Đề tài Chính sách tiền tệ và phương thức vận hành các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay

Trong công cuộc đổi mới hiện nay, trên đất nước ta đang diễn ra sôi động quá trình phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu một cách có hệ thống nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế theo cơ chế mới, trong đó một lĩnh vực có vị trí hết sức quan trọng được coi là huyết mạch trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững đó là lĩnh vực Tiền tệ - Ngân hàng. Ở nước ta, với tư cách là thiết chế đầu não của toàn bộ hệ thống tài chính và ngân hàng. Ngân hàng Trung ương là cơ quan chủ chốt, thiết kế và vận hành các công cụ Chính sách tiền tệ phục vụ cho mục tiêu điều tiết vĩ mô trong từng thời kỳ. Kinh nghiệm phát triển kinh tế của các nước đã chỉ ra rằng, mỗi bước thăng trầm của nền kinh tế đều có nguyên nhân sâu xa gắn liền với Chính sách tiền tệ và hoạt động của Hệ thống ngân hàng. Với nhận thức trên, bằng những kiến thức tiếp nhận trong quá trình học tập cũng như nghiên cứu thêm một số tài liệu có liên quan, Em đã lựa chọn và đi sâu vào phân tích đề tài: “CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ PHƯƠNG THỨC VẬN HÀNH CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM HIỆN NAY ” làm đề án môn học năm 3 của mình. Đề án gồm 2 phần chính : PHẦN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ QUỐC GIA PHẦN 2. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM Dù đã cố gắng nhiều trên cơ sở nỗ lực của bản thân cũng như sự giúp đỡ tận tình của Giáo viên hướng dẫn, ThS. Trịnh Thị Trinh. Song, do đề tài là một vấn đề lớn, trình độ hiểu biết lại có hạn nên đề án cũng khó tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế nhất định. Kính mong được sự chỉ bảo của thầy cô và ý kiến đóng góp của các bạn để nội dung đề án được hoàn t-hiện hơn.

doc31 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 2526 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Chính sách tiền tệ và phương thức vận hành các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
và điều tiết hoạt động của thị trường ngoại hối Thị trường hối đoái là nơi mua bán ngoại tệ. Thị trường hối đoái tạo điều kiện môi trường để việc mua bán giao dịch trao dịch trao ngoại hối diển ra một cách thuận lợi dể dàng. Trong một nước mà thị trường hối đoái tổ chức quá đơn sơ, thị trường hối đoái không tổ chức sẽ bành trướng mạnh mẽ, khiến cho NHTW chẳng những không tích lũy được dự trữ ngoại hối, mà cũng không chủ động được nguồn cung ứng tiền tệ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh. Các đơn vị này khi có nhu cầu ngoại tệ lại đi mua ngoại tệ trôi nổi trên thị thị trường không tổ chức bằng lượng tiền đồng trong nước mà hậu quả cuối cùng là số lượng tiền nội địa lớn luân chuyển ngoài hệ thống Ngân hàng: một yếu tố làm tăng áp lực vay tiền Ngân hàng để bổ sung nguồn vốn lưu động và NHTM lại thiếu tiền. Từ đó áp lực trên nhu cầu phát hành tiền sẽ gia tăng. Thị trường hối đoái có tổ chức hoàn hảo hay không còn tùy thuộc vào chính sách hối đói (đáp ứng chính sách kinh tế mở cửa tới mức độ nào...) 2.3 Chính cách ngoại hối Tập hợp tất cả những quy chế, chính sách, điều kiện, yêu cầu về quản lý ngoại hối. Trên cơ sở đó mà đảm bảo cho mọi công cụ liên quan đến ngoại hối hoạt động có hiệu quả. Đối với Việt Nam, nguyên tắc là áp dụng chính sách ngoại hối có quản lý chặt. Theo đó, tất cả các tổ chức, các cá nhân có ngoại tệ đều phải bán cho ngân hàng được phép kinh doanh ngoại hối, khi có nhu cầu thì mua ngoại tệ tại ngân hàng. Các tổ chức thì có thể mua ngoại tệ tại thị trường hối đoái trong nước. Nhưng trong thực tế, các tổ chức cá nhân lại có thể mua bán ngoại tệ trôi nổi ngoài những nơi chỉ định trên, mặc dầu bị cấm đoán. Chính vì vậy một lượng lớn ngoại tệ đang lưu hành bên ngoài hệ thống ngân hàng. Lại nữa, chúng ta đang tổ chức thị trường mua bán ngoại tệ với tỷ giá dựa trên cơ sở cung cầu thị trường, đồng thời vẫn duy trì một cơ chế tiền gởi bằng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng để rồi nhận lấy hết những rủi ro không đáng có. Có một nghịch lý là: Trong khi chúng ta đang khuyến khích thu hút ngoại tệ vào trong nước để đầu tư phát triển kinh tế, nhưng với cơ chế và cách làm của ta, chúng ta phải đem ngoại tệ ra gởi ở nước ngoài, vô tình đã làm lợi cho những nước có ngoại tệ đó ! Tóm lại, một chính sách ngoại hối độc quyền, quá cứng nhắc sẽ không tránh khỏi những căng thẳng như trên. Đó là điểm cần lưu ý khi thiết lập một thị trường hối đoái có tổ chức với những quy định sao cho uyển chuyển thích hợp với tình hình thực tế trong nước mà không cản trở sản xuất kinh doanh. 2.4 Tỷ giá hối đoái (hối suất) Tỷ giá hối đoái là đòn bẩy điều tiết cung cầu ngoại tệ, cũng là đòn bẩy kinh tế tác động mạnh đến các hoạt động sản suất kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu trong nước. Việc hình thành tỷ giá hối đoái phải theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước trong một giai đoạn nhất định tùy theo điều kiện, đặc điểm của từng thời kỳ. Một tỷ giá hối đoái quá thấp (tức đồng bản tệ có giá trị tăng lên so với ngoại tệ) có tác dụng khuyến khích nhập khẩu, gây bất lợi cho xuất khẩu vì hàng xuất khẩu tương đối đắt, khó bán ra nước ngoài, tức là gây trở ngại cho ngành sản xuất trong nước hướng về xuất khẩu, bất lợi cho việc chuyển dịch ngoại tệ từ nước ngoài vào trong nước, khối lượng dự trữ ngoại hối sẽ bị xói mòn. Ngược lại, một tỷ giá hối đoái cao sẽ có tác động bất lợi cho nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu vì làm cho hàng nhập khẩu đắt hơn, hàng xuất khẩu rẻ hơn, dể cạnh tranh trên thịo trường quốc tế, dể tìm được thị trường hơn. Do đó, những ngành sản xuất có nguyên liệu nhập khẩu hay thay thể hàng nhập khẩu gặp trở ngại trong khi ngành sản xuất hàng cho thị trường nước ngoài thuận lợi hơn, lượng ngoại tệ có khuynh hướng chuyển vào trong nước khá hơn, khối dự trử ngoại tệ có cơ hội gia tăng. Trong các trường hợp trên, NHTW can thiệp để giữ cho tỷ giá hối đoái không thăng trầm quá đáng, làm dịu bớt những tình trạng bất ổn định của nền kinh tế trong nước. NHTW can thiệp trên thị trường hối đoái bằng cách tham gia mua hay bán ngoại tệ để duy trì tỷ giá hối đoái biến đổi trong một biên vực không quá lớn, nhờ đó chế ngự bớt tác động đối với nền kinh tế trong nước. Khi giá ngoại tệ lên cao, NHTW đưa ngoại tệ ra bán để làm chậm bớt nhịp tăng giá ngoại tệ. Dĩ nhiên, chỉ làm được điều đó khi dự trữ ngoại còn ở mức độ tương đối khả quan. Ngược lại, khi giá ngoại tệ xuống quá thấp, NHTW dùng tiền trong nước mua ngoại tệ vào để duy trì một biên vực biến đổi ít tác động mạnh đối với sinh hoạt kinh tế trong nước nhất là để tái tạo khối dự trữ ngoại tệ đã bị thiếu hụt. PHẦN 2. CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM A . TÌNH HÌNH VẬN HÀNH CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM HIỆN NAY MỤC TIÊU CHIẾN LƯỢC Mục tiêu chiến lược theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX là : “Thực thi Chính sách tiền tệ góp phần ổn định kinh tế vi mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy sản suất tiêu dùng, kích thích đầu tư phát triển. Sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ như tỷ giá, lãi suất, nghiệp vụ thị trường mở... theo nguyên tắc thị trường. Nâng dần và tiến tới thực hiện đầy đủ tính chuyển đổi của đông Việt Nam... hình thành môi trường minh bạch, lành mạnh và bình đẳng cho hoạt động của hệ thống Ngân hàng... “ II. CÁC CÔNG CỤ ĐIỀU HÀNH CSTT HIỆN NAY Mục điïch của Chính sách tiền tệ là điều tiết lượng tiền trong lưu thông, sự điều tiết này thể hiện qua hai hướng: mở rộng và thắc chặc tiền tệ. Việc điều tiết lượng cung tiền như thế nào để cho nền kinh tế phát triển một cách nhịp nhàng luôn là vấn đề nan giải của các quốc gia, thiếu hay thừa tiền luôn có tác dụng tiêu cực của nó. Tuy nhiên, trong thực tế điều hành CSTT tùy vào từng thời kỳ phát triển kinh tế, tùy vào hoàn cảnh cụ thể của Kinh tế - xã hội mà sử dụng CSTT thắt chặt hay mở rộng tiền tệ. Đây cũng là vấn đề nhạy cảm đối với các nhà điều hành CSTT. Để làm được điều này, NHTW phải sử dụng hàng loạt các công cụ như: dự trữ bắt buộc, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở. Ơ í nước ta trong thời gian qua, NHNN đã thể hiện vai trò của mình trong việc thực thi CSTT, được thể hiện thông qua việc sử dụng các công cụ như sau: 1. Công cụ lãi suất Lãi suất là một công cụ quan trọng đặc biệt trong tay NHNN để hạch định và điều hành Chính sách tiền tệ. Lãi suất là vấn đề hết sức nhạy cảm trong nền kinh tế, nó tác động đến mọi khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, tích luỹ tiêu dùng, tiết kiệm và đầu tư... Kinh nghiệm quốc tế và thực tiển nước ta trong nhiều năm đổi mới cho thấy vai trò quan trọng của cơ chế điều hành lãi suất đối với mục tiêu ổn định và phát triển thị trường tài chính tiền tệ, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế. Thật vậy, cùng với tiến trình đổi mới, điều hành CSTT, việc điều hành lãi suất của NHNN đã không ngừng hoàn thiện. Từ việc NHNN bắt đầu chuyển sang thực hiện chính sách lãi suất thực dương từ chế độ lãi suất âm năm 1992, từng bước xoá bỏ bao cấp qua lãi suất, đánh dấu bước khởi đầu cho thực hiện mục tiêu tự do hóa lãi suất. Từ cơ chế trần lãi suất thực hiện từ năm 1996, NHNN đã chuyển sang điều hành theo lãi suất cơ bản năm 2000, thực hiện tự do hóa lãi suất cho vay ngoại tệ từ tháng 6/2001 và thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng (TCTD) với khách hàng từ tháng 6/2002. Điểm khác biệt và nội dung đổi mới chủ yếu của cơ chế điều hành lãi suất cơ bản khác với các cơ chế lãi suất trước đó kể cả cơ chế lãi suất trần gần đây được coi là có nhiều tính ưu việc hơn, đó là việc xác định một mức lãi suất dựa vào quan hệ cung cầu vốn tín dụng trên thị trường, thông qua việc tính toán bình quân các mức lãi suất huy động và cho vay của một số NHTM được chọn làm đại diện, đồng thời có tham khảo cân nhắc thêm lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất thị trường mở, lãi suất đấu thầu trái phiếu kho bạc và một số chỉ tiêu mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số lạm phát, tỷ giá...mức lãi suất này được công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng thực hiện cho vay. Rõ ràng là nếu như các cơ chế lãi suất trước đó chủ yếu được điều hành theo ý thức chủ quan áp đặt hành chính thì với cơ chế lãi suất này đã thực hiện một bước đổi mới cơ bản là NHNN đã điều hành lãi suất theo tín hiệu thị trường chú trọng đến cung cầu vốn tín dụng và mục tiêu của Chính sách tiền tệ. Điều đáng ghi nhận là quá trình đổi mới điều hành lãi suất đã được NHNN thực hiện theo hướng tiến tới mục tiêu tự do hóa với những bước đi thận trọng phù hợp với xu hướng phát triển của Thị trường tiền tệ, khả năng kiểm soát tiền tệ của NHNN và mức độ hội nhập của kinh tế Việt Nam vào Thị trường tài chính khu vực và thế giới. Việc thực hiện cơ chế lãi suất thỏa thuận giữa TCTD va khách hàng đã tạo điều kiện cho các quan hệ tín dụng, lãi suất phát triển, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh giữa các TCTD. Vấn đề nổi bật trong cả năm 2002 là lãi suất diễn biến trái chiều nhau, trong khi lãi suất ngoại tệ giảm xuống thì lãi suất nội tệ tăng lên. Trước yêu cầu khách quan của thực tiễn, từ ngày 1/6/2002 NHNN quyết định chuyển sang cơ chế lãi suất thoả thuận Đồng Việt Nam của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Theo đó các tổ chức tín dụng được chủ động thoả thuận lãi suất đối với khách hàng trên cơ sở cung cầu vốn, lãi suất cơ bản do NHNN công bố chỉ có tính chất tham khảo. Tuy nhiên NHNN vẫn tiếp tục điều hành và thực hiện lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đối với các tổ chức tín dụng. Nếu như lãi suất huy động vốn cao nhất của các tổ chức tín dụng trong các tháng đầu năm 2002 chỉ dừng ở mức 0,6% /tháng, lãi suất cho vay bình quân 0,7% /tháng thì từ tháng 6 và đặc biệt từ tháng 8/2002 và 9/2002 đã tăng lên cao. Lãi suất huy độngvốn cao nhất của nhiều NHTM lên tới 0,7% thậm chí 0,72%, cao nhất trong vòng 3 năm gần qua. Ngay cả Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam và Ngân Hàng Công Thương Việt Nam luôn có thế mạnh về huy động vốn, có lãi suất tiền gửi thấp, thường xuyên bán buôn vốn và chi phối trên thị trường tiền tệ nhưng từ tháng 8 và 9/2002 tung ra chiến dịch huy động vốn bằng các kỳ phiếu và trái phiếu lên tới 8% - 8,2%/năm. Tình hình đó đã thực sự cho thấy sự sôi động của thị trường vốn. Điều này trước hết do nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng lên, tiếp theo là do sự phát triển của thị trường bất động sản và cuối cùng là do nhiều tổ chức phi ngân hàng tham gia cạnh tranh tích cực trên thị trường vốn như hoạt động của Trung tâm giao dịch Chứng khoán tại Thành Phố Hồ Chí Minh, các Công ty bảo hiểm, Quỹ đầu tư, Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính, Công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện... làm cho các NHTM không còn độc quyền trên thị trường vốn như trước đây nữa. Như vậy, qua gần 20 năm đổi mới, cơ chế lãi suất của NHNN đã được hoạch định theo hướng tích cực nới lỏng, từng bước hướng tới tự do hoá, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội trong nước, mức độ hội nhập của nền kinh tế nước ta với thị trường tài chính khu vực và thế giới. Cơ chế điều hành lãi suất ngày càng trở nên linh hoạt hơn, bám theo cung cầu vốn thị trường, dần dần mở rộng quyền chủ động xác định lãi suất kinh doanh cho