Đề tài Học thuyết giá trị thặng dư và sự cống hiến của C.Mác

Riêng tại tỉnh An Giang, mặc dù là địa phương có sản lượng lúa cao nhất cả nước nhưng số hộ có diện tích đất dưới 1 ha chiếm tỷ lệ khá cao, các hộ có quy mô diện tích sản xuất lớn phải sử dụng rất nhiều giấy chứng nhận với nhiều tên khác nhau và chịu nhiều thiệt thòi trong quan hệ tín dụng, nhiều trường hợp người sang nhượng bội tín, xảy ra tranh chấp, Ngân hàng Nông nghiệp không giải quyết cho vay vốn tín dụng với lý do cần phải đợi cấp giấy mới. Nếu cơ quan chức năng xử lý không kịp thời sẽ ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất của nông dân”. Nông dân phải tự gánh chịu nhiều rủi ro, do thu hồi đất đai đền bù không thỏa đáng, thủy điện xả lũ không đúng quy trình, huy động đóng góp quá mức. làm tăng thêm khó khăn đời sống nông dân. Theo báo cáo gửi Bộ NN&PTNT của các địa phương ở miền Trung, con số nông dân bỏ ruộng lên đến hàng chục nghìn hộ dân và hàng nghìn ha đất trồng lúa hoang hóa trong mấy năm lại đây và tình trạng này đang ngày càng gia tăng. Trong năm 2012 - 2013, cả nước đã có 42.785 hộ bỏ không đất canh tác với trên 6.882 ha, có trên 3.407 hộ trả ruộng. Ruộng đất chia cho đầu người quá ít, chỉ vài sào đất, thậm chí là vài thước đất cho mỗi người, rồi thiên tai, dịch bệnh triền miên, cộng với vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp quá cao, trong lúc sản phẩm làm ra bán với giá rẻ mạt, thu không đủ bù chi. là những nguyên nhân chính khiến người nông dân bỏ ruộng.

docx65 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 05/05/2014 | Lượt xem: 2933 | Lượt tải: 27download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Học thuyết giá trị thặng dư và sự cống hiến của C.Mác, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cũng sẽ thu được 200 USD. Nghiên cứu lý luận địa tô TBCN có ý nghĩa: Vạch rõ quan hệ sản xuất TBCN trong nông nghiệp đó là giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản chia nhau giá trị thặng dư do bóc lột lao động của công nhân làm thuê trong nông nghiệp tạo ra. Ngoài ra, lý luận địa tô của Mác còn là cơ sở khoa học xây dựng các chính sách thuế trong nông nghiệp và các ngành kinh tế khác có liên quan đến đất đai có hiệu quả hơn. Chương 2 SỰ CỐNG HIẾN CỦA C.MÁC 2.1 Quan điểm của các trường phái trước C.Mác 2.1.1 Quan điểm của trường phái trọng thương Chủ nghĩa trọng thương ra đời vào thời kỳ quá độ mà nền kinh tế phong kiến bước vào thời suy thoái và nền kinh tế TBCN bắt đầu hình thành. Nó ra đời phản ánh những quan điểm kinh tế của chủ nghĩa tư bản và nó được phát triển rộng rãi ở các nước Tây Âu. Mặc dù thời kỳ này chưa biết đến quy luật kinh tế và còn hạn chế về tính quy luật nhưng hệ thống quan điểm học thuyết kinh tế trọng thương đã tạo ra nhiều tiền đề về kinh tế xã hội cho các lý luận kinh tế thị trường sau này phát triển. Điều này được thể hiện ở chỗ họ đưa ra quan điểm sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị tiền. Học thuyết kinh tế trọng thương coi lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông mua bán, trao đổi sinh ra. Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều, mua rẻ bán đắt mà có. 2.1.2 Quan điểm của trường phái cổ điển Trong thời kỳ chủ nghĩa trọng thương, sự hoạt động của tư bản chủ yếu là trong lĩnh vực lưu thông. Do quá trình phát triển của công trường thủ công, tư bản đã chuyển sang lĩnh vực sản xuất. Lúc này các vấn đề kinh tế của sản xuất đã vượt quá khả năng giải thích của lý thuyết chủ nghĩa trọng thương và học thuyết kinh tế cổ điển xuất hiện. Các nhà kinh tế học của trường phái này lần đầu tiên chuyển đối tượng nghiên cứu từ lĩnh vực lưu thông sang lĩnh vực sản xuất. Lần đầu tiên, họ xây dựng một hệ thống các phạm trù và quy luật của nền kinh tế thị trường. Tiêu biểu là các quan điểm của Keneys, A.Đ Smith, Ricacdo. a)Quan điểm của Keneys : Keneys được C.Mac đánh giá là cha đẻ của kinh tế chính trị học cổ điển và ông có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế. Keneys đã đặt nền tảng cho việc nghiên cứu sản phẩm, tức là nền móng cho việc nghiên cứu quan hệ thặng dư sau này. Ông đã đưa ra những quan điểm kinh tế để tiến hành phê phán chủ nghĩa trọng thương. Keneys cho rằng trao đổi thương mại chỉ đơn thuần là việc đổi giá trị này lấy giá trị sử dụng khác theo nguyên tắc ngang giá cả. Hai bên không có gì để mất hoặc được cả. Bởi vậy thương nghiệp không thể đẻ ra tiền được. Theo ông, sản phẩm thặng dư chỉ được tạo ra từ sản xuất- nông nghiệp kinh doanh theo kiểu TBCN bởi vì trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp đã tạo ra được chất mới nhờ có sự giúp đỡ của tự nhiên. Đây là một quan điểm sai lầm. Nhưng ông cũng manh nha bước đầu tìm ra được nguồn gốc của giá trị thặng dư. Ông cho chi phí sản xuất là tiền lương, sản phẩm thuần tuý là số chênh lệch giữa thu hoạch và tiền lương, đó chính là phần do lao động thặng dư tạo ra. b)Quan điểm của A.Đ Smith Theo ông địa tô là khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động, lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm của người lao động, chúng đều có chung nguồn gốc là lao động không được trả công của công nhân.Về mặt chất, nó phản ánh quan hệ bóc lột. Xuất phát từ sự phân tích giá trị hàng hoá do người công nhân tạo ra A.Đ Smith thấy một thực tế là công nhân chỉ nhận được một phần tiền lương, phần còn lại là địa tô và lợi nhuận của tư bản. Ông cho rằng nguồn gốc của lợi nhuận là do toàn bộ tư bản đầu tư đẻ ra trong lĩnh vực sản xuất và trong lĩnh vực lưu thông. Ông thấy địa tô chênh lệch I do màu mỡ đất đai và vị trí gần xa quyết định nhưng không nghiên cứu địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối. Những tư tưởng kinh tế của A.Đ Smith tuy còn hạn chế và mâu thuẫn, song cũng gây tiếng vang lớn trong giới học giả kinh tế cổ điển. Ông được nhiều tác giả hậu bối coi là "cha đẻ của kinh tế học". c) Quan điểm của Ricacdo Nếu như A.Đ Smith sống trong thời kỳ công trường thủ công phát triển mạnh mẽ thì David Ricacdo sống trong thời kỳ cách mạng công nghiệp. Đó là điều kiện khách quan để ông vượt được ngưỡng giới hạn mà A.Đ Smith dừng lại. Ông là người kế tục xuất sắc của A.Đ Smith. Theo C.Mac, A.