc Ủy ban giám sát tài chính, cơ quan chỉ có chức năng tư vấn, giám sát tài chính lại phát ngôn thay NHNN và có chủ trương “chấp nhận lãi suất có thể tăng” đã khiến thị trường có thêm một “mặt bằng” lãi suất mới. Sau 11 tháng duy trì mức lãi suất dưới 11% và đang có xu hướng gần về với mục tiêu vào 10% ra 13% của NHNN thì sau phát ngôn của người đứng đầu Ủy ban giám sát tài chính lãi suất đã liên tục tăng cao và đến hết năm 2010 lãi suất huy động trên thị trường đã chốt lại ở mức 14% theo sự đồng thuận đưa ra của NHNN và Hiệp hội các ngân hàng. Năm là, hướng dòng vốn cho khu vực sản suất thực, giảm bớt đầu cơ. Khi dòng vốn ngân hàng đảm bảo tập trung vốn cho sản xuất sẽ có sự chuyển dịch vốn theo ngành, lĩnh vực, địa bàn, kỳ hạn và khách hàng cho vay; hạn chế cho vay các nhu cầu phi sản xuất. Đặc biệt khi dòng vốn được định hướng đúng đắn, tình trạng bong bóng (chứng khoán, nhà đất,... vàng) sẽ giảm và qua đó sẽ không gây áp lực lên khu vực ngân hàng, lãi suất sẽ ổn định. Chính phủ cần kiểm soát chặt tình trạng đầu cơ thái quá trong nền kinh tế (như sử dụng các công cụ đòn bẩy tài chính quá mức trên TTCK, tiền tệ; các loại kinh doanh quá mạo hiểm không cần thiết cho khu vực sản xuất vật chất,...). Khi chính phủ kiên quyết giảm thiểu tình trạng đầu cơ quá mức thì chắc chắn tình trạng dễ tổn thương của nền kinh tế nói chung và khu vực tài chính ngân hàng nói riêng sẽ giảm. Khi đó thị trường tiền tệ và ngoại hối (mà cụ thể là lãi suất và tỷ giá) sẽ ổn định. Nhờ dòng vốn đầu tư hiệu quả vào khu vực sản xuất, hàng hóa và dịch vụ trong xã hội sẽ tăng lên, không những là nền tảng tăng trưởng bền vững của nền kinh tế mà còn là giải pháp hiệu quả, trị phần gốc của căn bệnh lạm phát hiện nay. Tuy nhiên, cần lưu ý, với khuyến nghị này tác giả nhấn mạnh đến dòng đầu tư ở cả khu vực tư nhân thông qua kênh tín dụng doanh nghiệp, và cả khu vực nhà nước, vốn đang khủng hoảng trầm trọng sau sự kiện Vinashin. Sáu là, tính toán độ trễ của chính sách đối với các biến vĩ mô khác. Vấn đề luôn được quan tâm trong lý thuyết kinh tế khi phân tích các tác động chính sách, đó là độ trễ thời gian tác động của thay đổi chính sách gắn với các yếu tố tiền tệ (lãi suất, cung tiền, tỷ giá...) tới các yếu tố vĩ mô như đầu tư, lạm phát. Bởi các quyết sách chỉ có hiệu Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 70 quả cao nếu xác định được độ trễ này.Tuy nhiên, đây là một vấn đề không đơn giản, vì cùng một chính sách nhưng độ trễ tác động là rất khác nhau trong từng thời kỳ phát triển của nền kinh tế.Có rất nhiều sự thay đổi và không chắc chắn xung quanh độ trễ thời gian trên. Cụ thể, tác động chính sách sẽ phụ thuộc nhiều nhân tố khác nhau, như chu kỳ kinh doanh, lòng tin của người tiêu dùng và phản ứng của họ như thế nào đối với sự thay đổi chính sách, giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, các sự kiện trong nền kinh tế thế giới và kỳ vọng về lạm phát trong tương lai. Chẳng hạn, về nguyên lý chung thì lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu tư, giảm lạm phát, nhưng lãi suất cũng làm tăng giá thành sản phẩm qua đó tác động làm tăng giá. Vì sự tác động mang tính hai mặt như vậy, đòi hỏi phải xác định độ trễ tác động này để có những quyết định sử dụng công cụ lãi suất theo hướng tăng hay giảm cho mục tiêu kiểm soát lạm phát. Đối với các nền kinh tế thị trường chưa phát triển như Việt Nam, nhiều quan hệ kinh tế chưa thực sự mang tính thị trường thì việc vận dụng các nền tảng lý thuyết trên để hoạch định chính sách lãi suất cần có sự linh hoạt, bám sát mục tiêu định