các tổ chức tài chính để tăng khả năng cạnh tranh nhưng vẫn đảm bảo sự kiểm soát và điều hành của NHNN đối với lãi suất trên thị trường tiền tệ. 2. Công cụ tỷ giá hối đoái Với hiệp định thương mại Việt Mỹ và những nội dung trong cam kết AFTA lĩnh vực ngân hàng Việt Nam đang từng bước xoá bỏ những khác biệt trong trong chính sách giữa các NHVN và ngân hàng nước ngoài. Vì vậy chính sách ngoại hối, tỷ giá, Việt Nam cũng cần phải có những bước thay đổi phù hợp. Để thực hiện mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức ổn định 7-9%/năm, Việt Nam cần có những chính sách kinh tế nói chung và những chính sách tỷ giá nói riêng hợp lý, ổn định tạo môi trường thuận lợi nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài góp phần quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, duy trì tỷ giá hối đoái phù hợp với quan hệ cung cầu trên thị trường đồng thời không ngừng nâng cao uy tín của Đồng Việt Nam nhằm từng bước làm cho Đồng Việt Nam trở thành đồng tiền tự do chuyển đổi, góp phần ngăn chặn tình trạng đô la hoá trong nền kinh tế, tỷ giá hối đoái cần được điều hành một cách linh hoạt, phù hợp với cung cầu ngoại tệ nhằm khuyến khích xuất khẩu, kiểm soát nhập khẩu, tăng dự trữ ngoại tệ cho đất nước, không để xảy ra những biến động lớn gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế xã hội. Cơ chế điều hành TGHĐ hiện nay là không ấn định một cách cứng nhắc bằng mệnh lệnh hành chính, chênh lệch nhiều với tỷ giá thực tế giao dịch trên thị trường mà là tỷ giá thực tế hình thành khách quan trên thị trường có tổ chức và thị trường tự do. Thay thế việc quản lý mang tính hành chính của NHNN bằng một cơ chế mềm dẻo hơn, ít mang tính áp đặt hơn, dựa vào công cụ kinh tế là chính nhưng không buông lỏng, thả nổi tỷ giá một cách tuỳ tiện. Cụ thể: Lấy tỷ giá thực tế bình quân trên thị trường liên ngân hàng làm căn cứ xác định giá mua bán ngoại tệ giữa ngân hàng với ngân hàng, giữa ngân hàng với doanh nghiệp và dân cư. Các NHTM xác định giá mua bán cụ thể trong phạm vi nhất định so với giá thực tế giao dịch bình quân thị trường liên ngân hàng của ngày gần nhất. Trước đó (hiện nay là +/- 0,25%) và vì vậy đã hạn chế thấp nhất những tác động của việc kích giá tăng đột biến, gây ảnh hưởng xấu về Kinh tế - xã hội. So với cơ chế trước đây thì cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay là một bước chuyển đổi khá căn bản về phương thức điều hành. Cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay là sự chuyển đổi từ cơ chế tỷ giá cố định do NHNN quy định và chỉ được điều chỉnh trong những tình huống hết sức cấp thiết sang một cơ chế tỷ giá linh hoạt hơn, phản ứng nhạy bén hơn với cung cầu thị trường nhưng vẫn được quản lý khá chặt chẽ. Cơ chế điều hành tỷ giá hiện nay đã làm cho thị trường ngoại tệ của Việt Nam sôi động lên với doanh số giao dịch cao trên cả thị trường liên ngân hàng và thị trường ngoại tệ nói chung. Lượng ngoại tệ giao dịch trên thị trường đã tăng lên đáng kể, mức cung ngoại tệ dồi dào và đáp ứng được các nhu cầu về ngoại tệ của nền kinh tế. Tỷ giá trên thị trường tự do cũng luôn bám sát tỷ giá của thị trường chính thức. Lòng tin đối với Đồng Việt Nam đã được nâng cao. Thị trường ngoại tệ trong nước đã được ổn định và chính mối tương quan giữa cung cầu ngoại tệ đã thực sự quyết định mức tỷ giá tạo nên tính ổn định của thị trường. Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái hiện nay là một bước tiến tích cực góp phần quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội, đồng thời nó là một tất yếu khách quan trong quá trình đổi mới đất nước. Tuy nhiên thị trường ngoại hối Việt Nam vẫn còn những điểm chưa được: thị trường ngoại hối Việt Nam chưa thực sự phát triển, các giao dịch hối đoái chủ yếu vẫn là giao ngay đơn thuần, khối lượng giao dịch ngoại tệ chưa cao, tình trạng đầu cơ găm giữ ngoại tệ còn khá phổ biến. Việc đánh giá cung cầu ngoại tệ rất khó khăn trong khi khả năng can thiệp và phối hợp các công cụ chính sách còn nhiều hạn chế. Hệ thống thanh toán chưa phát triển, hiện tượng sử dụng đô la trong thanh toán còn phổ biến dẫn tới những ảnh hưởng khó lường đối với tỷ giá hối đoái. Khối lượng ngoại tệ trôi nổi ngoài hệ thống ngân hàng chưa được kiểm soát còn rất lớn. Bên cạnh đó các hệ thống văn bản hướng dẫn còn chồng chéo gây khó khăn trong việc cân đối cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế để làm cơ sở hoạch định chính sách tỷ giá. Tóm lại môi trường để ổn định tỷ giá hối đoái ở Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, để ổn định thì cần có những giải pháp cụ thể. 3. Công cụ dự trữ bắt buộc Là công cụ hổ trợ, công cụ gián tiếp được chính thức thực hiện năm 1992. Kể từ thời điểm đó đến nay, công cụ dự trữ bắt buộc đã không ngừng được đổi mới và hoàn thiện. Ban đầu theo quy định của Thống đốc NHNN năm 1992 tiền dự trữ bắt buộc được duy trì tại một tài khoản riêng với tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% trên toàn bộ tiền gởi ở các TCTD. Theo đó, vai trò của công cụ dự trữ bắt buộc là để bảo đảm khả năng thanh toán và kiển soát cung ứng tiền tệ nhưng lại hạn chế NHNN dự báo nhu cầu tăng giảm dự trữ của các NHTM và vốn của các NHTM không được sử dụng một cách linh hoạt. Chính vì vậy, để khắc phục các hạn chế trên, năm 1995 công cụ dự trữ bắt buộc đã được đổi mới với một số quy định chủ yếu như: tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán được thống nhất vào một tài khoản, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 10% áp dụng cho các loại tiền gửi dưới 1 năm và trong cơ cấu trên dự trữ bắt buộc có 70% phải gửi tại NHNN và các TCTD phải thường xuyên duy trì đầy đủ số tiền dự trữ bắt buộc phải gửi tại NHNN (duy trì hằng ngày). Với những đổi mới này NHNN có thể dự báo nhu cầu dự trữ của các TCTD thông qua theo dõi mức dự trữ vượt. Tuy nhiên, việc khống chế theo ngày cộng với sự phát triển của thị trường tiền tệ còn ở mức độ thấp khiến cho công cụ này trở nên cứng nhắc, các TCTD luôn để vượt hạn chế khả năng sử dụng vốn hiệu quả của các TCTD. Bước đổi mới đáng kể nêu trên gắn liền với sự ra đời của hai luật ngân hàng. Từ năm 1999, công cụ dự trữ bắt buộc bắt đầu được áp dụng mở rộng. Với cách tính dự trữ bắt buộc mới, các TCTD có thể điều hành vốn linh hoạt hơn trước đây. Đồng thời NHNN có thể dự đoán được nhu cầu dự trữ của các NHTM, tăng khả năng kiểm soát tiền tệ của NHNN. Thêm vào đó, năm 1999, tỷ lệ dự trữ bắt buộc đã được điều chỉnh ngày càng linh hoạt phù hợp với mục tiêu CSTT trong từng thời kỳ. Nếu so sánh các lần tăng giãm tỷ lệ dự trữ bắt buộc với các mức lạm phát và lãi suất qua các năm ta sẽ thấy, thời kỳ có lạm phát cao hay lãi suất cao cũng là lúc tỷ lệ DTBB được quy định ở mức cao. Điều này cho thấy đã có sự phối hợp vân dụng công cụ tỷ lệ DTBB với các công cụ khác của CSTT trong điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Điều này rất dể thấy trong diển biến của tỷ lệ DTBB trong năm 1999, đây là năm mà Chính phủ mở rộng tiền tệ để kích cầu, lãi suất trần được điều chỉnh giảm 4 lần thì tỷ lệ DTBB cũng giảm 3 lần. Đến năm 2000, việc điều chỉnh tăng tỷ lệ DTBB đối với tiền gửi bằng ngoại tệ đã có tác dụng hạn chế dòng chuyển đổi từ đồng VND sang đồng USD, khắc phục tình trạng khan hiếm VND của các TCTD, hạn chế phần nào hiện tượng đô la hóa trong tài sản của hệ thống ngân hàng, góp phần thực hiện mục tiêu CSTT. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gởi nội tệ vẫn được giử nguyên ở mức thấp nhất trong hơn hai năm qua, 2% đối với NHNN0 & PTNT VN và 3% với các TCTD đô thị khác. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với tiền gửi ngoại tệ được điều chỉnh giảm từ 12% xuống còn 8% thực hiện từ tháng 4 - 2002. Tiếp đến, trước diển biến FED cắt giảm 05%/năm lãi suất chủ đạo đối với USD, NHNN cũng quyết định giảm tỷ lệ DTBB tiền gửi USD xuống còn 5% thực hiện từ tháng 12/2002. 4. Công cụ tái chiết khấu, tái cấp vốn Lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu là công cụ khá nhạy cảm trong quá trình điều hành khối lượng tiền tệ và đã được Nhà nước cho phép sử dụng tại điều 41, 43 pháp lệnh NHNNVN nay là điều 17 luật NHNNVN. Tuy nhiên, thực tế nước ta do chưa có các công cụ truyền thống trực tiếp để thực hiện việc chiết khấu và tái chiết khấu. Do đó việc chiết khấu đang được thực hiện dựa trwn các chứng từ do NHTM đã cho vay nhưng chưa đến hạn các doanh nghiệp phải trả nợ. Căn cứ vào các chứng từ đó, NHNN cho các NHTM vay lại những khoản nợ mà NHTM đã cho các doanh nghiệp vay. Bên cạnh phương pháp tái chiết khấu này NHNN còn thực hiện phương thức mua lại các dự án đã được ngân hànNHTG thẩm định trước khi đầu tư nhưng không đủ nguồn vốn. Cũng do chưa có những công cụ nghiệp vụ để thực hiện công cụ lãi suất tái chiết khấu nên NHNNVN đã sử dụng hình thức cho vay cầm cố. Hình thức này được thực hiện bằng cách các NHTM, các TCTD đem một số loại giấy tờ có giá trị đến NHNN làm vật thế chấp để vay tiền. Loại tín dụng này nhằm giải quyết khó khăn rài chính tạm thời cho các NHTM. Trong giai đoạn trước 3/1997, NHNN quy định lãi suất tái cấp vốn theo lãi suất cho vay trên từng khế ước xin tái cấp vốn, chính vì vậy mà lãi suất tái cấp vốn mang tính bị động, lãi suất tái cấp vốn có sự phân biệt giữa các ngân hàng. Kể từ 3/1997, cùng với việ hoàn thiện cơ chế lãi suất, lãi suất tái cấp vốn đã được xác định một cách độc lạp, tái cấp vốn đã thực sự trở thành công cụ tiền tệ được NHNN quan tâm trong việc điều tiết cung ứng tiền. Cứ mỗi lần thay đổi lãi suất trần thì lập tức NHNN cũng điều chỉnh lãi suất tái cấp vốn một cách tương ứng. Từ đầu năm đến cuối tháng 7/2000 nhằm khuyến khích các TCTD mở rộng tín dụng, NHNN đã hai lần giảm lãi suất tái cấp vốn từ 0,5 xuống 0,4% / tháng, đồng thời NHNN cũng giảm lãi suất tái chiết khấu hai lần từ 0,45 xuống còn 0,35% / tháng nhằm tạo tín hiệu cho các TCTD tăng lãi suất huy động. Ngày 02/11/2000 NHNN đã tăng lãi suất tái cấp vốn lêm 0,5% / tháng và tăng lãi suất tái chiết khấu lên 0,45%/ tháng. Để hổ trợ cho các công cụ khác và thực hiên việc nới lỏng CSTT đồng thời hạn chế xu hướng bất lợi, tháng 5/2001, NHNN đã điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu. Mặt khác, NHNN đã thay đổi cơ chế tái cấp vốn dưới hình thức cho vay có bảo đảm bằng cầm cố tiïn phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác nhằm cung ứng thêm vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho các NHTM, thay cho việc thế chấp chứng từ, thế chấp hồ sơ tín dụng và cho vay chỉ định trước đây. Song trong thực tế mới chỉ có NHTM quốc doanh được vay còn các NHTM cổ phần và cho nhánh Ngân hàng nước ngoài vẩn đứng ngoài cuộc. Như vậy, trong những năm 1999, năm 2000 và đầu năm 2001, lãi suất tái cấp vốn liên tục được điều chỉnh nhằm thực hiện chính sách mở rộng tiền tệ phục vụ cho mục đích kích cầu nền kinh tế. Lãi suất tái chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn đã được NHNN áp dụng phù hợp với diễn biến trên thị trường tiền tệ, có tác dụng tốt trong điều hòa cung cầu vốn trên thị trường. Nhìn chung đứng trên giác độ lãi suất có thể thấy tiền tệ vốn ở nước ta trong năm 2002 đã sôi động hẳn lên. Điều đó trước hết là do nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng lên, tiếp theo là do sự phát triển của thị trường bất động sản và cuối cùng là co nhiều tổ chức phi ngân hàng tham gia cạnh trnah tích cực trên thị trường vốn. Những hạn chế của công cụ lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu ở nước ta là tất yếu trong thời kỳ đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Chiết khấu và tái chiết khấu là hoạt động tín dụng gián tiếp của Ngân hàng nhằm điều khiển khối lượng tiền phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế sau khi có hoạt động tín dụng trực tiếp tức là sau hành vi Tín dụng Thương mại giữa các doanh nghiệp. Việc chiết khấu và tái chiết khấu theo phương thức sử dụng công cụ : kỳ phiếu, tín phiếu... vẫn mang dáng dấp kiểu tín dụng trực tiếp. Yêu cầu việc tái chiết khấu là cần có khoảng cách thời gian và không gian với cho vay trực tiếp để tạo ra “sóng bằng phẳng” làm giảm sự “mấp mô” của giá cả. Mặt khác, trên thực tế thời gian qua việc mua lại các dự án và cho vay cầm cố thực hiên rất ít vì những công cụ thực hiện vẫn chưa đáp ứng và chưa thích hợp. 5. Công cụ nghiệp vụ thị trường mở Trong quá trình áp dụng công cụ tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc thì sau một quá trình chuẩn bị, ngày 12/7/2000 NHNN đã chính thức khai trương nghiệp vụ thị trường mở. Đây là một bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới điều hành chính sách tiền tệ theo hướng từ sử dụng công cụ trực tiếp sang công cụ gián tiếp, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu hướng phát triển kinh tế của đất nước. Trên cơ sở dự báo vốn khả dụng của các NHTM, NHNN đã chủ động điều hành thị trường mở để thu tiền về hoặc bơm tiền ra lưu thông trên cơ sở cung cầu vốn của thị trường, trong đó chủ yếu là chào mua nhằm tạo điều kiện cho các TCTD có thể mở rộng đầu tư tín dụng. Tuy chỉ mới hoạt động được có ba năm nhưng công cụ nghiệp vụ thị trường mở đã tỏ ra có hiệu quả trong việc điều hành Chính sách tiền tệ, chất lượng đã nâng lên rõ rệt. Việc dự báo vốn khả dụng của NHNN ngày càng sát với nhu cầu mua và bán của thị trường. Đến đầu năm 2002, có 21 TCTD tham gia thị trường trong đó có 4 NHTM nhà nước, 10 NHTM cổ phần, 1 ngân hàng liên doanh, 4 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 công ty tài chính và Quỹ tín dụng trung ương. Từ 