Đ Smith là nhà kinh tế của thời kỳ công trường thủ công còn Ricacdo là nhà tư tưởng của thời đại cách mạng công nghiệp. Ông sử dụng phương pháp khoa học tự nhiên, sử dụng công cụ trừu tượng hoá, đồng thời áp dụng các phương pháp khoa học chính xác, đặc biệt là phương pháp suy diễn để nghiên cứu kinh tế chính trị học. Về lợi nhuận, Ricacdo cho rằng "Lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân". Ông đã thấy xu hướng giảm sút tỷ xuất lợi nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút nằm trong sự vận động, biến đổi thu nhập giữa ba giai cấp: địa chủ, công nhân và nhà tư bản. Về địa tô, Ricacdo dựa vào quy luật giá trị để giải thích địa tô, rằng địa tô hình thành không trái với quy luật giá trị. Ông bác bỏ quan niệm cho rằng địa tô là sản phẩm của những lực lượng tự nhiên hoặc năng xuất đặc biệt trong nông nghiệp. Ông đã nhận thức rằng giá trị nông phẩm được hình thành trong điều kiện ruộng đất xấu nhất, nếu kinh doanh trên ruộng đất trung bình sẽ thu lợi nhuận siêu ngạch và lợi nhuận này rơi vào tay địa chủ dưới hình thức địa tô ( địa tô chênh lệch I). nhưng ông không biết địa tô chênh lệch II và phủ nhận địa tô tuyệt đối. 2.2 Những hạn chế của những quan điểm trước C.Mác A. Smith và D. Ri-các-đô đã quan niệm một cách hời hợt, bề ngoài rằng, mua bán giữa tư bản và công nhân là mua bán lao động nên cả hai ông đều gặp bế tắc trong việc lý giải một cách khoa học bản chất và nguồn gốc của lợi nhuận, không giải thích được vì sao trao đổi hàng hóa theo đúng quy luật giá trị mà nhà tư bản thu được lợi nhuận Chẳng hạn, nếu lao động là hàng hóa thì nó phải được kết tinh vào vật, như vậy là công nhân bán hàng hóa chứ không bán lao động; lao động được xác định là thước đo của mọi giá trị thì không thể tự lấy nó để đo lường giá trị của bản thân nó. Mặt khác, nếu mua bán lao động mà trao đổi ngang giá thì không còn cơ sở tồn tại của lợi nhuận, nhưng thực tế lợi nhuận tồn tại một cách khách quan. Vậy, theo các cách giải thích đó, quy luật giá trị mâu thuẫn với quy luật sản xuất ra lợi nhuận và ngược lại. Hạn chế lớn nhất của A.Smith là ở chỗ: Cho rằng sản phẩm xã hội chỉ thể hiện ở hai phần là tiền công (v) và giá trị thặng dư (m), loại bỏ phần giá trị tư bản bất biến (c), đồng nhất thu nhập quốc dân và toàn bộ tổn sản phẩm xã hội. Theo ông giá trị tổng sản phẩm gồm: tiền công, lợi nhuận và địa tô. Từ đó dẫn đến sai lầm tiếp theo: cho rằng tích luỹ chỉ là biến giá trị thặng dư thành tư bản khả biến phụ thêm mà không có tư bản bất biến phụ thêm. Tức là bỏ qua giá trị tư bản bất biến trong phân tích tái sản xuất và không tính đến tư bản bất biến phụ thêm trong phân tích tái sản xuất mở rộng. Học thuyết của Ricardo, Ông chia tư bản thành tư bản cố định và tư bản lưu động mà không chú ý đến quá trình sản xuất ra GTTD. Ở đây Ricardo đã nhầm lẫn giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến với tư bản lưu động và tư bản cố định. Ông cũng không phân biệt giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư nên đã bóp méo quy luật giá trị thặng dư. Về lợi nhuận: Ricardo xác nhận giá trị mới do công nhân sáng tạo ra bao gồm tiền lương và lợi nhuận. Ông đã phát hiện ra quy luật vận động của tư bản là: Nếu năng suất lao động tăng thì tiền lương sẽ giảm tương đối còn lợi nhuận của tư bản sẽ tăng tuyệt đối. Tuy nhiên ông chưa biết đến phạm trù giá trị thặng dư. Ông đã có nhận xét tiến gần đến lợi nhuận bình quân (những tư bản có đại dương bằng nhau thì đem lại lợi nhuận như nhau) nhưng không chứng minh được. Ông cho rằng nếu hạ thấp tiền công thì lợi nhuận tăng lên còn giá trị hàng hoá không đổi. Ông đã thấy xu hướng giảm xuống của tỷ suất lợi nhuận tuy nhiên chưa giải thích được cạn kẽ. 2.3 Đóng góp của C.Mác đối với học thuyết giá trị thặng dư Ph Ăngghen cho rằng: C.Mác có hai phát hiện lớn: một là phát hiện ra quan niệm duy vật lịch sử, hai là phát hiện về giá trị thặng dư. Còn theo đánh giá của V.I Lênin, học thuyết giá trị thặng dư là hòn đá tảng của lý luận kinh tế chính trị của Mác. Nó đã bóc trần sử bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Học thuyết về giá trị thặng dư là một trong hai phát kiến lớn nhất mà C.Mác đã đóng góp cho nhân loại. Cho đến nay học thuyết giá trị thặng dư của C.Mác vẫn giữ nguyên giá trị. Chúng ta, ai cũng biết rằng: bất cứ một học thuyết kinh tế nào ra đời hay hình thành cũng đều dựa trên hai tiền đề là thực tiễn và học thuyết . Bởi lẽ kinh tế học bắt nguồn từ thực tiễn rồi quay trở lại thực tiễn để kiểm nghiệm tính đúng đắn của học thuyết. Hơn nữa một đặc điểm kinh tế của Các Mác là tính kế thừa và tính phê phán: kế thừa cái đã có, còn đúng và phê phán để tìm ra những hạn chế của học thuyết đã có để lọc bỏ, bổ sung, sáng tạo, phát triển và hoàn thiện. C.Mác đã dựa vào kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh ( W. Petty, A.Smith, D.Ricardo), chủ nghĩa xã hội không tưởng của Pháp, Triết học cổ điển Đức (Hêghen và Phoiơbắc). Mác đã kế thừa những tư tưởng của nhân loại, sửa đổi, bổ sung và phát triển học thuyết kinh tế của mình ở trình độ cao hơn. Lênin đã nhận xét: "Tất cả thiên tài của C.Mác chính là ở chỗ đã giải đáp được những vấn đề mà tư tưởng tiên tiến của nhân loại đã nêu ra C.Mác đã kế thừa tất cả những cái gì tốt đẹp nhất mà loài người đã sáng tạo ra trong thế kỷ XIX. Các nhà kinh tế trước C.Mác chưa ai đề cập đến giá trị thặng dư mà chỉ đề cập tới lợi nhuận và được biểu hiện dưới hình thức lợi tức và địa tô. Nhà kinh tế Thomson đã nêu ra phạm trù giá trị thặng dư, tuy nhiên ông lại cho rằng nếu tồn tại phạm trù giá trị thặng dư sẽ vi phạm quy luật giá trị. Vì vậy ông chỉ thừa nhận quy luật giá trị mà không thừa nhận phạm trù giá trị thặng dư nữa. C.Mác là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh hoàn chỉnh học thuyết gia trị thặng dư và khẳng định giá trị thặng dư tồn tại và phát triển hoàn toàn tuân theo quy luật giá trị. Với phát minh này, C.Mác đã vạch rõ được bản chất của chủ nghĩa tư bản, đó chính là quan hệ bóc lột của tư bản đối với lao động làm thuê, đồng thời vạch ra quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản, đó chính là quy luật giá trị thặng dư. Trước C.Mác, ngay cả những nhà kinh tế tư bản lỗi lạc như Ricardo cũng không giải thích được vì sao trao đổi hàng hóa theo đúng quy luật giá trị mà nhà tư bản vẫn thu được lợi nhuận. Nhờ phân biệt được phạm trù lao động và tính chất hai mặt lao động sản xuất hàng hóa C.Mác đã chứng minh một cách khoa học rằng trong quá trình sản xuất hàng hóa lao động cụ thể của công nhân chuyển giá trị của tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng sang sản phẩm, đồng thời lao động trừ tượng của người đó thêm vào sản phẩm một giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động của mình. Khoản lớn hơn đó, từ là số dư ra ngoài khoản bù lại giá trị sức lao