Đề tài Hoàn thiện công tác thẩm định dự án xin vay vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Hai Bà Trưng

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1 : THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI. 3 1.1. Khái quát chung về Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Hai Bà Trưng. 3 1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng. 3 1.1.2. Chức năng nhiệm vụ của chi nhánh. 3 1.1.3. Mô hình tổ chức của chi nhánh. 4 1.1.3.1. Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Hai Bà Trưng. 4 1.1.3.2. Chức năng – nhiệm vụ các phòng ban. 6 1.1.4. Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Hai Bà Trưng trong một số năm gần đây 8 1.1.4.1. Kết quả huy động vốn. 9 1.1.4.2. Kết quả hoạt động cho vay. 10 1.1.4.3. Tình hình nợ quá hạn của chi nhánh. 11 1.1.4.4. Kết quả hoạt động kinh doanh. 11 1.2. Công tác thẩm định dự án xin vay vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Hai Bà Trưng 12 1.2.1. Quy trình thẩm định dự án xin vay vốn. 12 1.2.2. Các phương pháp thẩm định dự án tại Chi nhánh Hai Bà Trưng. 14 1.2.2.1. Phương pháp thẩm định theo trình tự:. 15 1.2.2.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu các chỉ tiêu:. 16 1.2.2.3. Phương pháp phân tích độ nhạy:. 16 1.2.2.4. Phương pháp dự báo:. 17 1.2.2.5. Phương pháp triệt tiêu rủi ro:. 17 1.2.3. Các nội dung thẩm định dự án vay vốn tại Chi nhánh Hai Bà Trưng. 17 1.2.3.1. Thẩm định khách hàng vay vốn. 17 1.2.3.2. Thẩm định dự án đầu tư . 24 1.2.3.3. Thẩm định các biện pháp bảo đảm tiền vay. 52 1.3. Ví dụ minh hoạ cho công tác thẩm định dự án tại ngân hàng . 54 1.3.1. Dự án “Xây dựng mạng Đường trục VTC của Tổng Công ty Truyền thông Đa phương tiện VTC ” 54 1.3.2. Đánh giá công tác thẩm định của ngân hàng trong ví dụ minh hoạ. 82 1.3.2.1. Những mặt đạt được. 82 1.3.2.2. Những mặt còn hạn chế. 82 1.4. Đánh giá chung về công tác thẩm định dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Hai Bà Trưng 83 1.4.1. Những kết quả đạt được. 83 1.4.2. Những mặt còn hạn chế. 85 1.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại trong công tác thẩm định trong công tác thẩm định của Chi nhánh 88 1.4.3.1. Nguyên nhân chủ quan. 88 1.4.3.2. Nguyên nhân khách quan. 89 CHƯƠNG 2 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH DỰ ÁN ĐẦU TƯ XIN VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN QUÂN ĐỘI – CHI NHÁNH HAI BÀ TRƯNG 91 2.1. Định hướng cho công tác thẩm định chung của Ngân hàng trong thời gian tới 91 2.2. Định hướng cho công tác thẩm định dự án đầu tư tại chi nhánh trong thời gian tới 93 2.2. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Hai Bà Trưng. 95 2.2.1. Nhận thức về công tác thẩm định. 95 2.2.2. Giải pháp nâng cao chất lượng công tác thẩm định dự án vay vốn. 95 2.2.2.1. Nâng cao năng lực cho các chuyên viên thẩm định. 96 2.2.2.2. Đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ, thu thập xử lý thông tin trong quản lý điều hành 98 2.2.2.3. Hoàn thiện công tác tổ chức điều hành. 99 2.2.2.4. Nâng cao chất lượng quản lý rủi ro của dự án. 100 2.2.2.5. Hoàn thiện nội dung và phương pháp thẩm định. 102 2.2.2.6. Lập quỹ hỗ trợ, tăng kinh phí cho công tác thẩm định. 106 2.2.2.7. Áp dụng marketing ngân hàng , xây dựng chiến lược khách hàng. 107 2.3. Một số kiến nghị 108 2.3.1. Với nhà nước và các bộ ngành liên quan. 108 2.3.2. Với ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại khác. 109 2.3.3. Kiến nghị với chủ đầu tư . 110 2.3.4. Với Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội 111 PHỤ LỤC DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC SƠ ĐỒ BẢNG BIỂU Sơ đồ 1: Cơ cấu tổ chức của Chi nhánh Hai Bà Trưng. 5 Sơ đồ 2: Quy trình thẩm định dự án xin vay vốn tại chi nhánh Hai Bà Trưng: 13 Bảng 1: Kết quả huy động vốn của chi nhánh. 9 Bảng 2: Kết quả hoạt động cho vay của chi nhánh. 10 Bảng 3: Tình hình nợ quá hạn của chi nhánh. 11 Bảng 4: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh. 11 Bảng 5 : Bảng tính sản lượng và doanh thu . 36 Bảng 6 : Bảng tính chi phí hoạt động. 36 Bảng 6.1: Bảng tính chi phí nguyên vật liệu . 37 Bảng 6.2: Bảng tính chi phí quản lý, bán hàng. 37 Bảng 7 : Lịch khấu hao. 38 Bảng 8 : Tính toán lãi vay. 39 Bảng 8.1 Tính toán lãi vay vốn trung dài hạn. 39 Bảng 8.2 Lãi vay vốn ngắn hạn. 39 Bảng 9 : Bảng tính nhu cầu vốn lưu động. 40 Bảng 10: Báo cáo kết quả kinh doanh. 41 Bảng 11: Bảng cân đối trả nợ ( khi không lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ). 42 Bảng 12 : Bảng tính điểm hòa vốn. 42 Bảng 13 : Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: 45 Bảng 14: Tính độ nhạy khi một biến thay đổi 48 Bảng 15: Quy mô, số lượng dự án thẩm định cho vay những năm qua. 83 Bảng 16: Xem xét sự thay đổi IRR do các yếu tố thay đổi 103 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT NHTM Ngân hàng thương mại TMCP Thương mại cổ phần NHNN Ngân hàng Nhà nước MB Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội CN HBT Chi nhánh Hai Bà Trưng DN Doanh nghiệp DA Dự án P.KHDN Phòng Khách hàng Doanh nghiệp P.KHCN Phòng Khách hàng Cá nhân P.HCTH Phòng Hành chính tổng hợp P.KT&DVKH Phòng Kế toán và dịch vụ khách hàng P.QLTD Phòng Quản lý tín dụng PGD Phòng giao dịch CVTĐ Chuyên viên thẩm định

doc127 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 11/05/2013 | Lượt xem: 1769 | Lượt tải: 8download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Hoàn thiện công tác thẩm định dự án xin vay vốn tại ngân hàng thương mại cổ phần Quân Đội – Chi nhánh Hai Bà Trưng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ra được một đội ngũ chuyên viên thẩm định năng động, nhiệt tình, có năng lực, ngân hàng có thể thực hiện các biện pháp sau: Trong quá trình tuyển dụng đầu vào, cần có một biện pháp kiểm tra khoa học, hợp lý để tuyển chọn được những người có kiến thức phù hợp với vị trí công việc yêu cầu. Đồng thời có những chính sách để thu hút những người tài, những chuyên gia về làm việc, hoặc làm cố vấn, hoặc làm cộng tác cho ngân hàng. Họ chính là những người có nhiều kinh nghiệm về mọi lĩnh vực của kinh tế, hiểu biết các quy định của pháp luật, đồng thời họ có một tầm nhìn xa và rộng, có thể dự đoán được xu thế phát triển của nên kinh tế, của ngành trong tương lai. Điều này là rất quan trọng cho công tác thẩm định, vì nhờ vào đó mà khi tiến hành thẩm định một dự án chuyên viên thẩm định có thể thấy được xu thế biến động của dự án trong tương lai, từ đó có những tính toán hợp lý, và xác định liệu dự án còn có hiệu quả không khi những dự đoán đó xảy ra. Từ đó có thể gợi ý cho chủ đầu tư các biện pháp phòng ngừa giảm thiểu rủi ro, hoặc tận dụng được lợi thế trong tương lai. Thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng không chỉ về chuyên môn nghiệp vụ, mà còn mở các lớp bồi dưỡng tin hoc, ngoại ngữ, các lớp phổ biến các quy định mới nhất của nhà nước, của Ngân hàng Trung Ương về công tác thẩm định, tín dụng. Từ đó, giúp cho chuyên viên thẩm định, tín dụng có điều kiện nắm bắt được những