Đề tài Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần thiết bị năm Sao Việt

Tài sản ngắn hạn là một nguồn lực không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp. Do đó, việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn có vài trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt nói riêng. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn góp phần nâng cao công tác quản lý tài chính, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh gay gắt và tiềm ẩn đầy rủi ro như hiện nay, việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một vấn đề nan giải đối với các nhà quản trị. Trong thời gian nghiên cứu và làm khoá luận, em nhận thấy rằng công ty đã rất tích cực đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và đạt được những thành công nhất định. Bên cạnh đó, trong công tác quản lý vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục. Với kiến thức đã học ở trường cùng với sự chỉ bảo nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn, em đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp để nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty nhằm giúp công ty phát triển vững mạnh trong tương lai.

pdf80 trang | Chia sẻ: phamthachthat | Ngày: 09/08/2017 | Lượt xem: 573 | Lượt tải: 1download
Bạn đang xem trước 20 trang tài liệu Đề tài Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần thiết bị năm Sao Việt, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
iêu của Công ty). Điều này cho thấy, so với các doanh nghiệp cùng ngành, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của Công ty không cao, gây ra những bất lợi khi huy động vốn. Công ty cần có những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao khả năng thanh toán hiện hành của mình, để từ đó nâng cao uy tín đối với nhà tín dụng cũng như khách hàng. Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán nhanh cho biết một đồng nợ ngắn hạn được đảm bảo bởi bao nhiều đồng tài sản ngắn hạn mà không bao gồm hàng tồn kho. Năm 2011 hệ số này đạt 0,67 lần, đến năm 2012 giảm 0,17 lần so với năm 2011 do tỷ trọng tài sản ngắn hạn và tỷ trọng nợ ngắn hạn năm 2012 đều giảm so với năm 2011. Trong khi đó hàng tồn kho của Công ty lại tăng 23,4% so với năm 2011. Năm 2013, hệ số này lại tiếp tục giảm xuống chỉ còn 0,43 lần, giảm 0.07 lần so với năm 2012. Lúc này một đồng nợ ngắn hạn chỉ được đảm bảo bởi 0,43 đồng tài sản ngắn hạn không bao gồm hàng tồn kho. Nguyên nhân là do năm 2013, giá trị tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn đều giảm. Cụ thể, tốc độ giảm của tài sản ngắn hạn là 29% còn nợ ngắn hạn là 31,6% so với năm 2012, trong khi đó, hàng tồn kho của Công ty trong năm này cũng giảm 19,2% so với năm 2012. Chính điều này đã dẫn tới sự sụt giảm của chỉ tiêu đánh giá khả năng than toán nhanh của Công ty. Có thể thấy hệ số thanh toán nhanh của Công ty trong cả 3 năm đều <1 và liên tục giảm sút. Điều này cho thấy công ty không có đủ nguồn lực để thanh toán các khoản nợ mà không cần dùng đến hàng tồn kho. Công ty sẽ gặp khó khăn nếu phải thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn đáo hạn. 48 Khả năng thanh toán tức thời Khả năng thanh toán tức thời cho biết mức độ sẵn sàng thanh toán nợ ngắn hạn cao nhất bẳng số tiền đang có của doanh nghiệp. Do lượng tiền dự trữ tại Công ty là không cao, tiền và các khoản tương đương tiền luôn chiếm một tỷ trọng thấp hơn nợ phải trả trong tồng tài sản – nguồn vốn. Do đó, trong ba năm 2011 – 2013, chỉ tiêu này luôn ở mức <1. Năm 2011, hệ số này đạt 0,19 lần, tức một đồng nợ ngắn hạn lúc này chỉ được đảm bảo bằng 0,19 đồng tiền và các khoản tương đương tiền của Công ty. Sang năm 2012, hệ số này giảm 0,13 lần so với năm 2011, xuống còn 0,06 lần. Khi đó, một đồng nợ ngắn hạn chỉ còn được đảm bảo bởi 0,06 đồng đồng tiền và các khoản tương đương tiền. Cùng với xu hướng giảm này, năm 2013, chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời giảm chỉ còn 0,03 lần. Có thể nói, khả năng thanh toán ngay các khoản nợ sắp đáo hạn của doanh nghiệp là rất thấp, nó ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của công ty, cũng như việc các nhà cung cấp tín dụng với quyết định cho vay của họ. Nguyên nhân dẫn tới chỉ tiêu khả năng thanh toán tức thời giảm là do Công ty trong ba năm qua đã liên tục cắt giảm khoản tiền và tương đương tiền. Năm 2012 khoản mục này giảm mạnh so với năm 2011 với tốc độ giảm 73,2%. Năm 2013 lại tiếp tục giảm mứ tốc độ khá cao 66,2% so với năm 2012. 2.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời Bảng 2.5 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời Đơn vị: % Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2011 - 2012 Chênh lệch 2012 - 2013 Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) 0,19 (3,32) 0,01 (4,6) 3,33 Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) 1,27 (2,15) 0 (3,42) 2,15 Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) 15,82 (23,58) 0,03 (39,4) 23,6 (Nguồn: Số liệu được tính toán từ BCTC của công ty) Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Năm 2011, tỷ suất sinh lời trên doanh thu là 0,19%, tức trong 100 đồng doanh thu thuần mang lại 0,19 đồng lợi nhuận. Năm 2012, tỷ số này giảm mạnh so với năm Thang Long University Library 49 2011 chỉ còn âm 3,32% (giảm 4,6%). Nguyên nhân dẫn tới sự giảm mạnh trong tỷ suất sinh lời trên doanh thu là do năm 2012, doanh thu thuần của công ty giảm mạng (với tốc độ 42,8%) so với năm 2011. Tương ứng với đó là lợi nhuận sau thuế cũng giảm mạnh tới âm 249% so với năm 2011. Tới năm 2013, tỷ số này đã tăng trở lại mức 0,01% (tăng 3,33% so với năm 2012). Khi đó, tốc độ giảm của doanh thu thuần là 46,1%, xong tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế đã nhỏ hơn với năm 2012 là 100,1%. Trong ba năm qua, tỷ suất sinh lợi trên doanh thu thuần của công ty là rất thấp và không ổn định. Công ty cần phải có những chính sách quản lý chi phí hiệu quả nhăm tối thiểu hóa chi phí, tối đa hóa doanh thu, như vậy mới đảm bảo được mức sinh lời trên doanh thu ổn định và hiệu quả. Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản cũng có những biến động trong ba năm gần đây. Năm 2011, ROA của công ty là 1,27% hay 100 đồng tài sản bỏ ra để đầu tư thì công ty thu về 1,27 đồng lợi nhuận. Năm 2012 giảm mạnh so với năm 2011 (giảm 3,42%). Lúc này 100 đồng tài sản làm thâm hụt 2,15 đồng nguồn LNST của công ty. Nguyên nhân là do mức tăng trưởng của lợi nhuận sau thuế năm 2012 là âm 249%, thấp hơn nhiều so với mức tăng trưởng của tổng tài sản giai đoạn này (với mức tăng trưởng của tổng tài sản là âm 12%. Chính mức chênh lệch lớn này làm cho tỷ suất sinh lời trên tài sản của công ty giảm mạnh trong năm 2012. Đến năm 2013, tỷ suất này đã tăng trở lại mức 0%. Lúc này 100 đồng tài sản bỏ ra để đầu tư gần như không mang lại cho công ty một đồng lợi nhuận nào. Nguyên nhân là trong khi lợi nhuận sau thuế giảm 100,1% thì tổng tài sản cũng giảm 29,2% so với năm 2012. Tức tốc độ giảm của lợi nhuận sau thuế vẫn lớn hơn tốc độ giảm của của tổng tài sản. Nhìn chung, ROA của công ty ở mức rất thấp không ổn định cho thấy khả năng quản lý tài sản của công ty và khả năng quản lý doanh thu là tương đối kém, dẫn đến tình trạng lợi nhuận không ổn định, hiệu quả sử dụng tài sản giảm sút. Công ty cần phải xác định được chính xác nhu cầu về tài sản cần thiết cho hoạt động kinh doanh, từ đó lên kế hoạch kinh doanh hiệu quả để làm gia tăng lợi nhuận cho công ty. Tỷ suất sinh lời trên VCSH (ROE) Tỷ suất sinh lời trên VCSH phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Năm 2011, ROE là âm 15,82% hay cứ 100 đồng VCSH doanh nghiệp làm thâm hụt 15,82 đồng lợi nhuận sau thuế. Năm 2012 giảm mạnh 39,4% xuống mức âm 23,58%. Với chỉ số âm lớn trong năm 2012 cho thấy, trong năm này công ty làm ăn thua lỗ, lợi nhuận sau thuế bị âm khá lớn. Với những đồng vốn bỏ ra, công ty không thu hồi được. Đến năm 2013, chỉ số này đã tăng trở lại mức 0,03%, tuy không ở mức 50 âm những đây vẫn là con số rất nhỏ. Lúc này 100 đồng VCSH chỉ còn mang lại cho công ty 0,03 đồng lợi nhuận sau thuế. 2.2.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản Bảng 2.6 các chỉ tiêu đánh giá khả năng quản lý tài sản Đơn vị: Lần Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2011 - 2012 Chênh lệch 2012 - 2013 Hiệu suất sử dụng TSNH 1,01 0,65 0,49 (0,35) (0,16) Hiệu suất sử dụng tổng tài sản 0,99 0,65 0,49 (0,35) (0,15) (Nguồn: Số liệu được tính toán từ BCTC của công ty) Hiệu suất sử dụng TSNH Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn cho ta biết hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty thông qua việc sử dụng TSNH. Năm 2011, hiệu suất sử dụng TSNH là 1,01 hay mỗi đồng TSNH đem lại cho doanh nghiệp 1,01 đồng doanh thu thuần. Năm 2012,chỉ số này giảm 0,35 lần so với năm 2011. Lúc này 1 đồng TSNH chỉ còn mang lại cho PCS 0,65 đồng doanh thu thuần. Việc suy giảm hiệu suất sử dụng TSNH là do doanh thu thuần của công ty giảm mạnh 42,8% trong khi TSNH chỉ giảm 11,6%. Đến năm 2013, hiệu suất sử dụng TSNH lại tiếp tục giảm xuống còn 0,49 lần do năm này doanh thu tiếp tục giảm mạnh (giảm 46,1%) trong khi TSNH của công ty lại giảm 29% so với năm 2012. Điều này cho thấy chính sách quản lý TSNH của Công ty không thực sự mang lại hiệu quả, hoạt động kinh doanh giảm sút. Trong thời gian tới, công ty cần cố gắng thực hiện các biện pháp tăng doanh thu và giảm lượng TSNH xuống hợp lý để nâng cao hiệu suất sử dụng TSNH của công ty. Hiệu suất sử dụng tổng tài sản Ngoài ra để đánh giá tổng quát nhất hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp ta phải nói đến hiệu suất sử dụng tổng tài sản. Năm 2011, hiệu suất sử dụng tổng tài sản là 0,99 lần hay cứ 1 đồng tài sản của doanh nghiệp sẽ tạo ra 0,99 đồng doanh thu thuần. Năm 2012, con số này giảm xuống còn 0,65 lần (giảm 0,35 lần so với năm 2011) do tổng tài sản của doanh nghiệp cũng như doanh thu đểu giảm mạnh. Đến năm 2013, hiệu suất sử dụng tài sản lại giảm xuống chỉ còn 0,49 lần (giảm 0,15 lần so với năm 2012). Nhìn chung, hiệu suất sử dụng tài sản xấu đi trong ba năm. Tuy nhiên, với sự biến động khó lường trước của thị trường cùng với mục tiêu mở rộng kinh doanh, trong tương lai các chỉ số hiệu suất sử dụng tài sản của công ty sẽ có nhiều biến động. Thang Long University Library 51 Công ty cần xem xét một cách thật cẩn trọng, kỹ càng trước khi đưa ra những quyết định nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng tài sản. 2.3 Thực trạng quản lý tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt 2.3.1 Chính sách quản lý tài sản ngắn hạn Tuỳ thuộc vào mục tiêu hoạt động của mỗi công ty mà họ chọn cho mình một