Đề tài Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng BIDV chi nhánh Quang Trung

Không ai có thể phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt nam nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng trong những năm vừa qua. Những kết quả đạt được đáng kể như: kiềm chế lạm phát,duy trì giá trị đồng tiền Việt nam, ổn định tỷ giá hối đoái, tăng cường cán cân trong thanh toán quốc tế và thanh toán trong nước, giả quyết sự thiếu hụt giá trị đồng bản tệ được coi là những bước tiên phong trong chiến lược quản lý các kế hoạch, chính sách nhằm mở rộng cơ chế thị trường và khai thác các tiềm năng kinh tế nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế hơn nữa. Song bên cạnh những thành tựu đó thì hệ thống ngân hàng còn có nhiều khó khăn và mục tiêu chưa làm được như: còn chưa đồng bộ tương xứng với tầm phát triển của kinh tế thị trường ở Việt nam,cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài rất khó khăn, nguồn huy động còn hạn chế do tỷ lệ tiết kiệm chưa cao,cho vay các thành phần kinh tế chưa thực sự có an toàn trên toàn bộ hệ thống các doanh nghiệp.

doc50 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 06/01/2014 | Lượt xem: 2900 | Lượt tải: 35download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng BIDV chi nhánh Quang Trung, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
từ các nguồn của khách hàng (theo chế độ báo cáo định kỳ, các dự án sản xuất kinh doanh), từ các cơ quan chuyên thông tin tín dụng trong và ngoài nước, từ các bộ, các ngành chủ quản... Số lượng và chất lượng thông tin thu nhận được có liên quan đến việc cho vay, theo dõi và quản lý tài khoản cho vay. Thông tin tín dụng có thể thu được từ các nguồn sẵn có ở Ngân hàng ( hồ sơ xin vay, thông tin giữa các tổ chức tín dụng, phân tích của cán bộ tín dụng ...); từ khách hàng (theo chế độ báo cáo định kỳ hoặc phản ánh trực tiếp); từ các cơ quan chuyên về thông tin tín dụng ở trong và ngoài nước; từ các nguồn thông tin khác. Số lượng, chất lượng của thông tin thu nhận được có liên quan đến mức độ chính xác trong việc phân tích, nhận định tình hình thị trường, khách hàng... để đưa ra những quyết định phù hợp. Vì vậy, thông tin càng đầy đủ, nhanh nhậy, chính xác và toàn diện thì khả năng phòng ngừa rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngày càng lớn, chất lượng tín dụng ngày càng cao. + Kiểm soát nội bộ: Đây là biện pháp giúp cho ban lãnh đạo Ngân hàng có được các thông tin về tình trạng kinh doanh nhằm duy trì có hiệu quả các hoạt động kinh doanh đang xúc tiến, phù hợp với các chính sách, đáp ứng các mục tiêu đã định. + Trang thiết bị phục vụ cho hoạt động tín dụng. Để có thể quản lý và theo dõi có hiệu quả hoạt động tín dụng, song song với việc nâng cao chất lượng công tác hoạch định chính sách, công tác tổ chức quản lý Ngân hàng, công tác nhân sự, quản lý quá tình cho vay, công tác thông tin, kiểm soát nội bộ, cần chú ý tới các phương tiện cần thiết phục vụ cho quá trình quản lý hoạt động tín dụng. Trang bị đầy đủ trang thiết bị tiên tiến phù hợp với khả năng tài chính và phạm vi, quy mô hoạt động của ngân hàng sẽ giúp cho Ngân hàng: +Phục vụ kịp thời yêu cầu của khách hàng về tất cả các mặt dịch vụ phục vụ (nhận tiền gửi, cho vay, thu nợ...) với chi phí mà cả hai bên cùng chấp nhận được. + Giúp cho các cấp quản lý của ngân hàng thương mại kịp thời nắm bắt tình hình hoạt động tín dụng để điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với tình hình thực tế nhằm thoả mãn ngày càng cao yêu cầu của khách hàng. Như vậy, trang thiết bị cũng là một trong các nhân tố không thể thiếu được để không ngừng cải thiện chất lượng tín dụng. Trên đây là một số nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng và biết vận dụng sáng tạo sự ảnh hưởng của các nhân tố này trong hoàn cảnh thức tế sẽ tạo điều kiện cho sự thành công của toàn hệ thống ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Quang Trung 2.1. Khái quát về ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Quang Trung: Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Quang Trung: Chi nhánh Quang Trung được hình thành và bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 04/2005 trên cơ sở nâng cấp Phòng Giao dịch Quang Trung - Sở giao dịch 1, nhằm khai thác triệt để thế mạnh của một đơn vị BIDV trên địa bàn trú đóng của Sở giao dịch trước đây. Địa chỉ trụ sở chính tại 53 Quang Trung Hà Nội. Tài sản ban đầu khi mới thành lập là nguồn huy động vốn 1.300 tỷ và nguồn nhân lực 65 cán bộ được điều động từ Hội sở chính và Sở giao dịch. Xác định phương hướng phát triển theo mô hình của một ngân hàng hiện đại, là đơn vị cung cấp các dịch vụ ngân hàng bán lẻ và phục vụ đối tượng khách hàng khu vực dân doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp đang trong lộ trình cổ phần hoá, Chi nhánh Quang Trung đã nỗ lực không ngừng trong việc tiếp cận và tìm kiếm khách hàng, tích cực thực hiện công tác phát triển nguồn nhân lực, mở rộng và phát triển mạng lưới, nghiên cứu các sản phẩm dịch vụ mới... nhằm nâng cao khả năng hoạt động của chi nhánh và đáp ứng tối đa các nhu cầu của các đối tượng khách hàng thuộc khối bán lẻ. Sau 21 tháng kể từ ngày thành lập, cuối năm 2006, chi nhánh Quang Trung đã đạt được số dư huy động vốn 3.742 tỷ tăng gần gấp 3 lần, dư nợ cho vay gần 1.000 tỷ tăng hơn 3 lần, Thu dịch vụ trong 21 tháng đạt gần 8 tỷ đồng. Số cán bộ tại chi nhánh đạt 142 với mô hình tổ chức ngày càng được hoàn thiện: gồm 14 phòng và 1 tổ nghiệp vụ. Đặc biệt, chi nhánh Quang Trung là chi nhánh đầu tiên đã có mô hình tổ Marketing chuyên trách, tổ chứng khoán và Ban phát triển mạng lưới bán chuyên trách phục vụ cho những nhiệm vụ đặc thù của đơn vị. Với những nỗ lực của tập thể cán bộ chi nhánh, trong hai năm 2005, 2006, chi nhánh Quang Trung liên tục đạt danh hiệu đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cùng với những thành công ban đầu trong hoạt động kinh doanh, các công tác chính trị, đoàn thể thường xuyên được coi trọng và hoạt động có hiệu quả. Chi bộ Đảng được kiện toàn về tổ chức, hoạt động theo đúng điều lệ, phát triển được 7 đảng viên mới, số đảng viên của chi bộ hiện đã lên tới 24, cùng với 8 cảm tình đảng đang tiếp tục theo dõi, bồi dưỡng và chuẩn bị kết nạp. Tổ chức công đoàn thực hiện tốt các nhiệm vụ theo điều lệ, đảm bảo tốt quyền lợi và sự phát triển của đoàn viên. Chi đoàn thanh niên tích cực hoạt động phong trào, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần của cán bộ trẻ, tăng cường hiểu biết và góp phần vào thành tích chung trong hoạt động