kiến thức mới nhất về nghiệp vụ, quy trình thực hiện. Đồng thời, thông qua các lớp bồi dưỡng cũng tạo điều kiện cho các cán bộ thường xuyên trao đổi kinh nghiệm, giao lưu học hỏi để giải quyết những vướng mắc trong công việc. Khuyến khích các chuyên viên đi học để nâng cao thêm kiến thức chuyên môn, và các kiến thức khác phục vụ cho công việc, các kiến thức về thị trường chứng khoán, trái phiếu, cổ phiếu. Ngân hàng tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích bằng cách: tạo điều kiện về thời gian, cung cấp kinh phí… Thường xuyên tổ chức nhiều buổi thảo luận, trao đổi, báo cáo về tình hình tài chính, tình hình kinh tế, xã hội của đất nước và khu vực để thấy được thực trạng hiện tại, cũng như dự báo xu hướng tương lai, để mở rộng thêm tầm nhìn cho không chỉ chuyên viên thẩm định mà còn cho cả các cán bộ trong ngân hàng. Một điểm hạn chế trong công tác thẩm định, đó là chuyên viên thẩm định đa phần là những người tốt nghiệp các trường kinh tế, do đó khi thẩm định về phần kỹ thuật chủ yếu là chỉ xem xét về giá cả chứ không thể kiểm tra được đặc tính của nó. Để khắc phục hạn chế này Ngân hàng có thể hợp tác với các tổ chức kinh tế, cộng tác với các chuyên gia về kỹ thuật, hoặc thuê tư vấn. Họ là những người có kiến thức chuyên sâu về kỹ thuật do đó sẽ đảm bảo cho hoạt động thẩm định có chất lượng hơn. Ngoài việc quan tâm tới việc nâng cao năng lực, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho chuyên viên, Ngân hàng cũng thường xuyên quan tâm tới đời sống vật chất, đời sống tinh thần của các cán bộ. Bằng cách tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng, tạo điều kiện cho tất cả mọi người đều có quyền phát huy năng lực của mình, đồng thời có một cơ chế thưởng phạt phân minh. Ngoài ra, Chi nhánh cũng quan tâm tới đời sống tinh thần của cán bộ bằng cách: tổ chức các buổi liên hoan, giao lưu văn nghệ, thể thao, tổ chức các kỳ nghỉ không chỉ cho chính các cán bộ mà còn cho cả gia đình của họ. Qua đó tạo ra một sự thoải mái, giảm bớt căng thẳng sau một quá trình làm việc. Chi nhánh cũng nên có những khu tập thể dục thể thao cho cán bộ sau những giờ làm việc căng thẳng. Bên cạnh đó cũng có những chính sách đãi ngộ khuyến khích kịp thời những người có thành tích cao trong học tập cũng như công tác. 2.2.2.2. Đẩy mạnh việc áp dụng công nghệ, thu thập xử lý thông tin trong quản lý điều hành Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển đòi hỏi các ngành kinh tế phải áp dụng tiến bộ công nghệ này vào hoạt động, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ. Do vậy, mỗi cán bộ thẩm định phải được trang bị máy tính cá nhân nối mạng và có những phần mềm chuyên dụng được sử dụng thành thạo. Đổi mới công nghệ ngân hàng yêu cầu phải được tiến hành đồng bộ, đồng thời với nâng cao trình độ cán bộ để sử dụng công nghệ đó. Nếu không sẽ không phát huy hiệu quả trong khi chi phí bỏ ra là rất lớn. Lợi ích của khoa học công nghệ được thể hiện rõ trong công tác thẩm định đó là thu thập và xử lý thông tin với trang thiết bị hiện đại từ đó việc quản trị thông tin trở nên dễ dàng hơn, hoàn thiện hơn trong toàn hệ thống ngân hàng. Thông tin là một yếu tố rất quan trọng đối với công tác thẩm định, nó quyết định tới chất lượng của công tác thẩm định. Khi tiến hành thẩm định các cán bộ thường lấy thông tin chủ yếu từ những tài liệu mà khách hàng chuyển đến, những thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng, từ mối quan hệ đã có với chi nhánh… từ đó có những phân tích để đưa ra kết luận hợp lý nhất. Nhưng trên thực tế những thông tin chưa đảm bảo được độ chính xác cao, do đó yêu cầu nâng cao chất lượng thu thập thông tin là rất quan trọng. Để nâng cao chất lượng thu thập thông tin, thì thông tin đó phải được lấy từ nhiều nguồn không chỉ từ khách hàng, từ thông tin đại chúng, từ mối quan hệ với chi nhánh mà đó còn là thông tin từ mối quan hệ với các chi nhánh, ngân hàng khác, và lấy từ quá trình điều tra khảo sát. Chi nhánh sẽ xây dựng một kho lưu trữ các thông tin đã được xử lý, phân tích sau khi được thu thập. Các thông tin đó nên được bảo mật, song cũng nên thường xuyên cung cấp cho các cán bộ thẩm định để họ có những cơ sở phục vụ cho công việc của mình. Ngoài ra, kho lưu trữ thông tin này cũng cần phải thường xuyên được đổi mới cập nhật, bổ sung. Các thông tin phục vụ cho công tác thẩm định đa phần là lấy từ nguồn khách hàng cung cấp. Vậy thì cần phải yêu cầu các chủ đầu tư phân tích cụ thể các thông tin đưa ra, đồng thời phải có cam kết đảm bảo tính chính xác, trung thực của các thông tin đó. Bên cạnh đó, với những kinh nghiệm đã có của các cán bộ thẩm định, cùng với sự khôn khéo, linh hoạt của mình trong quá trình thẩm định họ sẽ phát hiện ra những điều sai sót bất hợp lý trong các báo cáo tài chính, kế toán của doanh nghiệp. Đồng hành với các nguồn thông tin ở trên là nguồn thông tin thu thập từ môi trường xung quanh. Đây là nguồn thông tin đa dạng, phong phú và khách quan nhất, chính vì thế mà nó sẽ là nguồn thông tin thực sự bổ ích và cần thiết đối với các cán bộ thẩm định khi muốn đánh giá khách hàng của mình một cách chính xác hơn. Để có được nguồn thông tin này thì các cán bộ thẩm định có thể đi khảo sát thực tế thị trường để xác định giá cả thực tế, cung-cầu thị trường, các nguồn cung cấp yếu tố đầu vào, công suất thực tế, phản ứng của khách hàng với sản phẩm của dự án ... nhằm đối chiếu và so sánh với dự án mà khách hàng đã nộp. Ngoài ra cán bộ thẩm định có thể thu thập thông tin của khách hàng vay vốn thông qua các tổ chức tín dụng, các ngân hàng khác, các đối tác khác...mà khách hàng có quan hệ. Qua đó mà ngân hàng nắm được các thông tin cần thiết về tình hình sản xuất kinh doanh, lịch sử quan hệ với các tổ chức tín dụng, uy tín ...của doanh nghiệp vay vốn. Đồng thời thông qua các công ty kiểm toán cán bộ thẩm định có thể đánh giá một cách chính xác hơn về tình hình tài chính thực tế của các khách hàng. Để bổ sung cho lượng thông tin thì cán bộ thẩm định có thể phối hợp, và tham khảo ý kiến của các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới dự án như: kỹ thuật, công nghệ, kiến trúc, đất đai, thị trường hay các cơ chế chính sách, kế hoạch phát triển ngành, vùng, địa phương. Qua đó mà có một cái nhìn tổng quát nhất về dự án cũng như khách hàng để đưa ra một quyết định đúng đắn xem dự án có phù hợp với xu thế phát triển chung của nền kinh tế, của ngành và địa phương hay không từ đó đưa ra quyết định hợp lý. Hoàn thiện công tác tổ chức điều hành Công tác tổ chức quản lý điều hành cũng đóng một vai trò vô cùng quan trọng góp phần nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư. Tổ chức quản lý điều hành tốt giúp cho công việc được tiến hành một cách có khoa học, trình tự công việc giữa các bộ phận liên quan không bị chồng chéo, mâu thuẫn nhau. Bên cạnh đó, còn phát huy tối đa tính sáng tạo, năng lực, sở trường của mỗi cán bộ thẩm định, giảm bớt chi phí, thời gian và nâng cao hiệu quả thẩm định dự án đầu tư. Để công tác quản lý điều hành có