Đề tài Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa

Qua việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 12 qua hoạt động ngoại khóa địa lí được tổ chức ở một số trường THPT trong huyện Tân Thành bước đầu đã thể hiện tính hiệu quả, góp phần vào việc nâng cao giáo dục trong trường phổ thông hiện nay và mở rộng kiến thức địa lí cũng như kiến thức ngành nghề cho học sinh. Để nâng cao hơn hiệu quả dạy học bộ môn địa lí và việc hướng nghiệp, chúng tôi xin có một số đề xuất và kiến nghị như sau: * Đối với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo - Cần biên soạn tài liệu, sách giáo khoa giới thiệu sâu về các trường, các ngành học, đặc điểm yêu cầu của ngành đó đối với người học - Cần biên soạn nhiều giáo trình nói về giáo dục hướng nghiệp qua các môn học để giúp giáo viên có tài liệu tham khảo. * Đối với Sở Giáo Dục và Đào Tạo - Cần có chương trình bồi dưỡng giáo viên về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí. * Đối với nhà trường THPT - Cần có sự bố trí giáo viên hướng nghiệp hợp lí, không giao cho một giáo viên kiêm nhiệm quá nhiều việc như: vừa chủ nhiệm, vừa dạy chuyên môn lại thêm công tác giáo dục hướng nghiệp, điều này gây lo lắng, sức ép lên giáo viên rất khó bảo đảm chất lượng của môn học.

doc77 trang | Chia sẻ: tienthan23 | Ngày: 04/12/2015 | Lượt xem: 4294 | Lượt tải: 20download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
lượng mỗi đội từ 5 – 10 người. - Thời gian: không qui định - Địa điểm: Phòng học - Tiến hành: + Treo khung chữ lên tường hoặc trên bảng đen + Phổ biến luật chơi + MC lần lượt đọc các câu gợi ý, hai đội trả lời theo thứ tự 1 - đội A, 2 - đội B. (Ví dụ: hàng ngang thứ 1, quyền trả lời thuộc về đội A, hàng ngang thứ 2 quyền trả lời sẽ thuộc về đội B, cứ thứ tự như vậy cho đến hết ô chữ). - Luật chơi: + Hai đội chơi được tặng trước 50 điểm. + Mỗi hàng chữ được lật = 10 điểm. + Hàng chữ là từ khóa tên nghề = 50 điểm + Hai đội trả lời và lật ra ô chữ theo thứ tự lượt chơi của mình, nếu không trả lời được bị trừ 2 điểm, đội kia sẽ được quyền trả lời và lật ô chữ đó, đúng được 8 điểm, sai thì không bị trừ điểm. + Hai đội không trả lời được, thì ô chữ đó bị bỏ qua để giành ưu tiên cho khán giả sau khi đã lật hết hàng cuối cùng của ô chữ. (có phần thưởng cho khán giả) + Hai đội có quyền trả lời từ khóa bất kì lúc nào, nhưng nếu đoán sai bị loại khỏi cuộc chơi và đội còn lại tiếp tục trả lời hết các câu hỏi còn lại để tìm ra từ khóa + Không đoán được từ khóa, thì sẽ được gợi ý, sau mỗi gợi ý số điểm của từ khóa bị trừ đi 5 điểm. + Trò chơi chỉ kết thúc khi các hàng chữ đã được lật hết. Đội nào có số điểm cao hơn sẽ là đội thắng cuộc. Ô CHỮ 1 S Ả N X U Ấ T Đ I Ệ N 2 T R Ọ N Đ I Ể M 3 T H Ủ Y Đ I Ệ N 4 S Ồ N G H Ồ N G 5 Đ Ư Ờ N G D Â Y 6 S Ô N G G Â M 7 T H Ợ Đ I Ệ N 8 B Ả O D Ư Ỡ N G 9 T H Ề M L Ụ C Đ Ị A 10 C Ẩ N T H Ậ N 11 M Ạ N G Đ I Ệ N * Gợi ý các ô chữ thường 1. Đây là một trong hai phân ngành thuộc công nghiệp năng lượng. 2. Đây là cụm từ nói lên vị trí của ngành năng lượng trong cơ cấu ngành CN. 3. Đây là nguồn tiềm năng để phát triển công nghiệp điện của nước ta. 4. Nơi này tập trung chủ yếu tiềm năng thủy điện của nước ta. 5. Một loại phương tiện để tải điện đi khắp mọi nơi. 6. Trên sông này hiện nay Nhà nước đang triển khai xây dựng nhà máy thủy điện. 7. Kiểm tra, sửa chữa, bảo dưỡng chức năng mạch điện và thiết bị điện phải cần đến người này. 8. Muốn cho các mạng điện và thiết bị điện được an toàn và bền bỉ cần phải làm việc này. 9. Nơi có nguồn dầu khí ở nước ta. 10. Đây là một tính cách yêu cầu phải có đối với người lao động trong ngành điện. 11. Một công trình muốn có điện sử dụng trước hết phải lắp đặt hệ thống này. * Gợi ý ô chữ từ khóa - Dụng cụ lao động của nghề này gồm có: búa, kiềm, mỏ hàn, đồng hồ vạn năng - Triển vọng của nghề này gắn liền với sự phát triển đồ dùng điện và tốc độ xây dựng nhà ở. - Những công việc của nghề này thường được thực hiện tại nhà ở hoặc các cơ quan 2.3.3. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT qua câu lạc bộ địa lí 2.3.3.1. Câu lạc bộ địa lí. - Câu lạc bộ địa lí là nơi tập trung những học sinh có cùng sở thích, hứng thú tìm hiểu về địa lí. Dựa trên sự tham gia tự nguyện của các em, câu lạc bộ địa lí nhằm vào việc khuyến khích học sinh học tập, tìm hiểu, mở rộng kiến thức, làm giàu thêm vốn kiến thức địa lí và biết liên hệ kiến thức địa lí để giải thích, nhận định các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống. 2.3.3.2. Tác dụng câu lạc bộ địa lí - Câu lạc bộ địa lí hoạt động có hiệu quả khuyến khích được các em học tập, củng cố kiến thức bài học. - Mở rộng được kiến thức địa lí đã học, thực hiện các hoạt động làm giàu tri thức địa lí. - Câu lạc bộ địa lí được tổ chức tốt sẽ tạo ra khối đoàn kết tốt cho học sinh trong trường, trong khối, trong lớp. - Thông qua Câu lạc bộ địa lí, giáo dục cho học sinh tính kỷ luật, tính trách nhiệm. - Rèn luyện cho học sinh kỹ năng giao tiếp, kỹ năng diễn đạt, trình bày, sáng tạo. 2.3.3.3. Xác định các chủ đề tổ chức câu lạc bộ địa lí để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT - Chủ đề của câu lạc bộ địa lí dựa vào nội dung bài học trong chương trình địa lí 12. Đó là các chủ đề bổ sung hoàn thiện kiến thức các ngành kinh tế mà các em đã học, đồng thời cung cấp kiến thức nghề cho học sinh. Thông qua đó lồng ghép mục đích giáo dục hướng nghiệp cho học sinh. - Do địa lí 12 có phần kinh tế ngành và vùng, cho nên giáo viên có thể dựa vào các ngành kinh tế đó để đưa ra một hay một vài chủ đề tìm hiểu về nghề cho học sinh. Ví dụ: Khi dạy bài học về ngành nông - lâm - ngư nghiệp, giáo viên có thể xác định chủ đề cho câu lạc bộ Địa lí là: “Câu lạc bộ những người yêu thiên nhiên”hoặc“Câu lạc bộ tìm hiểu các nghề thuộc lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp” - Như vậy, khái quát các chủ đề để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 rất dễ và đa dạng nhờ đặc điểm nội dung của môn học. Dựa vào các phần nội dung bài học trong sách giáo khoa, giáo viên có thể xác định được các chủ đề tổ chức câu lạc bộ địa lí như: . Chủ đề về tài nguyên thiên nhiên Việt Nam. . Chủ đề về dân số và dân cư Việt Nam. . Chủ đề về ngành kinh tế nông nghiệp . Chủ đề về ngành kinh tế ngư nghiệp. . Chủ đề về ngành kinh tế lâm nghiệp . Chủ đề về ngành kinh tế công nghiệp. . Chủ đề về ngành kinh tế thương mại, dịch vụ, du lịch... 2.3.3.4. Các yêu cầu tổ chức câu lạc bộ địa lí để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 - Giáo viên phải nêu rõ mục đích, nội dung, thời gian, cách thức hoạt động, trách nhiệm và quyền lợi của người tham gia. - Nội dung hoạt động của Câu lạc bộ phải kết hợp chặt chẽ với chương trình học tập nội khóa, nhằm củng cố, bổ sung và mở rộng kiến thức nội khóa. - Hoạt động của Câu lạc bộ phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí, trình độ nhận thức, hoàn cảnh học tập của học sinh và điều kiện thực tế của nhà trường. - Khi tổ chức Câu lạc bộ cho học sinh, cần có một giáo viên làm cố vấn. Giáo viên này có kiến thức về ngành nghề và kĩ năng tổ chức hoạt động tập thể, nhiệt tình, sáng tạo có ý thức vượt khó và gắn bó với học sinh. - Số lượng học sinh tham gia trong mỗi câu lạc bộ có thể ≥20 học sinh. 2.3.3.5. Cách thức tổ chức câu lạc bộ để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 * Có thể thực hiện theo các bước dưới đây: Bước 1: Chuẩn bị. Bước này yêu cầu: - Khảo sát, nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng của học sinh. - Nêu rõ mục đích, nội dung cách thức và thời gian, trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia. - Chuẩn bị cơ sở vật chất, kinh phí, các loại văn bản cần thiết cho buổi ra mắt Câu lạc bộ. Bước 2: Tiến hành. Bước này yêu cầu nhiều cách thức khác nhau để giáo dục hướng nghiệp qua Câu lạc bộ địa lí: + Thi hùng biện: các học sinh thi hùng biện về các vấn đề như: Triển vọng phát ngành nghề; Tầm quan trọng của ngành nông nghiệp; Ý nghĩa của việc phát triển công nghệ thông tin trong thời kì hội nhập + Đọc và kể chuyện về địa lí kinh tế - xã hội: Do các thành viên câu lạc bộ hoặc giáo viên địa lí thực hiện. Ví dụ kể chuyện về các làng nghề, các trang trại, những người thành đạt trong nghề. + Báo cáo chuyên đề: Do các nhà kinh doanh, các nhà sản xuất, các chuyên gia, các kĩ sư, giáo viên địa lí,nói chuyện về các ngành nghề cho học sinh. Ví dụ định hướng phát triển của nông - lâm - ngư nghiệp. + Đố vui địa lí +Trò chơi địa lí Bước 3: Tổng kết. * Những lưu ý khi tổ chức câu lạc bộ địa lí: + Câu lạc bộ dựa trên tinh thần tự nguyện, vì vậy giáo viên không nên áp đặt công việc cho các em, luôn tạo không khí vui vẻ, thoải mái. + Câu lạc bộ luôn giữ được chức năng của mình: Chức năng nâng cao kiến thức, giáo dục, vui chơi, giải trí và giao tiếp. + Kinh phí có thể huy động sự đóng góp tự nguyện của mọi thành viên trong Câu lạc bộ. Câu lạc bộ tự gây quỹ hoặc nhờ các ban ngành đoàn thể khác hỗ trợ. + Hàng kì, hàng tháng câu lạc bộ tổ chức những hoạt động có qui mô để khẳng định vị trí của mình. + Để duy trì câu lạc bộ hoạt động, Ban chủ nhiệm thành lập các thành viên theo từng nhóm theo tính cách như đã tuyển chọn, xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ cho từng nhóm. + Lập kế hoạch hoạt động Câu lạc bộ (định kì hàng tuần, hàng tháng, thời gian rảnh,) xác định nội dung sinh hoạt * Thiết kế minh họa câu lạc bộ địa lí có giáo dục hướng nghiệp. Chủ đề : CÂU LẠC BỘ NHỮNG NGƯỜI YÊU THIÊN NHIÊN 1) Mục tiêu: Tạo sân chơi bổ ích cho những học sinh yêu thích thiên nhiên và quan tâm đến những nghề thuộc lĩnh vực Nông – Lâm – Ngư nghiệp. Qua đó, giới thiệu cho học sinh đặc điểm một số nghề thuộc lĩnh vực này. 2) Kế hoạch: - Thời gian và địa điểm tiến hành Vào các ngày nghỉ lễ hoặc ngày chủ nhật Địa điểm: tại trường THPT Phú Mỹ - Hình thức tổ chức câu lạc bộ - Đọc, kể chuyện địa lí - Trò chơi địa lí - Văn nghệ - Nội dung sinh hoạt + Kể chuyện về một số nhân vật đã thành đạt trong lĩnh vực nông nghiệp + Giải ô chữ, tìm ra một nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp + Hát hoặc đọc thơ, ca dao nói về những người lao động hoặc nghề trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. - Điều hành trực tiếp: Giáo viên và Ban chủ nhiệm. - Quyền lợi và trách nhiệm của học sinh tham gia * Đối tượng: Những HS đã được tuyển chọn qua trắc nghiệm tính cách phù hợp với lĩnh vực ngành, nghề. * Trách nhiệm: + Học sinh có trách nhiệm đóng góp xây dựng về mặt nội dung và tổ chức của câu lạc bộ để góp phần phát triển công tác hướng nghiệp qua môn học địa lí. + Có trách nhiệm hoàn thành những công việc chung của câu lạc bộ khi được phân công. * Quyền lợi: + Thành viên câu lạc bộ được phát thẻ thành viên và được nhận những ưu đãi của câu lạc bộ trong các buổi sinh hoạt. + Thành viên câu lạc bộ được tham gia tất cả các buổi sinh hoạt của câu lạc bộ. + Thành viên câu lạc bộ sẽ nhận được sự giúp đỡ chia sẻ của câu lạc bộ và Ban chủ nhiệm câu lạc bộ khi gặp những khó khăn trong học tập cũng như vấn đề chọn nghề nghiệp. + Thành viên câu lạc bộ có quyền được đề xuất, phản hồi trực tiếp với Ban chủ nhiệm về các hoạt động không đúng nguyên tắc của Ban chủ nhiệm câu lạc bộ. 3) Nội dung câu lạc bộ địa lí có giáo dục hướng nghiệp. * Trò chơi trong câu lạc bộ: Vòng 1 ● Trò chơi chung sức: + Trò chơi gồm 5 câu hỏi và những câu hỏi có đáp án đã được hỏi qua 100 người, số người đồng tình với đáp án nào thì cũng chính là số điểm của đáp án đó. + Mỗi đội có 5 người để chơi, mỗi người trong đội trả lời 1 câu hỏi trong vòng 5 giây. Lần lượt từ người thứ 1 đến người thứ 5. + Trong quá trình đội A trả lời thì đội B cũng bị cách li, không nghe, không biết gì qua các câu hỏi mà đội A đang chơi Và đội B cũng bắt đầu như đội A. + Tổng điểm của hai đội, nếu đội nào điểm cao hơn là đội chiến thắng. Nội dung trò chơi chung sức: Câu 1: Môn học mà học sinh khó học thuộc nhất? Anh văn: 20 Lịch sử: 40 Công dân: 10 Sinh học:10 Văn học: 5 Địa lí: 15 Câu 2: Những người yêu thích thiên nhiên thường thích môn học nào nhất? Sinh học: 40 Văn học: 14 Kĩ thuật nông nghiệp: 15 Địa lí: 31 Câu 3: Bạn hãy kể một nghề phù hợp với bạn nam Điện tử: 15 Sửa xe honda: 20 Lái xe: 27 Thợ điện: 18 Cơ khí: 10 Kiến trúc sư: 10 Câu 4: Để tiến hành sản xuất nông nghiệp người ta cần có gì? Đất: 40 Cây trồng, vật nuôi: 20 (giống) Máy móc: 15 Vốn: 10 Nước: 5 Phân bón: 10 Câu 5: Bạn hãy cho biết mục đích sản xuất nông nghiệp là gì? Cung cấp lương thực, thực phẩm: 60 Giải quyết việc làm: 15 Xuất khẩu nông sản: 20 Tăng thêm thu nhập: 5 Lưu ý: nếu câu trả lời không có trong đáp án coi như bạn bị điểm 0 (không) ● Khám phá ô chữ: + Ô chữ gồm 11 hàng ngang, mỗi hàng có một kí tự chìa khóa, các kí tự của 11 hàng tạo thành một cụm từ chìa khóa. + Nội dung ô chữ liên quan đến lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. + Đoán đúng mỗi hàng: 20 điểm. + Đoán đúng từ chìa khóa: 50 điểm Mỗi đội sẽ chọn một hàng ngang để trả lời, nếu sau lần gợi ý thứ hai không trả lời được thì đội khác có quyền trả lời (+10 điểm). + Được quyền đoán từ chìa khóa bất kì lúc nào, đoán sai sẽ bị loại khỏi vòng chơi. Nội dung khám phá ô chữ: Mỗi