7/2000 đến đầu tháng 12/2001, NHNN đã tổ chức được 64 phiên đấu thầu nghiệp vụ thị trường mở, với tổng doanh số giao dịch là 5.636 tỷ đồng, trong đó có 24 phiên thực hiện đấu thầu lãi suất, 40 phiên đấu thầu khối lượng. Trong năm 2000, NHNN tổ chức giao dịch 10 ngày 1 phiên từ năm 2001 tổ chức giao dịch mỗi tuần 1 phiên, tạo điều kiện cho các TCTD chủ động thường xuyên tiếp cận với thị trường khi có nhu cầu. Thời hạn thanh toán và giao nhận các giấy tờ có giá ngắn hạn giữa các TCTD trước đây là 2 ngày từ cuối năm 2001 rút xuống 1 ngày. Tổng khối lượng giấy tờ có giá NHNN đã mua lại trị giá 4.466 tỷ đồng NHNN bán ra 1.170 tỷ đồng. Lãi suất hình thành trên thị trường mở bám sát lãi suất thị trường. Lãi suất trong năm 2001 dao động trong khoảng từ 4,9%-5,3%/năm. Đặc biệt với việc NHNN thông qua thị trường mở cung ứng hơn 5000 tỷ đồng cho các TCTD đã góp phần thực hiện chủ trương kích cầu của chính phủ. Trong năm 2002, bằng cách tiếp tục duy trì 2 phương thức giao dịch là mua có kỳ hạn và bán hẳn, NHNN đã tổ chức được 85 phiên thị trường thị trường mở, gấp 1,3 lần số phiên của hai năm trước đó với tổng khối lượng giao dịch 9.145 tỷ đồng, bằng 232,48% so với năm 2001. Thông qua đó NHNN cung ứng thêm vốn cho nền kinh tế, hoặc rút bớt tiền từ lưu thông về tạo điều kiện cho các NHTM tham gia có hiệu quả thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc. Cụ thể: Thông qua 57 phiên giao dịch theo phương thức mua có kỳ hạn, NHNN đã cung ứng 7.245,53 tỷ đồng vốn cho các NHTM. Thông qua 28 phiên giao dịch theo phương thức bán hẳn, NHNN đã thu hút về 1.900 tỷ đồng vốn. Lãi suất trúng thầu trên thị trường mở trong năm 2002 bình quân khi mua vào là 4,9%/ năm, tăng 0,09% so với năm 2001, lãi suất trúng thầu bán ra là 4,7%/năm, giảm 0,54% so với năm trước. Tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay của các NHTM đối với các doanh nghiệp và khách hàng. Trong năm qua do tình hình vốn khả dụng của các TCTD rất thiếu nên từ tháng 5-2002 NHNN đưa vào giao dịch 2 phiên thị trường mở mỗi tuần. Việc dự báo vốn khả dụng đã có sự tiến bộ, thường là cùng chiều với vốn khả dụng trên thị trường. Trong các phiên giao dịch NHNN đã áp dụng tất cả các nghiệp vụ đấu thầu như: đấu thầu khối lượng, đấu thầu lãi suất. Trong đấu thầu lãi suất NHNN đã áp dụng cả 2 phương thức xét thầu lãi suất thống nhất và lãi suất đơn lẻ. Đồng thời áp dụng cả 2 hình thức thông báo và không thông báo khối lượng trước các phiên giao dịch. Mục tiêu ổn định lãi suất thị trường mở tác động đến lãi suất của các TCTD đã được thực hiện trong năm 2002. Thông qua việc cung ứng và thu hút vốn tại thị trường này, do đó trong thời điểm khan hiếm vốn tiền Đồng Việt Nam tại các TCTD nhưng lãi suất trên thị trường biến động không lớn. Đồng thời tính cạnh tranh trên thị trường tăng hơn trước do các thành viên đang có những chuyển biến tích cực trong việc đánh giá, nhận định thị trường. Mặc dù có những thành công nhất định của thị trường mở trong hơn hai năm qua, nhưng đến nay việc tổ chức và điều hành thị trường vẫn còn một số tồn tại. Số luợng thành viên tham gia thị trường mở vẫn còn ít, chỉ chiếm dưới 1/3 tổng số TCTD ở Việt Nam. Thực tế thị trường chưa sôi động, mỗi phiên giao dịch mới chỉ có từ 1-5 thành viên tham gia. Các thành viên tham gia chủ yếu vẫn chỉ có 4 NHTM Nhà Nước. Hàng hoá trên thị trường còn nghèo nàn, cũng mới chỉ có 2 loại tín phiếu NHNN và tín phiếu kho bạc nhà nước. Những giấy tờ có giá này chỉ tập trung vào TCTD có quy mô lớn nên đã hạn chế tác dụng của công cụ này. Các NHTM cổ phần và chi nhánh ngân hàng nước ngoài hầu như vẫn đứng ngoài quan sát tham gia thị trường chưa nhiều. Việc chỉ đạo lãi suất đấu thầu và khối lượng giao dịch trong các phiên giao dịch chưa linh hoạt. Tốc độ tăng trưởng cung ứng vốn tại Nghiệp vụ thị trường mở thấp hơn so với nghiệp vụ cho vay có bảo đảm bằng giấy tờ có giá. Vấn đề được đặt ra hiện nay là NHNN cần xem xét bổ sung và đa dạng hoá các công cụ tài chính giao dịch trên thị trường mở. Củng cố và thúc đẩy các mảng thị trường khác phát triển để làm cơ sở cho nghiệp vụ thị trường mở. Từng bước cơ cấu lại các TCTD để các tổ chức này có đủ khả năng cạnh tranh và thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng trên thị trường tiền tệ hiện đại. Đồng thời từng bước nâng cao chất lượng của việc thu thập và dự báo thông tin về vốn khả dụng của hệ thống các TCTD để làm cơ sở đưa ra các quyết định chính xác trên thị trường mở. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VÀ ĐIỀU HÀNH CÁC CÔNG CỤ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA NHNN VIỆT NAM I. ĐÁNH GIÁ CHUNG Qua những phân tích trên, chúng ta thấy chính sách kinh tế nói chung, chính sách tiền tệ nói riêng trong thời gian qua đã thực hiện được những mục tiêu đó là: ổn định đồng tiền, kiền chế lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, tạo nền tảng tài chính ổn định. Mức cung tiền cho nền kinh tế hằng năm không còn theo ý muốn chủ quan mà dựa trên tốc độ tăng trưởng và lạm phát dự kiến, đồng thời NHNN đã được quyền chủ động bơm và rút tiền khởi lưu thông trên cơ sở chỉ tiêu Nhà nước đã được duyệt, loại bỏ tình trạng thiếu tiền mặt có tính chất thời điểm trong nền kinh tế. Cụ thể, năm 2002, nền kinh tế đã tăng trưởng mức 7,04%, lạm phát 4%, đồng tiền VND ổn định, tỷ giá chỉ tăng có 2%, thấp nhất trong nhiều năm qua... Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được việc điều hành Chính sách tiền tệ còn bộc lộ một số mặt chưa hoàn hảo và bất cập làm ảnh hưởng đến mục tiêu điều hành Chính sách tiền tệ như : Mối quan hệ giữa các loại lãi suất của NHNN như lãi suất chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở chưa thật sự chặt chẽ, quan hệ và tác động hiệu ứng của các loại lãi suất này đến lãi suất thị trường còn hạn chế; việc theo dõi nắm bắt thông tin về thị trường của NHNN, công tác thống kê tạo lập cơ sở dữ liệu... còn chậm. Thị trường ngoại hối Việt Nam chưa thực sự phát triển, các giao dịch hối đoái chủ yếu vẫn là giao dịch ngay (spot) đơn thuần, khối lượng giao dịch ngoại tệ chưa cao, tình trạng đầu cơ, găm giữ ngoại tệ còn khá phổ biến, việc đánh giá tình hình cung cầu ngoại tệ rất khó khăn... trong khi đó hệ thống văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, gây khó khăn cho việc cân đối cung cầu ngoại tệ của nền kinh tế làm cơ sở hoạch định chính sách tỷ giá. Mặt khác, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam tuy đã được cải thiện nhưng vẫn rất thấp, khả năng tự vệ yếu... Đối với hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở, là một hoạt động hoàn toàn mới nên một số TCTD còn bỡ ngỡ khi tham gia. NVTTM lại ra đời trong điều kiện nền kinh tế còn trong trình độ phát triển thấp, chưa ổn định, nhiều rủi ro. Số lượng thành viên tham gia ít, chủ yếu là các NHTM quốc doanh. Hàng hóa còn nghèo nàn, không đa dạng về chủng loại và thời hạn, đội nhủ cán bộ nghiệp vụ ít, không chuyên sâu; từ đó ảnh hưởng lớn đến công tác dự đoán, ra quyết định... Xuất phát từ thực tế trên, để việc điều hành thực thi Chính sách tiền tệ có hiệu quả hơn trong những năm tới, NHNN cần phải có những biện pháp hoàn thiện dần các công cụ Chính sách tiền tệ của mình cho phù hợp thực tế đất nước cũng như xu hướng quốc tế. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP 1. Xây dựng lãi suất chủ đạo của NHNN Sự thay đổi căn bản trong điều hành lãi suất thông qua việc thực hiện cơ chế lãi suất thoả thuận giữa TCTD và khách hàng đặt ra yêu cầu đối với NHNN phải tiếp tục có giải pháp đổi mới mạnh mẽ về cơ chế điều hành lãi suất. Để khắc phục những bất cập hiện nay trong điều hành lãi suất, vấn đề quan trọng là NHNN cần tập trung nghiên cứu, sắp xếp lại các loại lãi suất của NHNN để đảm bảo mối quan hệ chặt chẽ giữa các loại lãi suất của NHNN với nhau và với lãi suất thị trường, nghiên cứu lựa chọn lãi suất định hướng của NHNN cho phù hợp. Ø Lãi suất chiết khấu sẽ có vai trò lớn trong việc phát tín hiệu thắt chặt hoặc nới lỏng tiền tệ. Đi liền với phương án từng bước hình thành lãi suất chiết khấu là lãi suất sàn trên thị trường, lãi suất tái cấp vốn có thể xem xét điều chỉnh theo hướng cùng với lãi suất cho vay qua đêm của NHNN trở thành trần lãi suất trên Thị trường liên ngân hàng. Mục đích sử dụng các công cụ này là: đối với các ngân hàng sau khi đã sử dụng các biện pháp huy động vốn, vay thị trường liên ngân hàng, vay trong các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở mà vẫn thiếu hụt vốn thì sẽ tiếp cận kênh tái cấp vốn hoặc vay qua đêm của NHNN. Vì vậy lãi suất tái cấp vốn hoặc lãi suất cho vay qua đêm của NHNN cần được xác định ở mức cao hơn lãi suất thị trường để trở thành lãi suất trần trên thị trường liên ngân hàng. Thời hạn cho vay tái cấp vốn thường là ngắn hạn nhằm giúp cho các ngân hàng khắc phục khó khăn về thiếu hụt vốn khả dụng tạm thời, đáp ứng nhu cầu khả năng thanh toán. Ø Đối với lãi suất nghiệp vụ thị trường mở: việc xác định lãi suất thị trường mở sẽ được thực hiện linh hoạt theo các nguyên tắt thị trường và định hướng điều hành chính sách tiền tệ của NHNN. Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở sẽ nằm ở khoảng giữa mức lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn và gần tương đương với lãi suất cùng kỳ hạn trên thị trường liên ngân hàng. Để hình thành lãi suất thị trường mở theo phương án trên, nghiệp vụ thị trường mở cần được xây dựng theo hướng trở thành công cụ chủ yếu trong điều hành Chính sách tiền tệ. Ø Để lãi suất thị trường đi vào thực tế ở Việt Nam, phát huy tác dụng tích cực của nó, cần đẩy mạnh công cuộc đổi mới kinh tế, đảm bảo kinh tế tăng trưởng bền vững. Về phái Ngân hàng việc nhận thức cải cách cơ chế lãi suất gắn liền với cải cách ngân hàng và cải cách doanh nghiệp trong nước mà cụ thể là cãi cách quan hệ tín dụng theo thị trưòng, sẽ là cơ chế để có những giả pháp tổng thể và lộ trình phù hợp đẻ tiến tới một cơ chế lãi suất thị trường đầy đủ. Do đó việc đẩy mạnh cải cách NHNN, cải cách NHTM cùng với cải cách doanh nghiệp trong nuớc cần được đẩy mạnh hơn nữa. 2. Giải pháp điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam Để có những định hướng đúng đắn trong công tác quản lý, việc điều chỉnh và xây dựng một chính sách tỷ giá hối đoái thực sự tự chủ, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta và xu hướng quốc tế hoá trong giai đoạn tới đòi hỏi phải có những giải pháp: v Cần theo dõi phân tích diễn biến thị trường tài chính quốc tế một cách liên tục có hệ thống : Với bài học kinh nghiệm của các nước trong khu vực trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ những năm 1997 -1998 thì việc nghiên cứu đánh giá đúng vị trí vai trò xu hướng phát triển dài hạn cũng như ngắn hạn của các đồng tiền chủ chốt có ý nghĩa hết sức quan trọng.điều này có ý nghĩa trực tiếp đến việc lựa chọn đồng tiền làm phương tiện thanh toán trong các hợp đồng thương mại, tín dụng, phương án kế hoạch thanh toán nợ và việc lựa chọn đồng tiền dự trữ. Việc điều chỉnh cơ cấu dự trữ cho phù hợp sẽ hạn chế được rủi ro do biến động tỷ giá. Để có những cơ sở vững chắc cho đánh giá, dự báo sự vận động của các đồng tiền chủ chốt đòi hỏi không chỉ theo dõi biến động trên thị trường mà quan trọng hơn là phân tích đánh giá đúng thực trạng, xu hướng phát triển kinh tế của các nước đó hiện tại và cả trong tương lai. v Các cơ chế quản lý ngoại hối cần được hoàn thiện hơn : Cơ chế quản lý ngoại hối phải thực hiện được hai mục tiêu của chính phủ đã đề ra:" tiến tới trên lãnh thổ Việt Nam chỉ tiêu tiền Việt Nam, đồng thời nới lỏng kiểm soát đối với các giao dịch vãng lai để từng bước biến đồng tiền Việt Nam thành đồng tiền chuyển đổi " để góp phần chống hiện tượng đô la hoá, hạn chế tối đa phạm vi sử dụng của đồng ngoại tệ nhằm thu hút các nguồn vốn ngoại tệ vào hệ thống ngân hàng. Trên cơ sở đó nhà nước có thể kiểm soát một cách có hiệu quả các luồng chu chuyển ngoại tệ, thu hút ngoại tệ làm tăng nguồn dự trữ, ổn định tỷ giá, thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ quốc gia. Chẳng hạn: Ngăn chặn hiện tượng buôn bán ngoại tệ bất hợp pháp, chảy máu ngoại tệ; ban hành các quy chế mới về kinh doanh hối đoái, cho phép các NHTM và các doanh nghiệp xuất khẩu được linh hoạt lựa chọn các công cụ giao dịch hối đoái mới để giúp cho doanh nghiệp tránh đuợc rủi ro khi tỷ giá biến động, chủ động trong kinh doanh. 3. Giải pháp trong thực hiện công cụ dự trữ bắt buộc Dự trữ bắt buộc hiện nay được áp dụng có tính chất cào bằng cho tất cả các loại tiền gửi không kỳ hạn và có thời hạn dưới 12 tháng, trong khi đó rủi ro về khả năng thanh toán thường chỉ rơi vào tiền gửi không kỳ hạn. Chính vì vậy NHNN cần linh hoạt hơn trong việc quy định loại tiền gửi cần phải dự trữ bắt buộc. Chẳng hạn như nếu muốn mở rộng M1 thì có thể quy định chỉ có tiền gửi không kỳ hạn mới dự trữ bắt buộc hoặc DTBB đôid với các khoản tiền gửi dưới 3 tháng, 6 tháng... chứ không nhất thiết muốn mở rộng tiền gửi là phải giảm dự trữ bắt buộc. Ngoài ra, việc thực hiện công cụ DTBB có hiệu quả theo mục tiêu đề ra cần phải có sự kiểm tra thường xuyên chặt chẽ việc chấp hành DTBB và sử phạt nghiêm khắc những vi phạm. 4. Giải pháp nâng cao hiệu qua hoạt động Nghiệp vụ thị trường mở Để từng bước ổn định và đưa vào hoạt động nghiệp vụ thị trường mở thành công cụ chủ đạo trong việc thực hiện mục tiêu của Chính sách tiền tệ thì cần phải có những giải pháp: Ø NHNN sớm trình quốc hội về việc sửa luật NHNN theo hướng cho phép các chứng khoán dài hạn (thời hạn 1 năm trở lên ) được