động, C.Mác gọi là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt. Công nhân chỉ được tiếp tục làm thuê chừng nào còn tạo ra được khối lượng giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động mà nhà tư bản đã trả cho người đó dưới hình thức tiền công, nếu không sẽ bị sa thải. Mác là người đầu tiên trong lịch sử các học thuyết kinh tế phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, nội dung tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa có thể khái quát như sau: Một quá trình lao động của người sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt, một mặt nó là quá trình lao động cụ thể, lao động cụ thể là lao động hao phí dưới một hình thức cụ thể của một nghề nghiệp chuyên môn nhất định, có mục đích riêng, có đối tượng riêng, thao tác, phương tiện và kết quả riêng. Lao động cụ thể bảo tồn và di chuyển giá trị cũ vào trong giá trị của sản phẩm mới. Mặt khác, nó là quá trình lao động trừu tượng. Lao động trừu tượng là sự hao phí sức lực của con người nói chung, không kể hình thức cụ thể của nó như thế nào. Việc C.Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa đã giúp ông hoàn thiện lý luận về giá trị-lao động mà các nhà kinh tế trước đó không làm được. Lý luận giá trị lao động mà C.Mác là người hoàn thiện, với nội dung là giá trị hàng hóa là lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa, lượng giá trị của hàng hóa tỷ lệ thuận với lượng lao động đã hao phí để sản xuất ra nó. Trên thị trường, lượng giá trị của hàng hóa được quyết định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết trong điều kiện trung bình, như vậy, muốn được lợi, người sản xuất hàng hóa phải quan tâm làm sao cho hao phí thời gian lao động cá biệt của mình thấp hơn thời gian lao động xã hội cần thiết. Như vậy, nhờ phân biệt được tính hai mặt của lao động mà đã có cơ sở để hoàn thiện lý luận giá trị lao động và khẳng định chính lao động trừu tượng là nguồn gốc của giá trị, nó tạo nên giá trị. Ngoài ra, cũng nhờ việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động trong sản xuất đã giúp Mác tìm ra sự khác nhau giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến, là cơ sở cho việc khẳng định chỉ có lao động của người công nhân mới tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Từ những điều trên, có thể phân tích một cách khoa học các lý luận kinh tế khác, trong đó có lý luận giá trị thặng dư, lý luận này đã vạch rõ được nguồn gốc giá trị thặng dư, từ đó phân tích một cách sâu sắc bản chất bóc lột tinh vi của chủ nghĩa tư bản, đó là bóc lột không công của người công nhân làm thuê. Lý luận giá trị thặng dư được coi là hòn đá tảng trong học thuyết kinh tế chính trị của C.Mác, từ lý luận này đã đưa đến hàng loạt các khái niệm, những phạm trù của kinh tế chính trị học của Mác. Từ tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa dẫn tới việc phân chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến, Mác đã nghiên cứu quá trình tích lũy tư bản, xem xét mối quan hệ giữa chúng, từ đó đưa ra được cấu tạo hữu cơ của tư bản. Như vậy, việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa chính là cốt lõi, là cơ sở để hoàn thiện lý luận giá trị-lao động, để xây dựng lý luận giá trị thặng dư và từ đó góp phần hình thành nên các phạm trù của kinh tế chính trị. Học thuyết giá trị thặng dư, một trong hai phát kiến vĩ đại của C. Mác, đó là kết quả của một công trình tiến hành trong suốt cuộc đời nhằm nghiên cứu quy luật vận động của xã hội tư bản. Học thuyết này đã đưa ra những kết luật hoàn chỉnh nhất về xã hội tư bản: Một là, vạch ra quy luật vận động kinh tế của xã hội tư bản- quy luật giá trị thặng dư, và từ đó vạch ra bản chất bóc lột của xã hội tư bản. Hai là, làm rõ địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản trong lịch sử nhân loại; làm rõ vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là người lãnh đạo cuộc đấu tranh để lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa và xây dựng chế độ xã hội mới, xã hội xã hội chủ nghĩa”. Sự phát triển kinh tế và chính trị của thế giới từ nửa sau thể kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, đã làm xuất hiện nhiều luồng ý kiến khác nhau đối với học thuyết kinh tế của Mác. Đặc biệt từ khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ, hệ thống chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, các thế lực thù địch đã hí hửng và ráo riết tìm mọi cách để tấn công vào chủ nghĩa C.Mác, đặc biệt là lý luận giá trị thặng dư. Bởi vì, chúng nhận thức rất rõ rằng, lý luận giá trị thặng dư là hòn đá tảng của toàn bộ học thuyết kính tế của Mác, nếu bác bỏ được lý luận giá trị thặng dư sẽ đánh đổ được toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác, từ đó tước bỏ được vũ khí lý luận cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, thực hiện mưu đồ dập tắt phong trào cách mạng của những người cộng sản chân chính. Những quan điểm phê phán, hoài nghi hoặc phủ định học thuyết kinh tế của C.Mác chủ yếu tập trung vào phần lý luận giá trị thặng dư, từ phương pháp nghiên cứu- phương pháp trừu tượng hóa khoa học đến các luận điểm cụ thể, cơ bản của học thuyết ấy như: máy móc có tạo ra giá trị hay không; lao động trí tuệ, lao động quản lý có vai trò như thế nào trong quá trình sản xuất và quá trình tạo ra giá trị; chủ nghĩa tư bản ngày nay có còn dựa trên cơ sở bóc lột lao động làm thuê hay không; về sứ mệnh cải tạo thế giới của giai cấp công nhân… Song suy cho cùng, các luận điệu đó dù có lập luận, xuyên tạc như thế nào đi nữa, họ cũng không thể phủ nhận một thực tế có tính chất bản lề rằng: quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa vẫn dựa trên chế độ chiếm hữa tư bản tư nhân về tư liệu sản xuất , và do đó bản chất của xã hội tư bản vẫn không thay đổi, vẫn là: toàn bộ xã hội tư bản bóc lột toàn bộ giai cấp công nhân dưới phạm trù giá trị thặng dư và quy luật giá trị thặng dư vẫn là quy luật tuyết đối của chủ nghĩa tư bản. Chương 3: Ý NGHĨA VÀ SỰ VẬN DỤNG THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 3.1 Thực tiễn Hàng hóa sức lao động ở Việt Nam: Ở Việt Nam hiện nay sức lao động là hàng hóa vì : Hàng hóa sức lao động là khái niệm phạm trù chịu sự chi phối của văn hóa lịch sử. Lý thuyết lợi thế so sánh cho phép ta chọn cách tốt nhất. Hàng hóa sức lao động gắn liền với kinh tế thị trường. à Trong thực tiễn : Đối với nhà nước thì nhà nước cần phải ban hành đầy đủ luật pháp, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Đối với doanh nghiệp: doanh