hàng của ô chữ có hai gợi ý, gợi ý thứ nhất: 20 điểm, gợi ý thứ hai chỉ còn 10 điểm. Ô chữ 1 Y Ê U T H I Ê N N H I Ê N 2 T R A N G T R Ạ I 3 T H Ờ I T I Ế T 4 B Ã I T R I Ề U 5 C Â Y L Ư Ơ N G T H Ự C 6 N Ô N G N G H I Ệ P H À N G H Ó A 7 R Ừ N G N G Ậ P M Ặ N 8 B Ả O V Ệ R Ừ N G 9 V Ư Ờ N C Â Y T R Á I 10 V Ư Ờ N A O C H U Ồ N G 11 X U Ấ T K H Ẩ U N Ô N G S Ả N GỢI Ý CỦA TRÒ CHƠI “ KHÁM PHÁ Ô CHỮ ” 1/ (13 ký tự) - Đây là một phẩm chất của những người thích đến với các nghề thuộc lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. - Đây là chủ đề của câu lạc bộ. 2/ (9 ký tự) 3 - Đây là một trong những hình thức chăn nuôi công nghiệp. - Nơi nuôi rất nhiều gia súc, gia cầm, chủ yếu cung cấp hàng hóa. 3/ (8 ký tự) - Người lao động trong lĩnh nông nghiệp phải chịu đựng được sự thay đổi của điều kiện tự nhiên này. - Đây là một hiện tượng tự nhiên nói về mưa, nắng, nóng, lạnh. 4/ (8 ký tự) - Đây là một khu vực ven bờ biển, thuận lợi cho việc nuôi thủy sản nước lợ. - Đây là dải đất thấp ven biển bị ngập khi triều lên và lộ ra khi triều xuống. 5/ (11 ký tự) - Cây này chủ yếu cung cấp tinh bột. - Cây trồng chính ở các đồng bằng lớn của nước ta. 6/ (17 ký tự) - Định hướng phát triển nông nghiệp của nhà nước hiện nay. - Đây là hướng sản xuất nông nghiệp mà người dân quan tâm nhiều đến thị trường tiêu thụ. 7/ (11 ký tự) - Vùng ven biển có thể kết hợp nuôi thủy sản và bảo vệ môi trường sinh thái. - Nơi có nhiều loài cây đước, sú, vẹt, 8/ (9 ký tự) - Đây là một việc làm nhằm ngăn chặn những thiên tai như lũ lụt, hạn hán - Đây là nhiệm vụ của cán bộ kiểm lâm. 9/ (11 ký tự) - Ở Đồng bằng sông Cửu Long một số hộ nông dân đã phát triển du lịch sinh thái dựa vào điều kiện này. - Điều nổi tiếng của khu vực Lái thiêu – Bình dương. 10/ (12 ký tự)- Đây là mô hình kinh tế cung cấp rau, thịt, cá, trứng, sữa cho nhu cầu hằng ngày của nhân dân. - Mô hình này gọi tắt là: V - A – C 11/ (15 ký tự)- Nông nghiệp nước ta ngày càng thu nhiều ngoại tệ từ dịch vụ này. - Đưa gạo, cà phê, cao su, hoa quả, ra nước ngoài gọi chung là dịch vụ này. Từ chìa khóa: “ NGHỀ LÀM VƯỜN ”. * Giải thích thêm về ô chữ 1/. Yêu thiên nhiên: Đây là một trong những phẩm chất cần có của người theo các nghề trong lĩnh vực nông - lâm - ngư nghiệp. Vì hoạt động trong lĩnh vực này thường xuyên tiếp xúc với động, thực vật và các loại thời tiết khác nhau. 2/. Trang trại: Đây là xu hướng nổi bật trong ngành chăn nuôi đang tiến mạnh lên sản xuất hàng hóa, với số lượng lớn, nuôi theo hình thức công nghiệp. Trang trại chăn nuôi theo qui mô công nghiệp, bán công nghiệp cho thu nhập cao. 3/. Thời tiết: Là yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển nông nghiệp, có thể đem lại thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi, khi mưa thuận gió hòa. Song, sự thay đổi thất thường của thời tiết cũng làm cho dịch bệnh phát triển. Sự thay đổi của khí hậu và thời tiết cũng ảnh hưởng đến người lao động, vì vậy yêu cầu của nghề trong lĩnh vực này đối với người lao động là phải có sức khỏe tốt, dẻo dai. 4/. Bãi triều: dải đất thấp ven biển. Bãi triều thường là nơi có đầm lầy hoặc rừng ngập mặn, nơi đây là nơi thuận lợi để nuôi trồng thủy sản như nuôi tôm, 5/. Cây lương thực:. Ở nước ta, việc đẩy mạnh sản xuất lương thực có tầm quan trọng đặc biệt, nhằm bảo đảm lương thực cho trên 80 triệu dân, cung cấp thức ăn cho chăn nuôi và nguồn hàng xuất khẩu. Việc bảo đảm an ninh lương thực là cơ sở để đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp (phát triển các loại cây trồng khác). 6/. Nông nghiệp hàng hóa: Đặc trưng ở chỗ người nông dân quan tâm nhiều hơn đến thị trường tiêu thụ sản phẩm do họ sản xuất ra. Mục đích không chỉ tạo ra nhiều nông sản, mà quan trọng hơn là tạo ra nhiều lợi nhuận. 7/. Rừng ngập mặn: Rừng mọc ở các miền ven biển nhiệt đới và cận nhiệt đới, trên những khu đất phù sa ngập nước thủy triều, gồm có những cây ưa mặn như: vẹt, đước, trang, bần, sú, mấm,Rừng ngập mặn có tác dụng lớn trong việc cố định phù sa do các sông ven biển đưa ra và xúc tuến quá trình bồi đắp các châu thổ. Vì vậy nơi đây có thể kết hợp nuôi trồng thủy sản và trồng rừng để bảo vệ môi trường sinh thái. (nước ta có rừng ngập mặn Cần Giờ, rừng ngập mặn ven biển thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long) 8/. Bảo vệ rừng: Ở nước ta hiện nay rừng đã bị tàn phá nặng nề, mà hậu quả của nó không thể lường trước được. Vì vậy, bảo vệ rừng là việc làm cấp bách. Bảo vệ rừng có nhiều biện pháp khác nhau như trồng lại rừng, qui hoạch các khu rừng nguyên sinh, ngăn chặn việc chặt phá rừng bừa bãi và khai thác có hiệu quả. 9/. Vườn cây trái: Đây là mô hình kinh tế vườn, hiện nay một số vùng ở ta rất nổi tiếng về vườn cây ăn trái như Lái Thiêu (Bình Dương), Tiền Giang, Cần Thơ. Vườn cây trái không những mang lại lợi nhuận từ việc xuất khẩu mà còn có thể phát triển thành nơi du lịch sinh thái lý tưởng đối với du khách. Đến đây du khách vừa thưởng thức trái cây, vừa nghỉ mát. 10/. Vườn - ao - chuồng: là mô hình kinh tế (V.A.C), đa dạng, phù hợp với các vùng sinh thái, đã cung cấp phần chủ yếu các loại rau quả và một phần đáng kể thịt, cá, trứng, sữa cho nhu cầu hằng ngày của nhân dân. 11/. Xuất khẩu nông sản: Hiện nay nước ta đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp với mục đích hướng ra xuất khẩu, các nông sản xuất khẩu chủ yếu là các cây nhiệt đới như lúa gạo, cà phê, tiêu, cao su, hoa quả, Việc xuất khẩu nông sản đã mang lại lợi nhuận lớn, là động lực thúc đẩy quá trình sản xuất của nhân dân. * Phân tích “Nghề LÀM VƯỜN ” Trong sự phát triển hiện nay, nghề làm vườn đang phát triển mạnh mẽ, được nhân dân tham gia đông đảo. Hội làm vườn có mạng lưới từ trung ương đến địa phương. Hội thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn kĩ thuật, xuất bản tài liệu sách báo hướng dẫn kĩ thuật trồng cây, phổ biến kinh nghiệm làm vườn trên cả nước nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm của nghề làm vườn. Sự phát triển của kinh tế vườn (KTV) tạo ra sự chuyển dịch từ cơ cấu kinh tế, cơ cấu xã hội và làm thay đổi đời sống văn hoá- xã hội, đồng thời vừa tạo điều kiện, vừa yêu cầu xây dựng hạ tầng kinh tế, đẩy nhanh việc áp dụng những thành tựu khoa học vào sản xuất, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực làm giảm bớt những khó khăn và nguy cơ cho lãnh vực nông nghiệp, nông thôn nói chung. Ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cư dân miệt vuờn đã sáng tạo ra mô hình kinh tế vườn (KTV) với phương thức canh tác và hiệu quả kinh tế-xã hội vượt xa những người trồng lúa . KTV ĐBSCL là mô hình kinh tế mở, nó luôn tạo điều kiện và đòi hỏi những nhà vườn luôn tiếp thu cái mới, cùng với lối sống khoan thai, thanh thản, chất phác, thuần hậu, hoà điệu với thiên nhiênTất cả đã hình thành nên một “Văn minh miệt vườn”. Vai trò quan trọng của KTV trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội đã và đang góp phần củng cố, xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL theo hướng toàn diện, bền vững và hiện đại. Tóm lại, KTV một bộ phận cấu thành nền tảng của sự phát triển nông nghiệp, nông thôn ĐBSCL, giữ vai trò quan trọng trong việc thay đổi toàn bộ diên mạo nông thôn. Không ngừng phát huy vai trò của KTV các tỉnh ĐBSCL sẽ sớm đạt mục tiêu về kinh tế - xã hội, tạo vốn tích luỹ, nguyên liệu, thị trường cho sự phát triển công nghiệp, thương nghiệp, dịch vụ tiến tới khẳng định vai trò động lực của ĐBSCL đối với cả nước . Đặc điểm hoạt động nghề LÀM VƯỜN - Đến với nghề làm vườn, người lao động sẽ tiếp xúc với các đối tượng lao động là các cây trồng rất đa dạng và phong phú bao gồm các cây ăn quả, các loại hoa, cây cảnh, rau, cây lấy gỗ, cây dược liệu,quan hệ với đất trồng và khí hậu. - Các công việc của nghề làm vườn là: làm đất, chọn, nhân giống, gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch. - Điều kiện lao động: hoạt động chủ yếu ở ngoài trời, không khí trong lành nhưng cũng thường chịu ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh nắng, mưa, gió; tiếp xúc với các loại hóa chất (phân hóa học, thuốc trừ sâu, chât kích thích,) thường xuyên. Phải chấp nhận những rủi ro do thiên tai (hạn hán, sâu bệnh, bảo lụt,..) ảnh hưởng đến năng suất, thu nhập, sức khỏe và tính mạng. - Những chống chỉ định y học: Những người bị mắc những bệnh tật sau đây không nên theo nghề: bệnh suy thận mãn tính, thấp khớp, đau cột sống, bệnh ngoài da, thần kinh tọa, - Các yêu cầu của nghề đối với người lao động: phải có lòng yêu nghề làm vườn. Phải có sức khỏe tốt, dẻo dai, chịu đựng được những thay đổi của thời tiết và khí hậu. Mắt tinh tường và bàn tay khéo léo. Phải có trình độ kiến thức sinh học, hóa học, kĩ thuật nông nghiệp - Nơi đào tạo nghề: Trường : Trường trung cấp dạy nghề Việt Đức Hoàng Đồng Lạng Sơn, Trường Đại học nông - lâm Thái Nguyên, Trường Đại học nông - lâm Thủ Đức –TPHCM, Trường Đại học nông nghiệp I Trâu Quỳ - Hà Nội, Các trung tâm Kỹ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp, trung tâm dạy nghề Vòng 2 : Ai nhanh và chính xác hơn - Tìm thông tin nghề - Mục đích: Rèn luyện tính nhanh nhẹn, chính xác, tinh thần đồng đội. - Số lượng: hai đội, mỗi đội 5 nam, 5 nữ. - Thời gian chơi: 5 phút. - Vật dụng: hai cái thu vừa, banh nhỏ, hai thanh gỗ làm sàn để banh. - Cách chơi: tại vạch xuất phát, mỗi đội chơi xếp thành một hàng nam, nữ xen kẽ. Tại đây để một cái thau. Khi nghe tiếng còi xuất phát, người thứ nhất chạy về phía sàn banh, chọn quả banh có thông tin đúng theo thứ tự 1,2,3 của đặc điểm hoạt động nghề ghi trên bảng, sau đó cầm chạy về bỏ vào thau của đội mình (thau đặt cách sàn banh 5m), rồi đánh vào tay người kế tiếp để người này tiếp tục lộ trình, cứ thế cho đến hết thời gian của trò chơi. - Luật chơi: banh bị rơi ra ngoài phải nhặt vào trước khi người kế sau tiếp tục, khi nghe còi báo hết giờ, nếu banh còn cầm trên tay không được tính điểm. Sau thời gian 5 phút đội nào nhặt banh có thông tin đúng nhiều hơn: thắng cuộc. - Nội dung: Tìm các thông tin cho nghề “Kỹ sư xây dựng các công trình giao thông”. Đặc điểm hoạt động của nghề Thông tin cần tìm (ghi trên banh) 1. Công việc của kỹ sư xây dựng công trình giao thông 1. Thiết kế, giám sát, thi công xây dựng công trình. 2. Công cụ lao động 2. Máy vi tính, thước đo 3. Kĩ năng 3. Tính toán, đọc hiểu các bản vẽ 4. Kiến thức 4. các phương pháp xây dựng . * Đọc và kể chuyện địa lí trong câu lạc bộ: - Mục tiêu: Học sinh biết được một số hình thức sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp cũng như những thuận lợi, khó khăn và sự thành công của nghề. - Đối tượng: các thành viên của câu lạc bộ. - Thời gian: 60 phút. - Chuẩn bị: Mỗi thành viên chuẩn bị cho mình một vài câu hỏi, giấy, bút ghi lại những điều cần thiết để tham khảo. - Tiến hành: Bốc thăm kể theo thứ tự, ai bốc trúng số 1 là người kể đầu tiên. - Yêu cầu: + Câu chuyện phải liên quan đến lĩnh vực mà các thành viên đang quan tâm. Người kể phải có cử chỉ, ngữ điệu phù hợp với nội dung, khi trầm, khi bổng, buồn, vui lôi cuốn người nghe. Các thành viên còn lại giữ trật tự ngồi nghe, ghi chép (nếu cần). + Có thể bình chọn người kể hấp dẫn nhất và câu chuyện hay nhất để tặng quà. - Nội dung chuyện kể Ví dụ : mẫu chuyện về một vài gương mặt thành đạt trong nghề nông 1) Lương Văn Thùy Tốt nghiệp lớp 12, Thùy ở lại quê hương (xã La Bằng, huyện Đại Từ, Thái Nguyên) tham gia sản xuất nông nghiệp. Ban đầu, Thùy cải tạo vườn theo mô hình VAC (vườn – Ao – chuồng). sau khi có ít vốn, anh chuyển sang làm kinh tế trang trại. Những công việc ở trang trại gồm: - Trồng lúa giống mới năng suất cao để bán thóc giống - Nuôi cá, ba ba, rắn - Nuôi lợn Chỉ từ bàn tay không năm 1994, đến năm 2000 anh đã là người giàu nhất xã. Hiện Thùy đã xây dựng được 3 cơ ngơi khang trang nhiều bạn trẻ theo gương anh xay dựng trang trại sản xuất liên hoàn. Đến nay, có bạn thu nhập 400 triệu/ năm. Người ít nhất cũng đạt 200 triệu/ năm 2) Trần Văn Nhạ      Cũng như bao người khác, sinh ra và lớn lên trên vùng quê nghèo khó tỉnh Hải Dương, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về lấy vợ và sinh con, bao nhiêu khoản chi tiêu cần đến tiền. Nhìn cảnh gia đình khó khăn, ruộng đất canh tác ít không biết làm nghề gì để cuộc sống khá lên. Giữa lúc không tìm được việc làm, bạn bè đã rủ anh góp vốn đi buôn hàng nông sản từ quê đi Móng Cái rồi mua hàng từ Trung Quốc về bán lẻ với hy vọng đổi đời. Nhưng ai học được chữ ngờ, anh không có kinh nghiệm, cả tin mua phải hàng lậu bị tịch thu, thế là mất cả vốn lẫn lãi, tiếc của nhưng đành chịu, lại trở về với nghề nông. Với bản chất hay lam hay làm, anh  đã lăn lộn thâm canh mấy sào ruộng khoán kết hợp với chăn nuôi lợn, gà. Nhưng vì diện tích đất ít, lại thiếu vốn cộng với các con đang tuổi ăn học nên kết quả thu được cũng chẳng đáng là bao. Không cam chịu cảnh nghèo khó, sau những lần đi thăm đồng, anh đã phát hiện ra xã mình vẫn còn khu đầm trũng bỏ hoang hóa để cỏ mọc, thế là ý nghĩ thành lập khu trang trại đã lóe lên trong anh. Sau nhiều đêm trăn trở suy nghĩ anh đã bàn với vợ xin đấu thầu 4 mẫu đầm trũng của UBND xã để trồng cây ăn quả lâu năm kết hợp với chăn nuôi và thâm canh thuỷ sản. Với số vốn ít ỏi của gia đình, sự giúp đỡ của anh em, bạn bè và Hội Nông dân xã tạo điều kiện làm thủ tục giúp anh vay vốn ở Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT nên anh đã đầu tư mua giống và cải tạo đất.  