chính sách quản lý tài sản ngắn hạn sao cho phù hợp. Đối với Công ty Năm Sao Việt, công ty đã chọn cho mình chính sách quản lý thận trọng. Tài sản ngắn hạn luôn chiếm một tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản của công ty. Ta có biểu đồ sau: Biểu đồ 2.4 Chính sách quản lý tài sản của Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt Nhìn vào biểu đồ 2.4, ta có thể thấy TSNH chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu tài sản doanh nghiệp và có xu hướng giảm dần qua các năm. Năm 2011, TSNH chiếm tới 99,64% trên tổng tài sản, trong khi TSDH chỉ chiếm tới 0,36%. Tới năm 2012, Tỷ trọng TSNH giảm nhẹ xuống còn 99,28%, và cùng với đó TSDH tăng tỷ trọng lên mức 0,72%. Năm 2013, tỷ trọng TSNH lại tiếp tục giảm xuống còn 98,91% trên tổng tài sản và TSDH chiếm 1,09%. Việc duy trì một tỷ trọng lớn TSNH chứng tỏ công ty đang quản lý tài sản của mình theo chính sách thận trọng. Với chính sách này, công ty nên kết hợp với việc duy trì tỷ trọng nợ ngắn hạn thấp. Bởi khi công ty duy trì chính sách quản lý TSNH thận trọng, các cổ đông sẽ chịu ít rủi ro hơn, với các yếu tố khác không đổi, sẽ có tỷ lệ P/E cao hơn so với chính sách cấp tiến. Tuy nhiên ta có thể thấy, việc duy trì một tỷ trọng TSNH quá cao cũng sẽ mang lại những bất lợi cho công ty. tương lai, công ty nên chú trọng đầu tư nhiều hơn nữa vào TSDH để áp dụng thiết bị công nghệ hiện đại, thay thế thiết bị đã lỗi thời nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Năm 2013 TSNH 99,64% TSNH 99,28% TSNH 98,91% Năm 2011 TSDH 0,72% Năm 2012 TSDH 1,09% TSDH 0,36% 52 2.3.2 Cơ cấu tài sản ngắn hạn Bảng 2.7 Cơ cấu tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt CHỈ TIÊU Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Số tiền ( triệu VNĐ) Tỷ trọng (%) Số tiền (triệu VNĐ) Tỷ trọng (%) Số tiền (VNĐ) Tỷ trọng (%) Tiền và các khoản tương đương tiền 1.032,813 2,53 3.055,336 5,32 11.397,117 17,53 Các khoản phải thu ngắn hạn 9.258,626 22,68 18.582,760 32,34 24.118,828 37,09 Hàng tồn kho 24.967,748 61,17 30.900,929 53,78 25.032,772 38,50 Tài sản ngắn hạn khác 5.557,887 13,62 4.922,946 8,57 4.478,009 6,89 TÀI SẢN NGẮN HẠN 40.817,074 100 57.461,971 100 65.026,726 100 (Nguồn: Số liệu tính toán từ BCTC của công ty) Thang Long University Library 53 Từ bảng 2.4 chúng ta có thể thấy rõ các sự biến động của các khoản mục trong tài sản ngắn hạn trong công ty là không ổn định. Hàng tồn kho và các khoản phải thu luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu tài sản ngắn hạn qua các năm của công ty. Hàng tồn kho giảm rất nhanh nhưng tiền mặt và các khoản phải thu của công ty thì lại tăng dần theo từng năm. Cụ thể năm 2011, tiền mặt chiếm 2,53%, năm 2012 là 5,32% tăng 2,79% so với năm 2011. Năm 2013 là 17,53% tăng 14,74% so với năm 2012. Chứng tỏ rằng công ty đã tăng lượng dự trữ tiền mặt để nhằm đảm bảo khả năng thanh toán của mình, bởi khoản nợ phải trả của công ty liên tục tăng, nếu không tăng lượng dự trữ tiền thì công ty gặp khó khắn trong việc thanh toán các khoản nợ, tương ứng với đó là uy tín đối với nhà tín dụng giảm sút, ảnh hưởng tới việc vay vốn của công. Hàng tồn kho chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu tài sản ngắn hạn và đang giảm nhanh qua từng năm. Tiền và các khoản tương đương tiền: năm 2011, tiền và tương đương tiền đạt con số 11.397,117 triệu VNĐ, chiếm 17,53% trong cơ cấu tỷ trọng TSNH. Năm 2012, khoản mục này của công ty giảm mạnh chỉ còn 3.055,336 triệu VNĐ. Tới năm 2013, vẫn tiếp tục xu hướng này, tiền và các khoản tương đương tiền giảm chỉ còn 1.032,813 triệu VNĐ, chiếm tỷ trọng 2,53% trong tổng TSNH. Dự trữ một lượng tiền và tương đương tiền lớn sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Tuy nhiên lại có thể đảm bảo được khả năng thanh toán, đặc biệt là khả năng thanh toán tức thời của công ty. Do vậy sự sụt giảm đáng kể của khoản mục này trong ba năm dù có thể làm tăng khả năng sinh lời, nhằm tăng hiệu quả sử dụng vốn xong cùng với đó lại ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của công ty. Nếu khoản tiền dự trữ công ty nhỏ hơn khoản nợ thì công ty có thể sẽ gặp phải những rủi ro trong việc thanh toán những khoản vay tới hạn. Ảnh hướng tới uy tín của công ty. Chính vì vậy, việc quản lý tiền có vai trò vô cùng quan trọng. Sau đây ta có sẽ cùng xem xét một cách chi tiết, cụ thể hơn về quản lý tiền của Công ty thông qua bảng sau: Bảng 2.8 Cơ cấu tài sản tiền của Công ty trong năm 2011 – 2013 Đơn vị: Triệu VNĐ Chỉ tiêu Năm 2013 Năm 2012 Năm 2011 Số tiền % Số tiền % Số tiền % Tiền mặt 459,045 44,45 1.108,212 38,63 2.329,894 36,42 Tiền gửi ngân hàng 573,768 55,55 1.875,124 61,37 4.067,223 63,58 Tổng cộng 1.032,813 100 3.055,336 100 6.397,117 100 (Nguồn: số liệu từ BCTC của công ty) 54 Từ những số liệu trong bảng trên ta thấy được tiền mà công ty nắm giữ giảm nhanh chóng trong 3 năm qua do việc kinh doanh gặp khó khăn, doanh thu giảm sút. Lượng tiền nắm giữ chủ yếu của công ty là tiền gửi ngân hàng đang giảm dần qua các năm. Cụ thể, năm 2011 tiền gửi ngân hàng của công ty chiếm 63,58%, tương ứng với số tiền 4.067,223 triệu VNĐ. Nhưng sang năm 2012, lượng tiền gửi ngân hàng đã giảm chỉ cong 1.875,124 triệu VNĐ, tương ứng với 61,37% trên tổng tiền của công ty. Cùng với xu hướng đó, năm 2013, lượng tiền gửi ngân hàng tiếp tục giảm