nghiệp phải quan tâm đến người lao động, tiền lương phải cho người lao động đủ sống, có biện pháp kế hoạch bố trí phân công lao động hợp lý, tổ chức lớp học nâng cao tay nghề, tuyên truyền pháp luật. Đối với người lao động: người lao động phải không ngừng học tập nâng cao kiến thức để tăng khả năng cạnh tranh so sánh, đòi hỏi học tập suốt đời. Hiện nay nước ta đang thuộc thời kỳ dân số vàng vì 40% dân số có số tuổi từ 60 tuổi trở lên, do đó nhà nước ta đang khuyến khích nên duy trì dân số ở mức sinh thấp hợp lý để đáp ứng được nguồn lao động cho xã hội. Cơ cấu dân số vàng là thách thức nhiều hơn cơ hội, đặt ra những thách thức gay gắt đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta trong thời gian tới, đó là các vấn đề trong việc tạo công ăn việc làm, bảo hiểm xã hội, an ninh trật tự, an ninh lương thực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giáo dục… 3.2 Thực tiễn vấn đề “sản xuất giá trị thặng dư” ở Việt Nam: Sản xuất giá trị thặng dư là phạm trù bị chi phối bởi văn hóa lịch sử xã hội, là sản phẩm gắn liền với kinh tế thị trường. Nếu không có sản xuất giá trị thặng dư thì sẽ không có tích lũy tư bản sẽ không có tái sản xuất mở rộng khi đó kinh tế xã hội sẽ trì trệ không phát triển. Chiếm đoạt giá trị thặng dư là động lực thúc đẩy các nhà tư bản doanh nghiệp hăng hái tham gia sản xuất,bên cạnh đó cũng do theo đuổi giá trị thặng dư đưa đến mâu thuẫn đối kháng giữa hai giai cấp công nhân và nhà tư bản. Hiện nay việc chiếm đoạt giá trị thặng dư mang tính toàn cầu, ở Việt Nam vấn đề đặt ra vai trò của nhà nước trong nền kinh tế hàng hóa giải quyết mâu thuẫn giữa tăng trưởng cao và công bằng xã hội, nếu tăng trưởng cao thì đưa đến sự bất bình đẳng còn nếu công bằng xã hội thì xã hội trì trệ, chậm phát triển. Do đó vai trò của nhà nước là phải vừa kích thích tăng trưởng vừa đảm bảo công bằng xã hội, đòi hỏi phải có chế độ xã hội ưu việt. 3.3 Sự vận dụng học thuyết giá trị thặng dư đối với công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, Việt Nam chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì vẫn còn không ít những khó khăn, trở ngại, do đó trở thành trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước. Những người có tư tưởng đối lập đã lập luận rằng: xây dựng CNXH mà lại thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, thực hiện chính sách mở cửa, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển tức là ở Việt Nam thừa nhận lý luận giá trị thặng dư và toàn bộ chủ nghĩa Mác - Lênin đã bị phá sản. Những người có “thiện chí” hơn thì tỏ ra “khách quan” và cho rằng: lý luận giá trị thặng dư của Mác ra đời từ thế kỷ XIX, vào lúc CNTB còn đang là CNTB “cổ điển”, còn nhiều tính chất hoang dã, thiếu tính nhân văn, là sản phẩm của văn minh cơ khí; ngày nay bước sang thời kỳ mới - thời kỳ hậu công nghiệp thì lý luận giá trị thặng dư của Mác đã hết sứ mạng lịch sử và không còn phù hợp nữa Khi nghiên cứu, vận dụng học thuyết giá trị thăng dư vào sự phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần phải quán triệt tư tưởng của Mác, đó là: phải đặt trong mối quan hệ giữa cái “bất biến” và cái “khả biến” trong việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư. Cái bất biến chính là tính khoa học bền vững của lý luận giá trị thặng dư, nhưng tính khoa học đó cần phải được vận dụng sáng tạo và phải đặt trong những điều kiện lịch sử nhất định của thực tiễn sinh động (tức là cái khả biến). Hay như Lênin đã căn dặn rằng: Chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là cái gì đó đã xong xuôi và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phát triển hơn nữa mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống. Như vậy chính những người sáng lập và đặt nền móng cho sự tồn tại của chủ nghĩa Mác- Lênin cũng đã chỉ dẫn và nhắc nhở chúng ta cần phải nghiên cứu, xem xét, bổ sung, hoàn chỉnh chủ nghĩa Mác nói chung, lý luận giá trị thặng dư nói riêng cho phù hợp với những điều kiện, những mối quan hệ hiện thực cụ thể, chứ không phải vận dụng nó một cách máy móc, khô cứng hay để phê phán, phủ nhận nó… Như vậy, xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay không hề phủ nhận lý luận giá trị thặng dư, mà ngược lại, lý luận giá trị thặng dư của Mác vẫn giữ nguyên giá trị. Đồng thời, nghiên cứu vận dụng Học thuyết giá trị thặng dư vào phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta cần chú ý một số vấn đề sau đây: Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơ cứng cũ. Bởi lẽ trong thời kỳ quá độ quan hệ sản xuất cũ chưa bị thủ tiêu hoàn toàn và quan hệ sản xuất mới chưa thể chiến thắng toàn diện. Do vậy, càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó Hai là, phải biết khai thác những di sản lý luận của học thuyết giá trị thặng dư để đẩy mạnh phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta. Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu lịch sử nền sản xuất hàng hóa, đặc biệt là nền kinh tế hàng hóa phát triển cao dưới chủ nghĩa tư bản. Cho nên chính C. Mác chứ không phải ai khác, là một trong những nhà nghiên cứu sâu sắc về kinh tế thị trường. Mặc dù nền kinh tế hàng hóa ở nước ta có tính đặc thù của nó (sản xuất nhỏ, đang từng  bước vươn lên sản xuất lớn…), song đã là kinh tế hàng hóa thì ở đâu cũng đều có tính phổ biến, cũng phải nói đến giá trị và giá trị thặng dư. Cho nên việc nghiên cứu những công cụ, chính sách làm tăng gía trị và giá trị thặng dư cho xã hội tư bản có ý nghĩa cả lý luận và thực tiễn to lớn đối với phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Đặc biệt là nghiên cứu 2 phương pháp bóc lột giá trị thặng dư dưới chủ nghĩa tư bản mà C. Mác đã chỉ ra để từng bước áp dụng, đổi mới khoa học công nghệ, đào tạo và đào tạo lại tay nghệ người lao động.. .từng bước nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, để hàng hóa nước ta đủ sức cạnh tranh trên thị trường cả trong và ngoài nước vươn lên phát triển nền kinh tế hàng hóa lớn. Ba là, trong đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước  hiện nay, để thực hiện mục tiêu: dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta cần khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, theo phương châm: ai làm giàu hợp pháp thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh, ai làm giàu bất hợp pháp thì bị xử phạt thông qua các công cụ, chế tài và pháp luật của Nhà nước. Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt chống thất thu thuế, mặt khác bảo đảm sự “công bằng” thông qua điều tiết thu nhập xã hội thông qua các "kênh" phân phối lại , nhất là sử dụng linh hoạt và có hiệu quả các quỹ phúc lợi xã hội của cả chính phủ và các tổ chức, các nhân phi chính phủ trong và ngoài nước.  Bốn là, khai thác giá trị lý luận của C. Mác nói về quá trình tổ chức sản xuất và tái sản xuất tư bản chủ nghĩa với tính cách là một nền sản xuất lớn gắn với quá trình xã hội hóa ngày càng cao nhằm tạo ra khối lượng giá trị thặng dư ngày càng lớn. Trên cơ sở những gì được coi là tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên, đặc biệt là về mặt tổ chức- kinh tế, vận dụng vào phát triển nền kinh tế nước ta thời ký quá độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hóa sản xuất theo hướng  sản xuất ra ngày càng nhiều sản phẩm thặng dư, để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. 3.4 Liên hệ tư bản thương nghiệp ở Việt Nam hiện nay: Thương nghiệp Việt Nam, vốn ra đời và tồn tại từ lâu, đã được đặt vào một hoàn cảnh thuận lợi để phát triển và đóng góp cho nước nhà. Thương nghiệp Việt Nam phải gắn liền với truyền thống thương mại Việt Nam và là một thuộc tính tất yếu của đời sống xã hội. Với lợi thế về giao thông cả về đường thuỷ lẫn đường bộ, cũng như nhu cầu tự thân của đời sống, các hoạt động thương mại xuất hiện rất sớm trong văn hóa Việt Nam. Các dấu vết khảo cổ tại di chỉ văn hóa Đông Sơn, Óc Eo, đều phát hiện những sản phẩm mang dấu tích nước ngoài. Và ngược lại, các nhà khoa học cũng đã phát hiện nhiều sản phẩm của Việt Nam ở nước ngoài. Trong xã hội phong kiến,thương nghiệp không được coi trọng, tầng lớp thương nhân bị xếp vào thứ hạng cuối cùng theo thứ tự SĨ, NÔNG, CÔNG, THƯƠNG. Các nhà nước phong kiến Việt Nam, vì nguồn gốc kinh tế chính trị xã hội của mình đã phải ức thương, coi trọng nông nghiệp để duy trì sự ổn định. Các thế hệ người Việt Nam ý thức rất rõ "Phi thương bất phú, phi công bất hoạt, phi trí bất hưng và phi nông bất ổn" (tức là không buôn bán thì không giàu có được, không làm nghề thủ công công nghiệp thì xã hội không năng động, không có kiến thức thì không hưng thịnh, không có nông nghiệp thì không ổn định). Song vì muốn duy trì sự ổn định, nên nhà nước phong kiến chỉ cho phép một thứ phát triển, đó là nông nghiệp, nhằm phục vụ cho quyền lực chính trị của mình. Trên thực tế, bản thân nền sản xuất nông nghiệp tiểu nông vẫn có nhu cầu trao đổi, buôn bán. Nhiều ngôi chợ đã được mọc lên nhằm giải quyết nhu cầu ấy. Buôn bán ngoại thương thời kỳ đó cũng dần phát triển. Tất nhiên, trên nền tảng kinh tế tiểu nông, đặc biệt là sự kìm hãm có ý thức của chính quyền phong kiến trung ương thì thương mại không thể phát triển mạnh. Sự may rủi trong buôn bán vốn đã lớn, thì trong chế độ phong kiến tập quyền lại càng lớn hơn. Một loạt hệ thống hạch sách, ngăn sông cấm chợ, hệ thống tuần ti mọc lên khắp triền sông. Người kinh doanh luôn đối mặt với nguy cơ mất cả vốn lẫn lãi. Chính quyền phong kiến, mỗi lần muốn chứng tỏ sự quan tâm phát triển kinh tế, lại cắt giảm tuần ti. Và đến khi cần tiền lại tăng cường lực lượng hạch sách này. Đến cuối thế kỷ 19 đầu 20, khi thực dân Pháp hoàn thành xâm chiếm và bắt đầu khai thác, xã hội Việt Nam bị phân hoá mạnh mẽ. Giai cấp tư sản ra đời, họ đầu tư vào kinh doanh, buôn bán. Hàng loạt cuộc vận động cải cách, canh tân đất nước thời đó đều đề cao thương mại. Nhà cải cách Nguyễn Trường Tộ đã đề xuất những việc cần làm ngay trong đó có ý tưởng dùng thương mại, trao đổi buôn bán bên ngoài như một biện pháp quan trọng nhằm tích góp cho đất nước. Cũng trong thời kỳ này, nhân vật nổi tiếng như Đặng Huy Chứ, được lệnh của triều đình đã tự đi buôn ở nước ngoài và lập ra công ty Bình Chuẩn nhằm đưa ra giá trị chung để điều tiết hoạt động thương mại của cả nước. Như vậy, vào đầu thế kỷ 20, thương mại Việt Nam được đặt trong hoàn cảnh phát triển mới, có sự tác động của tư bản phương tây, với điều kiện kinh doanh rộng rãi hơn song cũng cạnh tranh gay gắt hơn. Nét đáng chú ý là hoạt động thương mại của Việt Nam thời ấy còn gắn liền với tinh thần dân tộc, yêu nước. Họ kinh doanh để tạo vốn ra nước ngoài hoạt động. Điển hình như ông vua đường thủy Bạch Thái Bưởi, với một đội thuyền vận tải hùng hậu, luôn đề cao tinh thần dân tộc, kêu gọi sự ủng hộ của dân chúng để cạnh tranh lại với giới tư sản phương tây vốn có quá nhiều lợi thế. Hàng loạt nhà thương nghiệp khác, dù sớm hay muộn, đều gắn liền hoạt động kinh doanh của mình với vận mệnh dân tộc. Và trong bối cảnh cạnh tranh bất bình đẳng như vậy, sự thành công ban đầu của các doanh nhân Việt Nam đầu thế kỷ 20 là đáng ghi nhận và tôn vinh. Thương mại Việt Nam thực sự lóe sáng và được tạo điều kiện phát triển khi cách mạng thành công. Từ sau cách mạng tháng Tám, Đảng và nhà nước chủ trương xây dựng nền thương nghiệp xã hội chủ nghĩa. Tuy còn non trẻ, lại phát triển trong điều kiện có chiến tranh nhưng nền thương nghiệp mới đã có những đóng góp to lớn trong suốt thời kì chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ. Thành tựu lớn nhất có ý nghĩa chính trị - xã hội là Việt Nam đã chuyển hướng thương nghiệp vào lợi ích của nhân dân, phục vụ kháng chiến. Theo đó, nền thương nghiệp được tổ chức lại. Ngành nội thương bảo đảm luân chuyển hàng hoá phục vụ tiêu dùng trong xã hội và chuyển ra cho tiền tuyến. Ngành ngoại thương làm tròn nhiệm vụ trao đổi, tiếp nhận hàng hoá từ các nước bạn, kịp thời đáp ứng tình hình kinh tế đất nước trong thời chiến. Hình ảnh các cô mậu dịch viên trở thành thân quen đối với mọi người dân thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc. Tuy vậy, do hạn chế có tính lịch sử, thương nghiệp trước 1975 vẫn còn mang nặng cơ chế tập trung, bao cấp. Từ sau 1975, khi cả nước chuyển sang giai đoạn xây dựng, phát triển và hoà nhập vào kinh tế thế giới thì cơ chế đó bộc lộ rõ những nhược điểm của nó. Nhược điểm quan trọng là quan hệ phân phối không phù hợp với trình độ sản xuất và lực lượng sản xuất hiện có của chúng ta. Quá trình đẩy quan hệ sản xuất đi trước một bước khi lực lượng sản xuất chưa cho phép đã làm cho nền thương nghiệp chựng lại và có chiều hướng tuột dốc. Thêm vào đó, hai nhược điểm cơ bản của thương nghiệp truyền thống (GIAN và DỐI) vốn chưa được chú ý khắc phục thì, nay lại có cơ hội trỗi dậy, đẩy nhanh sự suy thoái của thương nghiệp và cả nền kinh tế nước nhà. Từ sau đổi mới, thương nghiệp nước nhà đã có những chuyển biến tích cực. Đảng chủ trương “Thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”. Để thực hiện được chủ trương đó, chúng ta đang ra sức xây