của BIDV khu vực và toàn hệ thống. Nhìn chung, trong thời gian hoạt động chưa lâu, nhưng bộ máy của Chi nhánh và các tổ chức đoàn thể đã dần được phát triển, bổ sung và hoàn thiện, hoạt động có sự phối hợp và mang lại hiệu quả tốt. Tập thể cán bộ người lao động trong chi nhánh có tinh thần gắn kết, thẳng thắn đấu tranh và phê bình trong nội bộ nhằm đạt được tinh thần đoàn kết đích thực, cùng rút kinh nghiệm và xác định tư tưởng phấn đấu chung. Trên tinh thần đó, với những nền tảng ban đầu đã đạt được, trong thời gian tới đây, chi nhánh Quang Trung phấn đấu sẽ đạt được quy mô tài sản trên 5.000 tỷ vào cuối năm 2007, lợi nhuân bình quân sau thuế đạt trên 200tr/người; đủ các điều kiện để trở thành chi nhánh cấp 1 hạng 1 của hệ thống BIDV, đặc biệt sẽ hoàn thành toàn diện và vượt mức theo lộ trình từng quý của kế hoạch 2007, góp phần lành mạnh hoá và nâng cao năng lực hoạt động của BIDV phục vụ tiến trình cổ phần hoá theo chỉ đạo của TW được thành công tốt nhất. + Sơ đồ tổ chức của chi nhánh như sau: P. Giao dịch 1 P. Giao dịch 2 P. Dịch Vụ Khách Hàng P. Thanh Toán Quốc Tế P. Tiền Tệ Kho Quỹ P. Quan Hệ Khách Hàng P. Quản Trị Tín Dụng P. Quản Lí Rủi Ro P. Tổ Chức Hành Chính P. Tài Chính Kế Toán P. Kế Hoạch Tổng Hợp P. Điện Toán Khối các đơn vị trực thuộc Khối dịch vụ Khối tín dụng Khối quản lí nội bộ Phó giám đốc 1 Phó Giám đốc 2 Giám đốc Phó Giám đốc 3 2.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của BIDVchi nhánh Quang Trung: 2.2.1. Tình hình huy động vốn của chi nhánh: Vốn điều lệ của ngân hàng: Đây chính là “chất xúc tác” cho hoạt động ngân hàng vì nó thể hiện quy mô của ngân hàng, độ an toàn trong kinh doanh cũng như khả năng đáp ứng nguồn vốn vay của các doanh nghiệp (các ngân hàng thương mại không được huy động quá 20 lần vốn tự có, không được cho 1 khách hàng vay quá 15% vốn tự có).Trên thực tế hiện nay, với Ngân hàng BIDV chi nhánh Quang Trung thì khả năng huy động vốn tăng lên một cách đáng kể. Cụ thể: Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Thực hiện 2007 Thực hiện 2008 Kế hoạch 2009 Thực hiện 2009 Huy động vốn bình quân 5.100 5.600 6.200 6.323 Huy động vốn cuối kỳ 6.050 6.000 6.500 7.015 Khả năng huy động vốn của ngân hàng tăng lên nhanh chóng trong vòng 3 năm gần đây. Năm 2008 đã tăng 9.8% so với năm 2007 và năm 2009 tăng 12.91% so với năm 2008. Tình hình huy động vốn diễn ra theo chiều hướng khả quan, năm sau tăng hơn năm trước. Ngân hàng cũng đã vạch ra kế hoạch phấn đấu thực hiện trong năm 2010 là: huy động vốn cuối kỳ đạt 7600 tỷ đồng, huy động vốn bình quân đạt 7400 tỷ đồng. 2.2.2. Tình hình sử dụng vốn ở ngân hàng như sau: Trong những năm qua, do tình hình trong nước gặp nhiều khó khăn, môi trường đầu tư không thuận lợi. Cho nên nhiều doanh nghiệp đã không giám đầu tư vào sản xuất kinh doanh, bên cạnh đó lại có sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng nên nhìn chung đối với từng ngân hàng lượng vốn đầu tư cũng bị hạn chế. Trong bối cảnh đó với sự quyết tâm cao, ngân hàng BIDV chi nhánh Quang Trung đã vận dụng kịp thời, linh hoạt các chủ trương, chính sách đúng đắn của nhà nước, của ngành, bám sát từng đơn vị kinh tế và cũng có những giải pháp tích cực nên hoạt động tín dụng của chi nhánh vẫn đạt những kết quả tốt cả về tốc độ tăng trưởng và cả về chất lượng đầu tư. Đơn vị: Tỷ đồng Năm Chỉ tiêu Thực hiện 2007 Thực hiện 2008 Kế hoạch 2009 Thực hiện 2009 Dư nợ tín dụng 1.223 2.295 3.450 3.438 Tỷ lệ cho vay ngoài quốc doanh 58% 60% 65% 70% Tỷ lệ cho vay trung dài hạn 16% 17,5% 17% 18% Tỷ lệ nợ xấu (%) 5% 3% 3,4% 3,3% Tỷ lệ cho vay có tài sản bảo đảm (%) 62% 40% 40% 42% Từ bảng trên ta thấy: Dư nợ năm 2009 tuy không đạt được kế hoạch, nhưng đã tăng đến 49,8% so với năm 2008 (tăng 1.143 tỷ đồng so với năm 2008). Năm 2008 dư nợ cũng tăng 1.87 lần so với năm 2007, điều này chứng tỏ rằng trong 2 năm gần đây thì dư nợ tín dụng của chi nhánh đã tăng lên một cách vượt bậc, quy mô của ngân hàng ngày càng được mở rộng. Bên cạnh đó chúng ta cũng nhậ thấy thấy rằng tỷ lệ nợ xấu cũng đã giảm một cách rõ rệt, trong năm 2007 tỷ lệ nợ xấu là 5%, thì trong năm 2008 và năm 2009 tỷ lệ nợ xấu chỉ còn 3% và 3,3%. Điều này chứng tỏ rằng năng lực của ngân hàng đã được củng cố hoàn toàn. 2.2.3. Kết quả hoạt động dịch vụ: Trong năm 2008 thu dịch vụ ròng đạt 24 tỷ đồng. Tăng trưởng mạnh so với 2006 và 2007, tuy nhiên sau khi nhìn vào thực chất hoạt động và loại trừ các khoản bất thường trong cả 2 năm 2006, 2007 thì tốc độ tăng trưởng dịch vụ 2008 của chi nhánh đạt được khoảng 27%. Bên cạnh thu từ các dịch vụ truyền thống như chuyển tiền, kinh doanh ngoại tệ, tài trợ thương mại, tín dụng… chi nhánh đã đẩy mạnh tiếp thị khách hàng sử dụng dịch vụ mới như tư vấn phát hành trái phiếu, BIDV Directbanking, VnTopup, BSMS… tăng nguồn thu dịch vụ cho chi nhánh. Tuy nhiên, những dịch vụ mới và mang lại doanh thu lớn lại tập trung vào những khoản không thường xuyên và không ổn định tại chi nhánh. Đơn vị: tỷ đồng Chỉ tiêu Thực hiện 2007 Thực hiện 2008 Kế hoạch 2009 Thực hiện 2009 Thu dịch vụ ròng 11,2 24 25 25.37 Thu dịch vụ ròng năm 2009 đạt 25,37 tỷ đồng đạt 101% so với kế hoạch được giao. Như vậy chúng ta thấy rằng kết quả hoạt động về dịch vụ của chi nhánh là tương đối tốt, năm sau luôn đạt kết quả cao hơn năm trước và vượt kế hoạch đã đề ra. Về dịch vụ Thanh toán Quốc tế: Doanh số thanh toán quốc tế tăng trưởng 21.79% so với năm 2008, phí dịch vụ thanh toán quốc tế đạt 3,5 tỷ đồng, tăng 110.31% so với cùng kỳ năm trước, đạt 75.8% kế hoạch được giao. Dịch vụ Thanh toán trong nước: Doanh số thanh toán trong nước năm 2008 đạt 1,310,612.00 nghìn USD, tăng trưởng 130% so với năm 2007, phí dịch vụ thanh toán ròng đạt 2,76 tỷ đồng mức tăng trưởng 164.16% so với năm 2007, đạt 147.41% kế hoạch được giao năm 2008. Thu dịch vụ thanh toán trong nước tăng mạnh so với năm 2007 là do BIDV tăng mức phí áp dụng trên địa bàn, và số lượng giao dịch tăng so với năm 2007. Dịch vụ chuyển tiền quốc tế: Tổng doanh số chuyển tiền nước ngoài đi và đến năm 2008 đạt 150,012 nghìn USD, giảm 9.46% so với năm 2007, trong đó, doanh số chuyển tiền đến giảm mạnh, giảm tuyệt đối 43,973 nghìn USD, tương ứng giảm 52.08% so với năm 2007. Doanh số chuyển tiền đi đạt 102,890 nghìn USD, tăng trưởng 95.49% so với năm 2007. Tổng phí chuyển tiền đi và đến giảm 129 triệu đồng. Trong đó, phí chuyển tiền đi đạt 2,2 tỷ đồng tăng 30.33% so với năm 2007, phí chuyển tiền đến đạt 1,58 tỷ đồng, giảm mạnh giảm 44.49% so với năm 2007. Nguyên nhân là do nguồn tiền kiều hối giảm mạnh do những điều khoản thắt chặt đối với