xuống chỉ còn 573,768 triệu VNĐ và tỷ trọng trên tổng tiền chỉ cong chiếm 55,55%. Điều này cho thấy, công ty đang tăng tỷ lệ nắm giữ tiền mặt trong công ty để thanh toán các khoản chi phí phát sinh. Tuy nhiên, việc nắm giữ một khoản tiền mặt lớn trong tay sẽ có những ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng sinh lời của đồng vốn và khả năng than toán nợ vay của công ty. Vì vậy, Công ty cần tính toán mức dự trữ tối ưu nhất lượng tiền để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn cũng như đảm bảo khả năng thanh toán đối với những trường hợp bất thường xảy ra. Các khoản phải thu ngắn hạn: Năm 2011, khoản phải thu ngắn hạn của công ty là 24.118,828 triệu VNĐ, tương ứng với tỷ trọng 37,09% trong tổng TSNH. Có thể đây là chính sách tín dụng của công ty đối với khách hàng, nhằm tạo điều kiện, thu hút khách hàng, nâng cao doanh thu bán hàng của công ty, từ đo tăng lợi nhuận kinh doanh. Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc duy trì một lượng phải thu ngắn hạn lớn đồng nghĩa với việc công ty phải đối mặt với tình trạng khó quay vòng vốn, bị khách hàng chiếm dụng vốn, gây ảnh hưởng xấu tới tình hinh hoạt động kinh doanh của công ty. Sang năm 2012, khoản phải thu ngắn hạn của công ty đã giảm chỉ còn 18.582,760 triệu VNĐ so với năm 2011 xong vẫn còn khá cao. Tới năm 2013, khoản mục này tiếp tục giảm xuống còn 9.258,626 triệu VNĐ, chiếm tỷ trọng 22,68% trong tổng TSNH. Có thể nói rằng, công ty đang cố gắng giảm thiểu các khoản phải thu ngắn hạn nhằm huy động vốn đầu tư cho nhu cầu TSNH của mình trong năm. Hàng tồn kho: Mặc dù trong năm 2011, tỷ trọng của hàng tồn kho chỉ chiếm 38,50% (với giá trị 25.032,772 triệu VNĐ) trong tổng TSNH xong vẫn đứng vị trí đầu tiên. Đây là một thành phần quan trọng trong cơ cấu TSNH. Sang năm 2012, khoản mục này tăng lên nhanh chóng, đạt con số 30.900,929 triệu VNĐ, chiếm 53,78% trong tổng TSNH. Sang năm 2013, giá trị khoản tồn kho đã giảm so với năm 2012, chỉ còn 24.967,748 triệu đồng xong tỷ trọng lại tăng lên tới 61,17%. Nguyên nhân là so tổng tài sản năm 2013 giảm mạnh so với năm 2012, từ 57.879,123 triệu VNĐ, xuống chỉ còn 40.963,278 triệu VNĐ, tương ứng với mức giảm 29,2%. Cùng với đó là sự giảm mạnh của tỷ trọng các khoản tiền và tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn đã khiến cho hàng tồn kho mặc dù đã giảm về mặt giá trị xong tỷ trọng lại tăng khá cao. Thang Long University Library 55 Vì vậy, công ty cần phải có biện pháp giải quyết tình trạng ứ động kho, làm tăng khả năng quay vòng hàng tồn kho, thu hồi vốn kinh doanh của mình. Mặc dù qua các năm, giá trị TSNH có xu hướng giảm xong cơ cấu thành phần của nó lại có những biến động không thống nhất. Trong khi hàng tồn kho của công ty tăng nhanh về mặt tỷ trọng thì các khoản tiền và tương đương tiền, các khoản phải thu ngắn hạn lại giảm. Có thể thấy rằng, việc công ty theo đuổi chính sách quản lý tài sản thận trọng đang ảnh hướng tới tường khoản mục trong TSNH. Biểu đồ 2.5 Cơ cấu tài sản ngắn hạn giai đoạn 2011 – 2013 (Nguồn: số liệu tính toán từ BCTC của công ty) Năm 2011 chiếm 61,17%, năm 2012 là 53,78% giảm 7,93% so với năm 2011. Lý giải cho điều này khi mà tốc độ giảm của tiền mặt và các khoản phải thu nhỏ hơn so với tốc độ giảm của hàng tồn kho nên tỷ trọng của hàng tồn kho năm 2012 giảm so với 2011. Bên cạnh đó là quy mô của TSNH của năm 2012 cũng giảm so với năm 2011. Năm 2013 tỷ trọng hàng tồn kho là 38,5% giảm 15,28% so với năm 2012. Nguyên nhân là do công ty dự đoán được nhu cầu tiêu thụ hàng hoá sẽ giảm do đó đã giảm lượng hàng nhập về và sản xuất ra. Từ đó, lượng hàng trong kho cũng sẽ giảm theo. Còn đối với khoản phải thu cũng tăng nhanh khi mà những công trình của các nhà đầu tư đang không tiêu thụ được dẫn tới khoản nợ từ họ các ngày càng tăng. Cụ thể là khoản phải thu năm 2011 chiếm tỷ trọng 22,68%; năm 2012 đã là 32,34%, tăng 6,99% so với 2011 và năm 2013 là 37,09%, tăng 4,75% so với năm 2012. Tỷ trọng của tài sản 2,53% 22,68% 6,17% 13,62% Năm 2013 5,32% 32,34 % 53,78 % 8,57% Năm 2012 17,53% 37,09% 38,50% 6,89% Năm 2011 Tiền và các khoản tương đương tiền Các khoản phải thu ngắn hạn Hàng tồn kho Tài sản ngắn hạn khác 56 ngắn hạn khác năm 2011 là 13,62%; năm 2012 là 8,57%, giảm 5,05% so với năm 2011. Năm 2013 thì chiếm 6,89%, giảm 1,68% so với năm 2012, lý do chính của việc giảm và tăng tài sản ngắn hạn khác chủ yếu là do tình hình thuế giá trị gia tăng được khấu trừ trong năm 2012 thì nhỏ còn năm 2013 thì khoản thuế này được khấu trừ giảm dần do lượng hàng mua về cũng giảm trong 3 năm. 2.3.3 Phân tích các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn 2.3.