hướng phát triển kinh tế - xã hội cũng như các diễn biến thực tế của thị trường. Theo tính toán của tác giả, chỉ số độc lập tiền tệ M I hiện nay là 0.8955495.Tác giả cho rằng trong vòng 1-2 năm tới, Việt Nam nên tiếp tục duy trì sự độc lập tiền tệ ở mức cao MI~0.9, sau đó hướng đến chính sách linh hoạt hơn trong sự kết hợp của bộ ba chính sách ở mức MI~0.55 đến năm 2020. Tóm lại, với tất cả định hướng và khuyến nghị trên, tác giả tổng kết lựa chọn bộ ba chính sách cho Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và xu hướng dịch chuyển cho đến năm 2020 như sau: Hình 4.7 Lựa chọn bộ ba chính sách cho Việt nam hiện nay và năm 2020 Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 71 4.1.2 Nhóm giải pháp bổ trợ 4.1.2.1Phân quyền, phân nhiệm và công bố thông tin: Hiện nay, đối với kiểm soát vốn, cả NHNN, ủy ban chứng khoán nhà nước, bộ tài chính, thậm chí là ủy ban giám sát tiền tệ quốc gia cũng đều có một vai trò và trách nhiệm nhất định. Theo tác giả, chính phủ cần giữ vai trò là “nhạc trưởng”, hoặc ủy quyền cho NHNN điều hành thống nhất bộ ba chính sách. Có như vậy, định hướng và quá trình công bố thông tin mới thống nhất, minh bạch. Thực tế thời gian qua, nhiều vị lãnh đạo các cơ quan khác nhau đã đưa ra những phát ngôn bất nhất, gây ra hoang mang và bất ổn tâm lý về năng lực điều hành, quan điểm điều hành của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các nhà điều hành chính sách phải cẩn trọng hơn trong phát biểu, và phải có quy định về những trường hợp được phép công bố thông tin dưới góc độ cá nhân hay dưới góc độ cơ quan quản lý.Vấn đề quản lý báo chí cũng cần quan tâm trong hoàn cảnh nhiều ý kiến, nhiều quan điểm có thể ảnh hưởng xấu đến hiệu quả chính sách. M ột vấn đề nữa cần chú ý là mức độ phối hợp và thực thi đồng bộ chính sách của chính phủ. Năng lực chuyên môn của cán bộ thực thi và mức độ tuân thủ luật của đối tượng chịu quản lý cần được củng cố nâng cao để chính sách đi vào thực tế hiệu quả nhất. 4.1.2.2Vai trò tư vấn của giới học thuật và hội đồng chuyên gia Gần hai năm nay, hệ thống tài chính và kinh tế toàn cầu rơi vào khủng hoảng nặng nề. Ðến nay, người ta vẫn chưa thể tính toán đầy đủ quy mô và hậu quả của khủng hoảng, nhưng những gì đã diễn ra có thể giúp khẳng định chắc chắn rằng đây là cuộc khủng hoảng nặng nề nhất, xét cả về mức độ ảnh hưởng và tính khốc liệt của nó đối với kinh tế toàn cầu, kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Cũng vì khủng hoảng chưa kết thúc, nên chưa thể rút ra những bài học đầy đủ từ cuộc khủng hoảng này. Do đó, với từng bước đi của chính sách, vai trò tư vấn của chuyên gia, đặc biệt là giới học thuật cần được đặc biệt quan tâm trong giai đoạn khủng hoảng lý thuyết phát triển kinh tế. Theo các chuyên gia kinh tế nguyên nhân của khủng hoảng có thể gồm một vài Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 72 hoặc cả bốn yếu tố: chính sách kinh tế vĩ mô; điều tiết và giám sát lĩnh vực tài chính; kỹ thuật tài chính; các thiết chế tài chính tư nhân lớn. Trong đó, hai nguyên nhân lớn nhất là sự thất bại của chính sách kinh tế vĩ mô và trong điều tiết, giám sát tài chính. Cơ chế liên kết tài chính và toàn cầu hóa tuy không phải là nguyên nhân trực tiếp, cũng góp phần làm khủng hoảng trầm trọng hơn. Chính sách kinh tế vĩ mô của Mỹ và các nước phát triển đóng góp vào việc châm ngòi khủng hoảng. Sự lỏng lẻo trong quản lý và điều tiết đối với lĩnh vực tài chính, cùng với môi trường kinh tế, tài chính thiếu lành mạnh góp phần làm khủng hoảng trầm trọng hơn... Từ giai đoạn bất ổn hiện tại, cùng