giao dịch tại TTM. Ø Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình cơ cấu lại tổ chức, hoạt động của các NHTM nhằm nâng cao năng lực tài chính, tín nhiệm trong việc thực hiện các Nghiệp vụ ngân hàng, đáp ứng nhu cầu đổi mới của nền kinh tế thị trường. Ø Thúc đẩy hoạt động của các thị trường như : thị trường tiền tệ liên ngân hàng, thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc và thị trường mua bán các giấy tờ có giá giữa tổ chức tín dụng với khách hàng nhằm tạo động lực thúc đẩy hoạt động thị trường mở ngày càng phát triển. v Đối với các tổ chức tín dụng : Ø Mở rộng các lại hình kinh doanh, dịch vụ như đấu thầu tín phiếu, trái phiếu Chính phủ trên TT sơ cấp, tạo hàng hoá cho các giao dịch với NHNN. Ø Hoàn chỉnh các quy định về thị trường mua bán tín phiếu giữa TCTD với khách hàng và đưa thị trường này vào hoạt động nhằm sử dụng linh hoạt và hiệu quả nguồn vốn kinh doanh. Ø Quan tâm và tạo điều kiện trong việc đào tạo cán bộ, nâng cao trình độ nghiệp vụ để có đủ khả năng dự báo vốn khả dụng của đơn vị và phân tích để đưa ra các quyết định chính xác cho từng giao dịch tại nghiệp vụ thị trường mở. Bên cạnh đó, cần trang bị cũng như bổ sung cơ sở vật chất kỹ thuật, bảo đảm đầy đủ điều kiện giao dịch thị trường mở thuận lợi chính xác. Ø Các tổ chức tín dụng cần mở rộng hơn nữa các loại hình kinh doanh ngoài cho vay truyền thống như: đấu thầu vào tín phiếu, trái phiếu trên thị trường sơ cấp để tạo thêm hàng hoá giao dịch với NHNN. Đồng thời các TCTD cần chú trọng đến công tác đào tạo đội ngũ cán bộ nghiệp vụ thị trường mở, tăng cường trang bị các loại máy móc hiện đại để giúp cho các giao dịch nghiệp vụ thị trường mở được diễn ra một cách nhanh chóng, linh hoạt, an toàn và điều quan trọng hơn tất cả là đem lại hiệu quả như mong muốn. v Đối với NHNN Ø Rà soát và hoàn chỉnh các cơ chế, quy chế làm cơ sở pháp lý cho hoạt động thị trường nói chung và thị trường mở nói riêng cho phù hợp với diễn biến kinh tế, chính trị, xã hội trong từng thời kỳ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các TCTD tham gia. Ø Trên cơ sở duy trì các giấy tờ có giá như tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHN là "hàng hoá" cho các phiên giao dịch tại nghiệp vụ thị trường mở, từng bước mở rộng và đa dạng hoá các loại hàng hoá khác như: tín phiếu, kỳ phiếu của các NHTM nhà nước. Ø Từng bước nâng cao chất lượng dự báo, điều hành thị trường trên cơ sở nâng cao chất lượng dự báo, cải tiến hình thức cung cấp thông tin trong và ngoài ngành. Điều hành các công cụ khác của Chính sách tiền tệ để hoạt động NVTTM thể hiện tính nổi trội hơn hẳn về mặt hiệu quả kinh tế trên thị trường. Ø Phát triển thị trường trái phiếu chính phủ, thị trường tiền tệ, các thị trường tài chính khác, hoàn thiện hơn nữa khuôn khổ pháp lý của thị trường, tăng số thành viên tham gia thị trường. v Một số giải pháp khác Ø Cần tổ chức tuyên truyền tập huấn chi tiết, đi vào từng nghiệp vụ cụ thể để từ đó giúp các thành viên thấy rõ được vai trò, tác dụng và sự linh hoạt của nghiệp vụ thị trường mở trong việc điều hành chính sách tiền tệ của NHNN, cũng như hiệu quả đạt được của TCTD trong việc điều hành vốn của mình. Ø Cần nâng cao chất lượng dự báo, điều hành theo thị trường trên cơ sở nâng cao dự báo, cải tiến chế độ thông tin giữa các Bộ, Nghành, Vụ, Cục của NHNN liên quan đến nghiệp vụ thị trường mở. 5. Phối hợp các Công cụ gián tiếp của Chính sách tiền tệ trong quản lý Vốn khả dụng của các TCTD Vốn khả dụng (VKD) là số tiền gửi của các TCTD (bao gồm tiền gửi DTBB, tiền gửi thanh toán và các loại tiền gửi khác) tại NHNN. Trong nội dung quản lý Nhà nước về tiền tệ, NHNN có trách nhiệm quản lý VKD của các TCTD. Các TCTD phải duy trì một tỷ lệ dự trữ nhất định để đảm bảo hoạt động bình thường của mình, phục vụ nhu cầu thanh toán phát sinh trong ngày và những ngày tiếp theo. Việc xác định chính xác lượng dự trữ cần thiết là hết sức quan trọng đối với các TCTD. Nếu dự trữ quá cao, kinh doanh kém hiệu quả, nếu dự trữ quá thấp thì sẽ không đảm bảo được khả năng thanh toán của các TCTD, hiệu quả kinh doanh cũng sẽ không cao. Trong chức năng quản lý VKD của các TCTD, NHNN kiểm soát thông qua các công cụ Chính sách tiền tệ, chủ yếu là công cụ gián tiếp như Nghiệp vụ Thị Trường Mở, Tái cấp vốn và DTBB để tác động vào khả năng thanh toán của các TCTD nhằm đạt mục tiêu của Chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. DTBB là số tiền mà các tổ chức tín dụng phải duy trì trên tài khoản tiền gửi không kỳ hạn tại NHNN để thực hiện các Chính sách tiền tệ quốc gia. Công cụ này có tính chất thể chế nên dễ phát huy tác động một cách nhanh chóng, rộng khắp đến nhu cầu VKD của các TCTD. TCV là hình thức cấp tín dụng có bảo đảm của NHNN đối với từng TCTD riêng lẻ nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và các phương tiện thanh toán cho các TCTD. Qua TCV, NHNN tác động đến VKD của từng TCTD riêng lẻ và điều tiết khối lượng TCV qua việc điều chỉnh lãi suất chiết khấu. Công cụ gián tiếp có tính linh hoạt hiệu quả và có vai trò quan trọng nhất trong việc thực thi CSTT là NVTTM nhờ có những ưu điểm vượt trội như có thể điều chỉnh VKD ở các quy mô và thời hạn khác nhau một cách linh hoạt tuỳ theo khối lượng và thời hạn quyết định mua bán; nhờ vào khả năng có thể tác động 2 chiều 'bơm, hút” nên thông qua công cụ NVTTM, NHNN điều tiết linh hoạt VKD của các TCTD cũng như có thể đảo ngược những quyết định sai lầm, điều chỉnh những biến động không dự đoán trước hoặc quá mức dự báo có ảnh hưởng đến dự trữ của các TCTD thông qua các giao dịch có kỳ hạn, thực hiện chính xác nhanh chóng, không gây chậm trễ về mặt hành chính, không mang tính áp đặt. Nghiệp vụ TTM sẽ phát huy vai trò chủ yếu giúp NHNN trong việc quản lý VKD của các TCTD và điều hành CSTT kết hợp với việc vận dụng linh hoạt các công cụ TCV và DTBB nhằm góp phần hạn chế các biến động ngắn hạn về lãi suất trên thị trường, tác động đến nhu cầu VKD của các TCTD và ở một mức độ nhất định cũng tác động đến cung cầu hàng hoá trên TTM. Chính sự linh hoạt của nghiệp vụ TTM nên góp phần khắc phục hạn chế của công cụ TCV. Công cụ TCV thực hiện hiệu quả khi NHNN kiểm soát được nhu cầu VKD của các TCTD thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Ngược lại, công cụ TCV cũng có vai trò quan trọng trong việc tác động đến VKD của các TCTD góp phần hổ trợ nghiệp vụ TTM hoạt động hiệu quả, chính xác, khắc phục những hạn chế của nghiệp vụ thị trường mở khi đáp ứng không đầy đủ đúng mức nhu cầu VKD của các TCTD qua các phiên giao dịch. Khi đó những TCTD này có thể phải đến xin vay TCV tại NHNN hoặc đi vay trên thị trường liên ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng còn thiếu. Và một khi NHTM còn chưa phát triển đến mức