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá chung Bảng 2.9 Các chỉ tiêu đánh giá chung về hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn giai đoạn 2011 – 2013 Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch 2011-2012 2012-2013 Vòng quay TSNH Lần 1,01 0,65 0,49 (0,35) (0,16) Thời gian luân chuyển TSNH Ngày 358,12 552,89 728,67 194,77 175,79 Hệ số đảm nhiệm Lần 0,99 1,54 2,02 0,54 0,49 Tỷ suất sinh lời trên TSNH % 1,28 (2,16) 0,0034 (3,45) 2,17 Qua bảng 2.8 về các chỉ tiêu phản ánh đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty trong giai đoan 2011 – 2013, ta có những nhận xét sau: − Vòng quay tài sản ngắn hạn: Nhìn vào bảng số liệu ta thấy Công ty có vòng quay tài sản ngắn hạn thuộc loại thấp, năm 2012 tài sản ngắn hạn luân chuyển được 0,65 vòng, giảm 0,35 vòng so với năm 2011, năm 2013 tài sẳn ngắn hạn luân chuyển được 0,49 vòng, tức là trong năm này một đồng tài sản ngắn hạn tạo ra 0,49 đồng doanh thu thuần, thấp hơn so với năm 2012 khi một đồng tài sản ngắn hạn trong năm này tạo ra 0,65 đồng doanh thu thuần. Do đặc thù hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty là kinh doanh mặt hàng dụng cụ, bếp, trong nhà bếp nên Công ty cần một lượng tài sản ngắn hạn lớn để đảm bảo quá trình sản xuất được liên tục. Nguyên nhân dẫn tới vòng quay TSNH đều giảm trong 3 năm là do doanh thu thuần và TSNH đều giảm mạnh. Năm 2012, TSNH giảm 11,6% so với năm 2011 và năm 2013, TSNH giảm 29% so với năm 2012. Cùng với đó, doanh thu thuần năm 2012 cũng giảm 42,8% so với năm 2011v à năm 2013, doanh thu thuần giảm 46,1% so với năm 2012. − Thời gian luân chuyển tài sản ngắn hạn: Chỉ tiêu này cho biết số ngày để tài sản ngắn hạn luân chuyển hết được hết một vòng của nó. Chỉ tiêu này ở Công ty năm 2011 là 358,12 ngày, tăng lên 552,89 ngày năm 2012 và lại tăng lên 728,67 ngày trong năm 2013. Cho ta thấy tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn của Công ty lên tới hơn một năm mới luân chuyển được hơn một vòng. Điều này phản ánh lượng tài sản ngắn Thang Long University Library 57 hạn bị tồn đọng quá lớn trong các khâu sản xuất kinh doanh dở dang, các khoản mục phải thu và lưu thông. Do vậy Công ty cần nỗ lực hơn nữa nhằm nâng cao tốc độ luân chuyển tài sản ngắn hạn, nâng cao hiệu quả hoạt động và đảm bảo chỗ đứng vững chắc trên thị trường. − Hệ số đảm nhiệm tài sản ngắn hạn: hệ số này cho chúng ta biết với mỗi một đồng doanh thu ta được sự đóng góp của bao nhiều đồng tài sản ngắn hạn. Hệ số đảm nhiệm của Công ty năm 2011 là 0,99, tức là để tạo ra một đồng doanh thu thuần Công ty phải mất 0,99 đồng TSNH, nhưng đến năm 2012 Công ty phải mất 1,54 đồng và tăng lên ở năm 2013 là 2,02 đồng. Điều này cho thấy Công ty sử dụng tài sản ngắn hạn vẫn chưa thực sự hiệu quả. Nguyên nhân là do tốc độ giảm của doanh thu lớn hơn tốc độ giảm của TSNH. Năm 2013, doanh thu giảm với tốc độ 46,1% trong khi TSNH chỉ giảm với 29% so với năm 2012. − Tỷ suất sinh lời trên TSNH: Tỷ suất sinh lời trên TSNH trong năm 2011 là 1,28%. Năm 2012 là âm 2,16%, giảm 3,45% so với năm 2011. Tuy nhiên sang năm 2013, tỷ suất sinh lời trên TSNH lại tăng lên 0,0034%, giảm 2,17% so với năm 2012. Tỷ suất này vẫn còn rất thấp và còn không ổn định khi mà tình hình kinh tế bấp bênh. Những con số cho thấy lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp vẫn còn rất thấp chứng tỏ hiệu quả việc sử dụng tài sản ngắn hạn còn kém. 2.3.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn Bảng 2.10 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn giai đoạn 2011 – 2013 Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Chênh lệch Năm 20112012 Năm 20122013 Vòng quay khoản phải thu Lần 2,97 2,05 2,54 (0,92) 0,49 Thời gian thu tiền trung bình Ngày 121,17 175,44 141,75 54,27 (33,69) Vòng quay hàng tồn kho Lần 2,47 1,15 0,73 (1,33) (0,42) Thời gian luân chuyển kho trung bình Ngày 145,56 314,09 493,35 168,53 179,26 Vòng quay khoản phải trả Lần 2,88 1,62 0,88 (1,26) (0,74) Thời gian trả nợ Ngày 125,10 221,90 407,34 96,80 185,44 Thời gian quay vòng tiền Ngày 141,62 267,63 227,76 126,01 (39,87) (Nguồn: Số liệu được tính toán từ BCTC của công ty) 58 Qua bảng 2.9 về các chỉ tiêu phản ánh đánh giá các bộ phận cấu thành nên tài sản ngắn hạn, ta có thể rút ra nhận xét: + Vòng quay khoản phải thu: Năm 2012, vòng quay các khoản phải thu giảm 0,92 vòng so với năm 2011, chỉ còn 2,05 vòng. Năm 2013 chỉ số này đã tăng trở lại 2,54 vòng. Năm 2012 lượng hàng tiêu thụ của Công ty giảm nên kéo theo sự giảm của các khoản phải thu khách hàng, mức giảm của doanh thu thuần lớn hơn mức giảm của các khoản phải thu dẫn đến vòng quay các khoản phải thu giảm trong năm 2012. Năm 2013 tốc độ giảm của phải thu khách hàng là khá lớn 56,5% so với năm 2012, tốc độ giảm này cao hơn so với tốc độ giảm doanh thu chứng tỏ chính sách quản lý các khoản phải thu của Công ty năm 2013 là có hiệu quả dẫn đến tăng số vòng quay các khoản phải thu vào năm 2013. Công ty phát huy những gì đã làm được trong năm 2013 nhằm hạn chế tối đa bị chiếm dụng vốn để tránh tình trạng nợ khó đòi xảy ra. + Thời gian thu tiền trung bình: Năm 2011 là 121,17 ngày, tới năm 2012 tăng lên 175,44 ngày và năm 2013 đã giảm chỉ còn 141,75 ngày. Trong ba năm gần đây, thời gian thu tiền trung bình của năm 2013 có giảm so với năm 2012 những so với năm 2011 vẫn cao hơn. Tuy nhiên, đây là một dấu hiệu tốt với doanh nghiệp khi mà doanh nghiệp đã nâng cao khả năng thu hồi được vốn của mình trong tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn như hiện nay. Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng thời gian thu tiền của công ty khá dài, Công ty bị chiếm dụng vốn lớn và lâu, làm tăng áp lực huy động vốn để Công ty đầu tư. Công ty cần phải có chiến lược hợp lý hơn để quản lý tốt các khoản phải thu để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. + Vòng quay hàng tồn kho: Cho biết trong một năm, kho của Công ty quay được bao nhiêu lần. Vòng quay hàng tồn kho của Công ty giảm dần qua các năm. Năm 2011, vòng quay hàng tồn kho của Công ty là 2,47 vòng, năm 2012 chỉ tiêu này giảm xuống chỉ còn 1,15 vòng, giảm 1,33 vòng so với năm 2011. Do doanh thu thuần của Công ty trong năm 2012 giảm 42,8%, trong khi đó hàng tồn kho năm 2012 lại tăng 23,4% so với năm 2011. Tới năm 2013, vòng quay hàng tồn kho của công ty tiếp tục giảm xuống chỉ còn 0,73 vòng một năm. Trong năm này thì cả doanh thu thuần và hàng tồn kho trong công ty đêu giảm, tuy nhiên, tốc độ giảm của doanh thu thuần so với năm 2012 lớn hơn tốc độ giảm của hàng tồn kho. Vòng quay hàng tồn kho càng ngày càng giảm chứng tỏ rằng hoạt động kinh doanh của Công ty đang không hiệu quả. Giá trị hàng tồn kho lớn giúp Công ty an toàn hơn trước những biến động thất thường của giá cả nguyên vật liệu. Nhưng hàng tồn kho có tính thanh khoản không cao, dễ xảy ra tình trạng tồn kho ứ đọng. Vì vậy vấn đề đặt ra là làm thế nào để xác định được lượng tồn kho hợp lý và sử dụng chúng có hiệu quả. Thang Long University Library 59 + Về thời gian luân chuyển kho trung bình từ 145,56 ngày trong năm 2011, đã tăng lên 314,09 ngày trong năm 2012, và tiếp tục tăng lên 493,35 ngày trong năm 2013. Việc thời gian luân chuyển kho trung bình dài làm tăng các chi phí liên quan tới việc quản lý kho. Cho thấy hiệu quả sử dụng hàng tồn kho không tốt, làm giảm tốc độ luân chuyển hàng tồn kho và thời gian luân chuyển kho bị kéo dài thêm. Tăng số vòng quay hàng tồn kho hay giảm số ngày lưu kho bình quân đều nhằm làm tăng tốc độ luân chuyển hàng tồn kho của Công ty. Tăng tốc độ lưu chuyển chính là rút ngắn thời gian mà hàng tồn kho nằm trong các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh (như dự trữ và lưu thông), nó chính là điều kiện quan trọng để phát triển sản xuất kinh doanh, giúp Công ty mở rộng sản xuất mà tốn ít chi phí đầu tư hơn mà Công ty chưa làm được. + Thời gian quay vòng tiền là tổng hợp các chỉ tiêu cho thấy thời gian doanh nghiệp thu hồi tiền trong sản xuất kinh doanh. Có chỉ số tương đối cao trong suốt 3 năm, năm 2011 doanh nghiệp thu hồi được tiền chỉ mất 141,62 ngày. Do thời gian luân chuyển hàng lưu kho lại khá lâu mất tới 145,56 ngày mới có thể luân chuyển được trong khi công ty cũng chiếm dụng được số vốn của nhà cung cấp một khoảng thời gian khá lâu lên đến 125,10. Sang năm 2012 chỉ số vòng quay tiền tăng lên tới 267,63 ngày. Nguyên nhân là do thời gian luân chuyển kho và thời gian thu tiền trung bình của công ty đều tăng mạnh mặc dù thời gian trả nợ trung bình của công ty có tăng xong tốc độ tăng vẫn nhỏ hơn. Đến năm 2013 thời gian vòng quay tiền của công ty giảm 39,87 ngày so với năm 2012, xuống còn 227,76 ngày. Do thời gian mà công ty chiếm dụng vốn của nhà cung cấp tăng mạnh trong năm 2013 (tăng tới 185,44 ngày so với năm 2012) trong khi thời gian luân chuyển tiền trung bình giảm. Tuy nhiên, ta có thể thấy những ảnh hưởng không tốt của việc chiếm dụng vốn của nhà cung cấp quá lâu. Nó sẽ làm ảnh hưởng đến uy tín của công ty đối với nhà cung cấp. Công ty cần tìm biện pháp nhằm nâng cao thời gian quay vòng tiền từ việc giảm thời gian thu tiền trung và thời gian luân chuyển kho mà không phải tăng thời gian trả nợ. 2.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt Mỗi một doanh nghiệp khi hoạt động sản xuất kinh doanh trên thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay đều phải đối mặt với nhiều nhân tố khác nhau. Các nhân tố sẽ có cả những tác động tích cực và tiêu cực tới doanh nghiệp. Chính vì vậy để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh nói chung và hiệu quả sử dụng TSNH của doanh nghiệp nói tiêng, các doanh nghiệp phải xác định và xem xét các nhân tố có tác động tới quá trình sản xuất kinh doanh của mình để từ đó đưa ra những giải giáp cụ thể và mang lại hiệu quả cao nhất. 60 Tác động của thị trường Đời sống của người dân nước ta đang ngày càng được nâng cao nên nhu cầu về các sản phẩm, trang thiết bị phục vụ nhà bếp cũng tăng lên. Những sản phẩm có mẫu mã đa dạng và phong phú, cùng với đó là sự tiện lợi khi sử dụng luôn thu hút được khách hàng. Nắm bắt được xu hướng đó, không những các công ty trong nước mà còn cả những công ty nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực này. Năm bắt cơ hội này, Công ty Năm Sao Việt không chỉ sản xuất các sản phẩm thiết bị nhà bếp mà còn nhập khẩu sản phẩm từ những thương hiệu nổi tiếng trên thế giới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Sức mua lớn tạo điều kiện thuận lợi cho công ty phát triển và tăng trường. Tuy nhiên, công ty luôn phải đối mặt với những biến động trên thị trường như nguồn cung, lãi suất, tỷ giá hối đoái,gây ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình hoạt động kinh doanh của công ty. Bên cạnh đó, trên thị trường, công ty không những phải cạnh tranh với các công ty trong nước mà còn cả công ty nước ngoài. Do đó, công ty cần tìm cho mình nguồn hàng ổn định, giá cả hợp lý, đồng thời không ngừng nâng cao chết lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng khắt khe của khách hàng trong nước. Trình độ quản lý doanh nghiệp Trong những năm qua, ban quản trị doanh nghiệp luôn nỗ lực điều hành các hoạt động của công ty, đưa ra những quyết định kịp thời và phù hợp với công tác nhân sự nhằm nâng cao năng lực quản lý. Các cán bộ công nhân viên của công ty hầu hết là đội ngũ trẻ, nhiệt tình, năng