những di chứng của cuộc khủng hoảng tài chính 2008, nhà hoạch định chính sách cần chú ý những điểm sau: Một là, cẩn thận với nhận định quá tốt đẹp về tình hình kinh tế trong tương lai được đưa ra bởi các tổ chức, định chế quốc tế.Thay vào đó là tổng hợp, tham khảo những phân tích của chuyên gia trong nước, những người có hiểu biết sâu sắc về nền kinh tế Việt Nam. Kinh tế thế giới tăng trưởng mức bình quân 4,7% giai đoạn 2003 - 2007. Tháng 4-2007, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) dự đoán tăng trưởng kinh tế toàn cầu tiếp tục tăng mức 4,9% trong các năm 2007 và 2008. Tháng 4-2008, tiếp tục dự báo mức tương tự năm 2008 và 3,8% năm 2009. Ðến tháng 4-2009, IM F dự báo, kinh tế toàn cầu tăng trưởng âm 1,3% năm 2009 và phục hồi nhẹ năm 2010. Trên thực tế, các con số trên đều sai lệch. Dự báo của IM F cùng chung nhận định với các thể chế kinh tế, tài chính và tổ chức dự báo quốc tế khác. Ðiều này cho thấy, hầu hết các nhà kinh tế của các định chế không dự đoán được sự đảo chiều của chu kỳ kinh tế. Tác giả không khẳng định góc nhìn của các chuyên gia Việt Nam tốt hơn, nhưng quan điểm của họ sát với Việt Nam hơn và đứng ở góc độ có lợi cho Việt Nam nhất. Hai là, đón nhận tương lai toàn cầu hóa trong điều kiện phối hợp với hội đồng chuyên gia, đưa ra những bước chuẩn bị kĩ càng cho khu vực quản lý nhà nước và khu hoạt động kinh tế. Ba là, giới học thuật cần chủ động nghiên cứu và đưa khuyến nghị cho cơ quan quản lý. Nền kinh tế ổn định, tăng trưởng bền vững là trách nhiệm và kỳ vọng chung của Việt Nam. Cần tạo kênh truyền dẫn để những nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn quản lý.Theo tác giả, với chính sách điều hành tình thế, ngắn hạn cơ quan quản lý Chương 4: Giải pháp điều hành vĩ mô nền kinh tế VN góc nhìn từ bộ ba bất khả thi Trang 73 có nhiều kinh nghiệm thực hiện.Tuy nhiên hướng phát triển lâu dài, và cái nhìn toàn cảnh về mặt trái của chính sách cần được giới học thuật chỉ ra và định hướng. 4.1.2.3Hấp thu nguồn vốn trong một nền kinh tế mở cửa Đánh giá tình hình lạm phát vừa qua, kinh tế Việt Nam bất ổn từ nội tại chứ không phải do bên ngoài tác động vào. Một thời gian dài thị trường chứng khoán bong bóng, các doanh nghiệp đua nhau huy động vốn rồi đầu tư chéo, dòng vốn chạy lòng vòng mà không được dùng để đầu tư cho những dự án hiệu quả, sản xuất ra hàng hóa cho nền kinh tế. Như vậy, bên cạnh quyết định kiểm soát vốn hay không, cần phải cân nhắc khả năng hấp thụ vốn, hiệu quả đầu tư của dòng vốn đối với nền kinh tế. Lượng vốn FDI là một chỉ tiêu quan trọng, nhưng hiệu quả của FDI mới thực sự là yếu tố quan trọng hàng đầu.Dòng vốn FDI đổ vào càng nhiều thì chúng ta lại càng phải biết chọn lọc sao cho dòng vốn này đóng góp một cách hiệu quả nhất vào sự phát triển của đất nước. FII và nguy cơ khủng hoảng tài chính Tuy nhiên, khác với FDI, những nhà đầu tư gián tiếp chỉ đóng góp vào các công ty cổ phần thông qua thị trường chứng khoán mà không trực tiếp tham gia quản lý điều hành.Vì vậy những thay đổi điều kiện kinh tế trong nước sẽ có những ảnh hưởng rất lớn đối với các dòng vốn vào và ra thông qua kênh này. Khi dòng vốn FII vào ồ ạt với quy mô lớn sẽ gây mất cân bằng về mặt vĩ mô, hoặc nhà đầu tư có thể rút vốn quy mô lớn và đột ngột gây ra sự khủng hoảng và sụp đổ của thị trường tài chính trong nước. Chúng ta có thể học theo cách thức của Trung Quốc trong việc kiểm soát và hấp thu nguồn vốn đầu tư gián tiếp.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfnhom10_bobabatkhathi_kinhtevimo_dem3_k22_ueh_2622.pdf
Luận văn liên quan