Đề tài Nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam

LỜI MỞ ĐẦU Thế giới ngày nay ngày càng có khuynh hướng tiến tới sự hội nhập. Điều này đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho các quốc gia phát triển và mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, trong đó thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng. Việt Nam với chủ trương phát triển nền kinh tế mở, đẩy nhanh quá trình hội nhập với nền kinh tế trong khu vực và trên thế giới cũng đã tăng cường mối quan hệ hợp tác quốc tế thông qua hoạt động thương mại quốc tế nhằm thu hút đầu tư, khai thông nguồn lực để phục vụ cho quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước. Đóng góp một phần không nhỏ vào hoạt động thương mại quốc tế chính là hoạt động thanh toán quốc tế. Chất lượng và tốc độ phát triển thương mại quốc tế phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó thanh toán quốc tế giữ vai trò hết sức quan trọng. Trong những năm vừa qua, hoạt động thương mại quốc tế nói chung và hoạt động thanh toán quốc tế nói riêng của nước ta đã trải qua những bước thăng trầm, nhưng đang ngày càng hoàn thiện và phát triển. Trong quá trình học tập tại trường, được sự hướng dẫn chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, em đã tiếp thu được những kiến thức cơ bản về ngân hàng thương mại. Đến khi thực tập tại Sở giao dịch ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam, em nhận thấy thanh toán quốc tế đã được ngân hàng xem là một trong những hoạt động chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của mình. Và trong những năm gần đây, hoạt động thanh toán quốc tế của Sở giao dịch rất phát triển. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục, cùng với nó là sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng trong và ngoài nước. Bởi vậy, việc nghiên cứu để hoàn thiện, nâng cao hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch là rất cần thiết. Xuất phát từ lý do trên, nên em đã chọn đề tài: " Nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam " làm đề tài cho báo cáo thực tập của mình. Kết cấu của bài báo cáo thực tập: Chương I : Những vấn đề lý luận chung về thanh toán quốc tế. Chương II : Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam. Chương III : Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THANH TOÁN QUỐC TẾ 3 I. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG HOẠT ĐỘNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI . 3 1. Khái niệm về thanh toán quốc tế . 3 2. Vai trò của thanh toán quốc tế . 4 2.1 Thanh toán quốc tế là đòi hỏi tất yếu khách quan trong phát triển kinh tế 4 2.2 Thanh toán quốc tế là khâu quan trọng trong hoạt động xuất nhập khẩu 4 2.3 Thanh toán quốc tế là thước đo, là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh . 4 2.4 Thanh toán quốc tế là một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động đối ngoại của ngân hàng 4 II- CÁC PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI . 5 1. Phương thức chuyển tiền . 5 2. Phương thức nhờ thu . 7 2.1 Nhờ thu trơn : 8 2.2 Nhờ thu kèm chứng từ : . 9 3. Phương thức tín dụng chứng từ . 10 CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 14 I . KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỞ GIAO DỊCH 14 1. Qúa trình hình thành và phát triển 14 2. Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam . 15 3. Chức năng và nhiệm vụ 15 4. Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian vừa qua . 16 II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM . 17 1. Kết quả hoạt động thanh toán theo phương thức chuyển tiền 17 2. Kết quả hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu 18 3. Kết quả hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ 3.1 Kết quả hoạt động mở và thanh toán L/C nhập khẩu . 20 3.2 Kết quả hoạt động thông báo và thanh toán L/C xuất khẩu 22 4. Đánh giá chất lượng việc thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch ngân hàng thương mại Cổ phần công thương Việt Nam 23 4.1 Những mặt đã đạt được . 23 a. Về quy trình nghiệp vụ thanh toán 23 b. Sự tín nhiệm của khách hàng trong thanh toán quốc tế . 24 c. Phí dịch vụ từ phương thức tín dụng chứng từ 24 4.2 Những tồn tại và nguyên nhân 24 a. Những khó khăn và tồn tại . 24 b. Nguyên nhân 25 CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỐ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM . 28 I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG THỜI GIAN TỚI CỦA NGÂN HÀNG 28 1. Mục tiêu . 28 2. Những nhiệm vụ chủ yếu . 28 II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM . 29 1. Giải pháp đối với Sở giao dịch 29 1.1 Nâng cao chất lượng quy trình nghiệp vụ thanh toán 29 1.2 Nâng cao năng lực trình độ cán bộ nhân viên 30 1.3 Đảm bảo an toàn trong thanh toán L/C xuất nhập khẩu 31 1.4 Đa dạng hóa dịch vụ thanh toán quốc tế 32 1.5 Tăng cường mạnh mẽ công tác Marketing nhằm thu hút khách hàng 33 a. Tiến hành nghiên cứu thị trường . 33 b. Chính sách đối với khách hàng 34 2. Kiến nghị đối với ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 35 2.1 Tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ . 35 2.2 Củng cố và phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý 36 2.3 Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ ngân hàng . 36 KẾT LUẬN . 38 DANH SÁCH CÁC CỤM TỪ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 40

doc44 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 16/05/2013 | Lượt xem: 1597 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
gười yêu cầu Người hưởng lợi Ngân hàng trả tiền Ngân hàng chuyển tiền (5) (4) (3) (2) (6) (1) Bước 1: Người hưởng lợi thực hiện nghĩa vụ quy định trong hiệp định, hợp đồng hoặc các thỏa thuận. Bước 2: Người yêu cầu chuyển tiền ra lệnh cho Ngân hàng của nước mình chuyển ngoại tệ ra bên ngoài. Bước 3: Ngân hàng chuyển tiền báo nợ tài khoản ngoại tệ của người yêu cầu chuyển tiền. Bước 4: Ngân hàng chuyển tiền phát lệnh thanh toán cho Ngân hàng trả tiền ở nước người hưởng lợi. Bước 5: Ngân hàng trả tiền báo nợ tài khoản Ngân hàng chuyển tiền. Bước 6: Ngân hàng trả tiền báo có tài khoản người hưởng lợi. Đặc điểm Thủ tục đơn giản, phí thanh toán không cao. Đây là hình thức thanh toán trực tiếp giữa người chuyển tiền và người hưởng lợi, Ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán, theo uỷ nhiệm để hưởng hoa hồng và không bị ràng buộc gì đối với cả người nhập khẩu và người xuất khẩu. Việc chuyển tiền hoàn tất khi thanh toán hết số tiền cho người hưởng lợi, trước thời điểm này số tiền trong tài khoản vẫn thuộc quyền sở hữu của người chuyển tiền và người này có quyển huỷ bỏ lệnh chuyển tiền mà người thụ hưởng không có quyển khiếu nại gì với Ngân hàng. Như vậy việc trả tiền phụ thuộc vào thiện chí của người mua, quyền lợi của người xuất khẩu không được đảm bảo. Trong quan hệ mua bán ngoại thương, phương thức chuyển tiền chỉ lựa chọn làm phương tiện thanh toán đối với các nhà kinh doanh xuất khẩu cung ứng các dịch vụ có