hiệu quả, ngân hàng cần xem xét những giải pháp sau: Các dự án đưa đến Ngân hàng có quy mô rất đa dạng nên việc xem xét, sắp xếp phân công dự án cần phải căn cứ vào năng lực, sở trường của mỗi người để phát huy thế mạnh của cán bộ thẩm định. Ngân hàng nên bố trí những dự án có quy mô lớn, tính chất phức tạp cho các cán bộ chủ chốt, kinh nghiệm còn những dự án đơn giản thì giao cho các cán bộ khác. Ngân hàng nên quy định chi tiết, cụ thể hơn về trách nhiệm cũng như quyền lợi của các cán bộ đối với kết quả thẩm định dự án. Tiến tới từng bước chuyên môn hoá trong công tác thẩm định, tách bộ phận thẩm định ra khỏi tín dụng và bản thân nghiệp vụ thẩm định được chuyên môn hoá theo ngành, lĩnh vực kinh tế và thời hạn của dự án. Tổ chức thẩm định trong toàn bộ Ngân hàng cần được hoàn thiện, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa phòng khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhâ, các phòng giao dịch với các phòng khác, giữa hoạt động tín dụng với hoạt động kinh doanh khác của Ngân hàng. Ngoài sự đôn đốc kiểm tra của trưởng phòng đối với các cán bộ thẩm định trong quá trình thẩm định dự án, cũng cần phải có sự đôn đốc kiểm tra của Ban lãnh đạo, và của tổ kiểm tra trong chi nhánh để từ đó kịp thời phát hiện những sai sót, và có biện pháp phù hợp. Ngân hàng nên phát động các phong trào nghiên cứu khoa học hàng năm, qua đó tập hợp được các đề xuất, sáng kiến, đề án nghiên cứu có giá trị để phổ biến áp dụng. Hàng năm, trên cơ sở kế hoạch chung, Ngân hàng cần xây dựng một chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ cho công tác thẩm định các dự án và có tổ chức tổng kết đánh giá để rút kinh nghiệm. Nâng cao chất lượng quản lý rủi ro của dự án Phân tích rủi ro dự án là việc nghiên cứu kết quả dự án dưới nhiều điều kiện khác nhau để xác định những tổn thất hoặc trở ngại mà dự án có thể gặp phải, đồng thời đánh giá mức độ tác động của từng yếu tố tới kết quả dự án để đưa ra các quyết định phù hợp. Các dự án đầu tư thường có thời gian tồn tại dài nên những thay đổi về thị trường, về giá cả… trong tương lai sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí và lợi ích của dự án. Vì vậy cần chú trọng phân tích rủi ro dự án để có những biện pháp phòng ngừa và quản lý hữu hiệu, đảm bảo khả năng thu hồi vốn và sinh lợi của dự án. Ngân hàng phối hợp với chủ đầu tư đánh giá những rủi ro tiềm ẩn và sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy của dự án để tiến hành phân tích rủi ro. Phân tích độ nhạy giúp cho việc đánh giá rủi ro bằng cách xác định những biến cố có ảnh hưởng nhiều nhất đến lợi ích ròng của dự án và lượng hóa mức độ ảnh hưởng của chúng. Việc phân tích độ nhạy của dự án hiện nay ít được các ngân hàng thực hiện nhưng đây lại là một phương pháp đánh giá rủi ro rất có hiệu quả trừ những thay đổi bất thường của các yếu tố. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã giúp cho việc tính toán độ nhạy của dự án là tương đối đơn giản và nhanh gọn, do đó các cán bộ thẩm định cần phát huy việc phân tích này đối với mỗi dự án cụ thể. Mặt khác, hoạt động thẩm định không thể nói là có chất lượng khi dự án sau một thời gian đi vào hoạt động không trả được nợ. Do đó, công tác thẩm định không chỉ dừng lại ở việc thẩm định dự án và đi đến các quyết định tín dụng, mà cón kéo dài đến giai đoạn sau khi dự án đi vào sản xuất kinh doanh. Trong giai đoạn hiện nay số lượng dự án vay vốn ngày càng nhiều, quy mô của dự án ngày càng lớn, tính phức tạp của dự án ngày một tăng, nên khả năng xảy ra rủi ro là rất lớn. Một thực tế hiện nay phần lớn các thua lỗ của các ngân hàng là từ hoạt động tín dụng, đứng trước quyết định cho vay cần phải cân nhắc mâu thuẫn giữa sinh lời và rủi ro. Trước thực trạng đó, yêu cầu đối với quản lý rủi ro là rất lớn, để thực hiện được điều đó Ngân hàng cần phải có những biện pháp đảm bảo cho hoạt động thẩm định, và tín dụng có chất lượng, nâng cao công tác quản lý tín dụng, quản lý rủi ro. Để hạn chế sự phát sinh các khoản tín dụng có vấn đề, nợ quá hạn nợ khó đòi, ngân hàng có thể thực hiện một số biện pháp như : - Rủi ro đối với một dự án cần được phân tích và đánh giá ngay từ giai đoạn thẩm định dự án. Những phương pháp mà các ngân hàng thường dùng để phân tích rủi ro đó là: phương pháp điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu và phương pháp phân tích độ nhạy. Trong đó phương pháp điều chỉnh tỷ lệ chiết khấu là cộng thêm vào lãi suất một mức bù rủi ro cần thiết, sau đó tính toán lại các chỉ tiêu tài chính NPV, IRR…và đưa ra quyết định dựa trên những tính toán mới này. Ngoài những phương pháp truyền thống trên, ngân hàng có thể sử dụng thêm phương pháp khác như phương pháp hệ số tin cậy. Đây là phương pháp điều chỉnh các giá trị dòng tiền dự kiến bằng cách đưa vào các hệ số điều chỉnh đặc biệt đối với từng thời kỳ thực hiện dự án. Các cán bộ thẩm định có thể căn cứ vào những dự án tương tự đã thực hiện trước để đưa một hệ số điều chỉnh cho phù hợp với từng loại dự án. - Thực hiện các quy định về an toàn tín dụng được ghi trong các nghị định của Ngân hàng Nhà nước. - Cần xác định trước những loại rủi ro có thể xảy ra đối với từng nhóm khách hàng, để có sự nghiên cứu phân tích ngay từ khi tiến hành thẩm định và đi đến quyết định cho vay. Đối với các doanh nghiệp, rủi ro chủ yếu xảy ra là do những tác động của thị trường như: giá hàng bán giảm sút, giá nguyên vật liệu tăng, thiên tai, cạnh tranh… Ngân hàng cần thu thập thông tin cả trong quá khứ lẫn tương lai về doanh nghiệp, đồng thời cũng luôn tìm hiểu về thị trường của doanh nghiệp để có những đánh giá phù hợp. Cần xem xét tới những tài sản thế chấp, cầm cố của khách hàng khi cho vay. - Ngân hàng có thể nghiên cứu để ban hành các quy định, cẩm nang tín dụng, cẩm nang quản lý rủi ro, để tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ thẩm định, tín dụng khi thực hiện thẩm định cũng như quản lý dự án. Quy trình phân tích tín dụng, quán lý rủi ro cần được xây dựng một cách chi tiết và quán triệt xuống từng cán bộ thẩm định, cán bộ tín dụng. Đồng thời cũng cần phải giám sát sự tuân thủ các quy định đó để đảm bảo tính nghiêm minh, cũng như tính phù hợp của các quy định. 2.2.2.5. Hoàn thiện nội dung và phương pháp thẩm định Về phương pháp thẩm định Các phương pháp thẩm định tại CN HBT đã được chuyên viên thẩm định áp dụng một cách triệt để, có sự vận dụng linh hoạt cho từng đối tượng. Tuy nhiên theo thời gian các phương pháp này cần có sự cải tiến và bổ sung cho thật sự phù hợp với xu hướng phát triển chung của thời đại và thế giới. Ngày nay khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu đầu tư cũng lớn hơn, kỹ thuật các dự án ngày càng phức tạp, khoa học công nghệ tiên tiến…nếu không nhanh chóng tiếp cận với những cái mới thì sẽ dễ dàng trở nên tụt hậu. Việc vận dụng các phương pháp thẩm định mới tại CN HBT như phương pháp toán xác suất, phương pháp mô phỏng…cần được đưa ra thành kế hoạch cụ thể, cần bổ sung những khoản chi phí cho việc mua, chuyển nhượng công nghệ mới; đồng thời bồi dưỡng cán bộ sử dụng thành thạo công nghệ mới này. Các phương pháp thẩm định hiện đang sử dụng tại Chi nhánh như phương pháp thẩm định theo trình tự, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp dự báo…cần được đổi mới và bổ sung thường xuyên trong cách thức thực hiện. Trong số những phương pháp được sử dụng để thẩm định dự án đầu tư, có một phương pháp rất hiệu quả nhưng thường hay bị bỏ qua, đó là phương pháp phân tích độ nhạy của dự án. Đây là phương pháp giúp cho cán bộ thẩm định thấy được hiệu quả của dự án khi thị trường có những biến động. Đó có thể là chi phí của các yếu tố đầu vào thay đổi như giá nguyên vật liệu tăng, tình trạng khan hiếm nguyên vật liệu trong nước dẫn đến việc phải nhập khẩu từ nước ngoài, hoặc có thể đó là do sự điều chỉnh mức lương tối thiểu của nhà nước. Đó cũng có thể là giá cả của sản phẩm đầu ra thay đổi, nhu cầu của người tiêu dùng tăng làm doanh thu của dự án tăng lên, hoặc cũng có thể do sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh có sự cải tiến mới thu hút được sự chú ý của người tiêu dùng dẫn tới khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án bị giảm sút…Bằng việc cho một yếu tố thay đổi hoặc chi phí hoặc doanh thu, cho cả hai yếu tố thay đổi, cán bộ thẩm định sẽ tiến hành phân tích lại hiệu quả của dự án để xác định độ ổn định của dự án. Bởi một lẽ đương nhiên là dự án tồn tại trong một khoảng thời gian dài do đó sự biến động của thị trường là không thể tránh khỏi. Chính vì tầm quan trọng của phương pháp này cho nên ngân hàng cần phải thường xuyên sử dụng nó trong việc phân tích dự án. Đặc biệt với những dự án có quy mô lớn, độ phức tạp cao thì sự kết hợp của các phương pháp cần phải linh hoạt hơn để đánh giá một cách chính xác về dự án. Để hiểu rõ hơn về phương pháp phân tích độ nhạy ta xem xét một ví dụ sau: Quan sát sát sự thay đổi của chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án IRR do sự thay đổi các yếu tố: vốn đầu tư ban đầu, chi phí khả biến, giá cả sản phẩm, tuổi thọ dự án . Kết quả tính toán thể hiện ở bảng sau : Bảng 16: Xem xét sự thay đổi IRR do các yếu tố thay đổi Các yếu tố thay đổi IRR % thay đổi của IRR ∆IRR/IRR - Không đổi 18,2 0 - Vốn đầu tư tăng 10% 17,5 - 3,84 - Chi phí khả biến tăng 10% 16,3 - 10,43 - Giá cả sản phẩm tăng 10% 14,5 - 20,32 - Tuổi thọ của dự án giảm 10% ( từ 10 năm xuống còn 9 năm ) 17,1 - 6,04 Như vậy IRR nhạy cảm nhiều nhất với giá cả sản phẩm rồi đến chi phí khả biến. Trong quản lý dự án cần đặc biệt quan tâm đến 2 yếu tố này, cần tìm các biện pháp giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Khi các yếu tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu hiệu quả tài chính thay đổi trong giới hạn nhất định theo hướng bất lợi nếu chỉ tiêu hiệu quả tài chính xem xét vẫn đạt hiệu quả ( chẳng hạn NPV > 0, IRR > r giới hạn ) thì dự án xem xét được coi là có độ an toàn cao. Để sử dụng phương pháp phân tích độ nhạy đạt hiệu quả, CVTĐ cần kết hợp phương pháp này với phương pháp dự báo, tìm ra những nhân tố có thể ảnh hưởng tới kết quả hoạt động của dự án trong tương lai. Sử dụng phương pháp dự báo cần được tiến hành trên những giả định mang tính khách quan, tránh ảnh hưởng quá lớn bởi tâm lý của người sử dụng, như vậy mới đảm bảo được tính chính xác của các kết quả tính toán. Cần tiến hành phân tích độ nhạy khi có nhiều thông số cùng biến đổi bởi việc phân tích ảnh hưởng riêng rẽ của một nhân tố sẽ không đánh giá chính xác sự biến động của dự án trong tương lai. Đồng thời chuyên viên thẩm định phải dựa vào trạng thái thị trường, xu hướng biến động của nền kinh tế để đưa ra mức thay đổi của các yếu tố một cách khách quan, khoa học chứ không mang tính chất chủ quan, chung chung. Về nội dung thẩm định Để nâng cao chất lượng của công tác thẩm định thì nội dung thẩm định cần phải được hoàn thiện hơn. - Về thẩm định khách hàng vay vốn, ngoài những hồ sơ tài liệu mà khách hàng gửi tới ngân hàng và qua những thông tin đã thu thập được về khách hàng. Để đánh giá một cách toàn diện hơn, cán bộ thẩm định cần chú trọng tới việc tiếp xúc trực tiếp với khách hàng, qua đó đánh giá được động cơ vay vốn, khả năng nắm bắt thị trường, cũng như hiểu biết của họ về dự án đầu tư. - Đối với thẩm định dự án đầu tư, có thể nói rằng, mỗi nội dung của dự án đầu tư có quan hệ mật thiết với nhau, nội dung sau được lập trên cơ sở của nội dung trước. Đối với việc thẩm định khía cạnh thị trường: chuyên viên thẩm định cần nắm vững phương pháp dự báo cung cầu thị trường, vận dụng cho phù hợp với điều kiện của từng dự án, đánh giá kỹ thị trường mục tiêu, các yếu tố đầu vào và sản phẩm đầu ra của dự án. Cụ thể như sau: Thẩm định sự biến động của các chi phí đầu vào: Đối với những loại nguyên vật liệu đầu vào của dự án, chuyên viên thẩm định cần tìm hiểu giá cả trên thị trường, so sánh với giá cả của các dự án tương tự để đánh giá sự phù hợp cũng như phát hiện ra những bất hợp lý để có sự điều chỉnh kịp thời. Thẩm định sự biến động của các sản phẩm đầu ra: đầu ra của dự án chính là nguồn đem lại doanh thu cho dự án, sự thành bại của dự án căn cứ vào khả năng tiêu thụ các sản phẩm đầu ra. Để xác định được cách tính toán doanh thu hàng năm của dự án có hợp lý hay không, chuyên viên thẩm định cần phải tìm hiểu nghiên cứu khả năng tiêu thụ sản phẩm của dự án, cung cầu sản phẩm trên thị trường, thị phần của doanh nghiệp, những đánh giá của người tiêu dùng về sản phẩm của doanh nghiệp… Trong phần thẩm định kỹ thuật ta nhận thấy rằng hầu hết các CVTĐ đều là những người tốt nghiệp các trường Kinh tế nên về khả năng phân tích tài chính của họ rất tốt, nhưng phần thẩm định khía cạnh kỹ thuật thì họ thường làm hời hợt, cho qua. Để thay đổi cách thẩm định này, Ngân hàng có thể thuê các chuyên gia về kỹ thuật về để cộng tác thẩm định, hoặc trong quá trình tuyển nhân viên thẩm định nên cơ cấu một số người học ở các trường kỹ thuật vào làm việc. Trong nội dung thẩm định tài chính của dự án còn mang tính chất liệt kê là chủ yếu. Để hoàn thiện hơn nội dung thẩm định tài chính dự án đầu tư thì cần phải chú trọng tới một số mặt như sau: Thẩm định kỹ lưỡng vốn đầu tư của dự án: tiến hành phân tích cụ thể nhu cầu vốn lưu động, nhu cầu vốn cố định của dự án trong từng giai đoạn, giai đoạn xây dựng, giai đoạn đi vào vận hành sản xuất. Đối với những dự án mua sắm máy móc thiết bị, cần phải quan tâm tới giá cả của thiết bị trên thị trường, chi phí vận chuyển, bảo dưỡng, bảo hành, khả năng thay thế khi hết thời gian sử dụng hoặc bị hỏng… đối với máy móc thiết bị mua từ nước ngoài còn phải tính đến thuế nhập khẩu, tỷ giá. Trong giai đoạn sản xuất, vận hành còn phải tính đến chi phí sửa chữa, thay thế… Do đó, chuyên viên thẩm định ngoài việc căn cứ vào những tài liệu khách hàng gửi đến, còn phải tham khảo giá cả thị trường, tham khảo các dự án tương tự. Việc xác định chính xác vốn đầu tư ban đầu là một điều rất quan trọng không chỉ đối với chủ đầu tư, mà nó còn rất quan trọng với Ngân hàng trong việc quyết định