động và yêu nghề. Tuy nhiên, do đội ngũ nhân viên còn trẻ nên kinh nghiệm làm việc chưa nhiều, chưa thành thạo. Do đó, công ty cần liên tục tổ chức các khoá đào tạo nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ và năng lực làm việc cho nhân viên của mình. Ngoài việc đào tạo đội ngũ nhân viên, ban quản trị cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tổng hợp và nắm bắt các thông tin từ các phòng ban để từ đó đưa ra những quyết định kịp thời và chính xác trong việc quản lý TSNH trong doanh nghiệp một cách hiệu quả. 2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt 2.4.1 Kết quả đạt được Trong giai đoạn 2011 – 2013, công ty đã không ngừng nỗ lực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của mình. Tuy còn nhiều thiếu sót nhưng công ty cũng đã đạt được một số thành tích nhất định trong quản lý và sử dụng tài sản ngắn hạn như: Thang Long University Library 61 Tăng tỷ trọng tiền mặt trong tổng tài sản nhằm đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn cho công ty. Tỷ suất sinh lời ROS, ROA, ROE được cải thiện. Năm 2012, các chỉ tiêu phán ánh khả năng sinh lời của công ty đều âm khá lớn (ROS là âm 3,32%, ROA là âm 2,15% và ROE là âm 23,58%). Tuy nhiên, tới năm 2013, các chỉ số đã đồng loạt được tăng lên và đều >0. Duy trì và phát triển các mối quan hệ đầu tư, hợp tác đối với khách hàng, nhà cung cấp tín dụng, và các đối tác, mang lại những cơ hội kinh doanh, vay vốn hiệu quả, có lợi cho công ty. Công ty có đội ngũ cán bộ công nhân viên và Ban quản trị công ty năng động, nhiệt tình và chuyên nghiệp, luôn phục vụ khách hàng những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất, tạo lòng tìn đối với khách hàng. 2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân Bên cạnh những thành tích đạt được, công ty còn điểm tồn tại cần khắc phục như sau: Chính sách quản lý chi phí của công ty không được tốt đã khiến cho lợi nhuận thu về giảm trong năm 2012. Như ta thấy, trong năm này chi phí của công ty có giảm nhưng giảm ít hơn so với doanh thu cả về quy mô cũng như tốc độ giảm. Trong đó, chi phí tài chính tăng cao trong năm cũng khiến gia tăng áp lực trả nợ cho công ty. Tuy năm 2013 lợi nhuận thu về của công ty đã tăng so với năm 2012 nhưng vẫn còn ở mức thấp, khiến cho tỷ suất sinh lời của công ty cũng không cao. Tuy tỷ trọng tiền mặt trong tổng tài sản tăng, xong xét về quy mô thì thực chất nó lại giảm. Tới năm 2013, số lượng khoản tiền và tương đương tiền của công ty rất thấp, chỉ có 1.032,813 triệu VNĐ, trong khi nợ phải trả rất cao 36.541,334 triệu VNĐ, từ đó khiến cho khả năng thanh toán nhanh của công ty <1 trong cả 3 năm và đang giảm dần. Đồng thời, việc quản lý hàng tồn kho không hiệu quả cũng dẫn tới việc khả năng thanh toán tức thời các khoản nợ đáo hạn cũng rất thấp. Ngoài ra, trong 3 năm vừa qua, các chỉ tiêu về vòng quay TSNH giảm, cho thấy thời gian thu hồi vốn của công ty đang tăng lên. Nguyên nhân là do việc quản lý các khoản phải thu đã không mang lại hiệu quả, tỷ trọng khoản mục này đang tăng dần qua các năm trong tổng tài sản, tức số vốn công ty bị chiếm dụng đang tăng lên, gây ảnh hưởng tới tình hình kinh doanh của công ty. Cuối cùng là hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn giảm dần do doanh thu của công ty giảm dần qua các năm với tốc độ giảm lớn hơn tốc độ giảm của TSNH. Chính sách 62 quản lý các khoản mục chi tiết của tài sản ngắn hạn của công ty là chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả. Từ những tồn tại và nguyên nhân được chỉ ra, công ty cần có những giải pháp quản lý TSNH chi tiết, đồng bộ và phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của công ty nói riêng và nâng cao năng lực tài chính nói chung. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Chương 2 là chương quan trọng nhất trong bài khóa luận. Trong chương này ta đã tiến hành phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt. Cụ thể: phân tích tình hình hoạt động kinh doanh và thực trạng quản lý tài sản ngắn hạn qua các chỉ tiêu tài chính, từ đó thấy được những thành quả và những hạn chế trong công tác quản lý tài sản ngắn hạn của công ty. Những hạn chế mà công ty gặp phải sẽ là cơ sở cho những giải pháp được trình bày trong chương 3 của bài khóa luận. Thang Long University Library 63 CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THIẾT BỊ NĂM SAO VIỆT 3.1 Định hướng phát triển Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt được thành lập từ năm 2007 tới nay đã được 7 năm. Từ khi ra đời cho tới nay, Ban lãnh đạo và mỗi nhân viên của công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt thấm nhuần các giá trị, kim chỉ nam cho hoạt động kinh doanh của mình. Các giá trị cốt lõi được đúc kết như sau: − Tầm nhìn: Công ty phấn đấu trở thành một trong những công ty hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực tư vấn – thiết kế - sản xuất – cung cấp thiết bị nhà hàng khách sạn và bếp ăn tập thể. − Sứ mệnh: Đem lại sự hài lòng cho tất cả khách hàng mà công ty phục vụ bằng việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất. − Thái độ đối với khách hàng: Tác phong chuyên nghiệp, trung thực, nhiệt tình và tận tuỵ. − Văn hoá doanh nghiệp: Con người là yếu tố quan trọng nhất, tinh thần đồng đội được đề cao, sáng tạo, đổi mới, tự giác, không chùn bước trước khó