Hội ND xã còn giới thiệu anh tham gia các lớp tập huấn chuyển giao KHKT do Hội tổ chức, tạo điều kiện cho anh đi thăm quan, tìm hiểu học tập kinh nghiệm thực tế các mô hình trang trại có tiếng ở các huyện trong và ngoài tỉnh... Có vốn trong tay, nắm được kiến thức anh đã mạnh dạn đầu tư quy hoạch 4 mẫu đầm trũng thành các khu vườn, ao, chuồng sao cho dễ chăm sóc, quản lý. Anh cho xây dựng 1700m2 chuồng trại chia làm 6 khu nhà: 4 khu nhà nuôi gà công nghiệp một năm trung bình nuôi 6-8 lứa, mỗi lứa 1 vạn con; 2 khu nhà nuôi lợn thịt hướng nạc xuất khẩu một năm anh nuôi 4 lứa, mỗi lứa nuôi 160-200 con. Đào 3 ao diện tích 7000m2, trong đó một ao nuôi cá trê lai, một ao nuôi cá rô phi đơn tính, một ao nuôi thâm canh xen ghép tổng hợp các loại cá. Diện tích còn lại là vườn trồng cây ăn quả được anh bố trí xen kẽ giữa các khu chuồng và ao vừa tận dụng được các sản phẩm phụ từ chăn nuôi, vừa đảm bảo môi trường, hạn chế dịch bệnh và có thêm thu nhập.     Sau 3 năm thực hiện trang trại của anh đã đi vào hoạt động có nề nếp, mỗi năm trừ chi phí anh còn thu lãi trên 150 triệu đồng. Đến năm 2003 con số đó đã tăng lên 300 triệu đồng. Năm 2006 và 2007 anh tiếp tục đấu thầu đất mở rộng trang trại với tổng diện tích là 8,5ha tại 2 xã (Đoàn Tùng với diện tích là 3ha và 5,5ha ở xã Ngũ Hùng). Với diện tích này anh đã cho xây dựng 19 dãy chuồng trại với tổng diện tích là 4.000m2 để nuôi gà; mỗi lứa trên dưới 10.000 con, số đất còn lại anh cho đào ao thả cá (diện tích 5ha chia thành 23 ao để nuôi cá giống và cá thịt + cua như: chép V1, rô phi Sođa, điêu hồng Thái Lan.v.v...) có đường rải đá cộn cho ôtô  đến tận các ao; ngoài ra anh còn tận dụng đất ở rìa đường trồng các loại cây ăn quả như: Bưởi, xoài, ổi, vải... Năm 2007, trang trại của anh đã cho thu nhập sau khi trừ chi phí đạt trên 400 triệu đồng. Để giải quyết công việc mỗi ngày anh thuê 20 lao động thường xuyên làm việc tại trang trại với mức lương bình quân 1,2-1,3 triệu đồng/tháng. Không chỉ làm  giàu cho riêng mình, anh Nhạ còn giúp đỡ cho trên 25 hộ trong và ngoài xã bằng hình thức tư vấn kĩ thuật, ứng trước giống, thức ăn và bao tiêu luôn sản phẩm đầu ra cho các hộ. Nhờ có anh mà nhiều hộ nông dân đã trở thành chủ trang trại độc lập làm ăn có hiệu quả, nhiều hộ đã thoát nghèo vươn lên thành hộ đủ ăn và khá giả. Hỏi về bí quyết thành công anh nói: “Lúc đầu nhận vào tưởng dễ, nhưng đến khi bắt tay làm mới thấy mình còn thiếu rất nhiều, mà cái lo nhất là thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm quản lý sản xuất và vốn đầu tư. Để sản xuất kinh doanh có hiệu quả, trước tiên phải nắm chắc các kiến thức khoa học quy trình kỹ thuật về chăn nuôi, trồng trọt, làm tốt khâu chọn giống và chủ động phòng trừ dịch bệnh, nhất là phải nhanh nhậy với  thị trường để có kế hoạch sản xuất phù hợp, tìm được bạn hàng chắc chắn và phải có chữ tín trong việc thực hiện hợp đồng, có như vậy thì sản xuất mới ổn định và có lãi”.     Với những kết quả đã đạt được trong nhiều năm qua, anh không những làm giầu cho bản thân gia đình mà đóng góp một phần đáng kể vào phong trào phát triển kinh tế xã hội ở địa phương. Để ghi nhận những thành tích đó, Trung ương Hội NDVN tặng Bằng khen và công nhận gia đình anh là hộ sản xuất kinh doanh giỏi cấp Trung ương. 2.3.4. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT qua tổ chức triển lãm địa lí 2.3.4.1. Triển lãm địa lí Triển lãm địa lí là hình thức tổ chức triển lãm các sự vật, hiện tượng địa lí hay các sản phẩm khác nhau trong hoạt động của xã hội, của học sinh trong nhà trường phổ thông. 2.3.4.2. Tác dụng triển lãm địa lí - Thông qua việc tổ chức triển lãm các tranh ảnh, mẫu vật về các ngành nghề kinh tế mà chính học sinh đã tự thu thập, sưu tầm, nhằm giúp các em tiếp cận với những mô hình, các công trình xây dựng, các khu vực sản xuất.... Qua đó các em thấy được những thành tựu về kinh tế, xã hội và khoa học công nghệ của nước ta nói chung, của địa phương nói riêng. Từ đó tạo hứng thú cho học sinh trong học tập môn địa lí cũng như tìm hiểu các ngành, nghề tương lai. - Qua triển lãm, các em sẽ có dịp cùng nhau trao đổi kinh nghiệm, hoạt động nghề nghiệp và giới thiệu những nơi công tác, làm việc mà mình sẽ chọn lựa trong tương lai. Từ đó giúp học sinh yêu lao động, yêu nghề nghiệp hơn. 2.3.4.3. Cách thức tổ chức triển lãm để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 - Giáo viên tập hợp các lớp 12, thông báo cho các em biết mục đích tổ chức triển lãm địa lí và phổ biến các vấn đề sau: + Thời gian, chủ đề và thể lệ tham gia triển lãm. + Chọn nơi triển lãm có thể là hội trường, phòng học - Giáo viên hướng dẫn công tác chuẩn bị, gồm: + Trang trí phòng triển lãm. + Phải có khẩu hiệu, phông màn, hoa. + Nơi để phân loại, bố trí sắp xếp các sản phẩm triển lãm. * Lưu ý về tổ chức triển lãm để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh: + Nên chọn ngày triển lãm, có thể là nhân dịp ngày lễ, ngày kỉ niệm, ngày hội nào đó + Nên chọn cách thức tổ chức sao cho phù hợp với điều kiện của nhà trường và học sinh, tránh lãng phí về thời gian và tiền bạc của học sinh. + Triển lãm cần gắn nội dung hướng nghiệp để thông qua đó giáo dục cho học sinh. · Thiết kế minh họa triển lãm địa lí có giáo dục hướng nghiệp. Trước hoặc sau khi học sinh học xong bài học về địa lí công nghiệp hoặc địa lí giao thông vận tải, giáo viên tổ chức cuộc triển lãm về thiết kế mô hình các khu công nghiệp hoặc các công trình giao thông. - Mục tiêu: tạo sân chơi cho những học sinh 12 chuẩn bị bước vào đời, chuẩn bị chọn nghề nghiệp tương lai, các em sẽ tự mình thiết kế những công trình kinh tế mà các em sẽ tiếp xúc trong tương lai, hay thể hiện ước mơ của mình. - Thời gian: chính thức của Triển lãm: từ 08 giờ đến 11 giờ ngày 10/05/2009. - Địa điểm: Hội trường 2 - trường PTTH Phú Mỹ. - Số lượng: Mỗi lớp thiết kế ít nhất một mô hình. Mỗi cá nhân cũng có thể thiết kế mô hình riêng để tham gia triển lãm. * Quy chế tham gia triển lãm - Khi đăng ký phải ghi rõ số lượng. - Lớp nào đã đăng ký nhưng không đến tham gia lớp đó sẽ bị trừ điểm thi đua. - Thành viên phải mang mô hình thiết kế đến triển lãm đúng ngày giờ đã quy định. - Khi bàn giao mô hình cho Ban tổ chức (BTC), thành viên sẽ kí tên vào sổ chứng nhận lớp và các thành viên tham gia triển lãm. - Vị trí mô hình trưng bày là quyết định của BTC, các