dựng những luật định cần thiết cho lĩnh vực kinh doanh và xây dựng hành lang pháp lí để các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn ở Việt Nam hoạt động có hiệu quả. Các điều luật về kinh tế, đặc biệt là trong lĩnh vực thương nghiệp phải tập trung vào việc hạn chế tối đa những nhược điểm có tính truyền thống của thương nghiệp Việt Nam. Có như vậy, chúng ta mới giữ được chữ “TÍN” với khách hàng trong bối cảnh kinh tế nước nhà đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới. Sự chiến thắng hoàn toàn của phương cách kinh doanh khoa học, có đạo đức đối với lối làm ăn cẩu thả, gian dối là sự sống còn của nền thương nghiệp Việt Nam trong thời kì hội nhập kinh tế thế giới. Điều này đòi hỏi hệ thống quản lí nhà nước phải có thái độ kiên quyết, cứng rắn trong quá trình xử lí các sai phạm của gian thương và những doanh nhân muốn nhanh chóng làm giàu bằng con đường bất chính. è Qua hơn 20 năm đổi mới, thương nghiệp Việt Nam đã có diện mạo mới và từng bước khẳng định đẳng cấp trong nền kinh tế thế giới. Việc khởi xướng phong trào tôn vinh doanh nhân thành đạt đã tạo đà cho thương nghiệp phát triển đồng thời khuyến khích doanh nhân vươn lên làm giàu một cách chính đáng. Các doanh nhân đã có nhiều đóng góp tích cực cho nền kinh tế nước nhà. Trong thực tế, chính hiệu quả kinh doanh và những hoạt động xã hội của giới doanh nhân đã làm thay đổi cách nhìn của xã hội về tầng lớp thương nhân nói chung. Do có sự thay đổi cơ cấu thành phần kinh tế và vai trò của các thành phần kinh tế, trong xã hội hiện đại sẽ không còn sự “xếp hạng” giai tầng như trước đây; và thương nhân với tư cách là những “chiến sĩ” trên thương trường quốc gia và quốc tế, đã và đang được cả xã hội quan tâm, khuyến khích. Có thể nói rằng, hiện nay, thương nghiệp đang từng ngày, từng giờ góp phần tích cực vào quá trình làm cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tuy còn nhiều vấn đề cần tháo gỡ nhưng, nhìn đại thể, thương nghiệp Việt Nam đã có những bước đi vững chắc và đang tiếp tục phát triển trong một môi trường xã hội – chính trị có nhiều thuận lợi nhất so với trước đây. 3.5 Liên hệ tư bản cho vay ở Việt Nam hiện nay: Ngành ngân hàng năm 2013 nhìn chung vẫn còn nhiều sóng gió. Nhưng so với năm trước, tình hình hệ thống ngân hàng đã được cải thiện đáng kể.  Thời gian qua, dù lãi suất huy động liên tục giảm mạnh và không phải lúc nào cũng “kịch trần”, cụ thể NHNN đã giảm 2% các mức lãi suất điều hành; giảm 3%/năm lãi suất cho vay ngắn hạn với lĩnh vực ưu tiên; giảm 1% lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi và từ cuối tháng 6 cho phép các tổ chức tín dụng (TCTD) tự ấn định lãi suất huy động kỳ hạn từ 6 tháng trở lên nhưng người dân vẫn tiếp tục gửi tiền vào với kỳ hạn dài bởi đây vẫn là kênh đầu tư an toàn và hiệu quả nhất so với các kênh đầu tư khác hiện nay. Tính đến cuối tháng 12/2013, tiền gửi VND của dân cư vẫn tăng 15,61%. Các giải pháp tín dụng tiếp tục được điều hành linh hoạt hơn theo hướng “tái tạo” đường cong lãi suất, mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động của TCTD, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ, đồng thời tiếp tục thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Nhờ đó, cuối tháng 12/2013, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống gần sát mục tiêu 12%. Cùng với điều chỉnh nhanh lãi suất, NHNN cũng sử dụng các công cụ cung tiền hợp lý như thị trưởng mở, mua vào ngoại tệ… và tốc độ tăng trưởng tín dụng khớp với mục tiêu đề ra (khoảng 12%) nên đã kiểm soát lạm phát khá thành công ở mức 6,04% - mức tăng thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Dấu ấn quan trọng của ngành ngân hàng năm qua là sự ra đời của công ty quản lý tài sản của các TCTD (VAMC). Sau thời gian dài chuẩn bị, ngày 9/7/2013, VAMC được thành lập, ngày 26/7/2013 NHNN tổ chức ra mắt VAMC và ngày 1/10/2013 VAMC bắt tay vào mua món nợ xấu đầu tiên của Agribank. VAMC ban đầu mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt. Trái phiếu này được TCTD mang lên NHNN vay với lãi suất tái cấp vốn thấp hơn 2% so với lãi suất tái cấp vốn do NHNN quy định tại từng thời điểm. TCTD được vay tái cấp vốn tối đa bằng 70% giá trị trái phiếu đặc biệt. Bên cạnh sự ra đời của VAMC, các TCTD cũng đẩy mạnh tự giải quyết nợ xấu bằng nguồn dự phòng, tái cơ cấu nợ theo Quyết định 780, đến nay tỷ lệ nợ xấu đã giảm còn 4,55% trên tổng dư nợ, từ mức 4,73% vào tháng 10. Tốc độ tăng nợ xấu cũng đã chậm lại, chỉ còn 2,2%/tháng, thay vì 3,91%/tháng trong năm 2012.  Việc xử lý nợ qua VAMC cũng đã có những tiến triển nhất định. Tính đến ngày 24/12, VAMC đã mua được gần 32.000 tỷ đồng dư nợ gốc của gần 30 TCTD. Dự kiến, năm 2014 VAMC sẽ mua khoảng 100-150 nghìn tỷ đồng. Nhờ nỗ lực của Chính phủ, NHNN cũng như sự quyết liệt của từng TCTD trong việc xử lý nợ xấu, nên tỷ lệ nợ xấu đã giảm mạnh từ mức 8,86% tổng dư nợ cuối năm 2012 xuống còn 4,55% đến tháng 11/2013  Quá trình tái cơ cấu ngân hàng đã đạt được những kết quả ban đầu đáng khích lệ theo đúng mục tiêu đã được Chính phủ cũng như NHNN xác định. Tuy nhiên, dù nhìn vào các con số thì có thể thấy rằng nợ xấu đang giảm đi nhưng mức độ giảm thực tế ra sao thì vẫn chưa thể đánh giá được, bởi việc xử lý nợ xấu phụ thuộc nhiều vào các điều kiện kinh tế vĩ mô và thị trường, trong khi tiêu thụ hàng hoá còn chậm, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp còn thấp. Thị trường BĐS chậm phục hồi, TTTC trì trệ càng gây khó khăn cho việc bán, xử lý TSBĐ tiền vay để thu hồi nợ. Trong khi đó các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho SXKD, hỗ trợ thị trường BĐS luôn có độ trễ và cần phải có thời gian phát huy tác dụng. Đã vậy, các giải pháp xử lý nợ xấu lại chưa được triển khai đồng bộ mà chủ yếu vẫn là TCTD tự xử lý nợ xấu nên đã làm giảm mức độ lành mạnh tài chính, hiệu quả kinh doanh của TCTD trong ngắn hạn. Cơ chế, chính sách xử lý TSBĐ còn nhiều rất vướng mắc, phức tạp, chậm được khắc phục, hoàn thiện để tạo điều kiện thuận lợi cho xử lý nợ xấu. Bên cạnh đó, hoạt động mua bán và sáp nhập (M&A) trong lĩnh vực ngân hàng diễn ra sôi động. WesternBank sáp nhập với PVFC thành PvcomBank; nhóm nhà đầu tư mới mua 85% cổ phần của TrustBank và đổi tên thành Ngân hàng Xây dựng Việt Nam; UOB của Singapore chính thức tìm hiểu GPBank và có thể mua đứt ngân hàng này; HDBank mua công ty tài chính SGVF của Pháp và sáp nhập DaiABank vào HDBank, nhiều ngân hàng đang tìm nhà đầu tư nước ngoài để bán cổ phần như Sacombank, HDBank, MB, ABBank, SouthernBank… Tháng 