quan hệ thân thiết, tin cậy lẫn nhau, vì khâu thanh toán này dễ làm nảỵ sinh việc chiếm dụng vốn của người bán. 2. Phương thức nhờ thu Đây là phương thức thanh toán trong đó người có các khoản tiền phải thu từ các công cụ thanh toán nhưng không thể tự mình thu được, cho nên phải ủy thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán đó. Các bên tham gia: Người ủy thác nhờ thu tức là Người hưởng lợi. Ngân hàng ở nước người ủy thác là Ngân hàng nhận sự ủy thác chuyển công cụ nhờ thu để nhờ Ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài thu tiền. Ngân hàng đại lý của Ngân hàng chuyển tiền là Ngân hàng ở nước người trả tiền, gọi là Ngân hàng nhờ thu hay còn gọi là Ngân hàng xuất trình công cụ thanh toán để đòi tiền. Người trả tiền hay còn gọi là người bị ký phát. Các loại nhờ thu: Nhờ thu trơn Nhờ thu kèm chứng từ 2.1 Nhờ thu trơn : Là phương thức thanh toán mà người hưởng lợi ủy thác Ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán mà không kèm với điều kiện chuyển giao chứng từ. Quy trình nghiệp vụ Người trả tiền Người hưởng lợi Ngân hàng thu Ngân hàng chuyển (6) (3) (7) (2) (4) (5) (1) Bước 1: Người xuất khẩu hoặc Người cung ứng dịch vụ giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ và gửi trực tiếp chứng từ giao hàng cho Người nhập khẩu. Bước 2: Người xuất khẩu hoặc Người cung ứng dịch vụ ký phát một hối phiếu, hoặc hóa đơn đòi tiền Người nhập khẩu và viết Lệnh nhờ thu ủy thác Ngân hàng nước mình thu tiền từ Người nhập khẩu. Bước 3: Ngân hàng chuyển ủy thác cho Ngân hàng đại lý của mình ở nước nhập khẩu bằng Thư nhờ thu và kèm với hối phiếu hoặc hóa đơn yêu cầu Ngân hàng này thu tiền từ Người nhập khẩu. Bước 4: Ngân hàng đại lý xuất trình hối phiếu, hoặc hóa đơn yêu cầu Người nhập khẩu trả tiền, nếu là hối phiếu trả tiền ngay hoặc chấp nhận trả tiền, nếu là hối phiếu trả chậm. Bước 5: Ngân hàng đại lý chuyển tiền thu được cho Người hưởng lợi nếu thu hối phiếu trả chậm, thì Ngân hàng sẽ chuyển trả hối phiếu đã được Người nhập khẩu ký chấp nhận thanh toán. Bước 6: Ngân hàng đại lý báo có tài khoản của Ngân hàng chuyển. Bước 7: Ngân hàng chuyển báo có tài khoản của Người hưởng lợi. Đặc điểm Phương thức này không áp dụng nhiểu trong thanh toán về mậu dịch vì nó không đảm bảo quyển lợi cho người xuất khẩu do việc nhập hàng của người mua tách rời khâu thanh toán. Người nhập khẩu có thể nhận hàng nhưng không trả tiền hoặc chậm trễ trả tiền. 2.2 Nhờ thu kèm chứng từ : Là phương thức thanh toán mà người hưởng lợi ủy thác cho Ngân hàng thu hộ tiền ghi trên công cụ thanh toán với điều kiện là sẽ giao chứng từ nếu người bị ký phát thanh toán, hoặc chấp nhận thanh toán hoặc thực hiện các điều kiện khác đã quy định. Quy trình nghiệp vụ (6) Người trả tiền Người hưởng lợi Ngân hàng thu Ngân hàng chuyển (3) (7) (2) (4) (5) (1) Bước 1: Giao hàng. Bước 2: Lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu: Lệnh nhờ thu kèm với hối phiếu và các chứng từ thương mại. Bước 3: Ủy thác cho Ngân hàng đại lý thu hộ tiền: Thư nhờ thu kèm chứng từ thương mại. Bước 4: Xuất trình hối phiếu đòi tiền và yêu cầu thực hiện các điều kiện nhờ thu: D/P, D/A. D/TC. Bước 5: Người trả tiền chấp nhận hay từ chối thanh toán. Bước 6: Ngân hàng thu thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán. Bước 7: Ngân hàng chuyển thông báo chấp nhận hay từ chối thanh toán. Đặc điểm Phương thức nhờ thu kèm chứng từ là một phương thức được áp dụng chủ yếu trong thanh toán thương mại quốc tế. Người bán uỷ thác cho Ngân hàng ngoài việc thu hộ tiền còn nhường Ngân hàng khống chế chứng từ gửi hàng, đây là khác nhau cơ bản giữa nhờ thu kèm chứng từ và nhờ thu phiếu trơn. Trong trường hợp này, quyền lợi của người bán được đảm bảo hơn. 3. Phương thức tín dụng chứng từ Phương thức tín dụng chứng từ là một sự thỏa thuận, trong đó một Ngân hàng (Ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (Người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người khác (Người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho Ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định của thư tín dụng. Các bên tham gia Người yêu cầu mở thư tín dụng là Người nhập khẩu hoặc là Người nhập khẩu ủy thác cho một người khác. Ngân hàng phát hành thư tín dụng là Ngân hàng của người nhập khẩu, nó cấp tín dụng cho Người nhập khẩu. Người hưởng lợi thư tín dụng là người xuất khẩu hay bất cứ người nảo khác mà Người hưởng lợi chỉ định. Ngân hàng thông báo thư tín dụng là Ngân hàng đại lý của Ngân hàng phát hành ở nước Người hưởng lợi. Quy trình nghiệp vụ. Chi nhánh Ngân hàng phát hành Người hưởng lợi Ngân hàng phát hành Ngân hàng thông báo Người trả tiền (8) (5) (1) (2) (1) (6) (7) (8) (5) (3) (1) (6) (7) (1) (4) Bước 1: Gửi đơn yêu cầu phát hành thư tín dụng và tiến hành xử lý quỹ. Bước 2: Phát hành L/C qua Ngân hàng đại lý cho Người xuất khẩu hưởng lợi. Bước 3: Ngân hàng thông báo tiến hành thông báo L/C và chuyển bản gốc L/C cho Người hưởng lợi. Bước 4: Giao hàng. Bước 5: Xuất trình chứng từ đòi tiền Ngân hàng phát hành L/C. Bước 6: Ngân hàng phát hành thông báo kết quả kiểm tra chứng từ cho Người yêu cầu. Bước 7: Người yêu cầu chấp nhận hay từ chối thanh toán. Bước 8: Ngân hàng phát hành thông báo chấp nhận hay từ chối nhận chứng từ. Đặc điểm Căn cứ thanh toán giữa các bên là chứng từ không phải là hàng hoá. Dựa vào bộ chứng từ người bán mới có thể đòi tiền Ngân hàng mở thư tín dụng, đồng thời cũng là căn cứ duy nhất để người nhập khẩu hoàn trả hay từ chối trả tiền cho Ngân hàng mở L/C. Tín dụng chứng từ đem lại lợi ích thiết thực cho các bên liên quan: - Đối với người nhập khẩu: Là công cụ giúp nhà nhấp khẩu bắt nhà xuất khẩu thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản hợp đồng (điền kiện hàng hoá, thời gian giao hàng...). Họ có thể vay tiền từ Ngân hàng (trường hợp kỹ quỹ<100% giá từ L/C ) - Đối với nhà xuất khẩu: Chắc chắn sẽ thu được tiền hàng với một bộ chứng từ hoàn hảo, trong trường hợp là hối phiếu kỳ hạn với hối phiếu đã được chấp nhận có thể dùng chứng từ này để thu tiền qua hình thức chiết khấu. - Đối với Ngân hàng: + Khi tiến hành nghiệp vụ trên sẽ thu đựơc phí dịch vụ: Đây là trường hợp ngoại lệ cho Ngân hàng + Huy động thêm một khoản tiền gửi (khi có ký quỹ mở L/C ) phục vụ cho hoạt động các nghiệp vụ khác như cho vay xuất nhập khẩu bảo lãnh. Các loại thư tín dụng (1) Thư tín dụng có thể huỷ bỏ (Revocable. Letler of Credit) Ngân hàng mở có quyền được sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ bất cứ lúc nào mà không cần có sự đồng ý của người hưởng và người yêu cầu mở L/C. Chính vì vậy ít được sử dụng. (2) Thư tín dụng không thể huỷ bỏ (Innevorable Letler of Credit) Ngân hàng và người yêu cầu mở L/C không có quyền tự ý sửa đổi, bổ sung hay huỷ bỏ những nội dung của nó nếu không có sự đồng ý của người hưởng L/C. Chính vì vậy đựơc dùng phổ biến trong Thương mại quốc tế. (3) Thư tín dụng xác nhận (Conforming Letter of Credit) Là loại thư tín dụng không thể huỷ bỏ được một Ngân