thành viên không được tùy tiện sắp xếp. - Chỉ lấy mô hình về khi triển lãm đã kết thúc. - Thành viên nào không tuân theo các quy chế triển lãm sẽ bị BTC nhắc nhở hay loại khỏi triển lãm. * Điều kiện cho mô hình dự thi - Chất liệu để thiết kế mô hình là những vật dụng nhẹ như: các tấm xốp, vỏ lon nước giải khát, vỏ hộp giấy,không dùng các vật liệu nặng như gỗ. - Mô hình phải được chú thích rõ ràng. * Điều kiện loại - Mô hình không đúng chủ đề, thiếu các chú thích hoặc thiết kế quá sơ sài. - Không đúng chất liệu như đã quy định. * Quy chế bình chọn mô hình đẹp Tiến hành chấm làm 2 vòng . Vòng chấm sơ tuyển của Ban Giám Khảo: - Ban Giám Khảo sẽ phân loại mô hình dự thi theo 2 thể loại: Bảng A: mô hình công trình công nghiệp và Bảng B: mô hình công trình giao thông. - Ban giám khảo chấm điểm vòng sơ tuyển dựa trên các tiêu chuẩn của Ban tổ chức. - Ban giám khảo (BGK) sẽ công bố danh sách số lượng mô hình cho mỗi bảng thể loại dự thi được vào vòng bình chọn mô hình đẹp (số lượng mô hình vào vòng trong là do BGK quyết định dựa trên tổng số lượng mô hình dự thi ở mỗi lĩnh vực). Vòng bình chọn mô hình đẹp. - Tất cả mọi người (không phân biệt có là thành viên của lớp hay không) đều được phát phiếu bình chọn và tham gia bình chọn. - Chỉ bình chọn những mô hình dự thi đã được BGK công bố vào vòng bình chọn. - Việc kiểm phiếu bình chọn là do bộ phận kiểm phiếu của Ban tổ chức chỉ định - Kết quả mô hình đoạt giải là do Ban tổ chức (BTC) công bố dựa trên kết quả kiểm phiếu sẽ không giải quyết bất kỳ khiếu nại nào liên quan đến vấn đề này. * Cơ cấu giải thưởng - Có tất cả 6 giải thưởng: 2 hạng nhất, 2 hạng nhì và 2 hạng ba được chia đều cho hai bảng thể loại dự thi. - Mỗi giải thưởng sẽ nhận được tiền thưởng hoặc quà tặng. - Những mô hình đoạt giải sẽ được giữ lại tại tổ bộ môn để làm tư liệu hướng nghiệp cho năm sau. - Thành viên chủ nhân của những mô hình đoạt giải sẽ được công bố tên và tham gia vào thành viên Ban tổ chức. * Vận động đóng góp và tài trợ cho cuộc triển lãm. Ban tổ chức kêu gọi sự giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường, Tổ bộ môn và các đơn vị sản xuất kinh doanh,.. các cá nhân, các bạn thành viên tham gia đóng góp tài chính và công sức một cách thiết thực vào việc chuẩn bị cho triển lãm. - Mọi đóng góp tài chính của các tổ chức, đơn vị hay cá nhân đều mang tính chất tự nguyện và không kèm theo bất kỳ điều kiện nào. - Tài chính đóng góp chỉ dùng vào mục đích duy nhất là phục vụ cho cuộc triển lãm. - Sau cuộc triển lãm BTC phải công khai các khoản chi thu. - Tất cả các đóng góp xin liên hệ Tổ bộ môn, BTC nhận tiền và tặng phẩm. CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 3.1. MỤC ĐÍCH THỰC NGHIỆM Thực nghiệm nhằm kiểm tra tính khả thi và tính hiệu quả của việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa địa lí. 3.2. NGUYÊN TẮC THỰC NGHIỆM - Đảm bảo tính khách quan, chúng tôi đã tiến hành thực nghiệm tổ chức các hoạt động ngoại khóa địa lí ở các trường khu vực huyện Tân Thành - tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu. - Các Trò chơi địa lí, Thông tin địa lí, Câu lạc bộ địa lí, Triễn lãm địa lí phải có nội dung phù hợp với chương trình, phù hợp với lứa tuổi mà đề tài đã nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng của việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa địa lí để hướng nghiệp cho học sinh 12. - Thực nghiệm phải bảo đảm đúng đối tượng là học sinh lớp 12 THPT. 3.3. NỘI DUNG THỰC NGHIỆM Tiến hành tổ chức một số hoạt động ngoại khóa - Thông tin địa lí - Trò chơi địa lí - Triễn lãm địa lí Trong quá trình thực nghiệm, chúng tôi chọn các bài trong chương trình địa lí 12 phần địa lí kinh tế để thiết kế các trò chơi và đố vui địa lí gồm các bài sau: Bài 21. Đặc điểm nề nông nghiệp nước ta Bài 24. Vấn đề phát triển ngành thủy sản và lâm nghiệp Bài 26. Cơ cấu ngành công nghiệp Bài 27. Vấn đề phát triển một số ngành công nghiệp trọng điểm Bài 30. Vấn đề phát triển ngành giao thông vận tải và thông tin liên lạc Lí do chọn những bài này vì, trong chương trình địa lí 12 có 2 mảng kiến thức: Kiến thức về tự nhiên và kiến thức kinh tế - xã hội. những bài được chọn là những bài mang tính chất đại diện cho mảng kiến thức về địa lí kinh tế có thể lồng ghép giáo dục hướng nghiệp. Các hình thức được lựa chọn để tiến hành thực nghiệm: Trò chơi địa lí, Thông tin địa lí, Triễn lãm địa lí. Đây là những hoạt động cơ bản, có tính phổ biến vừa tạo vui chơi lành mạnh, vừa có tác dụng giáo dục. 3.4. TỔ CHỨC THỰC NGHIỆM 3.4.1 Chọn lớp thực nghiệm Thực nghiệm được tiến hành vào đầu tháng 4 năm học 2008 – 2009. Ba trường thực nghiệm là: THPT Phú Mỹ, THPT Trần Hưng Đạo, trường THPT Hắc Dịch thuộc huyện Tân Thành -Tỉnh Bà Rịa – VT. (xem bảng 3.1) Bảng 3.1. Danh sách trường, lớp và giáo viên tham gia thực nghiệm Trường THPT Họ tên giáo viên Lớp TN Lớp ĐC Lớp Sĩ số Lớp Sĩ số Phú Mỹ Nguyễn Văn Thành 12A8 41 12A4 39 Trần Hưng Đạo Lương Thị Viên 12A1 45 12A2 45 Hắc Dịch Đậu Văn Kiên 12A1 35 12A3 36 Tổng số 3 giáo viên 3 lớp 121 3 lớp 120 3.4.2. Phương pháp thực nghiệm - Để việc thực nghiệm đúng ý đồ và đúng mục đích, trước khi tiến hành chúng tôi gặp gỡ các giáo viên dạy ở các lớp trên, trao đổi một cách cụ thể về mục tiêu, nội dung và cách thức tổ chức các hoạt động ngoại khóa. - Soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan dùng chung cho cả học sinh lớp thực nghiệm và lớp đối chứng. - Lớp thực nghiệm được tham gia các hoạt động ngoại khóa có giáo dục hướng nghiệm, lớp đối chứng không được tham gia. 3.4.3. Tiến hành thực nghiệm Các hoạt động thực nghiệm được chọn từ các bài thiết kế minh họa trong đề tài. * Trò chơi địa lí - Lớp thực nghiệm: 12A1 - Số lượng học sinh tham gia: 45 - Thành phần tham dự: Cô: Lương Thị Viên, Thầy: Trần văn Thành (giáo viên địa lí). - Thời gian tiến hành: sáng chủ nhật 05/04/2009. - Địa điểm: Phòng học - trường THPT Trần Hưng Đạo. - Lớp 12A1- Số lượng học sinh tham gia: 35 - Thành phần tham dự: Thầy: Đậu Văn Kiên, cô: Nguyễn Thị Mỹ Trung (giáo viên địa lí). - Thời gian tiến hành: sáng chủ nhật 12/04/2009. - Địa điểm: tại: phòng học - trường THPT Hắc Dịch. - Lớp 12A8 - Số lượng học sinh tham gia: 41 - Thành phần tham dự: Thầy Nguyễn Văn Thành, Cô: Đặng Thị Sâm, cô Nguyễn Thị Mỹ Trung (giáo viên địa lí). - Thời gian tiến hành: sáng chủ nhật 19/04/2009. - Địa điểm: tại hội trường 2- trường THPT Phú Mỹ. * Thông tin địa lí: - Lớp thực nghiệm: 12A1 trường THPT Hắc Dịch, 12A1 trường THPT Trần Hưng Đạo, 12A8 trường THPT Phú Mỹ. - Thời gian tiến hành thu thập thông tin từ 12/04 đến 26/04/2009, nộp lại cho giáo viên bộ môn duyệt hạn chót 26/04/2009. - Học sinh sẽ dán các thông tin về các ngành nghề nông – lâm – ngư – nghiệp vào bản tin của lớp vào 27/04/2009. * Triển lãm địa lí: - Lớp thực nghiệm: 12A8 - Thành phần tham dự: Thầy: Nguyễn Văn Thành, Cô: Đặng Thị Sâm, cô Nguyễn Thị Mỹ Trung (giáo viên địa lí). - Thời gian tiến hành: sáng chủ nhật 03 /05/2009. - Địa điểm: tại hội trường 2 - trường THPT Phú Mỹ. - Số lượng mô hình tham dự: 4 mô hình công nghiệp, 2 mô hình giao thông (cầu cảng và hệ thống đường trong đô thị). 