tài trợ cho dự án. Cần chú trọng tới yếu tố tỷ giá, lạm phát, tỷ suất chiết khấu. Đối với những dự án mà phải nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào, hay những dự án sản phẩm của nó phục vụ mục đích xuất khẩu thì sự biến động của tỷ giá là rất quan trọng. Điều này sẽ làm thay đổi chi phi cũng như doanh thu, dẫn tới việc thay đổi cả lợi nhuận của dự án, lợi nhuận thay đổi chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới nguồn trả nợ của dự án. Sự ảnh hưởng của yếu tố lạm phát cũng vậy, nó cũng sẽ có tác động rất lớn tới doanh thu và chi phí do dự án đem lại. Dưới sự ảnh hưởng của yếu tố lạm phát cùng một lượng tiền nhưng lượng hàng hóa cùng loại mua ở giai đoạn sau sẽ nhỏ hơn ở giai đoạn trước, điều này biểu thị sự giảm giá trị của đồng tiền. Tỷ suất chiết khấu cũng có tác động không nhỏ tới hiệu quả tài chính của dự án, để xác định tỷ suất này phải xuất phát từ những điều kiện cụ thể của từng dự án. Tỷ suất chiết khấu được xác định dựa vào chi phí sử dụng vốn, mỗi nguồn vốn có giá trị sử dụng riêng. Hiện nay, tỷ suất này được tính từ lãi suất bình quân của các nguồn tài trợ cho dự án, hoặc được tính theo lãi suất của trái phiếu kho bạc nhà nước cộng thêm một mức bù rủi ro tương ứng của từng lĩnh vực ngành nghề sản xuất kinh doanh. Chú trọng đến việc lập các bảng thông số cho dự án như các bảng tính chi phí, doanh thu, khấu hao, giá thành sản phẩm… những bảng tính này sẽ là căn cứ cho các chuyên viên thẩm định theo dõi sự biến động về giá cả sản phẩm, các yếu tố đầu vào của dự án, tránh tình trạng bỏ sót hay nhầm lẫn trong tính toán. Đây cũng chính là căn cứ để cho chuyên viên thẩm định tính toán và phân tích các chỉ tiêu tài chính của dự án. Các chuyên viên thẩm định cần phải tìm hiểu các quy định của pháp luật: của Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng, các quy định của ngành…để từ đó xác định lại chi phí quản lý, chi phí lương, chi phí bảo hiểm, chi phí thuê đất…làm căn cứ để xác định chính xác các khoản chi phí phát sinh của dự án. Riêng đối với chi phí khấu hao, cần phải tìm hiểu các quy định mới nhất của Bộ Tài chính về cách xác định khấu hao, từ đó xác định chính xác chi phí khấu hao của dự án. Ngoài các chỉ tiêu sử dụng để phân tích hiệu quả tài chính của dự án như NPV, IRR, DSCR, thời gian thu hồi vốn cần đưa thêm một số chỉ tiêu vào phân tích như chỉ tiêu điểm hòa vốn, chỉ tiêu tỷ số lợi ích chi phí…Sau khi đã tính toán các chỉ tiêu này của một dự án, cần phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu để đưa ra đánh giá chính xác về hiệu quả tài chính của dự án. 2.2.2.6. Lập quỹ hỗ trợ, tăng kinh phí cho công tác thẩm định Thẩm định dự án là một công việc đòi hỏi phải có thời gian, thường kéo dài, không thể hoàn thành ngay trong một thời gian ngắn. Và cũng do đặc tính của công tác thẩm định cho nên để hiểu biết thêm về khách hàng, cán bộ thẩm định phải thường xuyên trao đổi tiếp xúc với khách hàng. Thậm chí để có được các thông tin về khách hàng, các thông tin về dự án phục vụ cho quá trình thẩm định thì cán bộ thẩm định còn phải tiến hành điều tra. Nhất là với những dự án lớn, liên quan tới nhiều lĩnh vực cán bộ thẩm định đôi khi phải tiến hành điều tra về thị trường, giá cả sản phẩm của dự án, đặc tính đã có của các sản phẩm tương tự, khả năng cung cấp các yếu tố đầu vào…do đó chi phí cần cho hoạt động này là rất lớn. Bởi vậy, Ngân hàng phải thành lập quỹ hỗ trợ, tăng kinh phí cho công tác thẩm định. Mặt khác, quá trình thẩm định không chỉ dừng lại ở việc cho vay vốn mà nó còn kéo dài trong suốt thời gian tồn tại của dự án, khi dự án đi vào hoạt động sản xuất và khi ngân hàng thu hồi đủ số vốn ban đầu và số tiền lãi. Sau đó, khi thẩm định dự án đã kết thúc ngân hàng còn tiến hành tổng kết, đúc rút kinh nghiệm để làm cơ sở cho các dự án sau này. Như vậy, cũng có nghĩa là quá trình thẩm định luôn song song tồn tại cùng với quá trình sản xuất kinh doanh của dự án. Thực tế hiện nay số dự án muốn vay vốn ngày càng nhiều, và độ phức tạp của dự án cũng ngày một nâng cao. Bởi vậy, công tác thẩm định ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, và độ phức tạp của công tác này cũng ngày một nhiều. Để bảo đảm được hiệu quả của công tác thẩm định, thì kinh phí hỗ trợ cho hoạt động này cần phải bổ sung nhiều hơn. 2.2.2.7. Áp dụng marketing ngân hàng, xây dựng chiến lược khách hàng Trong thời đại công nghệ thông tin ngày càng phát triển, xu thế cạnh tranh ngày càng gay gắt, các ngân hàng muốn giữ được lượng khách hàng thường xuyên đòi hỏi phải có nhứng chính sách nhất định nhằm khuyến khích, đưa ra các chế độ ưu đãi, tăng cường mối quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng. Để có thể đạt được những điều đó, ngân hàng đã không ngừng đổi mới, quán triệt tư tưởng đối với mỗi cán bộ, xây dựng các chính sách chiến lược và nâng cao chất lượng dịch vụ để phục vụ ngày càng tốt hơn các khách hàng truyền thống và khách hàng trong tương lai. Cán bộ ngân hàng là những người trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, cần thiết phải có phong cách giao tiếp cởi mở, văn minh lịch sự. Thái độ phong cách giao tiếp chính là nghệ thuật giữ khách có hiệu quả nhất trong marketing hiện nay cùng kết hợp với quảng cáo, khuyếch trương thương hiệu của ngân hàng. Bên cạnh đó cần có chính sách cạnh tranh hấp dẫn như về giá cả. Giá cả càng cao thì lợi nhuận của ngân hàng càng lớn nhưng phải biết kết hợp hài hòa giữa lợi ích của ngân hàng và lợi ích của khách hàng. Do vậy, cần áp dụng mức giá một cách phù hợp nhất để vừa cạnh tranh được với đối thủ khác, vừa giữ được khách hàng. Trong công tác thẩm định dự án, các cán bộ thẩm định sẽ có rất nhiều thuận lợi trong giao dịch, thu thập tài liệu từ khách hàng nếu ngân hàng có một chiến lược marketing đạt hiệu quả, tạo được các mối quan hệ đáng tin cậy và lâu dài. Đồng thời, các cán bộ thẩm định cũng phải luôn giữ thái độ đúng đắn của một cán bộ ngân hàng đối với khách hàng của mình, không được gây ra những ảnh hưởng không tốt cả về đạo đức và trình độ chuyên môn, tạo hình ảnh xấu cho ngân hàng. Có như thế ngân hàng mới thực hiện được phương châm là phục vụ nhanh gọn, chính xác và hợp lý. Hơn thế nữa, ngân hàng cũng cần lập nên một bộ phận chuyên làm công tác Marketing, xây dựng hình ảnh cho ngân hàng. Làm việc như một phòng ban chuyên môn độc lập, như vậy công việc xây dựng chiến lược Marketing, tạo dựng hình ảnh, thương hiệu cho Ngân hàng sẽ mang tính chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hơn. 2.3. Một số kiến nghị 2.3.1. Với nhà nước và các bộ ngành liên quan Thứ nhất Nhà nước cần công bố rộng rãi quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội theo ngành, vùng lãnh thổ và theo từng thời kỳ. Quy hoạch này sẽ giúp cho các ngân hàng thương mại có cơ sở để bố trí kế hoạch tín dụng để vừa đảm bảo được nhu cầu vốn đầu tư của doanh nghiệp phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế, vừa đảm bảo về mặt lợi ích cho các ngân hàng Thứ hai nhà nước cần