hàng khác xác nhận trả tiền theo yêu cầu của Ngân hàng phát hành L/C. L/C loại này đã được hai ngân hàng cùng cam kết trả tiền cho Người hưởng lợi, do vậy độ an toàn trong thanh toán của nó rất cao. (4) Thư tín dụng miễn truy đòi (Irrevovable Without Recorse Letter of Credit) Ngưởi hưởng lợi đã được trả tiền thì Ngân hàng phát hành L/C không còn quyền đòi lại tiền Người hưởng lợi L/C trong bất cứ trường hợp nào. (5) Thư tín dụng chuyển nhượng (Transperable Letter of Credit) Người hưởng lợi thứ nhất có thể yêu cầu Ngân hàng phát hành L/C chuyển nhượng toàn bộ hay một phần quyền thực hiện L/C cho một hay nhiều người khác. L/C chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng một lần. Chi phí chuyển nhượng thường do Người hưởng lợi đầu tiên chịu. (6) Thư tín dụng giáp lưng (Back to back Letter of Credit) Người hưởng lợi một L/C dùng L/C này như một tài sản thế chấp để yêu cầu phát hành một L/C khác cho người hưởng lợi khác hưởng, L/C phát hành sau gọi là là L/C giáp lưng. (7) Thư tín dụng tuần hoàn (Revolving Letter of Credit) Là loại L/C không thể hủy bỏ sau khi sử dụng xong thì nó lại tự động có giái trị như cũ, và cứ như vậy nó cứ tuần hoàn cho đến khi nào tổng trị giá hợp động được thực hiện. (8) Thư tín dụng dự phòng (Standby Letter of Credit) Là hình thức bảo đảm trả tiền đối với người thụ hưởng nào mở L/C không thực hiện nghĩa vụ của mình. Cả nhà nhấp khẩu và xuất khẩu đều có quyền yêu cầu đối tác mở cho một L/C dự phòng nếu muốn quyền lợi của mình được bảo đảm chắc chắn. (9) Thư tín dụng đối ứng ( Reciprocal Letter of Credit) Là loại thư tín dụng chỉ bắt đầu có hiếu lực khi thư tín dụng kia đối ứng với nó đã mở ra. CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM I . KHÁI QUÁT CHUNG VỀ SỞ GIAO DỊCH 1. Qúa trình hình thành và phát triển Được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng công thương (Vietinbank) là ngân hàng thương mại lớn, giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành ngân hàng Việt Nam. Đặc biệt, Ngày 3/7/2009 Thống đốc ngân hàng nhà nước đã ký Giấy phép số 142/GP-NHNN thành lập Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam, chính thức chuyển đổi sang mô hình ngân hàng cổ phần. Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam có quan hệ đại lý với trên 850 ngân hàng lớn trên toàn thế giới, là thành viên của hiệp hội ngân hàng Việt Nam, hiệp hội các ngân hàng Châu Á, hiệp hội tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu. Là ngân hàng tiên phong trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại và thương mại điện tử tại Việt Nam, Vietinbank không ngừng nghiên cứu, cải tiến các sản phẩm, dịch vụ hiện có và phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng cao nhất nhu cầu của khách hàng. Từ năm 2005, VietinBank đã khởi động hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000. Sau hơn 2 năm áp dụng, VietinBank là Ngân hàng đầu tiên của Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 9001:2000 cho hệ thống quản lý chất lượng vào tháng 7/2008. Đây là một trong những mốc quan trọng đánh dấu sự trưởng thành vững chắc của VietinBank trên bước đường đổi mới. Ngày 10/6/2008, tại Hà Nội, VietinBank đã tổ chức ra mắt Sở Giao dịch chuyên hoạt động trong lĩnh vực thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại. Việc đưa mô hình xử lý tập trung về thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại của VietinBank đã đánh dấu mốc phát triển quan trọng trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu và tài trợ thương mại của VietinBank. Đây cũng là mô hình lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, mang lại cho Vietinbank nhiều lợi thế cạnh tranh so với các ngân hàng khác. 2. Cơ cấu tổ chức của Sở giao dịch ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam SDG NHTMCPCT Việt Nam có chức năng trực tiếp xử lý tập trung toàn bộ các dịch vụ thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại của toàn hệ thống Vietinbank; khai thác các nguồn vốn ngắn, trung và dài hạn từ các định chế tài chính để hỗ trợ cho hoạt động tài trợ thương mại; cung cấp dịch vụ tư vấn giải pháp TTQT và tài trợ thương mại và cung cấp dịch vụ Insourcing cho các ngân hàng khác. Cơ cấu phòng ban của SGD như sau: Sơ đồ : Cơ cấu phòng ban của Sở Giao dịch - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam (Nguồn: 3. Chức năng và nhiệm vụ Khai thác các nguồn vốn ngắn hạn, trung và dài hạn từ các định chế tài chính để hỗ trợ cho hoạt động thanh toán thương mại. Trực tiếp cung cấp dịch vụ tư vấn giải pháp TTQT và thanh toán thương mại với các nghiệp vụ: chuyển tiền, thư tín dụng, bảo lãnh, tái bảo lãnh, nhờ thu, bao thanh toán, chuyển nhượng, chuyển nhượng các khoản thu, tái tài trợ… Tổ chức nghiên cứu phát triển các sản phẩm thanh toán thương mại mới, đa dạng, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của VietinBank và phục vụ tối đa mọi nhu cầu khách hàng. Cung cấp các dịch vụ INSOURCING cho các ngân hàng khác trong lĩnh vực thanh toán quốc tế và tại trợ thương mại Tất cả vì mục tiêu : “ Nâng cao giá trị cuộc sống” 4. Kết quả hoạt động kinh doanh trong thời gian vừa qua Với mạng lưới chi nhánh rộng khắp toàn quốc, sản phẩm tiền gửi ngày càng đa dạng, đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng, tổng tài sản, tổng nguồn vốn huy động của Vietinbank luôn tăng trưởng qua các năm. Điều đó được thể hiện rõ qua bảng số liệu : Bảng 1 : Kết quả kinh doanh từ năm 2006 - 2010 của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam Đơn vị: tỷ VNĐ 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng tài sản 115,765 135,442 166,112 193,595 240,388 Vốn chủ sở hữu 4,999 5,637 10,646 12,336 13,585 Vốn huy động từ nền kinh tế 108,605 126,625 151,459 165,305 204,813 Dư nợ cho vay nền kinh tế 74,632 80,152 102,109 120,753 155,700 Lợi nhuận sau thuế 423,093 602,800 1.149,44 1.827,53 1.945,05 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam năm 2006 - 2010) II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 1. Kết quả hoạt động thanh toán theo phương thức chuyển tiền So với phương thức tín dụng chứng từ thì phương thức chuyển tiền chiếm một tỷ trọng thấp hơn. Tuy nhiên, trong những năm gần đây 2009, 2010 khách hàng cũng đã chuyển sang sử dụng phương thức này khiến doanh số thanh toán cũng tăng lên đáng kể. Bảng 2 : Tình hình TTQT theo phương thức chuyển tiền tại SGD . Đơn vị: nghìn USD Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Chuyển tiền đi 38.500 59.800 83.600 Chuyển tiền đến 5. 985 9.353 12. 