3.5. KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 3.5.1. Kết quả về mặt định tính Qua thực nghiệm chúng tôi thấy hiệu quả của việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 12 như sau: * Đối với lớp thực nghiệm (TN) - Khi tổ chức hoạt động ngoại khóa giáo dục hướng nghiệp các em rất thích vì: - Các em hiểu biết ngành, nghề nhiều hơn. - Các em thừa nhận rằng: nếu như không tổ chức hoạt động ngoại khóa thì việc chọn ngành, nghề để làm hồ sơ tuyển sinh vào các trường của các em rất băn khoăn và phải hỏi người thân. - Các em bớt lo lắng nếu như không đỗ tốt nghiệp hoặc không vào được các trường đại học, cao đẳng,... thì em sẽ có phương hướng cho nghề khác. Điều này các em đã nhận thức được qua hoạt động ngoại khóa hướng nghiệp. Các em đã hiểu nhiều về nghề, những nghề không đòi hỏi trình độ cao. - Qua hoạt động ngoại khóa giúp các em hiểu sâu hơn về các ngành nghề ở nước ta hiện nay, cũng như mở rộng được kiến thức bài học địa lí. - Các em nhận ra cái sai của mình khi chọn nghề như: còn đánh giá cao nghề này và coi thấp nghề kia. Hơn nữa, các em còn biết được những kiến thức cần có khi chọn nghề như biết tình hình phát triển của ngành đó, triển vọng của nghề, các yêu cầu và các điều kiện của nghề. * Đối với lớp đối chứng (ĐC) Vì không được tham gia các hoạt động ngoại khóa nên khi cho trắc nghiệm kết quả là: - Việc hiểu biết về ngành, nghề của các em còn ít và chưa sâu. - Khi học môn địa lí trên lớp các em hầu như chỉ biết rất chung chung về các ngành kinh tế, thậm chí rất mơ hồ, điều này cũng dễ hiểu vì giáo viên không có nhiều thời gian để giải thích, khắc sâu kiến thức ngành, nghề. - Khi chọn ngành, nghề làm hồ sơ tuyển sinh đa số các em còn băn khoăn không biết chọn nghề nào, rất nhiều em trả lời phải hỏi bố mẹ, bạn bè... - Các em lo lắng nhiều vì nếu như không thi đỗ THPT hoặc các trường đại học, cao đẳng,... thì có nghề nghiệp nào để chọn không, điều này do các em biết quá ít về nghề trong các ngành kinh tế ở nước ta hiện nay. - Cũng chính vì thiếu hiểu biết về ngành nghề mà các em còn đánh giá thấp nghề này và coi trọng nghề khác. 3.5.2. Kết quả về mặt định lượng Bằng phương pháp lấy kết quả thực nghiệm thông qua phát phiếu trắc nghiệm. Chúng tôi phát ra: 121 phiếu cho các lớp thực nghiệm và 120 phiếu cho các lớp đối chứng để học sinh trả lời hệ thống câu hỏi (xem mẫu phiếu trắc nghiệm ở phụ lục số 3), kết quả như sau: (xem bảng 3.2) Bảng 3.2. Kết quả thực nghiệm qua phiếu trắc nghiệm (tỉ lệ %) Câu hỏi Lớp Đáp án A B C D E Câu 1 TN 72,7% 18,2% 9,1% - - ĐC 68,3% 24,2% 7,5% - - Câu 2 TN 78,5% 14,1% 7,4% - - ĐC 67,5% 13,3% 19,2% - - Câu 3 TN 3,3% 86,8% 9,9% - - ĐC 12,5% 76,7% 10,8% - - Câu 4 TN 62,0% 24,8% 13,2% - - ĐC 50,0% 31,7% 18,3% - - Câu 5 TN 25,7% 61,2% 13,1% - - ĐC 37,5% 49,2% 13,3% - - Câu 6 TN 77,7% 5,0% 17,3% - - ĐC 66,7% 6,7% 26,6% - - Câu 7 TN 33,1% 57,0% 9,9% - - ĐC 43,3% 41,7% 15,0% - - Câu 8 TN 14,9% 9,9% 75,2% - - ĐC 19,2% 12,5% 68,3% - - Câu 9 TN 0% 84,3% 15,7% - - ĐC 0% 75,0% 25,0% - - Câu 10 TN 8,3% 84,3% 7,4% - - ĐC 15% 76,7% 8,3% - - Câu 11 TN 12,4% 79,3% 8,3% - - ĐC 6,7% 83,3% 10,0% - - Câu 12 TN 10,0% 16,5% 25,6% 19% 28,9% ĐC 7,5% 20,8% 23,3% 26,7% 21,7% Tóm lại: hiệu quả của việc giáo dục hướng nghiệp thông qua tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí như sau: - Đối với lớp thực nghiệm, khi tổ chức hoạt động ngoại khóa có gắn với hướng nghiệp thì các em hiểu biết ngành nghề của nước ta hiện nay nhiều hơn, còn đối với lớp đối chứng không được học ngoại khóa theo định hướng hướng nghiệp thì sự hiểu biết nghề của các em ít. Hai nhóm trên được thể hiện qua tỉ lệ: lớp TN: 54,0% / lớp ĐC: 46,0% - Việc chọn ngành nghề để đăng ký làm hồ sơ tuyển sinh vào các trường đại học hiện nay đối với những học sinh được tổ chức ngoại khóa hướng nghiệp dễ hơn. Những băn khoăn khi chọn ngành nghề hoặc chọn đại ngành nghề của các em đã giảm nhiều so với những em không được tham gia ngoại khóa hướng nghiệp, cụ thể như sau: + Tỉ lệ học sinh cho là dễ chọn ngành nghề để đăng ký làm hồ sơ tuyển sinh vào các trường đại học lớp TN: 55,6% / lớp ĐC: 44,4% + Tỉ lệ học sinh còn băn khoăn khi chọn ngành nghề để đăng ký làm hồ sơ tuyển sinh vào các trường đại học lớp TN: 44,1%/ lớp ĐC: 55,9% + Tỉ lệ học sinh chọn đại ngành nghề nào đó để đăng ký làm hồ sơ tuyển sinh vào các trường đại học lớp TN:42,1%/ lớp ĐC: 57,9% - Số học sinh biết đầy đủ về các thông tin cần có khi chọn nghề ở lớp thực nghiệm nhiều hơn so với lớp đối chứng, cụ thể tỉ lệ: TN: 52,6% /ĐC:47,4%. - Nói về phân biệt ngành nghề, tính chất nghề, lĩnh vực nghềcho thấy: đối với lớp đối chứng các em thường đánh giá sai về các ngành, nghề còn đối với lớp thực nghiệm các em nhận định tốt hơn. Tỉ lệ học sinh nhận định đúng về ngành nghề giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng cụ thể: lớpTN:53,2% / lớp ĐC:46,8% 3.5.3. Kết luận chung về thực nghiệm Từ kết quả thực nghiệm trên cho thấy việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh là rất cần thiết, nhờ tham gia hoạt động ngoại khóa hướng nghiệp đã giúp các em nhìn nhận được thực tế hơn trong việc chọn nghề nghiệp. Giúp các em nhận thấy những sai sót của mình khi đánh giá nghề. Môn địa lí là môn học lồng ghép được vấn đề giáo dục hướng nghiệp cho học sinh dễ dàng. Điều này không những giáo viên đạt được mục đích hướng nghiệp mà còn làm cho học sinh yêu thích, hứng thú với môn học địa lí hơn. Tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa để hướng nghiệp cho học sinh còn nhiều khó khăn như thiếu kinh phí, cơ sở vật chất, thời gian, khâu tổ chức,nên chưa thể tiến hành thường xuyên cho học sinh và không phải trường nào cũng có thể tổ chức được. KẾT LUẬN I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG HẠN CHẾ 1. Kết quả Qua một quá trình nghiên cứu, đề tài đã thu được kết quả như sau: - Đã hệ thống hóa có chọn lọc những lí luận cơ bản về giáo dục hướng nghiệp như: trình bày khái niệm hướng nghiệp, chức năng, nhiệm vụ công tác giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường phổ thông, các nội dung, phương pháp và hình thức giáo dục hướng nghiệp. Đề tài cũng đã khái quát hóa lý luận về hoạt động ngoại khóa địa lí như: khái niệm ngoại khóa, đặc điểm, mục tiêu tổ chức, tầm quan trọng, các nguyên tắc và các hình thức tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí trong trường phổ thông. - Đề tài đã tiến hành điều tra, nghiên cứu và đánh giá được thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 12 thông qua các hoạt động ngoại khóa địa lí ở các trường trên địa bàn huyện Tân Thành - tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. - Luận văn đã xác định được mục tiêu, nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT qua các hoạt động ngoại khóa. Dựa trên các nguyên tắc giáo dục hướng nghiệp, đề tài đã nghiên cứu được các nội dung cụ thể, các hình thức ngoại khóa để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh khi thực hiện các hoạt động ngoại khóa trong chương trình địa lí 12 trung học phổ thông. - Thông qua thiết kế một số hình thức hoạt động ngoại khóa như: Trò chơi địa lí, Thông tin địa lí, Triễn lãm địa lí, Câu lạc bộ địa lí có giáo dục hướng nghiệp, đề tài đã tiến hành thực nghiệm tại một số trường THPT trên địa bàn huyện Tân Thành - tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Kết quả thực nghiệm cho thấy tính khả thi rất lớn của việc sử dụng hình thức dạy học ngoại khóa để giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong dạy học địa lí. 2. Hạn chế Bên cạnh những kết quả thu được, đề tài còn một số hạn chế sau: - Đề tài mới đưa ra một số hình thức ngoại khóa trong dạy học địa lí để giáo dục hướng nghiệp, còn nhiều hình thức nữa mà đề tài chưa đề cập đến. - Do thời gian và cơ sở vật chất của nhà trường hạn chế, cho nên đề tài không thể tiến hành được hết tất cả các hoạt động ngoại khóa trong dạy học địa lí. II. KIẾN NGHỊ Qua việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh 12 qua hoạt động ngoại khóa địa lí được tổ chức ở một số trường THPT trong huyện Tân Thành bước đầu đã thể hiện tính hiệu quả, góp phần vào việc nâng cao giáo dục trong trường phổ thông hiện nay và mở rộng kiến thức địa lí cũng như kiến thức ngành nghề cho học sinh. Để nâng cao hơn hiệu quả dạy học bộ môn địa lí và việc hướng nghiệp, chúng tôi xin có một số đề xuất và kiến nghị như sau: * Đối với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo - Cần biên soạn tài liệu, sách giáo khoa giới thiệu sâu về các trường, các ngành học, đặc điểm yêu cầu của ngành đó đối với người học - Cần biên soạn nhiều giáo trình nói về giáo dục hướng nghiệp qua các môn học để giúp giáo viên có tài liệu tham khảo. * Đối với Sở Giáo Dục và Đào Tạo - Cần có chương trình bồi dưỡng giáo viên về việc tổ chức hoạt động ngoại khóa địa lí. * Đối với nhà trường THPT - Cần có sự bố trí giáo viên hướng nghiệp hợp lí, không giao cho một giáo viên kiêm nhiệm quá nhiều việc như: vừa chủ nhiệm, vừa dạy chuyên môn lại thêm công tác giáo dục hướng nghiệp, điều này gây lo lắng, sức ép lên giáo viên rất khó bảo đảm chất lượng của môn học. - Cần phải có sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình và các cơ quan đoàn thể khác trong việc tổ chức hướng nghiệp cho học sinh. - Tạo điều kiện tốt về kinh phí, cơ sở vật chất và thời gian để giáo viên có điều kiện tiến hành giáo dục hướng nghiệp cho học sinh qua tổ chức các hoạt động ngoại khóa. - Cần quan tâm hơn nữa việc giáo dục hướng nghiệp cho học sinh, đặc biệt là học sinh 12. * Đối với giáo viên - Cần quan tâm hơn nữa việc tổ chức các hoạt động ngoại khóa địa lí cho học sinh, vừa giúp các em trong việc hướng nghiệp, mở mang kiến thức, vừa tạo hứng thú học tập và yêu thích bộ môn hơn. - Mỗi giáo viên cần chuẩn bị cho mình một cuốn sổ tích lũy kiến thức địa lí, đặc biệt là địa lí kinh tế để bổ sung thêm cho kiến thức bài học được phong phú, nhằm giúp học sinh hiểu sâu hơn về ngành nghề. - Trong năm học giáo viên địa lí chỉ tổ chức vào dịp khoảng giữa học kì, lúc này là thời điểm hợp lí nhất đối với chương trình môn địa lí, và cũng là thời điểm các em chuẩn bị làm hồ sơ thi vào các trường Đại Học, cao đẳng và chọn ngành nghề cho tương lai. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn An (1991), Những vấn đề cơ sở của giáo dục học, Đại học sư phạm, TP. Hồ Chí Minh. 2. Bộ giáo dục và Đào tạo, Chỉ thị số 33/2003/Chương trình - BGD& ĐT về việc tăng cường giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. 3. Nguyễn Hải Châu, Trần Trọng Hà, Lê Trần Tuấn (2007), Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục trung học phổ thông – Hoạt động giáo dục hướng nghiệp, NXB Giáo dục. 4. Phạm Tất Dong (chủ biên) (2008), Hoạt động giáo dục hướng nghiệp sách giáo viên 12, NXB Giáo dục. 5. Nguyễn Dược, Nguyễn Trọng Phúc (1993), Lí luận dạy học địa lí, NXB Giáo dục. 6. Trần Trọng Hà, La Thế Thượng (2006), Giới thiệu giáo án Hướng nghiệp 10, NXB Hà Nội. 7. Lê Văn Hồng (chủ biên) (1995), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, NXB Hà Nội. 8. Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn (2002), Từ điển Bách khoa Việt Nam 2, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội 9. Trần Ngọc Khánh (2007), Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình sách giáo khoa lớp 11- Hoạt động Giáo dục hướng nghiệp, NXB Giáo dục. 10. Quốc Hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam(2005), Luật giáo dục, NXB chính trị Quốc gia. 11. Phạm Thị Sen (chủ biên) (2008), Hướng dẫn thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12 môn địa lí, NXB Giáo dục. 12. Trần Nhật Tân, Ngô Thị Thanh Bình, (2008) Sổ tay tư vấn hướng nghiệp và chọn nghề, NXB Giáo dục. 13. Lê Thông (tổng chủ biên) (2008), sách giáo khoa Địa lí 12, NXB Giáo dục 14. Lê Thông (tổng chủ biên) (2008), sách giáo viên Địa lí 12, NXB Giáo dục 15. Bùi Sĩ Tụng (tổng chủ biên) (2008) Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp sách giáo viên 12, NXB Giáo dục. 16. Nguyễn Đức Vũ, Phạm Thị Sen (2006), Đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở trung học phổ thông, NXB Giáo dục. 17. Nguyễn Đức Vũ, Phạm Thị Sen (2005), Đổi mới phương pháp dạy học địa lí trung học cơ sở, NXB Giáo dục. 18. Nguyễn Đức Vũ (2001), Đổi mới phương pháp giảng dạy địa lí trung học phổ thông, NXB Giáo dục. Các nguồn tin từ Internet: 19. Nguồn: huongnghiep.vn 20. Nguồn:http:// www.giaoducvn.net/diendan

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docgiao_duc_huong_nghiep_cho_hoc_sinh_lop_12_qua_to_chuc_cac_hoat_dong_ngoai_khoa_dia_l_8286.doc
Luận văn liên quan