không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và các cơ chế chính sách Nhà nước cần đưa ra các chính sách phát triển kinh tế hợp lý, tránh những đột biến xuất hiện làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng nói chung và các ngân hàng nói riêng, gây thiệt hại cho ngân hàng, chủ đầu tư và toàn thể nền kinh tế Hoàn thiện hệ thống pháp luật cho hoạt động của ngân hàng nói chung và quy chế thẩm định dự án đầu tư nói riêng. Nhà nước cần khẩn trương hoàn thiện cơ chế chính sách và hệ thống các văn bản pháp chế nhằm có đủ các điều kiện cần thiết cho việc thực hiện luật ngân hàng, đảm bảo cho các ngân hàng hoạt động hiệu quả, năng động và an toàn Chính phủ cũng cần sửa đổi pháp lệnh hợp đồng kinh tế, điều chỉnh một số vấn đề liên quan đến hoạt động tíndụng ngân hàng và những vấn đề phát sinh do chưa có quy định cụ thể Chính phủ cũng cần có văn bản hướng dẫn cụ thể trách nhiệm của các bên với kết quả thẩm định trong nội dung dự án, quy định từng bước về từng bước mở rộng quyền và trách nhiệm thẩm định đối với những đối tượng thường xuyên liên quan đến lập và thẩm định dự án như Ngân hàng, Bộ thương mại, Bộ Kế hoạch đầu tư… Thứ ba nhà nước cần có quy định buộc các doanh nghiệp phải thực hiện nghiêm túc chế độ hạch toán kế toán, tạo điều kiện cho các ngân hàng trong việc kiểm tra, giám sát tình hình của doanh nghiệp, qua đó có thể phòng ngừa rủi ro. Mặt khác cần đẩy mạnh hoạt động của kiểm toán nhà nước và kiểm tóan độc lập trong nền kinh tế, đặc biệt là kiểm toán độc lập vì đây là nơi cung cấp thông tin cho công tác thẩm định tương đối chính xác. Để nâng cao hoạt động của kiểm toán trước hết cần có sự thống nhất giữa các công ty kiểm toán Việt Nam, tiêu chuẩn hoá các chuẩn mực kiểm toán sao cho phù hợp với những chuẩn mực quốc tế. Đặc biệt quốc hội nên có quy định các báo cáo tài chính phải được xác nhận bởi của cơ quan kiểm toán Thứ tư nhà nước cần đẩy mạnh các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và thực sự cần thiết, tạo điều kiện cho đầu tư có trọng điểm và đem lại hiệu quả cao. Cần đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá cá doanh nghiệp Nhà nước để nâng cao tính trách nhiệm, tự chủ và chất lượng quản lý các doanh nghiệp Nhà nước Thứ năm các Bộ chủ quản như Bộ công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, tổng cục thống kê…cần phối hợp trong việc thẩm định và phê duyệt các dự án. Bên cạnh đó, các Bộ cần hệ thống hoá thông tin liên quan đến lĩnh vực mà mình quản lý, đồng thời hàng năm công bố công khai các thông tin này để các ngân hàng thương mại cũng như chủ đầu tư dễ dàng thu thập thông tin 2.3.2. Với ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại khác Hệ thống ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế và đặc biệt trước sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Để đẩy mạnh việc sắp xếp, kiện và củng cố lại các ngân hàng này theo hướng phát triển, an toàn và ổn định thì vai trò chủ đạo của ngân hàng nhà nước là rất cần thiết. Do đó ngân hàng nhà nước cần có những chính sách phù hợp nhằm thúc đẩy hoạt động của các ngân hàng nói chung và nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư nói riêng Ngân hàng nhà nước cần ban hành nội dung quy trình thẩm định dự án thống nhất trên cơ sở thẩm định dự án của các cơ quan khoa học, Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ xây dựng, Bộ khoa học môi trường, của các ngân hàn sao cho phù hợp với điều kiện nước ta, đồng thời hoà nhập với thông lệ quốc tế Ngân hàng nhà nước cần tăng cường hỗ trợ về chuyên môn nghiệp vụ cho các ngân hàng bằng cách tổ chức các lớp huấn luyện đào tạo nghiệp vụ cho các cán bộ ngành, cần chú trọng kỹ năng thực hành bằng phầm mềm thẩm định trên máy tính với các ví dụ thực tiễn. Hàng năm Ngân hàng nhà nước nên tổ chức các hội nghị tổng kết đầu tư của các ngân hàng thương mại vào từng lĩnh vực, ngành nghề của nền kinh tế, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm và góp phần định hướng đầu tư trong thời gian tới Nâng cao hiệu quả hoạt động của trung tâm phòng ngừa rủi ro và trung tâm tín dụng ngân hàng để cung cấp các nguồn thông tin hữu ích, đồng thời đảm bảo an toàn cho hoạt động của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng nhà nước nên mở rộng phạm vi cung cấp thông tin của trung tâm tín dụng (CIC), đồng thời cung cấp thêm các thông tin kinh tế- kỹ thuật có liên quan cho công tác thẩm định Công tác thanh tra giám sát cần được đẩy mạnh nhằm kịp thời phát hiện những sai sót trong công tác tín dụng nhất là công tác thẩm định để hạn chế những rủi ro Ngoài ra các ngân hàng thương mại cũng cần tăng cường sự hợp tác trong việc thu thập và xử lý thông tin, trao đổi kinh nghiệm để phục vụ cho công tác thẩm định dự án. Bởi vì mỗi ngân hàng đều có những thế mạnh riêng nên sự hợp tác này rất có Ý nghĩa, nhất là đối với các dự án đồng tài trợ 2.3.3. Kiến nghị với chủ đầu tư Để tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc thẩm định dự án, trước hết các doanh nghiệp nên chọn lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh phù hợp với khả năng tài chính và năng lực quản lý của mình Các dự án đầu tư xin vay vốn cần đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tính hợp pháp, phù hợp với quy hoạch phát triển của từng ngành từng vùng để ngân hàng không phải mất thời gian và chi phí để thẩm định những dự án không được phép hoạt độn. Khi xem xét để đi đến quyết định đầu tư cần nghiên cứu kỹ về các khía cạnh thị trường, kỹ thuật, tài chính… Các chủ đầu tư cần nhận thức đúng vai trò của công tác thẩm định dự án trước khi ra quyết định đầu tư để có những dự án thực sự có hiệu quả, tránh coi việc lập dự án chỉ là hình thức để xin vay Các luận chứng kinh tế kỹ thuật, các báo cáo tài chính và hồ sơ tài liệu có liên quan được gửi lên ngân hàng cần đảm bảo tính trung thực, chính xác để kết quả thẩm định được chính xác. Muốn vậy các chủ đầu tư cần có sự hợp tác cao với ngân hàng. Các chủ doanh nghiệp cần biết rằng, khi công tác thẩm định được tiến hành tốt, ngân hàng ra được những quyết định đúng đắn thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công cuộc đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời đảm bảo khả năng thu hồi vốn của ngân hàng. Như vậy cả ngân hàng và doanh nghiệp đều có lợi 2.3.4. Với Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân Đội Thường xuyên điều các đoàn kiểm tra giám sát hỗ trợ hoạt động thẩm định tại ngân hàng, cử các cán bộ thẩm định có kinh nghiệm và lâu năm, các chuyên gia thuộc trung tâm đào tạo của MB đến tham vấn và đóng góp xây dựng ý kiến cho công tác thẩm định tại ngân hàng. Mặt khác ngân hàng cũng cần có chính sách khen thưởng đãi ngộ xứng đáng với các cán bộ thẩm định Bên cạnh đó ngân hàng cũng cần tích cực tổ chức các hội nghị tổng kết kinh nghiệm thẩm định, các hội thi cán bộ thẩm định giỏi nghiệp vụ toàn ngân hàng nhằm tăng cường sự hiểu biết và phối hợp giữa các chi nhánh và các đơn vị trực thuộc. Ngân hàng không nên ngồi một chỗ mà nên