385 (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động TTQT của SGD - NHCT VN) - Về chuyển tiền đi: Hiện nay theo quy định của chế độ quản lý ngoại hối của NHNN Việt Nam, mọi tổ chức cá nhân cư trú và không cư trú đều phải tuân thủ theo các quy định này. Chính vì vây, việc chuyển tiền của cá nhân ra nước ngoài còn hạn chế, chủ yếu là chuyển tiền cá nhân cho đối tượng khách hàng là người không cư trú. Tỷ trọng chuyển tiền cá nhân chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tổng doanh số chuyển tiền. Năm 2008 SGD đã thực hiện chuyển tiền đi (TTR) 2.323 món trị giá 38,5 triệu USD. Bước sang năm 2009, nguồn bán ngoại tệ của Sở có phần bớt căng thẳng hơn, phía nước ngoài mất tín nhiệm vào khả năng thanh toán đúng hạn của các đơn vị trong nước, buộc các đơn vị mua hàng phải thực hiện thanh toán tiền hàng theo hình thức chuyển tiền trước, do đó nhu cầu chuyển tiền của các đơn vị tăng lên. Vì vậy, năm 2009 SGD đã thực hiện chuyển tiền đi 3.655 món trị giá 59,8 triệu USD tương đương với tăng 25% so với năm 2008. Sang đến năm 2010, số món chuyển tiền đi là 3.625 món, giảm 30 món nhưng trị giá thanh toán lại tăng 35% so với năm 2009. Điều này chứng tỏ giá trị mỗi món chuyển tiền đi tăng lên. -Về chuyển tiền đến: hoạt động này bao gồm các hoạt động kiều hối, thực hiện lệnh thanh toán tiền hàng bằng cách chuyển tiền trước hoặc sau khi giao hàng. Đây là các sản phẩm dịch vụ sẵn có, tuỳ thuộc rất nhiều vào lượng khách hàng mở tài khoản tại SGD và uy tín thanh toán của NHCT. Trong những năm qua, số lượng tài khoản giao dịch ngoại tệ không ngừng tăng lên, chủ yếu là tài khoản giao dịch cá nhân. NHCT Việt Nam đã ký nhiều hợp đồng chuyển trả kiều hối với một số ngân hàng nước ngoài và tổ chức trong nước như: Corestates Bank, Caisse centrale desjarins Bank, chi trả kiều hối cho công ty du lịch của tổng liên đoàn lao động Việt Nam, Chinfon Bank Hanoi. Năm 2008, SGD đã thực hiện chuyển được 5,985 triệu USD. Năm 2009 con số này đã tăng gấp gần hai lần và đạt 9,353 triệu USD. Năm 2010, SGD đã thực hiện chuyển được 12,385 triệu USD. Như vậy, hoạt động chuyển tiền của SGD đã không ngừng tăng trưởng qua các năm. 2. Kết quả hoạt động thanh toán theo phương thức nhờ thu SGD sử dụng phương thức thanh toán nhờ thu như là một biện pháp nhằm thúc đẩy hoạt động TTQT phát triển. Phương thức này được ngân hàng thực hiện từ năm 1998. Nhưng hiệu quả của nó đáng khích lệ, nó giúp cho sản phẩm ngân hàng đa dạng, phong phú hơn và đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp. Bảng 3 : Tình hình TTQT theo phương thức nhờ thu tại SGD + Nhờ thu Xuất khẩu Đơn vị: nghìn USD Năm Gửi Thanh toán Số lượng (món) Giá trị (USD) Số lượng (món) Giá trị (USD) 2008 29 496 26 454 2009 35 745 30 612 2010 49 1.549 37 1.127 + Nhờ thu Nhập khẩu Năm Thông báo Thanh toán Số lượng (món) Giá trị (USD) Số lượng (món) Giá trị (USD) 2008 278 7.004 274 6.750 2009 355 9.744 370 8.150 2010 414 10.760 400 9.400 Đơn vị: nghìn USD (Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động TTQT của SGD - NHCT VN) Về nhờ thu xuất khẩu, cũng giống như nhờ thu nhập khẩu, số món và số tiền thanh toán nhờ thu xuất khẩu cũng không ngừng tăng lên. Năm 2008 số tiền thanh toán nhờ thu xuất khẩu là 454.000 USD. Năm 2009 số tiền thanh toán nhờ thu xuất khẩu đạt 612.000 USD. Đặc biệt, sang đến năm 2010 số tiền thanh toán tăng gần gấp 2 lần so với năm 2009 và đạt 1.127.000 USD.. Về nhờ thu nhập khẩu, qua ba năm số món cũng như số tiền thông báo và thanh toán nhờ thu không ngừng tăng lên. Nếu như năm 2008, số tiền thanh toán là 6.750 nghìn USD thì đến năm 2009 số tiền thanh toán đã tăng lên 8.150 nghìn USD tương đương tăng 22% so với năm 2008. Sang đến năm 2010, số tiền thanh toán đạt 9.400 nghìn USD, tăng 15% so với năm 2009. 3. Kết quả hoạt động thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ 3.1 Kết quả hoạt động mở và thanh toán L/C nhập khẩu Hoà nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, chính sách mở cửa của Chính phủ đã tạo ra một luồng sinh khí mới làm thay đổi bộ mặt kinh tế đất nước. Việt Nam đã trở nên quen thuộc với nhiều thị trường lớn như: ASEAN, Nhật Bản, Hồng Kông, Trung Quốc...Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam hàng năm tăng trưởng đáng kể kéo theo đó hoạt TTQT ngày càng được mở rộng. Tại SDG NHTMCPCT Việt Nam, khối lượng hàng hoá nhập khẩu cũng tăng dần lên cụ thể qua bảng sau. Bảng 4 : Tình hình hoạt động L/C nhập khẩu Đơn vị: nghìn USD Năm Phát hành Thanh toán Số lượng (món) Giá trị (USD) Số lượng (món) Giá trị (USD) 2008 341 38.043 357 41.150 2009 386 49.263 408 50.205 2010 457 58.500 470 61.542 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KDĐN năm 2008-2010) Sau hơn mười năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển sôi động mạnh mẽ. Bắt đầu từ tháng 2/1994 Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Việt Nam, năm 1995 Việt Nam gia nhập ASEAN, năm 1996 tham gia AFTA và trong năm đó Việt Nam đã ký hiệp định khung về kinh tế với EU, tháng 3/1996 trở thành thành viên sáng lập diễn đàn hợp tác Á- Âu. Nền kinh tế nước ta không những đã thoát khỏi tình trạng bị bao vây, cô lập mà còn mở rộng, phát triển đáng mừng. Điều này đã tác động tốt đến tình hình hoạt động của SDG. Trong năm 2008, SDG đã mở 341 món, thanh toán 357 món với giá trị thanh toán là 41.150 nghìn USD đạt 359,7% . Năm 2009, nước ta chuyển mình khá mạnh trước những tác động tích cực của quá trình thực hiện nhiều chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước. Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ cả nước đạt 50.205 nghìn USD. Kim ngạch nhập khẩu máy móc thiết bị đã phát triển trở lại cho thấy không khí đầu tư vẫn tiếp tục sôi động. Năm nay tình hình hoạt động L/C nhập khẩu vẫn tiếp tục rạng rỡ, số tiền thanh toán L/C đạt tăng 21% so với năm 2008. Tiếp tục đà phát triển năm 2010, tại SGD có 457 món L/C được phát hành trị giá 58.500 nghìn USD. Số lượng L/C thanh toán tăng lên so với năm trước là 62 món với giá trị thanh toán 61.542 nghìn USD. Cơ cấu mặt hàng nhập khẩu thanh toán qua SGD chủ yếu là máy móc công nghiệp, nguyên vật liệu (cho ngành hoá chất, dệt may,...) Để khuyến khích được nhiều người tham gia mở L/C qua Ngân hàng, SGD đã rất cố gắng trong việc mở rộng mối quan hệ với các ngân hàng nước ngoài. Toàn bộ số lượng thư tín dụng được mở tại SGD là loại thư tín dụng không hủy ngang. Đây là loại L/C cơ bản nhất đảm bảo an toàn cho cả người mở lẫn người hưởng lợi nên được khách hàng sử dụng ưa chuộng. Thêm nữa, hệ thống NHTMCPCT Việt Nam là một trong bốn NHTM lớn có mạng lưới giao dịch rộng khắp, có uy tín trên thị trường và với các doanh nghiệp bạn hàng. Do vậy khi thực hiện việc phát hành L/C, SGD đóng vai trò là ngân hàng phát hành đồng thời là ngân hàng xác nhận mà không cần đến vai trò của ngân hàng khác. 3.2 Kết quả hoạt động thông báo và thanh toán L/C xuất khẩu So với hoạt động thanh toán L/C nhập khẩu thì hoạt động thanh toán L/C xuất có phần phát triển muộn hơn, điều này do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về nguyên nhân khách quan đó là do hoạt động xuất khẩu của Việt Nam chưa phát triển do đó tỷ lệ hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu quá chênh lệch nhau, tỷ lệ nhập siêu kéo dài trong nhiều năm làm cho cán cân thanh toán nước ta luôn trong tình trạng thâm hụt. Bên cạnh đó nguyên nhân chủ quan là do tâm lý của khách hàng. Các doanh nghiệp tham gia thanh toán hàng