5/2013 gói 30.000 tỷ đồng cho vay hỗ trợ nhà ở mới ra đời. Gói này được kỳ vọng sẽ giải cứu thị trường bất động sản. Tuy nhiên, thay cho dự báo giải ngân 15.000 - 17.000 tỷ đồng ngay trong năm 2013, sau 6 tháng số tiền giải ngân chiếm chưa tới 2%, khiến gói này được báo giới đánh giá thất bại trong năm 2013. Cái khó, chính là điều kiện cho vay được “siết” khá chặt, quy trình quản lý còn quá chặt chẽ, từ chỗ xác nhận về diện tích nhà ở, thu nhập vào diện được vay vốn... cộng thêm nhiều ngân hàng không nhiệt tình lắm với việc giải ngân này bởi khá nhiều doanh nghiệp bất động sản muốn vay không còn khả năng trả nợ. Bên cạnh việc cơ cấu cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng vẫn còn nhiều yếu tố bất cập xuất hiện trong thời gian qua. Viện KSND tối cao đã “điểm danh” 10 đại án tham nhũng, trong đó có 8 đại án liên quan tới lĩnh vực ngân hàng và đang được đưa ra xét xử. Vụ đại án tham nhũng tại Công ty cho thuê tài chính II thuộc Agribank (ALC II) làm thất thoát gần 532 tỷ đồng của Nhà nước được xét xử hồi tháng 11 với 2 án tử hình. Vụ Huỳnh Thị Huyền Như và 22 đồng phạm chiếm đoạt hơn 4.900 tỷ đồng, vụ bầu Kiên cùng 6 đồng phạm gây thiệt hại gần 1.700 tỷ đồng. Bên cạnh xét xử các đại án, Cơ quan điều tra Bộ công an cũng đã bắt giữ hàng loạt các cán bộ ngân hàng vì chiếm đoạt tài sản, lừa đảo, lợi dụng tín nhiệm… Điển hình như bắt lãnh đạo chi nhánh của các ngân hàng ABBank, VDB, LienVietPostBank, Vietcombank, Sacombank… vì liên quan đến công ty Phương Nam (cựu chủ tịch Phương Nam bỏ trốn sang Mỹ để loại khoản nợ hơn 1.500 tỷ đồng) hay một loạt cán bộ của Agribank vì làm giả hồ sơ, làm chứng từ khống chiếm đoạt tài sản… Việc các ngân hàng thay đổi nhân sự cấp cao là bình thường nhưng năm 2013 sự thay đổi này lại diễn ra như một làn sóng ồ ạt. Điển hình là VIB thay 2 Tổng giám đốc chỉ trong 3 tháng (nếu tính cả Quyền tổng giám đốc thì thay đổi 3 lần); SCB, NamABank cũng thay Tổng giám đốc; Eximbank thay Tổng giám đốc và một loạt nhân sự cấp cao khác sau khi nguyên Tổng giám đốc được bổ nhiệm làm Phó chủ nhiệm UBGSTCQG; TrustBank thay đổi HĐQT; Vietcombank có tổng giám đốc mới sau khi tổng giám đốc cũ lên làm phó Thống đốc; Techcombank thay CEO ngoại bằng một Tổng giám đốc nội… Ngoài ra, làn sóng cắt giảm nhân sự cấp thấp và cấp trung cũng diễn ra ồ ạt. Trong năm, ACB cắt giảm hơn 1.000 nhân sự, riêng quý 3 là hơn 700 người; Maritimebank tuyên bố giảm hơn 1.400 nhân sự; Eximbank có kế hoạch giảm 1.000 nhân sự; SHB giảm hơn 300 người; Vietcombank giảm gần 200 nhân viên; nhiều ngân hàng thay nhân sự không làm được việc bằng những người mới có trình độ nghiệp vụ tốt…Cùng với giảm nhân sự, năm 2013 nhiều ngân hàng cũng cắt giảm lương của nhân viên từ 10 – 20% để tiết giảm chi phí hoạt động. Nền kinh tế khó khăn, hàng tồn kho cao nên doanh nghiệp hạn chế vay vốn ngân hàng, các doanh nghiệp không tiếp cận được vốn do điều kiện vay không đáp ứng thì hoạt động sa sút, phá sản buộc các ngân hàng phải giảm lãi suất cho vay khiến chênh lệch lãi suất huy động và cho vay giảm xuống, tăng trưởng tín dụng thấp, giải quyết nợ xấu tăng cao và trích lập dự phòng đầy đủ trong bối cảnh nợ xấu của các ngân hàng đều tăng khiến cho lợi nhuận của ngân hàng tiếp tục lao dốc, có đến 17% tổ chức tín dụng lỗ trong năm 2013. 3.6 Thị trường chứng khoán ở Việt Nam và vận dụng học thuyết giá trị thặng dư vào thực tiễn hoạt động TTCK: Sự hình thành và hoạt động của Thị trường Chứng khoán Việt Nam Ngày 11/07/1998, Thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh. Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ cũng ký Quyết định số 127/1998/QĐ-TTg thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Hai năm sau, vào ngày 28/07/2000, phiên giao dịch đầu tiên với 2 mã cổ phiếu niêm yết đã chính thức được tổ chức tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử của Thị trường chứng khoán Việt Nam. Đến nay đã có gần 100 công ty chứng khoán thành viên, 48 công ty quản lý quỹ,và hàng trăm công ty niêm yết trên cả hai sàn. TTCK Việt Nam về cơ bản đã có các hoạt động tương tự các TCKT khác trên thế giới. TTCK Việt Nam là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động chính của nó là nhằm huy động những nguồn vốn trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ cho doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế và Chính phủ để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư. TTCK Việt Nam là nơi diễn ra các hoạt động giao dịch mua bán các loại chứng khoán. Việc mua bán được tiến hành ở hai thị trường sơ cấp và thứ cấp. Thị trường sơ cấp là nơi người mua mua được chứng khoán lần đầu từ những người phát hành, còn thị trường thứ cấp là nơi diễn ra sự mua đi bán lại các chứng khoán đã được phát hành ở thị trường sơ cấp. Hàng hóa giao dịch trên TTCK bao gồm: các cổ phiếu, trái phiếu và một số công cụ tài chính khác. Thị trường chứng khoán thực hiện các chức năng chủ yếu sau: Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế; Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng; Cung cấp khả năng thanh toán cho các chứng khoán; Đánh giá giá trị doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế; Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô. Các hình thức của thị trường Thị trường tập trung Thị trường phi tập trung (OTC); Vận dụng Giá trị thặng dư vào hoạt động thực tiễn của TTCK TTCK là một bộ phận của nền kinh tế, thực hiện chức năng luân chuyển nguồn vốn từ đối tượng thừa vốn sang đối tượng thiếu vốn, thực hiện chức năng tập trung nguồn vốn, tài trợ, thu hồi vốn. Vì vậy, TTCK là một phần quan trọng trong quá trình luân chuyển Giá trị thặng dư (GTTD) từ hoạt động sản xuất sang các chủ thể sở hữu vốn. GTTD không thể xuất hiện trong lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông. TTCK không là nơi tạo ra GTTD, nhưng là nơi giá trị thặng dư được luân chuyển thông qua các hoạt động luân chuyển vốn, phân phối lại lợi nhuận trên TTCK. Các hoạt động trên TTCK và mối liên hệ với GTTD: Phát hành cổ phiếu lần đầu: đây là hoạt động của công ty thực hiện bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng để tạo lập vốn chủ sở hữu. Đây là hoạt động góp vốn để đầu tư vào một công ty của những người mua cổ phiếu, chỉ là hiện tượng tích lũy và đầu tư tư bản, chưa tạo ra và luân chuyển GTTD. Phát hành thêm cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu (cổ phiếu thưởng): là việc công ty cổ phần dùng lợi nhuận tạo ra được để phát hành thêm