chuyển tiền kiều hối. Các doanh nghiệp chuyển thường xuyên với doanh số lớn tại chi nhánh chủ yếu nhập khẩu linh kiện điện tử, điện lạnh, ôtô và linh kiện ôtô… là mặt hàng hạn chế nhập khẩu của Bộ công thương, điều này làm ảnh hưởng lớn đến nguồn phí chuyển tiền nước ngoài của chi nhánh. Dịch vụ bảo lãnh: Năm 2008 tăng đột biến so với năm 2007, phí bảo lãnh tính đến 17/12/2008 đạt 6.900 triệu đồng, tăng 4 lần năm 2007 đạt 218.8% kế hoạch được giao và là hoạt động có tỷ trọng thu phí dịch vụ ròng cao nhất của chi nhánh, chiếm 28.75% tổng phí dịch vụ của toàn chi nhánh. Tuy nhiên, trong năm 2008, nguồn thu phí bảo lãnh tăng mạnh do thu phí bảo lãnh phát hành trái phiếu Vincom (khoản thu phí bất thường). Kinh doanh ngoại tệ: là hoạt động có tỷ trọng tương đối cao, chiếm 17.52% tổng phí của chi nhánh, thu ròng về kinh doanh ngoại tệ đạt 4.200 triệu đồng, đạt tốc độ tăng trưởng 125.35%, đạt 115.95% kế hoạch được giao. Doanh số mua bán ngoại tệ đạt 436,560 nghìn USD, tăng 148.66% so với cùng kỳ năm 2007. Các chỉ tiêu về kinh doanh ngoại tệ tăng mạnh trong năm 2008 là do có nhiều biến động lớn trên thị trường ngoại tệ trên thế giới cũng như trong nước đã đem lại những thuận lợi sau: Trong ba tháng đầu năm, tỷ giá USD trên thị trường liên tục giảm và tỷ lệ mua bán thực tế thấp hơn nhiều so với tỷ giá sàn áp dụng của NHNN là điều kiện thuận lợi cho việc bán USD của chi nhánh, do đó mặc dù doanh số mua bán không cao nhưng thu dịch vụ ròng tăng. Trong ba tháng tiếp theo, tỷ giá Đôla Mỹ với Đồng Việt Nam đã có những biến động bất thường, nhanh và mạnh từ trạng thái dư bán sang dư mua, lượng cầu vượt quá lượng cung khiến tỷ giá tăng vượt trần của NHNN. Tuy vậy, Chính phủ và NHNN đã có những biện pháp mạnh can thiệp để bình ổn tỷ giá thị trường, đồng thời, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển VIệt Nam đã có chỉ dẫn cụ thể trong việc mua bán ngoại tệ từng thời điểm, phù hợp với diễn biến thị trường, tạo điều kiện thuận lợi cho chi nhánh trong lĩnh vực kinh doanh ngoại tệ. 2.3. Thực trạng chất lượng tín dụng tại ngân hàng BIDV chi nhánh Quang Trung. 2.3.1. Các yếu tố định tính. 2.3.1.1. Quy trình tín dụng: Hiện nay chi nhánh đang áp dụng và luôn tuân thủ quy trình tín dụng theo quyết định số 1627 do ngân hàng nhà nước ban hành và đã có văn bản cụ thể hướng dẫn cán bộ tín dụng theo hướng vừa tuân theo quy định tại ngân hàng nhà nước vừa phù hợp với xu hướng kinh doanh của ngân hàng. Ngân hàng BIDV cũng soạn thảo quy trình tín dụng riêng phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của bản thân ngân hàng và đây là điều kiện thuận lợi cho chi nhánh. Theo kết quả kiểm tra giám sát thường xuyên thì chi nhánh luôn tuân thủ tốt quy trình tín dụng. 2.3.1.2. Khả năng cạnh tranh: Hiện nay các ngân hàng khác trên địa bàn đang tăng trưởng mở rộng vốn tự có để tăng cường khả năng cạnh tranh, tăng thế và lực của mình trong tương lai tăng cường khả năng đối phó với các ngân hàng trong và ngoài nước khi mà nước ta bước vào thời kỳ hội nhập. Khả năng cạnh tranh của chi nhánh cũng được tăng lên nhanh chóng thể hiện trên tổng tài sản của ngân hàng năm sau tăng hơn năm trước, ta hãy xem bảng sau: Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009 Tổng tài sản 5.633 6.534 7.325 Tổng tài sản thể hiện quy mô cũng như thể và lực của một ngân hàng trên thị trường tài chính, chính vì thế mà trong những năm gần đây chi nhánh đã không ngừng tìm cách tăng tổng tài sản với đường lối chủ trương đúng đắn phù hợp do đó tổng tài sản đã tăng đã tăng thêm 1.692 tỷ đồng sau 3 năm. Điều này tạo thêm sự thuận lợi và khả năng cạnh tranh cho chi nhánh. 2.3.1.3. Các yếu tố khác: Hiện nay trình độ của cán bộ tín dụng tại ngân hàng BIDV Quang Trung đều ở trình độ cao, chi nhánh không ngừng gia tăng số lượng cán bộ cùng với sự tăng trưởng không ngừng của mình. Số cán bộ tại chi nhánh là 142 người với mô hình tổ chức ngày càng được hoàn thiện: gồm 14 phòng và một tổ nghiệp vụ. Đặc biệt chi nhánh Quang Trung là chi nhánh đầu tiên đã có mô hình tổ marketing chuyên trách, tổ chứng khoán và ban phát triển mạng lưới bán chuyên trách phục vụ cho những nhiệm vụ đặc thù của đơn vị. 2.3.2. Các yếu tố định lượng. Đơn vị: tỷ đồng P. Giao dịch 3 + Về chỉ tiêu nợ quá hạn: Chỉ tiêu 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009 Tổng nợ quá hạn 0 68,85 113,454 Tỷ lệ nợ quá hạn 0% 1% 1,3% Nợ quá hạn của ngân hàng trong năm 2007 là 0% đây quả thực là một kỳ tích mà chi nhánh đạt được. Tỷ lệ nợ quá hạn năm 2008 và năm 2009 tuy đã tăng lên so với năm 2007, tuy nhiên đây vẫn là một tỷ lệ rất thấp. Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn ở các ngân hàng thương mại ở Việt Nam là 3% đến 5%, điều này đã nói lên rằng chất lượng tín dụng tại ngân hàng BIDV chi nhánh Quang Trung là tương đối tốt. + Về tỷ trọng dư nợ có tài sản đảm bảo: Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu 31/12/2007 31/12/2008 31/12/2009 Cho vay có TSĐB 758,26 918 1443,96 Cho vay không có TSĐB 464,74 1377 1994,04 Giá trị TSĐB 1083,23 1311,43 2062,8 Chúng ta nhận thấy rằng tỷ lệ cho vay có tài sản đảm bảo trong năm 2007 là ở mức cao nó chiếm đến 62% tổng dư nợ. Điều này chúng tỏ rằng trong năm 2007 ngân hàng khá là thận trọng trong việc cho vay. Đến năm 2008 tỷ lệ cho vay có tài sản đảm đảm bảo chỉ còn 40%, tức là giảm 20% so với năm 2007. Tuy nhiên đến năm 2009 tỷ lệ này đã tăng lên là 42%, tuy tỷ lệ tăng này so với năm 2008 là không lớn nhưng nó cũng thể hiện rằng chính sách cho vay của ngân hàng ngày càng thận trọng hơn và ngày càng mở rộng cho vay có tài sản đảm bảo. Giá trị tài sản đảm bảo luôn được ngân hàng định giá thường xuyên, là sáu tháng một lần đảm bảo giá trị thực của tài sản tạo sự chính xác hơn cho công tác dự phòng rủi ro tín dụng. Đồng thời có cơ sở yêu cầu khách hàng bổ sung tài sản đảm bảo thiếu cho khoản vay để đảm bảo an toàn hơn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Vì đây là cơ sở để thu hồi vốn khi khách hàng không trả được nợ nên giá trị tài sản đảm bảo càng lớn càng thể hiện sự an toàn trong hoạt động tín dụng. + Về hiệu suất sử dụng vốn: Tổng dư nợ cho vay Hiệu suất sử dụng vốn = Nguồn vốn huy động Hiệu suất sử dụng vốn cho biết tình hình sử dụng nguồn vốn của ngân hàng vào hoạt động tín dụng, một hoạt động kinh doanh mang lại lợi nhuận chủ yếu cho các ngân hàng thương mại ở Việt Nam hiện nay, chỉ số này càng cao càng thể hiện ngân hàng đang tận dụng tốt nguồn vốn vào hoạt động kinh doanh ngân hàng. Nhưng nó lại thể hiện sự thiếu năng động khi không đầu tư vào các tài sản tài chính nhằm