xuất bằng phương thức L/C vẫn tập trung chủ yếu ở NHNT Việt Nam. Thanh toán L/C xuất khẩu của Sở giao dịch trong thời gian qua được thể hiện qua bảng sau: Bảng 5: Kết quả hoạt động L/C xuất khẩu Đơn vị: nghìn USD Năm Thông báo L/C Thanh toán L/C Số lượng (món) Giá trị (USD) Số lượng (món) Giá trị (USD) 2008 184 6.605 229 8.700 2009 300 9.658 280 11.916 2010 181 5.700 206 7.159 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KDĐN năm 2008-2010) Năm 2008 nhờ có những chính sách vĩ mô thích hợp, tình trạng xuất khẩu nước ta đã có những bước tiến khá mạnh. Đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Việt Nam đã có sự khởi sắc trở lại. Chính vì vậy năm 2008, kết quả hoạt động L/C xuất khẩu tại SGD đã tăng lên một cách đáng mừng cụ thể SGD đã thông báo được 184 món trị giá 6,6 triệu USD đạt 136,9% so với năm 2007. Đặc biệt trong năm nay đã thanh toán được 229 món L/C xuất khẩu tương đương với 8,7 triệu USD. Năm 2009 tiếp tục với sự tăng trưởng vượt bậc, năm qua đã có 280 món được thanh toán với trị giá 11.916 nghìn USD, tăng gần 40% so với năm ngoái. Năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu của nước ta đạt 27,5 tỷ USD thấp hơn so với mục tiêu đặt ra từ đầu năm. Kết quả này là do tình hình kinh tế thương mại thế giới diễn biến không thuận lợi nhất là vào những tháng cuối năm. Trở lại với hoạt động thanh toán L/C hàng xuất của SGD, năm qua trước tình hình như vậy giá trị thanh toán L/C hàng xuất chỉ đạt 7.159 nghìn USD giảm 38,7% so với cùng kỳ năm ngoái. Tại SDG, hoạt động thanh toán hàng hoá xuất nhập khẩu đều được thực hiện theo phương thức trả ngay (L/C trả ngay - L/C at sight). Nhu cầu thanh toán theo phương thức trả chậm của khách hàng hầu như không có. Sở dĩ có điều này là vì phương thức thanh toán L/C trả chậm luôn chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro như rủi ro về tình hình thị trường thay đổi, rủi ro về tỷ giá… 4. Đánh giá chất lượng việc thực hiện hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch ngân hàng thương mại Cổ phần công thương Việt Nam 4.1 Những mặt đã đạt được a. Về quy trình nghiệp vụ thanh toán Trong những năm qua, SDG đã đạt được một quy trình nghiệp vụ tương đối phù hợp từ khâu cấp mẫu đơn xin mở L/C cho đến khâu hoàn tất thủ tục hoàn tất tài khoản. Khách hàng khi có yêu cầu mở L/C đều được thanh toán viên cấp mẫu đơn với những hướng dẫn tỉ mỉ, cụ thể trong từng điều khoản do đó mà khách hàng đều thấy yên tâm khi đến giao dịch tại SDG. Đồng thời thì chứng từ mỗi lần chuyển giao đều được lưu lại trong hồ sơ để tránh nhầm lẫn. Do đội ngũ cán bộ thanh toán với thái độ làm việc nhiệt tình nên việc tra soát cũng như sửa đổi L/C được thực hiện đúng thủ tục, quy trình cũng như độ chính xác cao và nhanh chóng. b. Sự tín nhiệm của khách hàng trong thanh toán quốc tế Thông qua việc không ngừng đổi mới công nghệ ngân hàng đặc biệt là công nghệ thanh toán trong hệ thống NHCT Việt Nam, việc tham gia vào mạng SWIFT với nhiều ưu điểm như nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm chi phí đã giúp SDG tạo được niềm tin cho khách hàng vì thế đã thu hút được nhiều khách hàng đến với SDG qua đó khẳng định được vị thế vững chắc của mình trên địa bàn, ngày càng chiếm được niềm tin của khách hàng . c. Phí dịch vụ từ phương thức tín dụng chứng từ Trong những năm qua khoản phí dịch vụ theo phương thức tín dụng chứng từ chiếm một tỷ trọng tương đối lớn khoảng 70-75% góp phần đàng kể vào tổng lãi kinh doanh đối ngoại của SDG. Bảng 6: Kết quả thu lãi kinh doanh Đơn vị: triệu VNĐ Năm 2008 2009 2010 Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền ±D Tỷ trọng (%) Số tiền ±D Tỷ trọng (%) Lãi thu từ KDĐN 3.431 100 4.625 +1194 100 4.634 +9 100 1.Thu phí dịch vụ L/C 2.644 77,06 3.197 +553 69,1 3.718 +521 80,23 2. Thu lãi KDNT 787 22,94 1.428 641 30,9 916 -512 19,77 (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KDĐN năm 2008- 2010) 4.2 Những tồn tại và nguyên nhân a. Những khó khăn và tồn tại Trình độ cán bộ thanh toán quốc tế tại SDG còn hạn chế không đồng đều: Sự hiểu biết của thanh toán viên về các lĩnh vực khác như tập quán thương mại của các quốc gia, các điều luật, công ước quốc tế liên quan đến hoạt động TTQT chưa rộng, chưa sâu. Việc nắm bắt thông tin về khách hàng đôi khi còn chưa chắc chắn mà nghiệp vụ TTQT lại là nghiệp vụ rất phức tạp đòi hỏi cán bộ TTQT phải có chuyên môn vững vàng và dày dặn kinh nghiệm. Hơn nữa, đây cũng là hoạt động khá mới mẻ đối với SGD nên các cán bộ thanh toán thường gặp phải khó khăn trong việc học tập, tìm tòi tài liệu, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho bản thân. Hiệu quả đóng góp từ phí thu nhập dịch vụ L/C so với tổng thu nhập chung của ngân hàng còn thấp: Bảng 8 : Phí thu từ dịch vụ L/C so với tổng thu nhập Đơn vị : Triệu đồng Năm Thu từ dịch vụ L/C Tổng thu nhập Tỷ trọng thu từ dịch vụ/tổng thu nhập 2008 2.644 93.350 2,83% 2009 3.197 101.037 3,16% 2010 3.718 111.466 3,34% (Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động KDĐN năm 2008- 2010) Số liệu ở bảng trên cho thấy, mặc dù phí thu từ dịch vụ L/C tại SDG có tăng lên song so với tổng thu nhập của ngân hàng thì con số này còn quá thấp. Những loại dịch vụ mà ngân hàng cung cấp chủ yếu chỉ dựa vào nền tảng các nghiệp vụ có sẵn chứ ngân hàng chưa đưa ra được những loại hình dịch vụ mới vừa phù hợp với khả năng thực tế tại ngân hàng, lại vừa tận dụng được tiềm lực của ngân hàng. Những hình thức quảng cáo như khuyến mại, giới thiệu trên các phương tiện thông tin như đài báo, gửi thư, tiếp thị trực tiếp đến các doanh nghiệp, cá nhân, chính sách chăm sóc khách hàng... chưa được khai thác một cách triệt để. b. Nguyên nhân Nguyên nhân từ phía ngân hàng : Sở dĩ trong cơ cấu khách hàng TTQT tại SGD NHTMCPCT Việt Nam có sự ưu tiên đối với những doanh nghiệp quốc doanh là vì phần lớn các doanh nghiệp nhà nước này tồn tại và hoạt động có lãi dựa trên việc bảo hộ bằng thuế nhập khẩu, các lệ phí của nhà nước, bằng độc quyền kinh doanh... Khi các khách hàng là các công ty, tổng công ty nhà nước thì rõ ràng ngân hàng đang nhận được sự bảo hộ kép của nhà nước: bảo hộ trực tiếp qua hệ thống pháp luật về hoạt động của các tài chính tín dụng và gián tiếp bảo hộ qua chính sách bảo hộ của khách hàng. Chính điều này đã cắt nghĩa vì sao số lượng khách hàng tham gia mở L/C tại SDG phần lớn là các doanh nghiệp quốc doanh. Thực tế cho thấy không chỉ riêng NHCT mà tại các NHTM khác, dịch vụ ngân hàng liên quan đến TTQT cũng đang trong tình trạng bất cập do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do trình độ công nghệ chưa phát triển và các loại hình dịch vụ này cũng chưa được quan tâm khai thác sử dụng theo tín hiệu thị trường. Từ đó dẫn đến hệ quả là tỷ lệ thu nhập từ các dịch vụ ngân hàng trong tổng tổng thu nhập của các NHTM đạt con số còn rất khiêm tốn. Nguyên nhân từ phía khách hàng : Bên cạnh những đơn vị xuất nhập khẩu lâu năm, am hiểu nghiệp vụ ngoại thương, có kinh nghiệm trong công tác thì không ít