chủ động tìm kiếm các dự án đầu tư có hiệu quả để cho vay, chủ động tiếp cận tìm hiểu nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp, từ đó tư vấn cho doanh nghiệp có phương hướng đầu tư có hiệu quả căn cứ vào định hướng của nhà nước và kế hoạch cho vay của ngân hàng. Ngân hàng cũng thẩm định luôn tư cách pháp lý và tình hình tài chính doanh nghiệp. Việc cải tiến như vậy sẽ tiết kiệm thời gian và chi phí cho cả ngân hàng và doanh nghiệp trong việc thẩm định Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cho công tác thẩm định, phải có một kế hoạch bố trí, sắp xếp, tuyển dụng những nhân viên làm công tác thẩm định tín dụng trong hệ thống Ngân hàng TMCP Quân Đội. Trước hết là phải đánh giá được những cán bộ này về các mặt trình độ, kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp… từ đó phân loại, sắp xếp lại những bố trí cho những cán bộ có năng lực, trẻ, có sức khoẻ đi học tập, đào tạo lại và có cơ hội làm việc lâu dài tại Ngân hàng. KẾT LUẬN Cho vay là hoạt động mang lại phần lớn lợi nhuận cho các NHTM nhưng cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất, ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng. Vì vậy, bên cạnh việc mở rộng hoạt động cho vay, thì các NHTM cũng không ngừng nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro. Đây được coi như một biện pháp chủ động nhất trong việc giảm thiểu tổn thất cho ngân hàng. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, khi mà cạnh tranh ngày càng gay gắt và môi trường kinh doanh luôn diễn biến rất phức tạp thì chất lượng công tác quản trị rủi ro đã trở thành một phần quan trọng giúp ngân hàng đứng vững được trong cạnh tranh. Cho vay theo dự án là hoạt động cho vay có mức độ rủi ro cao, vì vậy, các ngân hàng luôn cố gắng kiểm soát các dự án mà mình tài trợ. Và một biện pháp quan trọng để quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay này đó là thẩm định dự án đầu tư trước khi ra quyết định cho vay.Việc thẩm định dự án đầu tư sẽ giúp ngân hàng biết được hiệu quả và tính khả thi của dự án, khả năng và phương án trả nợ tối ưu của dự án. Từ đó, ngân hàng sẽ tư vấn cho khách hàng về những vấn đề liên quan đến việc lập và thực thi dự án để dự án đạt được hiệu quả tối ưu cho cả ngân hàng và khách hàng. Với việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác thẩm định dự án xin vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – Chi nhánh Hai Bà Trưng ”, em đã đi sâu phân tích những vấn đề cơ bản sau: - Thực trạng công tác thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – Chi nhánh Hai Bà Trưng Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thẩm định dự án đầu tư tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội – Chi nhánh Hai Bà Trưng Với kết quả của chuyên đề này, bản thân em hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ bé kiến thức của mình vào việc giải quyết những khó khăn của thực tiễn đặt ra. Tuy nhiên đây là vấn đề rất phức tạp, rộng lớn trong khi thời gian thực tập, kinh nghiệm thực tế cũng như khả năng nhận thức còn nhiều hạn chế. Vì vậy chuyên đề này không tránh khỏi những khiếm khuyết. Bản thân em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô và các anh chị trong Chi nhánh Hai Bà Trưng để chuyên đề của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành chân thành cảm ơn ! PHỤ LỤC BẢNG 01 - THÔNG SỐ CHUNG STT Chỉ tiêu ĐVT Giá trị I Kế hoạch đầu tư 1 Tổng vốn đầu tư VNĐ 75,200,000,000 2 Vốn vay (80% GTĐT) VNĐ 60,000,000,000 3 Vốn tự có (20% GTĐT) VNĐ 15,200,000,000 4 Thời gian vay Năm 4 5 Lãi suất vay dài hạn (%/ năm) VNĐ 10.44% 6 Khấu hao dự án Năm 8 7 Thời gian dự án Năm 8 IV Chi phí 1 Chi phí BHXH, BHYT/ Quỹ lương CB % 19 2 Chi phí Marketting & bán hàng/DT năm 1-4 % 15 3 Chi phí Marketting & bán hàng/DT năm 5-8 % 7 4 Chi phí tiền lương/DT năm 1 % 10 5 Chi phí tiền lương/DT năm 2 -4 % 7 6 Chi phí tiền lương/DT năm 5-8 % 4 7 Chi phí quản lý/DT năm 1 % 10 8 Chi phí quản lý/DT năm 2-4 % 9 9 Chi phí quản lý/DT năm 5-8 % 8 10 Chi phí bảo dưỡng/DT năm 1-4 % 4 11 Chi phí bảo dưỡng/DT năm 5 – 8 % 5 12 Chi phí khác % 2 13 Chi phí đường truyền quốc tế USD/tháng 80,000 14 Chi phí thuê đường trục HN –HCM VNĐ 5,500,000,000 BẢNG 02: BẢNG TÍNH KHẤU HAO Tổng vốn đầu tư 75,200,000,000 Đvt: VNĐ STT Chỉ tiêu Năm Năm thứ nhất Năm thứ 2 Năm thứ 3 Năm thứ 4 Năm thứ 5 Năm thứ 6 Năm thứ 7 Năm thứ 8 Thiết bị đầu tư 75,200,000,000 Nguyên giá 75,200,000,000 1 Khấu hao trong kỳ 11,280,000,000 11,280,000,000 11,280,000,000 11,280,000,000 7,520,000,000 7,520,000,000 7,520,000,000 7,520,000,000 2 Khấu hao luỹ kế 11,280,000,000 22,560,000,000 33,840,000,000 45,120,000,000 52,640,000,000 60,160,000,000 67,680,000,000 75,200,000,000 3 Giá trị còn lại cuối kỳ 63,920,000,000 52,640,000,000 41,360,000,000 30,080,000,000 22,560,000,000 15,040,000,000 7,520,000,000 0 Chỉ tiêu Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 5 Năm 6 Năm 7 Năm 8 Tỷ lệ khấu hao 15% 15% 15% 15% 10% 10% 10% 10% BẢNG 03: BẢNG KẾ HOẠCH TRẢ NỢ Thời gian Dư nợ Trả gốc Trả lãi Tổng gốc và lãi Lãi 01 năm Gốc 01 năm Năm Tháng 1 1 60,000,000,000 - 522,000,000 522,000,000 6,159,600,000 8,000,000,000 2 60,000,000,000 - 522,000,000 522,000,000 3 60,000,000,000 - 522,000,000 522,000,000 4 60,000,000,000 - 522,000,000 522,000,000 5 60,000,000,000 - 522,000,000 522,000,000 6 60,000,000,000 - 522,000,000 522,000,000 7 60,000,000,000 - 522,000,000 522,000,000 8 60,000,000,000 - 522,000,000 522,000,000 9 60,000,000,000 4,000,000,000 522,000,000 4,522,000,000 10 56,000,000,000 - 487,200,000 487,200,000 11 56,000,000,000 - 487,200,000 487,200,000 12 56,000,000,000 4,000,000,000 487,200,000 4,487,200,000 2 1 52,000,000,000 - 452,400,000 452,400,000 4,802,400,000 16,000,000,000 2 52,000,000,000 - 452,400,000 452,400,000 3 52,000,000,000 4,000,000,000 452,400,000 4,452,400,000 4 48,000,000,000 - 417,600,000 417,600,000 5 48,000,000,000 - 417,600,000 417,600,000 6 48,000,000,000 4,000,000,000 417,600,000 4,417,600,000 7 44,000,000,000 - 382,800,000 382,800,000 8 44,000,000,000 - 382,800,000 382,800,000 9 44,000,000,000 4,000,000,000 382,800,000 4,382,800,000 10 40,000,000,000 - 348,000,000 348,000,000 11 40,000,000,000 - 348,000,000 348,000,000 12 40,000,000,000 4,000,000,000 348,000,000 4,348,000,000 3 1 36,000,000,000 - 313,200,000 313,200,000 3,132,000,000 16,000,000,000 2 36,000,000,000 - 313,200,000 313,200,000 3 36,000,000,000 4,000,000,000 313,200,000 4,313,200,000 4 32,000,000,000 - 278,400,000 278,400,000 5 32,000,000,000 - 278,400,000 278,400,000 6 32,000,000,000 4,000,000,000 278,400,000 4,278,400,000 7 28,000,000,000 - 243,600,000 243,600,000 8 28,000,000,000 - 243,600,000 243,600,000 9 28,000,000,000 4,000,000,000 243,600,000 4,243,600,000 10 24,000,000,000 208,800,000 208,800,000 11 24,000,000,000 208,800,000 208,800,000 12 24,000,000,000 4,000,000,000 208,800,000 4,208,800,000 4 1 20,000,000,000 - 174,000,000 174,000,000 1,305,000,000 20,000,000,000 2 20,000,000,000 - 174,000,000 174,000,000 