phân tán rủi ro cho ngân hàng và cũng để đề phòng rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. Ở các nước phát triển tỷ lệ này là tương đối thấp chỉ vào khoảng 30%. Đơn vị: Tỷ đồng Chỉ tiêu Thực hiện 2007 Thực hiện 2008 Kế hoạch 2009 Thực hiện 2009 Tổng dư nợ cho vay 1.223 2.295 3.450 3.438 Tổng nguồn vốn huy động 5.100 6.000 6.500 7.015 Hiệu suất sử dụng vốn 23,98% 38,25% 53,08% 49% Từ bảng trên ta thấy rằng chi nhánh luôn có nguồn vốn huy động dồi dào đáp ứng nhu cầu kinh doanh của mình. Chúng ta cũng nhận thấy rằng hiệu suất sử dụng vốn của ngân hàng vào hoạt động tín dụng năm 2007 là hơi thấp, điều này chứng tỏ rằng năm 2007 chi nhánh sư dụng vốn vào hoạt động tín dụng là hơi thấp. Đến năm 2008, năm 2009 thì hiệu suất sủ dụng vốn vào hoạt động tín dụng đã cao hơn rất nhiều. Đặc biệt là năm 2009 là 49%, gần đạt 50% đây là mức sử dụng vốn phổ biến ở nước ta hiện nay. Hiệu suất sử dụng vốn vào hoạt động tín dụng trong năm 2008 và năm 2009 tăng lên so với năm 2007 cũng là điều dễ hiểu. Vì trong những năm gần đây nhu cầu vốn của thị trường tăng lên nhanh chóng. Cũng qua bảng trên ta nhận thấy rằng: tốc độ tăng trưởng vốn huy động trong năm 2008 so với năm 2007 và năm 2009 so với năm 2008 lần lượt là 17,65% và 16,92%. Trong khi đó tốc độ tăng của mức cho vay lần lượt là 14,27% và 10,75%. Điều này cho thấy rằng tốc độ tăng của huy động vốn cao hơn tốc độ tăng của mức cho vay. Đây là vấn đề mà chi nhánh cần xem xét vì thu từ cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập. + Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng: Lợi nhuận thuần là một chỉ tiêu quan trọng khi phân tích hiệu quả hoạt động của một ngân hàng. Ở các nước có hoạt động kinh doanh ngân hàng phát triển thì thu từ hoạt động tín dụng chỉ chiếm khoảng 30% trong tổng thu nhập, còn lại là thu hoạt động dịch vụ khác. Điều này ngược lại ở các nước đang phát triển như nước ta, tuy nhiên hiện nay ngân hàng nhà nước đang có chính sách thắt chặt tín dụng để kiềm chế lạm phát nhưng việc các ngân hàng thương mại nước ta có chủ trương tăng cường tìm kiếm thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn là đường lối đúng đắn vì độ sâu tín dụng của nước ta theo các chuyên gia đánh giá là vẫn chưa cao chỉ khoảng 30%. Đơn vị: Tỷ đồng Năm Chỉ tiêu 2007 2008 2009 Lợi nhuận từ hoạt động cho vay 30,9 37,06 74,6 Tổng lợi nhuận trước thuế của ngân hàng 42,12 61,06 100 Từ bảng trên ta thấy thu thu từ hoạt động tín dụng của chi nhánh trong những năm gần đây không ngừng tăng lên năm sau cao hơn năm trước. Tuy thu từ dịch vụ ròng của ngân hàng đã tăng nhanh chóng và đạt mức 25,37 tỷ đồng vào năm 2009 nhưng thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn tăng mạnh. Hoạt động tín dụng luôn giữ vai trò chủ đạo trong các ngân hàng, nên lợi nhuận chủ yếu từ hoạt độngc ho vay đây là biểu hiện tốt thể hiện hiệu quả kinh doanh của ngân hàng năm sau luôn cao hơn năm trước, đồng thời cũng thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng không ngừng được nâng cao. + Vòng quay vốn tín dụng: Công thức tính vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng: Doanh số dư nợ cho vay Vòng quay vốn tín dụng = Dư nợ tín dụng bình quân Vòng quay vốn tín dụng của chi nhánh thể hiện ở bảng sau: Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 209 Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn 1,67 1,69 1,73 Vòng quay vốn tín dụng trung và dài hạn 1,00 1,01 1,03 Vòng quay vốn tín dụng 1,087 1,102 1,154 Vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng không ngừng tăng trong ba năm qua điều này thể hiện chất lượng tín dụng của chi nhánh không ngừng được tăng lên, đây là biểu hiện tốt về chất lượng tín dụng của ngân hàng. Khi mà vòng quay vốn tín dụng tăng ở cả ba khu vực cho vay ngắn hạn và cho vay dài hạn, chứng tỏ công tác thu nợ và quản lý nợ của ngân hàng đã tốt hơn. Tốc độ tăng của vòng quay vốn tín dụng là khá nhanh và vòng quay vốn tín dụng của ngân hàng cao hơn rất nhiều so với chi nhánh khác là biểu hiện tốt. Điều này chứng tỏ rằng chất lượng tín dụng của chi nhánh đã được nâng lên theo từng năm hoạt động. + Chi phí lãi suất bình quân đầu vào của chi nhánh: Chi phí lãi suất bình quân đầu vào thể hiện khả năng thu lợi nhuận của một ngân hàng đến đâu. Các ngân hàng luôn quan tâm đến việc tìm kiếm nguồn vốn có chi phí thấp vì nó quyết định đến lãi suất đầu ra của bản thân ngân hàng đó. Nếu lãi suất đầu ra của ngân hàng quá cao thì sẽ làm giảm lợi nhuận hoặc làm tăng rủi ro tín dụng vì những khách hàng chấp nhận mức lãi suất cao thường là nhóm khách hàng có rủi ro tín dụng cao, nếu không cũng ảnh hưởng đến chi phí đầu vào của khách hàng làm tăng khó khăn cho khách hàng từ đó chất lượng tín dụng của ngân hàng có nguy cơ giảm xuống. Chi phí lãi suất bình quân của chi nhánh trong các năm thể hiện ở bảng dưới đây: Chỉ tiêu Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 %/tháng 0,6% 1,37% 0.84% Chúng ta nhận thấy rằng lãi suất bình quân đầu vào của chi nhánh trong năm 2007 và 2009 là không cao lắm. Điều này thể hiện sự quản lí tốt nguồn vốn và các chi phí khác liên quan đến nguồn vốn. Ở bảng trên chúng ta còn thấy chi phi huy động vốn của năm 2008 là cao hơn hẳn so với năm 2007 và năm 2009, thì điều này là cũng dễ hiểu. Bởi vì năm 2008 là một năm mà cuộc chạy đua về lãi suất của các ngân hàng là rất cao, năm 2008 là năm mà lãi suất của ngân hàng liên tục thiết lập những kỉ lục mới. + Tổng dư nợ: Năm 2007 là 1.223 tỷ đồng, năm 2008 là 2.295 tỷ đồng, năm 2009 là 3.438 tỷ đồng. Qua đây ta thấy được tổng dư nợ tăng một cách mạnh mẽ từ năm 2007 đến năm 2009. Điều này nói lên rằng quy mô tín dụng của ngân hàng ngày càng được mở rộng, đã cho thấy sự phát triển mạnh mẽ về quy mô của ngân hàng. 2.4. Đánh giá những kết quả đạt được tại ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Quang Trung. 