những đơn vị xuất nhập khẩu mới thành lập còn quá yếu kém về nghiệp vụ, về TTQT nên đã gây thiệt hại cho chính đơn vị mình gây không ít khó khăn cho công tác TTQT của các ngân hàng thương mại. Trong đó những sai phạm cơ bản mà họ gặp phải là: - Sự hiểu biết hạn chế về thông lệ, luật pháp quốc tế cũng như thông tin về thương nhân, về thị trường của các đơn vị còn yếu kém. Một số đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu do không nắm được thực tế hàng hoá nên phải mua hàng hoá vòng vèo qua rất nhiều khâu. - Thiếu sự gắn kết với ngân hàng trước khi ký hợp đồng. Một số công ty khi ký kết hợp đồng với thương nhân nước ngoài không tham khảo ý kiến của ngân hàng nên dễ xảy ra tình trạng ngân hàng thông báo, ngân hàng xác nhận hoặc ngân hàng thanh toán không có đại lý với NHTM tại Việt Nam. Nhiều đơn vị xuất nhập khẩu đồng ý mở L/C xác nhận và chịu phí xác nhận quá dễ dàng, hơn nữa không chịu tham khảo ý kiến ngân hàng của mình nên chọn ngân hàng nào là ngân hàng xác nhận để tránh rắc rối trong thủ tục xác nhận. Những nguyên nhân khác : Cán cân thanh toán vãng lai và cán cân thương mại quốc tế còn thâm hụt nghiêm trọng dẫn đến mất cân đối cung và cầu ngoại tệ buộc nhà nước phải áp dụng các biện pháp hành chính để tăng cung, hạn chế cầu về ngoại tệ ảnh hưởng đến khả năng mua bán ngoại tệ của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động thanh toán quốc tế. Môi trường hoạt động kinh doanh nói chung và TTQT nói riêng tại SGD NHTMCPCT Việt Nam có sự cạnh tranh rất lớn của các ngân hàng khác đặc biệt là NHNT - ngân hàng chuyên doanh phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu lâu năm với bề dày kinh nghiệm và chiếm lĩnh thị phần cao. CHƯƠNG III : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỐ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM I. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TRONG THỜI GIAN TỚI CỦA NGÂN HÀNG 1. Mục tiêu Tập trung chỉ đạo công tác kinh doanh, bán sát các định hướng, nhiệm vụ của NHTMCPCT Việt Nam, đưa hoạt động của SDG đi đúng định hướng đạt vượt mức mục tiêu đã đề ra: Tăng trưởng dư nợ 10%. Nguồn vốn tăng 15%. Lợi nhuận tăng 5% 2. Những nhiệm vụ chủ yếu Hoạt động TTQT ngày càng trở nên quan trọng, gắn bó mật thiết với các hoạt động kinh doanh khác của NHTM. Định hướng phát triển hoạt động TTQT phải dựa trên cơ sở định hướng phát triển hoạt động kinh doanh đối ngoại củaVietinbank. Để đạt được những mục tiêu phát triển hoạt động kinh doanh đối ngoại, NHTMCPCT Việt Nam luôn phải gắn với phương châm kinh doanh “An toàn – Hiệu quả – Hiện đại - Tăng trưởng bề vững ” đồng thời có những bước chuẩn bị tích cực cho quá trình mở rộng kinh doanh theo chiều rộng và sâu để nâng cao hơn thị phần trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, phát triển mạnh mẽ các nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ, đảm bảo hội nhập quốc tế và khu vực, đưa NHTMCPCT Việt Nam trở thành một ngân hàng tiên tiến có tầm cỡ trong khu vực, thời gian tới, định hướng phát triển hoạt động kinh doanh đối ngoại của NHTMCPCT Việt Nam chủ yếu sau: Giữ vững và tăng thị phần trong hoạt động kinh doanh đối ngoại ở các mặt nghiệp vụ chính: thanh toán xuất nhập khẩu, kinh doanh ngoại tệ, kiều hối, thanh toán thẻ. Nghiên cứu và triển khai phương án thành lập văn phòng đại diện hoặc chi nhánh của NHCT Việt Nam ở nước ngoài khi điều kiện cho phép. Đa dạng hóa và triển khai các sản phẩm dịch vụ mà khách hàng có nhu cầu bao gồm các “sản phẩm trọn gói” trong thanh toán xuất nhập khẩu. Đào tạo và nâng cao năng lực của cán bộ quản lý và cán bộ nghiệp vụ. Tổ chức và triển khai tốt các hoạt động tiếp thị, chăm sóc khách hàng từ Hội sở chính tới các chi nhánh đảm bảo cạnh tranh với bên ngoài, tính thống nhất và phối hợp chặt chẽ từ Hội sở chính đến các chi nhánh và giữa các phòng ban trong từng nội bộ từng đơn vị phụ thuộc NHTMCPCT Việt Nam. II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI SỞ GIAO DỊCH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM. 1. Giải pháp đối với Sở giao dịch 1.1. Nâng cao chất lượng quy trình nghiệp vụ thanh toán Đối với kinh doanh ngân hàng thì chất lượng sản phẩm được hiểu là chất lượng và tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp trong việc thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Chất lượng của hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu trước hết thể hiện ở năng lực của các yếu tố tham gia quá trình cung ứng dịch vụ. Như vậy, chất lượng dịch vụ gắn liền với sự trơn tru, dễ dàng, thuận tiện từ lúc khách hàng bắt đầu cho đến khi kết thúc một giao dịch thanh toán. Vậy rõ ràng nếu chất lượng tốt thì hiệu quả phục vụ khách hàng tất yếu sẽ được nâng lên. Do đó để nâng cao chất lượng nghiệp vụ thanh toán thư tín dụng, SGD cần thực hiện: * Đối với thanh toán hàng xuất khẩu Cần nghiên cứu, triển khai quy trình thông báo và thanh toán hàng xuất, cải tiến việc chuyển tiếp thông tin nhằm thu hút khách hàng chọn ngân hàng mình là ngân hàng thông báo và chiết khấu, phấn đấu tăng tỷ trọng L/C xuất khẩu. Phối hợp với các bộ phận nghiệp vụ liên quan ban hành quy chế thanh toán hàng xuất trên cơ sở thương lượng và chiết khấu chứng từ. * Đối với thanh toán hàng nhập khẩu Tiếp tục nghiên cứu xem xét giải quyết những vướng mắc trong quy trình thực hiện thanh toán L/C nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này. Chẳng hạn như đối với tỷ lệ ký quỹ mở L/C là vấn đề hết sức quan trọng. Nếu tỷ lệ ký cao thì sẽ tác động đến tình hình vốn của đơn vị đặc biệt là những đơn hàng nhập khẩu có giá trị lớn. Ngược lại, nếu tỷ lệ ký quỹ quá thấp khi đến hạn thanh toán nếu đơn vị không còn tiền thì buộc ngân hàng phải đứng ra cho vay để thanh toán dẫn đến tình trạng nợ quá hạn kéo dài. Để đảm bảo phòng tránh rủi ro đồng thời nhằm thu hút khách hàng, ngân hàng nên có chính sách phân định linh hoạt về các khách hàng tiềm năng. 1.2 Nâng cao năng lực trình độ cán bộ nhân viên Con người là vốn quý nhất, là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của NHTM. Đầu tư vào con người có ý nghĩa sống còn đối với sự thành đạt của ngân hàng. Chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế phụ thuộc rất nhiều vào trình độ cán bộ thanh toán nên NHTMCPCT Việt Nam phải chú trọng đến việc nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thanh toán quốc tế. Trong thời gian tới, NHCT Việt Nam nên có thể tập trung vào một số biện pháp sau: Cơ cấu lại nguồn nhân lực một cách mạnh mẽ, tăng trưởng, trẻ hóa đội ngũ cán bộ - nhân viên làm nghiệp vụ thanh toán xuất nhập khẩu. Từng bước hoạch định, tiêu chuẩn hóa và rà soát sắp xếp cán bộ làm công tác thanh toán quốc tế, đảm bảo từ cán bộ quản lý đến cán bộ chuyên môn nghiệp vụ phải có đủ các tiêu chuẩn bằng cấp và trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, vận hành và sử dụng thành thạo máy vi tính, được đào tạo bồi dưỡng các nghiệp vụ về xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế và luật quốc tế... Thường xuyên