hoàn thiện như ở nước ta, hàng hoá cho các phiên giao dịch còn hạn chế về số lượng và chủng loại thì việc một số TCTD có tiềm lực hạn chế, không đủ sức cạnh tranh trong các phiên đấu thầu trên nghiệp vụ thị trường mở cả trên thị trường sơ cấp lẫn thứ cấp, do đó không thể đáp ứng nhu cầu vốn khả dụng qua nghiệp vụ thị trường mở là chuyện bình thường thì đi vay TCV tại NHNN là giải pháp khả dĩ giúp họ có thể giải quyết nhu cầu VKD của mình. Bên cạnh đó TCV là các giấy tờ có giá nên ở một chừng mực nào đó có thể xem đây là nguồn cung ứng hàng hoá của NHNN để giao dịch trên thị trường mở. Như vậy chúng ta không thể hạn chế một cách cứng nhắc, duy ý chí đối với công cụ TCV để khuyến khích NVTTM phát triển mà điều cần thiết phải có sự linh động, trong việc vận dụng các công cụ gián tiếp này. Hay nói cách khác, NHNN cần phải linh hoạt trong việc thực hiện NVTTM như tăng cường hiệu quả của công tác dự báo nhu cầu vốn khả dụng của từng TCTD cũng như của cả hệ thống các TCTD, phân tích đánh giá những diễn biến của thị trường nhằm xác định chính xác hiệu quả khối lượng, chủng loại hàng hoa,ï cách thức giao dịch thích hợp đồng thời có sự điều chỉnh lãi suất chiết khấu hợp lý, nhằm khuyến khích hay hạn chế các TCTD đi vay TCV theo những mục tiêu NHNN đặt ra. DTBB là công cụ gián tiếp mang tính thể chế, tác động làm tăng hoặc giảm nhu cầu VKD của các TCTD, dẫn đến nhu cầu mua hay bán giấy tờ có giá của các TCTD với NHNN qua NVTTM. Hiện nay ở nước ta áp dụng DTBB duy trì theo nguyên tắc bình quân trong kỳ mà không khống chế theo ngày nên ở một mức độ nhất định cũng có tác động ổn định cung cầu vốn liên ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến nhu cầu vay TCV và mua bán giấy tờ có giá trên TTM. Và ngược lại qua kết quả giao dịch trên TTM và khối lượng TCV sẽ là cơ sở đánh giá hiệu quả tác động của công cụ DTBB. Hiện nay, ngoài dự trữ sơ cấp bằng tiền mặt gửi tại NHNN, các TCTD còn có dự trữ thứ cấp bằng các giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao, song do nhiều yếu tố nên lượng dự trữ thứ cấp này còn hạn chế so với dự trữ sơ cấp. Để thực hiện tinh thần khuyến khích các TCTD quản lý vốn khả dụng một cách chủ động, hiệu quả thì từ phía NHNN cần có sự nới lỏng trong quy định về DTBB như cho phép các TCTD được duy trì một phần DTBB bằng các giấy tờ có giá có uy tín và tính thanh khoản cao. Như vậy sẽ góp phần giảm tính thể chế, áp đặt của công cụ DTBB, từng bước đổi mới phương thức quản lý của NHNN trong việc điều hoà VKD của các TCTD và điều hành CSTT theo hướng tạo điều kiện cho các TCTD được chủ động trong hoạch định kinh doanh và quản lý VKD, cân đối lượng tiền mặt và giấy tờ có giá phục vụ cho các nhu cầu thanh toán, kinh doanh một cách có hiệu quả tránh lãng phí do dự trữ thưa tiền mặt hay thiệt hại do thiếu tiền mặt. Đồng thời với việc NHNN cho TCTD duy trì một phần DTBB bằng giấy tờ có giá sẽ có tác động tăng cầu giấy tờ có giá trên thị trường mơ ívà ở một chừng mực nào đó cũng tạo thêm nguồn cung cấp giấy tờ có giá cho NHNN trong việc thực hiện nghiệp vụ TTM, do đó sẽ có tác động làm cho thị trường mở nói riêng và thị trường tiền tệ nói chung năng động hơn. Trên cơ sở đó chúng ta cần phát huy tác dụng tổng hợp của cả ba công cụ gián tiếp này một cách đồng bộ, hợp lý, tuỳ vào tình hình và mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ của NHNN trong mỗi thời kỳ. Trong đó nghiệp vụ thị trường mở luôn là công cụ linh hoạt, quan trọng có vai trò then chốt giúp NHNN có thể linh động điều tiết VKD của hệ thống các TCTD, mở rộng tầm ảnh hưởng trên thị trường tiền tệ thông qua việc gia tăng khối lượng giao dich mỗi phiên, số phiên giao dịch trong tuần, khối lượng hàng hoá ... bên cạnh đó chúng ta cần duy trì tác động của hai công cụ DTBB và TCV nhằm đảm bảo tính an toàn cho hoạt động của cả hệ thống và góp phần đáp ứng nhu cầu VKD của những TCTD không đủ khả năng cạnh tranh, không đáp ứng đủ nhu cầu VKD qua các giao dịch trên thị trường mở. Vì vậy, giải quyết tốt vấn đề này sẽ có ý nghĩa quan trọng thúc đẩy thị trường tiền tệ vận động một cách năng động hiệu quả hơn, từ đó NHNN sẽ gia tăng quản lý, kiểm soát tình hình diễn biến thị trường, phát huy tầm ảnh hưởng sâu rộng đến các lĩnh vực trong nền kinh tế. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiền và hoạt động Ngân hàng - NXB Chính trị Quốc gia Các nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại - Chủ biên : GS - TS Lê Văn Tư Chính sách tiền tệ và sự điều tiết vĩ mô của NHTW ở các nước Tư bản phát triển - NXB Chính trị Quốc gia Hệ thống công cụ Chính sách tiền tệ quốc gia trong nền kinh tế thị trường - Nguyễn Võ Ngoạn Tạp chí Ngân hàng các số 5–2002, 9–2002, 10–2002,12–2002, xuân 2003, 4–2003, 7–2003, 8–2003. Thị trường Tài chính Tiền tệ các số 5–2002, 6–2002, 8–2002, 9–2002, 13–2002, 14–2002, 15–2002, 17–2002, 18–2002, 22–2002, 23–2002, xuân 2003, 9–2003, 10–2003. Các Website : Lời kết ! T rong hơn 10 năm qua, cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế và đổi mới hệ thống Ngân hàng Việt nam, cơ chế điều hành Chính sách tiền tệ của NHNN đã không ngừng đổi mới, góp phần đáng kể trong việc ổn định tiền tệ, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân cũng như ổn định hệ thống ngân hàng. Trong điều kiện Thị trường tiền tệ còn kém phát triển, để kiểm soát và điều tiết tiền tệ, NHNN đã lựa chọn sử dụng các công trực tiếp, từng bước kết hợp với các công cụ gián tiếp. Đặc biệt, bên cạnh việc sử dụng các công cụ CSTT theo thông lệ các nước như dự trữ bắt buộc, tái cấp vốn... lãi suất và tỷ giá đã được sử dụng khá hiệu quả, góp phần đắt lực trong việc thực hiện các mục tiêu Chính sách tiền tệ. Cùng với sự phát triển đi lên của nền kinh tế, Chính sách tiền tệ càng trở nên quan trọng đối với hoạt động của NHTW, vì vậy vấn đề nâng cao vai trò của NHTW trong việc xây dựng và thực thi CSTT có ý nghĩa quan trọng để góp phần đổi mới, hoàn thiện điều hành CSTT của NHTW trong thời gian tới... Đề án được hoàn thành với sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn. Tuy nhiên, do kiến thức về lý luận cũng như khả năng tìm hiểu còn hạn chế nên đề án không thể tránh khỏi sự thiếu sót, rất mong sự góp ý, phê bình của các Thầy cô, các bạn để những chuyên đề lần sau được hoàn chỉnh hơn. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, chỉ bảo của giáo viên hướng dẫn, ThS. TRỊNH THỊ TRINH đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong suốt thời gian hoàn thành đề án môn học này. Đà Nẵng, ngày 05 tháng 08 năm 2003 Sinh viên thực hiện Nguyễn Thế Anh NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docChính sách tiền tệ và phương thức vận hành các công cụ chính sách tiền tệ của ngân hàng nhà nước việt nam hiện nay.doc
Luận văn liên quan