2.4.1. Những kết quả đạt được: Là chi nhánh mới thành lập năm 2005 nhưng chi nhánh Quang Trung đã đạt được một số kết quả tăng trưởng trong giai đoạn 2006-2008: Tăng trưởng huy động vốn: 22%/năm. Tăng trưởng dư nợ: 70%/năm. Tỷ lệ nợ xấu: dưới 10% Tăng trưởng LNST/người: 75%/năm Tăng cường tiếp thị khách hàng mới, số lượng khách hàng doanh nghiệp tăng từ 9 khách hàng doanh nghiệp khi thành lập đã mở rộng quan hệ với hơn 200 khách hàng doanh nghiệp. Bên cạnh đó, chi nhánh đã chủ động cơ cấu lại nguồn huy động và sử dụng vốn, đảm bảo cơ cấu tài sản hợp lý; kiểm soát được mọi hoạt động, đảm bảo các giao dịch an toàn, có lãi; hoàn thiện mô hình tổ chức mới; xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, nâng cao hình ảnh của BIDV. Hoạt động quản trị điều hành tại Chi nhánh được thực hiện chặt chẽ, tính tuân thủ được coi trọng hàng đầu, trên cơ sở tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch. Các chỉ đạo điều hành được cụ thể hoá tới từng công việc, từng đơn vị, từng người trên nguyên tắc các vấn đề quan trọng được tiến hành thực hiện công khai kết hợp việc ra quyết định gắn với trách nhiệm của Ban giám đốc và đội ngũ lãnh đạo cấp phòng. Chi nhánh cũng hoàn thiện việc cải tạo cơ sở vật chất và môi trường làm việc của chi nhánh, đảm bảo thu nhập cán bộ, đời sống cán bộ không ngừng được nâng cao nhằm phát huy sức sáng tạo sự gắn bó của người lao động với chi nhánh. Trong năm 2009 cho dù nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng Chi nhánh đã chủ động triển khai kế hoạch kinh doanh ngay từ những ngày đầu năm nhằm giữ vững các mối quan hệ và nền khách hàng, giảm thiểu tác động của cuộc suy thoái toàn cầu, đảm bảo cơ cấu tài sản hợp lý, duy trì số dư huy động vốn luôn cao hơn dư nợ tín dụng và hỗ trợ nguồn vốn cho toàn ngành; kiểm soát được mọi hoạt động, đảm bảo các giao dịch an toàn, có lãi; hoàn thiện mô hình tổ chức mới; xây dựng, đào tạo chuyên môn cho đội ngũ cán bộ, nâng cao hình ảnh của BIDV. Hoạt động quản trị điều hành tại Chi nhánh được thực hiện chặt chẽ, tính tuân thủ được coi trọng hàng đầu, trên cơ sở tập trung, dân chủ, công khai, minh bạch. Các chỉ đạo điều hành được cụ thể hoá tới từng công việc, từng đơn vị, từng người trên nguyên tắc các vấn đề quan trọng được tiến hành thực hiện công khai kết hợp việc ra quyết định gắn với trách nhiệm của Ban giám đốc và đội ngũ lãnh đạo cấp phòng. Chi nhánh cũng hoàn thiện việc cải tạo cơ sở vật chất và môi trường làm việc, thực hiện công tác phát triển mạng lưới; đảm bảo thu nhập cán bộ, đời sống cán bộ không ngừng được nâng cao nhằm phát huy sức sáng tạo sự gắn bó của người lao động với chi nhánh. 2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân. Qua trên thì chúng ta thấy chi nhánh đã đạt những thành tựu rất tốt, nhưng bên cạnh đó chi nhánh vẫn còn tồn tại một số hạn chế như sau: Thứ nhất, về tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu: Nợ quá hạn và nợ xấu của chi nhánh tuy ở tỷ lệ thấp nhưng về số tuyệt đối thì lại tăng dần qua các năm. Tỷ lệ nợ xấu năm 2008 là 3%, trong khi đó năm 2009 lại là 3,3%. Tỷ lệ nợ xấu này là vẫn thấp hơn so với quy định của ngân hàng nhà nước, tuy nhiên nó lại đang có xu hướng tăng. Từ năm 2008 đến năm 2009 đã tăng lên 0,3%. Cho nên ngân hàng cần phải có giải pháp để giảm tỷ lệ nợ quá xấu Thứ hai, về tổng dư nợ: Tổng dư nợ của chi nhánh không ngừng tăng lên năm 2007 là 1223 tỷ đồng nhưng năm 2009 là 3438 tỷ đồng. Trong khi đó thì số lượng cán bộ tín dụng của chi nhánh lại không tăng lên là bao nhiêu dẫn đến khả năng quản lý của cán bộ tín dụng tại chi nhánh tuy có tốt nhưng do phải quản lý và phải theo dõi quá nhiều khoản vay và quá nhiều khách hàng vay, khối lượng công việc mà họ phải thực hiện là quá nhiều nên nhiều khi dẫn đến sai sót. Thứ ba, thông tin tín dụng: Thông tín dụng của chi nhánh thu thập được chưa thực sự tốt, cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin từ nhiều nguồn khác nhau với độ chính xác không cao. Các thông tin mà cán bộ tín dụng sử dụng chỉ có thông tin từ hồ sơ khách hàng trong quá khứ là có độ tin cậy cao, còn lại các thông tin khác như: thông tin do khách hàng cung cấp, các thông tin khác từ việc đi thực tế khách hàng các thông tin này có độ chính xác không cao. Việc thông tin tín dụng chưa thực sự tốt đã tạo ra không ít khó khăn cho chi nhánh và là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cho chi nhánh trong những năm gần đây. Về nguyên nhân: Hạn chế của chi nhánh trong hoạt động tín dụng là do xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan. Một phần là nguyên nhân từ khách hàng gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, từ bản thân ngân hàng vẫn còn nhiều tồn tại bất cập, từ môi trường kinh doanh trong những năm gần đây có nhiều biến động ngoài ý muốn và tầm kiểm soát của chính phủ. Nguyên nhân từ phía khách hàng: Nguyên nhân từ phía khách hàng chiếm phần lớn trong các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Việc mở rộng cho vay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ là chủ trương đúng đắn và phù hợp với đường lối của chính phủ. Mặc dù lợi nhuận thu được tù nhóm khách hàng này là cao, tuy nhiên ngân hàng cũng gặp phải nhiều khó khăn khi cho vay nhóm khách hàng này. Các doanh nghiệp khi muốn vay ngân hàng thường tạo cho bản thân mình có báo cáo tài chính rất đẹp và không trung thựcvà thường chỉ nặng về hình thức, mà cán bộ tín dụng thì lại phân tích tình hình hoạt đông kinh doanh của khách hàng dựa trên báo cáo tài chính do khách hàng cung cấp. Điều này cũng giải thích vì sao mà hiện nay chi nhánh và các ngân hàng thường rất coi trọng tài sản đảm bảo hơn là hiệu quả của phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng xin vay. Bên cạnh đó vẫn có trường hợp khách hàng chủ động xây dựng phương án sản xuất kinh doanh rất có hiệu quả để xin vay ngân hàng nhưng khi vay được rồi lại sử dụng vốn vào mục đích khác. Nguyên nhân từ phía ngân hàng: Để xảy ra những rủi ro trong hoạt động tín dụng là điều mà không một ngân hàng nào muốn nhưng trong quá trình tác nghiệp chi nhánh vẫn còn một số tồn tại và đó là nguyên nhân gây ra rủi roc ho ngân hàng, tự hoàn thiện và khắc phục sai sót đang là chủ trương của chi nhánh. Khối lượng công việc mà một cán bộ tín dụng phải đảm nhận là quá nhiều. Khi mà dư nợ của chi nhánh liên tục tăng mạnh qua các năm thì số lượng cán bộ tín dụng tăng thêm cũng không đáng là bao nhiêu, làm cho một cán bộ tín dụng phải quản lí khá nhiều khách hàng và theo dõi khá nhiều khoản vay đồng thời họ phải chịu trách nhiệm trực tiếp về khoản vay đó làm cho áp lực công việc của họ tăng lên và kết quả là xảy ra sai sót trong công việc. Vẫn biết trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng trong chi nhánh là khá tốt và khá đồng đều nhưng chi nhánh cần có những giải pháp phù hợp để khắc phục tình trạng trên. Một nguyên nhân nữa là do cán bộ tín dụng vẫn có lúc phân tích đánh giá thông tin chưa sâu, xử lý thông tin không triệt để nên đôi khi đánh giá không chính xác. Có lúc cán bộ tín dụng chỉ phân tích dựa trên thông tin khách hàng cung cấp càn bản thân tìm hiểu thì rất sơ lược không khái quát. Sở dĩ cán bộ tín dụng làm như vậy là do khó tìm được nguồn thông tin về khách hàng xin vay. Nguyên nhân từ phía môi trường kinh doanh: Nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước giai đoạn hội nhập với nền kinh tế thế giới, bên cạnh những thuận lợi có được thì các doanh nghiệp và ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp vừa có kinh nghiệm vừa có quy mô lớn. Do một số doanh nghiệp không kịp thích ứng nên dẫn đên tình trạng thua lỗ. Bên cạnh đó môi trường pháp lý chưa thông thoáng tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho chi nhánh và các ngân hàng khác hoạt động. Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và phát triển chi nhánh Quang Trung. 3.1. Định hướng hoạt động tín dụng tại chi nhánh Quang Trung: Chi nhánh Quang Trung xây dựng kế hoạch kinh doanh dựa trên tiềm năng, thế mạnh truyền thống, vai trò của chi nhánh trong mục tiêu chung của toàn ngành. Trên cơ sở những thành tựu đạt được trong thời gian và đánh giá môi trường hoạt động trong năm 2010, chi nhánh tiếp tục phấn đấu: lợi nhuận bình quân đạt nhóm I của hệ thống Ngân hàng ĐT&PT Việt Nam, đảm bảo thu nhập cho cán bộ người lao động, giữ vững và phát triển quy mô hoạt động và thị phần trên địa bàn cũng như trong hệ thống, xứng tầm với doanh nghiệp hạng 1, tiếp tục tăng trưởng bền vững và tạo đà cho các năm tiếp theo, đảm bảo cơ cấu tài sản Nợ - Có hợp lý, an toàn và hiệu quả trong hoạt động, đạt thành tích hoạt động tốt để góp phần vào công tác cổ phần hoá của BIDV. Các mục tiêu cụ thể của chi nhánh: - Đảm bảo hiệu quả kinh doanh của chi nhánh, tiếp tục đà tăng trưởng lợi nhuận. Tăng cường công tác dịch vụ truyền thống, tiến tới nâng cao tỷ trọng của hoạt động dịch vụ trong tổng lợi nhuận của chi nhánh trên cơ sở tiếp cận, triển khai những dịch vụ mới, phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Tích cực công tác tiếp thị khách hàng, tăng tỷ trọng dịch vụ trong tổng lợi nhuận của chi nhánh. - Chủ động cơ cấu lại nguồn huy động và sử dụng vốn, đảm bảo cơ cấu tài sản hợp lý… chuyển dịch theo hướng tích cực, tiệm cận với chuẩn quốc tế. - Hoạt động quản trị điều hành chuyên nghiệp, kiểm soát được hoạt động, đảm bảo thông tin minh bạch, an toàn, hiệu quả, chế độ thông tin báo cáo đảm bảo chất lượng tạo cơ sở các chỉ đạo được thông suốt kịp thời. - Tỷ lệ tăng trưởng năm 2010 không thấp hơn so với các chỉ tiêu bình quân của cụm động lực phía Bắc. - Đảm bảo hiệu quả kinh doanh, lợi nhuận sau thuế bình quân/người đạt nhóm I toàn hệ thống, đảm bảo thu nhập của cán bộ chi nhánh cao hơn năm 2009. Một số chỉ tiêu kế hoạch chi nhánh phấn đấu thực hiện trong năm 2010: Huy động vốn cuối kỳ: 7,600 tỷ đồng Huy động vốn bình quân: 7,400 tỷ đồng Dư nợ tín dụng: 3,800 tỷ đồng Dư nợ tín dụng bình quân: 3,700 tỷ đồng Chênh lệch thu chi: 112 tỷ đồng Trích DPRR: 2 tỷ đồng Thu dịch vụ: 27 tỷ đồng 3.2. Giải pháp để nâng cao chất lượng tín dụng. Một là, tăng cường công tác huy động vốn: Đối với một Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, việc huy động vốn là một vấn đề hết sức cần thiết bởi Ngân hàng cần phải có vốn tín dụng để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tiền tệ tìm kiếm lợi nhuận đồng thời thoả mãn nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Nhu cầu về vốn của xã hội ngày càng tăng khi xã hội ngày càng phát triển. Do vậy, để đáp ứng được nhu cầu đó thì Ngân hàng cần phải có được một nguồn vốn huy động ngày càng tăng về mặt số lượng. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh quyết liệt thì Ngân hàng phải có một phương sách huy động vốn thích hợp nhất. Một cơ chế lãi suất hợp lý sẽ là một cơ hội để huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế nhàm đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế nhằm kích thích sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển. áp dụng các hình thức huy động đa dạng hơn để phù hợp với từng khách hàng từ trẻ đến già, từ mọi thành phần kinh tế. Chẳng hạn, với những khoản tiền lớn sẽ có người đến tận nhà, cơ quan... để nhận. Tăng cường hoạt động trên các phương tiện thông tin đại chúng để Ngân hàng tự giới thiệu về mình với khách hàng. Có thể nói cho đến nay trong phần lớn bộ phận dân cư còn chưa hiểu biết đầy đủ về Ngân hàng nên việc làm trên sẽ tạo uy thế cho Ngân hàng trên thị trường nhờ vậy mà các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư mới có thể tập trung về Ngân hàng. Việc Ngân hàng sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng sẽ xoá bỏ quan niệm không tốt bấy lâu nay về cán bộ tín dụng trong thời bao cấp của người dân; tránh được hiện tượng “cò tín dụng” mà có khi cán bộ Ngân hàng cũng trực tiếp tham gia lợi dụng sự kém hiểu biết của khách hàng. Ngân hàng cũng nên đưa ra áp dụng các hình thức huy động mới mẻ như là phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngoại tệ nhằm tạo nguồn vốn ngoại tệ cho Ngân hàng của mình. Tuy vậy Ngân hàng phải xem xét thật kỹ càng về khả năng của mình... trước khi quyết định tham gia vào lĩnh vực này thì mới có thể thành công trong việc thu hút nguồn vốn ngoại tệ này. Hình thức huy động bằng kỳ phiếu, trái phiếu ngoại tệ rất mới mẻ đối với chúng ta nhưng Ngân hàng cũng nên mạnh dạn thử nghiệm trong lĩnh vực này để có thể mở ra một hướng đi mới cho mình. Mặc dù Ngân hàng còn bộc lộ nhiều yếu điểm như chưa có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực này và bản thân hoạt động của lĩnh vực này khá phức tạp về thủ tục, thời gian chuẩn bị lâu hơn so với các hình thức khác nhưng nó có rất nhiều ưu điểm so với các hình thức huy động khác như: Cơ cấu nhà đầu tư rộng nên giảm rủi ro cho các nhà đầu tư, mặt khác chủ nợ cũng khó sử dụng quan hệ vay nợ để gây sức ép với con nợ trong các quan hệ khác. Khả năng thanh toán cao do có thể mua bán trên thị trường thứ cấp nên tương đối hấp dẫn các nhà đầu tư, lý do này cho phép người phát hành có thể được hưởng mức lãi suất ưu đãi hơn so với các hình thức vay nợ khác. Có thể vay được một số lượng vốn lớn trong một thời gian dài tạo cho Ngân hàng một lượng vốn tín dụng ổn định. Để tăng cường tính hấp dẫn của trái phiếu, có thể sử dụng nhiều yếu tố kích thích như: cho phép chuyển nhượng trái phiếu thành cổ phiếu hoặc nếu mua đợt này thì sẽ được ưu tiên mua trong đợt phát hành tới. Với những yếu tố kích thích như trên có thể giảm bớt giá phát hành tới 1%. Việc Ngân hàng mở rộng kinh tế đối ngoại để thu hút nguồn vốn cho vay bằng ngoại tệ và vốn uỷ thác từ nước ngoài phải thực hiện bề nổi như qua marketing Ngân hàng, tổ chức các cuộc hội thảo mang tính chất quốc tế để có thể thu hút sự quan tâm của các tổ chức kinh tế, đảm bảo trả nợ đúng hạn để khẳng định chữ tín của Ngân hàng với khách hàng. Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá nên lượng vốn để đáp ứng nhu cầu đó chưa thể đủ và sẽ còn đòi hỏi rất nhiều. Điều gay gắt nhất là trong khi nền kinh tế cần có một tỷ lệ trôi nổi vốn vay dài hạn trong tổng lượng vốn vay thì trình độ và năng lực thực tế của Ngân hàng chỉ có thể đảm bảo nguồn vốn ngắn hạn là chính. Muốn đáp ứng nổi nhu cầu về vốn dài hạn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường thì Ngân hàng đã sử dụng một tỷ lệ nhất định vốn vay ngắn hạn để cho vay dài hạn. Nhưng kể cả việc làm đó cũng chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu vay vốn dài hạn. Chính vì vậy, Ngân hàng cần phải huy động được nguồn vốn trung, dài hạn nhều hơn nữa để tài trợ cho các dự án vay dài hạn. Hai là, sử dụng tốt nguồn vốn vay: Nguồn vốn mà chi nhánh huy động được khá dồi dào. Công việc đặt ra đối với Ngân hàng là làm thế nào để cho vay được số vốn mà mình đã huy động tránh được tình trạng ứ đọng vốn. Ngân hàng nên đa dạng hoá các hình thức tín dụng, không ngừng nâng cao công tác tư vấn cho khách hàng về phương thức sản xuất kinh doanh của họ, xây dựng các phương án đầu tư giúp khách hàng. Thực hiện đa dạng hoá các hình thức tín dụng sẽ giúp cho Ngân hàng giảm được rủi ro do tránh được việc bỏ trứng vào một giỏ , kích thích khách hàng. Việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng đã khó nhưng việc gợi cho họ nảy sinh những nhu cầu mới thì mới khó. Chính việc đa dạng hoá các hình thức tín dụng sẽ giải quyết được yêu cầu đó. Ngân hàng nên tiếp tục giữ vững quan điểm lập trường của mình trong công tác cho vay: cho vay với những đơn vị kinh tế làm ăn có hiệu quả,có tín nhiệm và giảm cho vay tiến tới không cho vay hoàn toàn với những đơn vị làm ăn thua lỗ triền miên hoặc không tạo ra công ăn việc làm thực sự cho xã hội. Chế độ tín dụng chia phần thời bao cấp đã bị xoá bỏ, Ngân hàng nên tham gia vào việc định mức vốn lưu động để cho vay đối với các doanh nghiệp bởi vì việc làm này là hoàn toàn có cơ sở. Ngân hàng không phải đầu tư vốn theo một tỷ lệ bắt buộc cho các doanh nghiệp Nhà nước. Cách đối xử đó là không công bằng giữa các thành phần kinh tế trong xã hội và không còn phù hợp với nền kinh tế thị trường như hiện nay. Ngày nay khi mà các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh hay gây ra nợ quá hạn Ngân hàng có xu hướng giảm cho vay đối với thành phần này. Công tác cho vay của Ngân hàng phải tuỳ thuộc vào yếu tố nguồn vốn, tuỳ theo đơn vị vay vốn có khả năng đáp ứng đủ các điều kiện về vay vốn, trả nợ theo quy định của Ngân hàng hay không. Nhưng không phải tất cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều thế hết mà chỉ là một số cho nên vơí những đơn vị ngoài quốc doanh nào đáp ứng được hết các điều kiện về tín dụng thì Ngân hàng vẫn nên cho vay. Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo vai trò chủ đạo của các đơn vị kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng không nên sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn. Nhiều đạo Luật Ngân hàng trên thế giơí cấm làm việc này bởi nó tiềm ẩn những rủi ro to lớn không thể lường trước được. Công tác cho vay trung và dài hạn của Ngân hàng cần phải tương xứng phù hợp với nguồn vốn huy động được. Khả năng mở rộng các ngành nghề sản xuất kinh doanh hiện nay rất đa dạng. Ngân hàng muốn mở rộng việc cho vay thì nên hướng hoạt động của mình vào lĩnh vực mới mẻ này chứ không chỉ bó hẹp ở những lĩnh vực mà Ngân hàng đã quen thuộc nhằm tìm kiếm thêm những khách hàng mới cho Ngân hàng. Tuy nhiên việc làm này cần phải xem xét kỹ lưỡng bởi nó là con dao hai lưỡi có thể giúp Ngân hàng có cơ hội phát triển công tác cho vay đồng thời cũng có thể gây ra những khó khăn cho Ngân hàng. Ba là, thực thi chiến lược khách hàng lâu dài: Chi nhánh phải xây dựng cho mình một chính sách khách hàng lâu dài bởi khách hàng vừa là người cung cấp vốn cho Ngân hàng vừa là người sử dụng nguồn vốn này. Khách hàng có một ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Việc thiết lập mối quan hệ lâu dài giữ Ngân hàng và khách hàng quyết định tới sự tồn tại và phát triẻn của Ngân hàng. Thông qua quan hệ lâu dài của mình với khách hàng, Ngân hàng có thể huy động một khối lượng vốn lớn từ nguồn tiền gửi của khách hàng. Qua quan hệ lâu dài với khách hàng mà Ngân hàng giảm được các chi phí do không phải tìm hiểu, đánh giá khách hàng. Thông qua các giao dịch của khách hàng trên tài khoản tiền gửi mà Ngân hàng có thể biết được khả năng tiềm tàng và chu kỳ sử dụng tiền mặt của người vay tiền cũng như các quan hệ cuả khách hàng. Đây là cách tốt nhất để thu thập thông tin về khách hàng một cách đầy đủ nhất và là cơ sở để Ngân hàng tiết kiệm chi phí cho việc thẩm định, sàng lọc thông tin, giám sát khách hàng; tránh được rủi ro đạo đức, kế hoạch hoá được nguồn vốn của mình kịp thời đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng với mức lãi suất thấp hơn do giảm được chi phí. Chính nhờ đó mà Ngân hàng sẽ nâng cao được chất lượng tín dụng. Bốn là, ngăn chặn sự gia tăng của nợ quá hạn: So với nhiều ngân hàng bạn và so với cả nước thì nợ quá hạn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội không lớn nhưng chúng ta phải xác định nợ quá hạn trên tổng dư nợ qua đó mới có thể đánh giá chính xác. Con số nợ quá hạn của chi nhánh cho phép ta khẳng định: chất lượng tín dụng tại Ngân chi nhánh là tương đối tốt nhưng vẫn còn những tồn tại. Muốn vậy, chúng ta cần coi trọng hơn nữa vào khâu thẩm định vì đầu tư có những khoản vay vốn một cách tốt hơn nữa, làm tốt được khâu này có nghĩa là ta giảm nhẹ cho các khâu theo dõi quá trình cho vay cũng như qúa trình thu hồi nợ. Làm tốt công tác thẩm định không có nghĩa là chúng ta làm cho thủ tục vay trở nên phức tạp lên mà ở đây phải nâng cao chất lượng của khâu này. Thế chấp và tín chấp phải được phát huy trên cơ sở đã làm tốt của Ngân hàng. Chỉ có như thế Ngân hàng mới giảm nợ quá hạn trên tổng dư nợ của mình xuống một mức độ cho phép. Cơ chế tín dụng cũng gây nên nợ quá hạn. Một cơ chế tín dụng thích hợp với từng loại hình doanh nghiệp trong từng lĩnh vực ngành nghề sẽ làm giảm nợ quá hạn. Cơ chế tín dụng phải phù hợp với đặc điểm sản xuất của các đơn vị có nhu cầu vốn thường xuyên sẽ tránh được ứ đọng hay nợ quá hạn. Năm là, tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát: Dư nợ tại chi nhánh lớn và do mới thành lập được vài năm nên việc cán bộ chuyên trách chưa quản lý, kiểm soát chặt chẽ được tất cả các món cho vay là điều dễ hiểu do chưa có kinh nghiệm nhiều trong việc phát hiện được các hoạt động