mở các lớp đào tạo ngắn và dài hạn hay tạo điều kiện để cho các cán bộ trẻ, xuất sắc được du học, đào tạo chuyên môn ở nước ngoài để giúp họ nắm bắt những thông tin mới được cập nhật, nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và kinh nghiệm cho đội ngũ nhân viên làm công tác thanh toán quốc tế. Xây dựng một dây chuyền xử lý khép kín, từng cán bộ trong mỗi mắt xích của dây chuyền đó phải hiểu rõ trách nhiệm và mối quan hệ của mình với các cá nhân khác và các bộ phận khác. Quá trình xử lý các giao dịch đều được ghi nhật ký trong hệ thống kỹ thuật và trên sổ sách giao nhận giữa các khâu nghiệp vụ. Trên cơ sở đó dễ dàng tìm kiếm nguyên nhân sai sót hoặc chậm trễ và có giải pháp khắc phục. Thường xuyên cập nhật thông tin trong và ngoài nước, qua đó giúp cho cán bộ thanh toán quốc tế am hiểu và chủ động trong hoạt động của mình. Có chính sách phù hợp với từng vị trí, chức năng công việc của từng người. Bố trí nhân sự phù hợp với từng chuyên ngành của họ. Có chính sách khen thưởng, động viên kịp thời những nhân viên có thành tích xuất sắc trong công việc, đồng thời có hình thức xử phạt đối với những nhân viên có thái độ làm việc tiêu cực, thụ động. 1.3 Đảm bảo an toàn trong thanh toán L/C xuất nhập khẩu Những rủi ro trong thanh toán tín dụng chứng từ mà ngân hàng thường gặp phải là rủi ro không đảm bảo khả năng thanh toán về ngoại tệ của ngân hàng, rủi ro về tỷ giá....Có một số biện pháp để phòng ngừa và hạn chế các rủi ro này như sau: SDG nên thường xuyên theo dõi tình hình biến động của nền kinh tế, chính trị của các nước có quan hệ thương mại với Việt Nam. Nghiên cứu và có sự hiểu biết về pháp luật cũng như những tập quán của các nước đó. Từ đó có khả năng tư vấn cho khách hàng nhiều hơn. Mặt khác thông qua quan hệ ngân hàng đại lý mà điều tra, khai thác thông tin về khả năng thực hiện hợp đồng của phía nước ngoài. Đồng thời SDG phải yêu cầu khách hàng của mình thường xuyên theo dõi quá trình thực hiện hợp đồng của đối tác nhằm tránh các rủi ro và lừa đảo từ phía khách hàng nước ngoài. SGD chỉ nên vay ngoại tệ và mở L/C trong phạm vi nguồn vốn của mình hoặc chỉ tiêu nhận vốn điều hoà của NHTMCPCT Việt Nam. Nguồn ngoại tệ của SDG cần được thực hiện đa dạng với nhiều loại ngoại tệ nhằm tránh rủi ro về tỷ giá. 1.4 Đa dạng hóa dịch vụ thanh toán quốc tế Trong những năm gần đây, các dịch vụ thanh toán quốc tế tại NHTMCPCT Việt Nam đã giảm sự chênh lệch quá mức như trước, nhưng phương thức tín dụng chứng từ vẫn chiếm tỉ trọng lớn nhất. Vì vậy, NHTMCPCT Việt Nam cần đa dạng hóa các dịch vụ, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng các dịch vụ này. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, việc sử dụng các sản phẩm tài trợ thương mại nhằm mục đích giao thương quốc tế có những biến chuyển lớn. Đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn về thanh khoản, sử dụng phương thức thanh toán ít được đảm bảo như chuyển tiền, tài khoản mở… dần dần giảm đi và được thay thế bằng các phương thức thanh toán có  sự đảm bảo của ngân hàng như thư tín dụng hay bảo lãnh. Điều này cũng thúc đẩy các ngân hàng phát triển  sản phẩm chia sẻ rủi ro giữa các ngân hàng với nhau. Để cung cấp các phương thức thanh toán có sự đảm bảo của ngân hàng, các ngân hàng phải rất am hiểu khách hàng của mình và  đây chính là cơ hội cho NHCT VN tăng khả năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài. Chính vì vậy mà các sản phẩm thanh toán thương mại hiện tại không chỉ dừng lại ở các sản phẩm truyền thống như L/C, nhờ thu, bảo lãnh mà còn phát triển sang các sản phẩm mới như bao thanh toán, tái tài trợ. … Với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ ngân hàng như hiện nay, sự đa dạng hóa dịch vụ sẽ chứng tỏ được quy mô, chất lượng của VietinBank và đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng. 1.5 Tăng cường mạnh mẽ công tác Marketing nhằm thu hút khách hàng Cạnh tranh là đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, vì thế khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến nay thì mức độ cạnh tranh ngày càng gia tăng một cách mạnh mẽ, nóng bỏng. Việc cạnh tranh giữa các NHTM để giành khách hàng vay vốn ngày càng trở nền quyết liệt, những khách hàng có tiềm lực kinh tế, kinh doanh an toàn, có uy tín luôn được các NHTM săn đón, mời chào. Điều đó đòi hỏi SDG NHTMCPCT Việt Nam cần phải quan tâm và có chính sách thích hợp nhằm mục đích nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Để thực hiện chiến lược này SDG cần chú trọng đến vấn đề sau: Tiến hành nghiên cứu thị trường Để có thể đáp ứng được công tác Marketing trong hoạt động ngân hàng, thì Ban lãnh đạo SDG cần có những cán bộ chuyên trách làm công tác Marketing. Những cán bộ này có nhiệm vụ tìm hiểu thị trường, xác định những yếu tố tác động đến hoạt động của SDG trên địa bàn thông qua những yếu tố sau: Nhu cầu của khách hàng trên thị trường đối với sản phẩm của SDG. Khả năng thích ứng cầu của tất cả các ngân hàng đổi thủ cạnh tranh trên thị trường. Các sản phẩm , dịch vụ cung ứng của NHTMCPCT Việt Nam. Ngoài ra, cán bộ chuyên trách Marketing tại SGD phải thường xuyên có kế hoạch tiếp xúc với khách hàng, đến tận nơi, tìm hiểu nhu cầu cụ thể của khách hàng và cán bộ Marketing tại SDG không những tìm mọi biện pháp để duy trì khách hàng cũ có uy tín mà còn tìm mọi biện pháp kiếm khách hàng mới. Cán bộ Marketing còn phải tìm hiểu sự cung ứng sản phẩm dịch vụ của các ngân hàng đối thủ cạnh tranh. Có như vậy thì cán bộ chuyên trách Marketing tại SDG mới có thể tham mưu cho giám đốc nhằm đưa ra các giải pháp, chính sách linh hoạt hoặc điều chỉnh và chào những sản phẩm dịch vụ của ngân hàng mình theo hướng thích hợp. Chính sách đối với khách hàng Khách hàng là yếu tố tạo nên sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Vì họ vừa là đầu vào, lại vừa là đầu ra của ngân hàng nên khách hàng quyết định cơ cấu, quy mô cũng như thể hiện uy tín và năng lực cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường trong nước và ngoài nước. Do đó để có thể phát triển bền vững và hoạt động một cách có hiệu quả thì SDG cần phải có cơ sở khách hàng vững chắc. Muốn vậy, SDG phải có chính sách khách khách hàng hấp dẫn, linh hoạt với phương châm giữ khách hàng truyền thống, thu hút khách hàng thuộc mọi thành phần kinh tế trong đó đặc biệt là doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Quảng cáo và tổ chức hội nghị khách hàng: Đây là hình thức tổ chức hoạt động mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng và khách hàng. Thông qua hội nghị này, khách hàng có điều kiện tiếp xúc, gặp gỡ trao đổi trực tiếp thông tin với bạn hàng đồng thời tạo ra cơ hội tìm kiếm đối tác mới và thông qua đó, ngân hàng cũng hiểu về khó khăn vướn mắc của họ hơn để có giải pháp cùng nhau tháo gỡ. Từ tư vấn tiếp thị đến hợp tác kinh doanh với khách hàng. Ngoài việc thực hiện các chính sách linh hoạt thì cần phải tăng cường công tác tư vấn cho khách hàng bằng cách: - Cung cấp các thông tin về thị