cổ phiếu cho các cổ đông hiện hữu, nhằm duy trì tỷ lệ vốn góp của họ tại công ty. Lợi nhuận của công ty có nguồn gốc từ GTTD xuất phát từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây chính là hoạt động chiếm dụng GTTD từ quá trình sản xuất của người lao động, làm gia tăng nguồn vốn sở hữu của các nhà tư bản có vốn góp vào công ty. Mua cổ phiếu quỹ: là hoạt động của công ty nhằm mua vào hoặc bán ra cổ phiếu của chính công ty mình, nhằm điều chỉnh tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu của công ty hoặc điều chỉnh giá cổ phiếu trên thị trường. Đây là hoạt động điều chỉnh lại cơ cấu vốn chủ sở hữu của công ty. Nguồn tiền dùng để thực hiện hoạt động này có thể xuất phát từ lợi nhuận giữ lại, hoặc các nguồn quỹ khác của công ty, có liên hệ mật thiết đến GTTD công ty đó tạo ra được. Lợi nhuận từ trái phiếu: Nguồn trả lãi định kỳ: về bản chất, trái phiếu thể hiện khoản nợ mà người phát hành phải trả cho cho người mua trái phiếu. Vì vậy, tiền lãi trả định kỳ của chủ sở hữu phát hành trái phiếu cho người nắm giữ trái phiếu là việc trích một phần GTTD của người đi vay đối với người cho vay. GTTD ở đây được luân chuyển tương tự như trong tư bản cho vay. Lợi nhuận từ Cổ phiếu: Trả cổ tức: được trích một phần từ lợi nhuận tạo ra của công ty phát hành cổ phiếu, chính là một phần của GTTD nhà tư bản thu được. Từ chênh lệch giá mua và bán cổ phiếu: đây là phần lợi nhuận không xuất phát từ GTTD, mà là từ sự mua giá thấp và bán giá cao (hoặc ngược lại). Trong giao dịch này, có một chủ thể thu lợi ích cao hơn và chủ thể khác mất đi lợi ích tương ứng. 3.7 Liên hệ tư bản địa tô ở Việt Nam hiên nay: Thông qua những lí luận về địa tô đã nghiên cứu ở trên , ta thấy địa tô tư bản chủ nghĩa là sự bóc lột của chủ ruộng đất đối với công nhân nông nghiệp làm thuê. Nó tồn tại ở nhiều hình thức: địa tô chênh lệch, địa tô tuyệt đối, địa tô cây đặc sản, địa tô về đất xây dựng, địa tô về hầm mỏ, địatô về bãi cá....Ngày nay, khi đất nước ta đang trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội, những lí luận địa tô đó được Đảng và nhà nước ta vận dụng một cách sáng tạo trong thực tiễn để xây dựng đất nước giàu mạnh. Lí luận địa tô của Mác đã trở thành cơ sở khoa học để xây dựng các chính sách thuế đối với nông nghiệp và các ngành có liên quan nhằm kích thích phát triển nông nghiệp và các ngành trong nền kinh tế bằngvận dụng luật đất đai và ban hành các thông tư, nghị định. Ngày nay, đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện quản lí. Nhà nước giao đất, rừng cho các tổ chức kinh tế , đơn vị vũ trang .. để sử dụng. ở đây thực hiện sự tách rời giữa quyền sở hữu với quyền sử dụng ruộng đất nhằm sử dụng tài nguyên của đất nớc một cách hiệu quả. Để bổ sung cho nguồn nhân sách và thông qua ngân sách thực hiện một số chính sách phát triển nông nghiệp những người thuê đất phải đóng thuế cho Nhà nước. Thuế này khác xa với địa tô phong kiến và địa tô t bản chủ nghĩa vì thuế này tập chung vào ngân sách mang lại lợi ích cho toàn dân, nó không mang bản chất bóc lột của địa tô phong kiến và địa tô t bản chủ nghĩa..... Mặc dù luật pháp hiện hành đã có nhiều tiến bộ, đất đai được quản lý chặt chẽ hơn, chính sách giao quyền sử dụng ổn định lâu dài cho nông dân, thúc đẩy nông nghiệp phát triển, tuy nhiên Luật Đất đai hiện tại vẫn còn nhiều bất cập. Trong đó nổi lên một số điểm hạn chế kềm hãm sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn.  Cụ thể về phân loại đất, chưa có quy định quỹ đất phát triển làng nghề, dịch vụ kết cấu hạ tầng nông thôn. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa quy định rõ việc phối hợp cũng như trách nhiệm của ngành NN-PTNT liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn. Việc giao đất có thời hạn đến năm 2013 đối với đất trồng cây hằng năm khiến nông dân không yên tâm đầu tư, phát triển lâu dài. Chính sách hạn điền hiện tại không khuyến khích nông dân tích tụ ruộng đất để phát triển kinh tế trang trại, nhiều trang trại khi tích tụ ruộng đất đã phải mượn người khác đứng tên sổ đỏ để tránh vượt hạn điền, khi muốn vay vốn ngân hàng thì thế chấp không được. Chính sách đất đai hiện hành cũng không khuyến khích các nhà đầu tư, các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn do thiếu cơ chế để có đất quy hoạch cho phát triển làng nghề, chăn nuôi tập trung, nuôi trồng thủy sản tập trung; chưa tạo điều cho cơ chế thị trường đất đai vận hành lành mạnh, không chỉ gây khó khăn cho phát triển sản xuất mà còn tạo điều kiện cho tham nhũng, đầu cơ làm giàu bất chính, khiến dân không đồng tình. Chính sách thu hồi đất cho các mục đích phi nông nghiệp với  cơ chế xác định giá cả đền bù chưa hợp lý, các quy định về đăng ký chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng đất rườm rà mà vẫn lỏng lẻo, việc phân cấp quản lý đất nông nghiệp dẫn đến tình trạng thu hồi đất lúa cho mục đích phi nông nghiệp đang ở mức báo động.  Riêng tại tỉnh An Giang, mặc dù là địa phương có sản lượng lúa cao nhất cả nước nhưng số hộ có diện tích đất dưới 1 ha chiếm tỷ lệ khá cao, các hộ có quy mô diện tích sản xuất lớn phải sử dụng rất nhiều giấy chứng nhận với nhiều tên khác nhau và chịu nhiều thiệt thòi trong quan hệ tín dụng, nhiều trường hợp người sang nhượng bội tín, xảy ra tranh chấp, Ngân hàng Nông nghiệp không giải quyết cho vay vốn tín dụng với lý do cần phải đợi cấp giấy mới. Nếu cơ quan chức năng xử lý không kịp thời sẽ ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất của nông dân”. Nông dân phải tự gánh chịu nhiều rủi ro, do thu hồi đất đai đền bù không thỏa đáng, thủy điện xả lũ không đúng quy trình, huy động đóng góp quá mức... làm tăng thêm khó khăn đời sống nông dân. Theo báo cáo gửi Bộ NN&PTNT của các địa phương ở miền Trung, con số nông dân bỏ ruộng lên đến hàng chục nghìn hộ dân và hàng nghìn ha đất trồng lúa hoang hóa trong mấy năm lại đây và tình trạng này đang ngày càng gia tăng. Trong năm 2012 - 2013, cả nước đã có 42.785 hộ bỏ không đất canh tác với trên 6.882 ha, có trên 3.407 hộ trả ruộng. Ruộng đất chia cho đầu người quá ít, chỉ vài sào đất, thậm chí là vài thước đất cho mỗi người, rồi thiên tai, dịch bệnh triền miên, cộng với vật tư đầu vào cho sản xuất nông nghiệp quá cao, trong lúc sản phẩm làm ra bán với giá rẻ mạt, thu không đủ bù chi... là những nguyên nhân chính khiến người nông dân bỏ ruộng.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxy_nghia_va_su_van_dung_thuyet_gia_tri_thang_du_tai_viet_nam_hien_nay_6025.docx
Luận văn liên quan