3 20,000,000,000 5,000,000,000 174,000,000 5,174,000,000 4 15,000,000,000 - 130,500,000 130,500,000 5 15,000,000,000 - 130,500,000 130,500,000 6 15,000,000,000 5,000,000,000 130,500,000 5,130,500,000 7 10,000,000,000 - 87,000,000 87,000,000 8 10,000,000,000 - 87,000,000 87,000,000 9 10,000,000,000 5,000,000,000 87,000,000 5,087,000,000 10 5,000,000,000 43,500,000 43,500,000 11 5,000,000,000 43,500,000 43,500,000 12 5,000,000,000 5,000,000,000 43,500,000 5,043,500,000 BẢNG 04: DOANH THU HÀNG NĂM Đvt: VNĐ STT Chỉ tiêu Năm Năm thứ nhất Năm thứ 2 Năm thứ 3 Năm thứ 4 Năm thứ 5 Năm thứ 6 Năm thứ 7 Năm thứ 8 I Doanh thu 50,415,208,320 103,939,595,400 109,790,171,010 115,279,679,561 132,571,631,495 145,828,794,644 153,120,234,376 153,120,234,376 1 Kênh trong nước 27,724,408,320 66,121,595,400 70,081,271,010 73,585,334,561 84,623,134,745 93,085,448,219 97,739,720,630 97,739,720,630 2 Kênh Quốc tế 22,690,800,000 37,818,000,000 39,708,900,000 41,694,345,000 47,948,496,750 52,743,346,425 55,380,513,746 55,380,513,746 (Doanh thụ được tính căn cứ vào kế hoạch đăng ký chỉ tiêu của Các đơn vị của Tổng VTC, bảng chi chiết kèm theo) Ghi chú: Năm 1 dự kiến các đơn vị khai thác đạt 30% số lượng đường đăng ký Năm 2 dự kiến các đơn vị khai thác đạt 40% số lượng đường đăng ký Năm 3 tăng trưởng doanh thu 105% Năm 4 tăng trưởng doanh thu 105% BẢNG 05: TỔNG HỢP DOANH THU CHI PHÍ THEO CÁC NĂM Tổng vốn đầu tư 75,200,000,000 STT Chỉ tiêu Năm Năm thứ nhất Năm thứ 2 Năm thứ 3 Năm thứ 4 Năm thứ 5 Năm thứ 6 Năm thứ 7 Năm thứ 8 I Doanh thu 50,415,208,320 103,939,595,400 109,790,171,010 115,279,679,561 138,335,615,473 159,085,957,793 182,948,851,463 201,243,736,609 1 Bán kênh nội địa 27,724,408,320 66,121,595,400 70,081,271,010 73,585,334,561 88,302,401,473 101,547,761,693 116,779,925,948 128,457,918,542 2 Bán kênh quốc tế 22,690,800,000 37,818,000,000 39,708,900,000 41,694,345,000 50,033,214,000 57,538,196,100 66,168,925,515 72,785,818,067 I Chi Phí 60,879,468,369 80,902,190,917 85,275,916,548 90,114,965,176 83,356,178,700 95,478,135,106 109,746,843,211 124,102,151,789 1 Chi phí tiền lương 5,041,520,832 7,275,771,678 7,685,311,971 8,069,577,569 5,533,424,619 6,363,438,312 7,317,954,059 8,049,749,464 2 Chi phí BHXH + YT(19%) 957,888,958 1,382,396,619 1,460,209,274 1,533,219,738 1,051,350,678 1,209,053,279 1,390,411,271 1,529,452,398 3 Chi phí Maketing và bán hàng 7,562,281,248 15,590,939,310 16,468,525,652 17,291,951,934 9,683,493,083 11,136,017,046 12,806,419,602 14,087,061,563 4 Khấu hao 11,280,000,000 11,280,000,000 11,280,000,000 11,280,000,000 7,520,000,000 7,520,000,000 7,520,000,000 7,520,000,000 5 Chi phí quản lý 5,041,520,832 9,354,563,586 9,881,115,391 10,375,171,160 11,066,849,238 12,726,876,623 14,635,908,117 16,099,498,929 6 Chi phí thuê đường trục HN-HCM 5,500,000,000 5,500,000,000 5,500,000,000 5,500,000,000 5,500,000,000 5,500,000,000 5,500,000,000 5,500,000,000 7 Chi phí đường truyền quốc tế 15,840,000,000 19,008,000,000 22,809,600,000 27,371,520,000 32,845,824,000 39,414,988,800 47,297,986,560 56,757,583,872 8 Chi phí duy tu vận hành, bảo dưỡng 2,016,608,333 4,157,583,816 4,391,606,840 4,611,187,182 6,916,780,774 7,954,297,890 9,147,442,573 10,062,186,830 9 Chi phí điện 471,744,000 471,744,000 471,744,000 471,744,000 471,744,000 471,744,000 471,744,000 471,744,000 10 Chi phí lãi vay 6,159,600,000 4,802,400,000 3,132,000,000 1,305,000,000 0 11 Chi phí khác 1,008,304,166 2,078,791,908 2,195,803,420 2,305,593,591 2,766,712,309 3,181,719,156 3,658,977,029 4,024,874,732 Ghi chú: Các chi phí được tính dựa vào bảng thông số kèm theo BẢNG 06: HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ STT Chỉ tiêu Năm Năm 0 Năm thứ nhất Năm thứ 2 Năm thứ 3 Năm thứ 4 Năm thứ 5 Năm thứ 6 Năm thứ 7 Năm thứ 8 I Tổng mức đầu tư 75,200,000,000 Vốn vay 60,000,000,000 Vốn đối ứng 15,200,000,000 1 Tổng doanh thu 50,415,208,320 103,939,595,400 109,790,171,010 115,279,679,561 132,571,631,495 145,828,794,644 153,120,234,376 153,120,234,376 2 Tổng chi phí 60,879,468,369 80,902,190,917 85,275,916,548 90,114,965,176 83,356,178,700 95,478,135,106 109,746,843,211 124,102,151,789 3 Lợi nhuận trước thuế -10,464,260,049 23,037,404,483 24,514,254,462 25,164,714,385 49,215,452,794 50,350,659,538 43,373,391,165 29,018,082,588 4 Thuế TNDN (25%) 5,759,351,121 6,128,563,615 6,291,178,596 12,303,863,199 12,587,664,885 10,843,347,791 7,254,520,647 5 Lợi nhuận sau thuế -10,464,260,049 17,278,053,362 18,385,690,846 18,873,535,789 36,911,589,596 37,762,994,654 32,530,043,374 21,763,561,941 6 Dòng tiền (75,200,000,000) 815,739,951 28,558,053,362 29,665,690,846 30,153,535,789 44,431,589,596 45,282,994,654 40,050,043,374 29,283,561,941 7 Khấu hao 11,280,000,000 11,280,000,000 11,280,000,000 11,280,000,000 7,520,000,000 7,520,000,000 7,520,000,000 7,520,000,000 8 Lợi nhuận sau thuế -10,464,260,049 17,278,053,362 18,385,690,846 18,873,535,789 36,911,589,596 37,762,994,654 32,530,043,374 21,763,561,941 9 Lãi suất chiết khấu 10.44% 10 NPV 25,171,198,364 11 IRR 29.05% II Dự kiến trả nợ hàng năm 1 Nợ gốc 60,000,000,000 2 Khoản trả nợ hàng năm 14,159,600,000 20,802,400,000 19,132,000,000 21,305,000,000 0 0 0 0 - Trả gốc 8,000,000,000 16,000,000,000 16,000,000,000 20,000,000,000 0 - Trả lãi 6,159,600,000 4,802,400,000 3,132,000,000 1,305,000,000 0 III Nguồn trả nợ 815,739,951 19,919,026,681 20,472,845,423 20,716,767,894 29,735,794,798 - Khấu hao cơ bản 11,280,000,000 11,280,000,000 11,280,000,000 11,280,000,000 11,280,000,000 - Lợi nhuận sau thuế 50% -10,464,260,049 8,639,026,681 9,192,845,423 9,436,767,894 18,455,794,798 IV Nguồn vốn sau trả nợ -13,343,860,049 -883,373,319 1,340,845,423 -588,232,106 29,735,794,798 V Thời gian hoàn vốn đầu tư (75,200,000,000) (74,384,260,049) (45,826,206,687) (16,160,515,840) 13,993,019,948 58,424,609,544 42.43 tháng VI Thời gian hoàn vốn vay (60,000,000,000) (59,184,260,049) (30,626,206,687) (960,515,840) 29,193,019,948 73,624,609,544 VI Thời gian hoàn vốn vay 48.38 tháng DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Báo cáo thường niên 2006, 2007, 2008, 2009. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 2008, 2009. Quy chế phòng : KHDN, KHCN, Quản lý tín dụng, Hành chính – nhân sự, Kế toán. Điều lệ của MB. Các số liệu do phòng Quản lý tín dụng, phòng Khách hàng doanh nghiệp, phòng Hành chính tổng hợp và phòng Kế toán & DVKH cung cấp. Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. PGS.TS Nguyễn Văn Tiến. NXB Thống kê. Website : www.militarybank.com.vn Báo đầu tư Giáo trình Kinh tế Đầu tư. PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt – TS. Từ Quang Phương. 2007. Đại học Kinh tế Quốc dân. Giáo trình, tài liệu, bài giảng Lập dự án. PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt. 2008. Đại học Kinh tế Quốc dân.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docHoàn thiện công tác thẩm định dự án xin vay vốn tại ngân hàng thương mại CP Quân Đội – chi nhánh Hai Bà Trưng.doc
Luận văn liên quan