trường, về các ngân hàng nước ngoài và nếu có thể về đối tác của họ. - Tư vấn cho các doanh nghiệp trong việc lựa chọn ngân hàng mở L/C, phương thức thanh toán phù hợp đảm bảo thu tiền hàng nhanh chóng, an toàn và chính xác nhất. - Hướng dẫn, giúp đỡ các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong việc mở, kiểm tra L/C. - Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như đài, báo, Internet... - Có sự gắn kết chặt chẽ giữa phòng Kinh doanh và Kinh doanh đối ngoại. Đó là kết hợp công tác thẩm định dự án đầu tư với công tác thanh toán tín dụng chứng từ để cấp hạn mức tín dụng xuất nhập khẩu cho khách hàng. Việc làm này vừa giúp cho ngân hàng có thêm thu nhập vừa giúp khách hàng nhanh chóng hoàn tất thủ tục thanh toán. 2. Kiến nghị đối với ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam 2.1 Tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ Bên cạnh khung pháp lý hoàn chỉnh cho việc thực hiện thanh toán thì công nghệ thanh toán là yếu tố quan trọng thúc đẩy nhanh tốc độ thanh toán, giảm chi phí và góp phần nâng cao hiệu quả thanh toán. Xuất phát từ lợi ích đó, NHTMCPCT Việt Nam cần đầu tư công nghệ tiên tiến, áp dụng những thành tựu khoa học mới vào quản lý kinh doanh, nhằm rút ngắn thời và giảm chi phí giao dịch. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cài đặt chương trình nối mạng với hệ thống NHCT Việt Nam tạo điều kiện thuận tiện cho khách hàng trong việc sử dụng các dịch vụ thanh toán điện tử, giảm thời gian và chi phí giao dịch cho các bên, đồng thời nâng cao độ chính xác, an toàn cho khách hàng giao dịch. Đây chính là cơ sở để đưa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng quốc tế vào kinh doanh. Bên cạnh việc đầu tư công nghệ mới, cần tận dụng tối đa công suất của hệ thống máy móc hiện có, tiến tới giảm bớt các công việc giấy tờ bằng cách chuyển toàn bộ việc nhận, lập, phân loại sang thực hiện trên hệ thống máy vi tính và thông qua mạng máy tính. Thường xuyên hoàn thiện và cập nhật các chương trình phần mềm phục vụ công tác thanh toán xuất nhập khẩu. Các chương trình này phải tạo ra được các mẫu điện chuẩn phù hợp với mỗi phương thức thanh toán và với thông lệ quốc tế. Trên cơ sở đó cho phép xây dựng, chuẩn hoá và phát triển hệ thống thông tin khách hàng tạo khả năng giao diện kết nối với các thị trường tài chính trong và ngoài nước. 2.2 Củng cố và phát triển mạng lưới ngân hàng đại lý Cũng như các ngân hàng khác, SDG thực hiện thanh toán thông qua đầu mối duy nhất là hội sở chính NHTMCPCT Việt Nam. Do vậy việc củng cố và phát triển hệ thống ngân hàng đại lý của NHCT Việt Nam sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động TTQT của SDG. Việc mở rộng và phát triển mạng đại lý sẽ giúp cho SDG có thể tìm hiểu thông tin về đối tác trong hợp đồng thương mại quốc tế của khách hàng nhằm tránh được những rủi ro trong quá trình thanh toán cũng như quá trình thực hiện hợp đồng của khách hàng. Đồng thời, SDG có thêm nguồn tài trợ của các ngân hàng đại lý để bổ sung vào nguồn vốn ngoại tệ ít ỏi nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu. Bên cạnh những lợi ích thu được thì NHCT Việt Nam cần phải thường xuyên theo dõi hoạt động của các ngân hàng đại lý nhằm tránh những rủi ro do sự phá sản của các ngân hàng đại lý. 2.3 Thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ ngân hàng Có thể nói quá trình hiện đại hoá ngân hàng và hội nhập quốc tế đã đòi hỏi nghiệp vụ TTQT của NHTMCPCT Việt Nam phải đi tiên phong trong lĩnh vực này. Thực tế, chứng ta đã đang và sẽ áp dụng công nghệ thông tin và các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại của quốc tế vào nghiệp vụ TTQT tại NHCT Việt Nam. Việc này đỏi hỏi một đội ngũ cán bộ tinh thông về nghiệp vụ, sử dụng được thiết bị và công nghệ thông tin, hiểu biết và đưa các sản phẩm ngân hàng trong nghiệp vụ TTQT vào phục vụ đời sống, phát triển kinh tế quốc dân. Con đường thực hiện công việc này, chúng ta cần tuyển dụng mới, đào tạo mới, đào tạo lại đội ngũ cán bộ để đạt được tiêu chuẩn trên. Ngoài đào tạo trình độ cho cán bộ TTQT, việc đào tạo TTQT cho cán bộ tín dụng cũng cần được chú trọng bởi đây cũng là xuất phát từ nhu cầu đỏi hỏi của thực tiễn và cũng là một sự đổi mới về tư duy đào tạo. KẾT LUẬN Trải qua một chặng đường dài phấn đấu với sự nghiệp đổi mới của toàn xã hội, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành công vượt bậc đem lại cho đất nước những thay đổi tích cực mà không ai có thể phủ nhận. Cùng với sự tăng trưởng đáng khích lệ của nhiều ngành kinh tế, hoạt động xuất nhập khẩu cũng đã và đang phát triển mạnh mẽ, mở ra một tương lai đầy hứa hẹn cho ngành kinh doanh xuyên quốc gia này. Đóng góp vào những thành công ấy, các NHTM tự hào đã tham gia tích cực với tư cách là trung gian thanh toán, cầu nối quan trọng giữa các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nước và các bạn hàng nước ngoài. Đây là một yếu tố quan trọng giúp cho hoạt động xuất nhập khẩu phát triển nhanh chóng và có hiệu quả. Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ từ lâu đã khẳng định vị trí không thể thiếu trong thanh toán xuất nhập khẩu bởi tính năng và tác dụng ưu việt của nó. Tuy vậy do nhiều nguyên nhân, phương thức này chưa thực sự được phát huy hết hiệu quả của nó trong công tác TTQT tại các NHTM ở Việt Nam. Trong khuôn khổ công trình nghiên cứu nhỏ hẹp này, em xin phân tích và đưa ra một số ý kiến xung quanh vấn đề: “Nâng cao chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam”. Do những hạn chế về lý luận khoa học cũng như hiểu biết thực tế không đầy đủ, bài báo cáo không tránh khỏi những sai lệch và thiếu sót. Kính mong các thầy cô góp ý kiến và hướng dẫn để em có thể bổ sung ý kiến thức của mình và hoàn thiện hơn nữa cho bài viết. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Thu Trang đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ em viết đề tài này. TÀI LIỆU THAM KHẢO PGS. PTS Nguyễn Duy Bột: Giáo trình Thương mại quốc tế - Đại học KTQD. GS.NGƯT Đinh Xuân Trình: Giáo trình Thanh toán quốc tế trong ngoại thương - Đại học Ngoại Thương. Hệ thống văn bản pháp quy về thanh toán quốc tế, bảo lãnh và tài trợ xuất nhập khẩu - Khoa Tiền tệ tín dụng quốc tế - Học viện Ngân hàng. SDG NHTMCPCT Việt Nam: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh và báo cáo hoạt động kinh doanh đối ngoại và báo cáo thường niên năm 2006, 2007, 2008,2009,2010. Thông tin NHCT Việt Nam: Số 6 năm 2008; Số 2,4, 6,12 năm 2009; Số 2 năm 2010. Thời báo kinh tế Việt Nam số đặc biệt 2008-2009; 2009-2010. NHẬN XÉT CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………….. NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… …………………………………………………………………………….. ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………… ……………………………………………………………………………..

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNâng cao chất lượng hoạt động thanh toán quốc tế tại Sở giao dịch ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam.doc
Luận văn liên quan