sử dụng vốn sai mục đích, làm ăn không hiệu quả, lừa đảo để có thể kịp thời đình chỉ cho vay, xử lý thu hồi lại vốn cho Ngân hàng. Qua đó ta thấy nếu chỉ chạy theo khối lượng tín dụng cung cấp cho các đơn vị kinh tế sẽ gây ra hậu quả qúa tải đối với cán bộ chuyên trách. Để giải quyết vấn đề này chi nhánh cần phải quan tâm hơn nữa đến công tác kiểm tra, kiểm soát nhằm tránh rủi ro, tăng cao hiệu quả tín dụng. Công tác thanh tra, kiểm soát không chỉ đơn thuần là kiểm tra khách hàng mà còn quan trọng ở chỗ phải kiểm tra, thanh lọc những cán bộ tín dụng yếu kém, tiêu cực, gây thất thoát tài sản XHCN và làm mất uy tín của Ngân hàng. Sáu là, tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Hiện trạng nợ quá hạn vẫn còn cao trong tổng số dư nợ tại chi nhánh mà có một phần nguyên nhân không thể không nói đến là trình độ bất cập của đội ngũ cán bộ. Thực tế cho ta thấy, cán bộ ngân hàng của ta còn hạn chế nhiều về trình độ cũng như kinh nghiệm so với các ngân hàng nước ngoài dẫn đến món nợ vay trở thành món nợ khó đòi ngay từ khâu xét duyệt và thẩm định dự án sản xuất kinh doanh do cán bộ xử lý thẩm định dự án chỉ hiểu một cách mơ hồ về nghành nghề dự định đầu tư, điều đó tất yếu sẽ dẫn đến sự sai lệch trong khâu thẩm định. Do đó, muốn nâng cao hiệu quả tín dụng thì cần phải bổ sung, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ tín dụng. 3.3. Kiến nghị. 3.3.1. Kiến nghị với ngân hàng BIDV: Thứ nhất, Chi nhánh Quang Trung là chi nhánh cấp I và luôn có hoạt động kinh doanh hiệu quả và luôn thực hiện tốt các chỉ tiêu do hội sở chính giao cho. Do đó ngân hàng BIDV cần phải hỗ trợ chi nhánh Quang Trung về chi phí trong công tác đào tào nghiệp vụ, kiến thức chuyên môn của ngân hàng nói chung và của cán bộ tín dụng nói riêng. Bên cạnh đó thì ngân hàng BIDV cũng cần tăng cường hỗ trợ cơ sở vật chất và công nghệ đáp ứng nhu cầu kinh doanh ngày càng đa dạng của chi nhánh. Thứ hai, tăng cường hoạt động thanh tra kiểm soát nội bộ trong toàn hệ thống nhằm chấn chỉnh các hoạt động của chi nhánh và đội ngũ nhân sự đảm bảo thực hiện mục tiêu hoạt động kinh doanh toàn hệ thống BIDV. 3.3.2. Kiến nghị với ngân hàng nhà nước: Ngân hàng nhà nước cần hoàn thiện các quy chế, quy định tạo môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng cụ thể. Ngân hàng nhà nước cần có các biện pháp phù hợp để thúc đẩy hoạt động của các nghiệp vụ phái sinh nhằm phòng ngừa rủi ro từ các hợp đồng phái sinh ngoại bảng cho các ngân hàng thương mại vì hoạt động này chưa được sử dụng ở nước ta trong khi đó thì hiệu quả của nó thì lại rất cao trong việc phòng ngừa rủi ro tín dụng. Hiện nay thì công ty mua bán nợ đã được thành lập nhưng hoạt động của công ty này thì không được hiệu quả, chưa thực hiện được nhiệm vụ xử lý nợ đọng của các ngân hàng mà chủ yếu là các ngân hàng hiện nay tự thành lập ra các công ty quản lý và xử lý nợ riêng để tự giải quyết điều này là điều không tốt. Do đó ngân hàng cần có các chính sách thích hợp để tạo cho thị trường mua bán nợ trở nên sôi động hơn. 3.3.3. Kiến nghị với nhà nước: Việc hoàn chỉnh cách định giá tài sản đảm bảo bằng việc xem xét khung giá đối với quyền sử dụng đất sao cho phản ánh giá cả thị trường vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Việc xây dựng khung giá cả chung cho tài sản đảm bảo như của ngân hàng nhà nước là không chặt chẽ và làm cho việc định giá tài sản chủ yếu vẫn dựa vào đánh giá chủ quan của cán bộ thẩm định và của cán bộ tín dụng. Có những chính sách hơn nữa để khôi phục thị trường chứng khoán theo hướng phát triển an toàn để tạo điều kiện cho các ngân hàng và doanh nghiệp thuận lợi trong việc thu hút vốn nhất là trong lộ trình tăng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay và đặc biệt là lộ trình cổ phần hóa ngân hàng BIDV được diễn ra nhanh chóng và hiệu quả đáp ứng nhu cầu kinh doanh và cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Cải tiến công tác tòa án, thi hành án sớm chỉnh sửa pháp lệnh thi hành để nâng cao hiệu lực thi hành, rút ngắn thời gian tố tụng, thời gian thi hành án. Tạo cho các ngân hàng thương mại thuận lợi trong việc thu hồi vốn không bị đọng vốn làm mất cơ hội kinh doanh. KẾT LUẬN Không ai có thể phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới ở Việt nam nói chung và của hệ thống ngân hàng nói riêng trong những năm vừa qua. Những kết quả đạt được đáng kể như: kiềm chế lạm phát,duy trì giá trị đồng tiền Việt nam, ổn định tỷ giá hối đoái, tăng cường cán cân trong thanh toán quốc tế và thanh toán trong nước, giả quyết sự thiếu hụt giá trị đồng bản tệ được coi là những bước tiên phong trong chiến lược quản lý các kế hoạch, chính sách nhằm mở rộng cơ chế thị trường và khai thác các tiềm năng kinh tế nhằm đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế hơn nữa. Song bên cạnh những thành tựu đó thì hệ thống ngân hàng còn có nhiều khó khăn và mục tiêu chưa làm được như: còn chưa đồng bộ tương xứng với tầm phát triển của kinh tế thị trường ở Việt nam,cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài rất khó khăn, nguồn huy động còn hạn chế do tỷ lệ tiết kiệm chưa cao,cho vay các thành phần kinh tế chưa thực sự có an toàn trên toàn bộ hệ thống các doanh nghiệp. Chính vì vậy, bằng những kiến thức còn hạn chế khi còn đang nghiên cứu và tình hình thực tế đặt ra của hệ thống ngân hàng nói chung và của Ngân hàng BIDV chi nhánh Quang Trung nói riêng, em chọn đề tài “ Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng tại Ngân hàng BIDV chi nhánh Quang Trung” để có thể thấy rõ những thuận lợi, những hạn chế để có thể ngày một cải thiện chất lượng hoạt động ngân hàng nhằm đạt hiệu quả và tăng trưởng, hỗ trợ đắc lực sự phát triển kinh tế. Việc nghiên cứu còn hạn hẹp cả về không gian lẫn thời gian,thực tế còn nhiều hạn chế nên sẽ không tránh khỏi được những khiếm khuyết. em mong rằng những ý tưởng đưa ra sẽ được các thầy cô giáo, bạn bè đóng góp ý kiến cho bài viết này có kết quả thành công hơn. Danh mục tài liệu tham khảo Nghiệp vụ ngân hàng thương mại – TS Tô Ngọc Hưng biên soạn Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng BIDV chi nhánh Quang Trung Tạp chí ngân hàng, tạp chí thị trường tiền tệ, thời báo kinh tế, tạp chí khoa học và công nghệ ngân hàng Các văn bản quy chế của ngân hàng nhà nước Các thông tin từ các trang web của các ngân hàng và một số trang web khác Giáo trình quản trị ngân hàng – khoa quản trịn kinh doanh HVNH

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docgiai_phap_nang_cao_chat_luong_tin_dung_tai_ngan_hang_bidv_chi_nhanh_q_.doc
Luận văn liên quan