khăn. − Triết lý kinh doanh: Luôn lắng nghe, tìm giải pháp tốt nhất để phục vụ khách hàng, môi trường làm việc chuyên nghiệp, có kỷ cương, minh bạch, khuyến khích sáng tạo, đề cao sự trung thành, có trách nhiệm với cộng đồng. − Thái độ đối với đồng nghiệp: Đoàn kết, nhất trí, hỗ trợ, thẳng thắn, tôn trọng, học hỏi lẫn nhau cùng nhau tiến bộ Từ những cốt lõi đó, công ty đặt ra những mục tiêu ngắn và dài hạn để toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty cùng nhau cố gắng, hoàn thành mục tiêu, nâng cao năng lực tài chính, vị thế công ty trên thị trường. Cụ thể định hướng của công ty như sau: + Tập trung phát triển mở rộng ngành nghề kinh doanh chính là tư vấn – thiết kế – sản xuất – cung cấp thiết bị nhà hàng khách sạn và bếp ăn tập thể. Mục tiêu là tăng doanh thu lên 50% so với năm 2013. + Đầu tư và mở rộng thị trường tới các tỉnh thành phố phía Bắc: Vĩnh Phúc, Quản Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình,. Để tiến tới mục tiêu xa hơn là hướng tới các tỉnh thành phố lớn phía Nam như Đà Nẵng, Huế, TP. Hồ Chí Minh. 3.2 Một số giải pháp Bênh cạnh những thành tựu đạt được, Công ty còn tồn tại khá nhiều vấn đề. Để nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, Công ty cần có những chính sách phù hợp 64 và hiệu quả. Sau đây em xin đưa ra một số giải pháp chủ quan nhằm giúp công ty nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong thời gian tới như sau: 3.2.1 Quản lý vốn bằng tiền Tỷ trọng vốn bằng tiền của công ty đang ở mức thấp, gây khó khăn lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, dẫn đến việc sử dụng kém hiệu quả TSNH của doanh nghiệp. Việc dự trữ một lượng vốn bằng tiền phù hợp vừa giúp công ty tận dụng triệt để các cơ hội đầu tư kiếm lơi, vừa đảm bảo được khả năng thanh toán và giảm thiểu rủi ro. Công ty có thể áp dụng cho mình mô hình dự trữ tiền Baumol để xác định chính xác lượng tiền tối ưu cần sử dụng cho hoạt động kinh doanh của mình. Vì vậy, dưới đây là một ví dụ áo dụng phương pháp xác định lượng tiền tối ưu như đã nêu. Qua đó, công ty có thể áp dụng vào tình hình thực tế của bản thân để đưa ra mức dự trữ tối ưu, giảm thiểu chi phí cơ hội bị mất đi. Giả sử trong năm tới doanh nghiệp nhận được một gói thầu lớn nên dự kiến phát sinh nhu cầu về tiền mặt hàng tháng là 1.000.000.000 VNĐ, chi phí cho một lần giao dịch là 0,5% trên tổng giá trị giao dịch, lãi suất tiền gửi ngân hàng là 13%/năm (theo thống kê về lãi suất ngân hàng năm 2013 của tinnhanhchungkhoan.vn) Dựa trên những giả thiết nêu trên, ta có: C*= 2 ∗  ∗ / = 2 ∗ 1.000.000.000 ∗ 12 ∗ 0.5% ∗ 1.000.000.000/0.13 = 960.768.923 VNĐ Theo như đáp số tính được, Công ty có mức dự trữ tối ưu tiền mặt hàng tháng khoảng 960.768.923 VNĐ để đảm bảo nhu cầu chi tiêu về tiền mặt 1 tỷ VNĐ mỗi tháng. Nếu áp dụng phương pháp này, công ty cần ước lượng khoản tiền mặt cần chi tiêu trong tháng tiếp theo. Việc xác định này có thể dẫn dựa trên tình hình thu nhập và chi tiêu thực tế của những tháng trước đó, xem xét những kế hoạch cần triển khai trong tháng tới, ước lượng tiền ra vào trong công ty. Chi phí cơ hội được xét ở đây là lãi suất tiền gửi ngân hàng mà Công ty bị mất đi khi dự trữ tiền mặt. Lãi suất này được Ngân hàng Nhà nước quản lý chặt chẽ. Công ty cần cập nhật thường xuyên để có những con số chính xác nhất, phục vụ cho việc tính toán thực tế. Cùng với đó, chi phí giao dịch cũng thường xuyên thay đổi. Do đó công ty cũng cần cập nhật thường xuyên những sự thay đổi từ chi phí này và tình hình biến động thị trường trong nước cũng như quốc tế. Với việc áp dụng mô hình này vào việc xác định mức dự trữ tiền tối ưu, Công ty có thể giảm thiểu các khoản chi phí phát sinh từ việc dự trữ tiền. Bên cạnh đó, công ty còn cần kết hợp các biện pháp khác trong việc quản lý vốn bằng tiền như: Thang Long University Library 65 Xác định nhu cầu vốn bằng tiền và thời gian vốn bằng tiền cần được tài trợ. Để làm được điều này thì cần phải thực hiện tốt công tác quan sát, nghiên cứu và làm rõ quy luật của việc thu – chi. Ngoài ra, công ty nên có biện pháp rút ngắn chu kỳ vận động của tiền mặt càng nhiều càng tốt nhằm mục đích tăng lợi nhuận, bằng cách giảm thời gian thu hồi các khoản nợ và kéo dài thời gian thanh toán các khoản phải trả. Như vậy thì công ty sẽ có khoảng thời gian trì hoãn và linh động trong việc trả công nợ đến hạn. 3.2.2 Quản lý hàng tồn kho Hàng tồn kho là khoản mục chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng tài sản của công ty, làm phát sinh chi phí bảo quản và các chi phí lưu kho khác. Công ty nên áp dụng mô hình ABC vào việc quản lý hàng tồn kho của mình một cách hiệu quả nhất. Dựa theo những tiêu chuẩn sắp xếp loại hàng tồn kho ta có thể sắp xếp các loại hàng hoá của công ty thành 3 nhóm A, B, C như sau: Bảng 3.1 Phân loại hàng tồn kho trong công ty Loại hàng hoá % số lượng % giá trị Xếp loại Thang máy chở hàng 15% 60% A + Các thiết bị chế biến và bảo quản: + Máy thái thịt + Máy xay thịt + Máy trộn bột + Tủ đông, tủ mát, bàn lạnh. 30% 25% B Các thiết bị bếp chính: + Lò nướng các loại + Chậu rửa, giá kệ + Bàn ăn công nhân + Thiết bị xử lý môi trường nhà bếp + Tủ sấy bái đĩa + . 55% 15% C Tổng 100% 100% Mô hình trên cho thấy nhóm A là thang máy chở hàng về mặt số lượng chiếm tỷ trọng ít nhất nhưng lại chiếm tỷ trọng lớn về giá trị. Mặt hàng này có giá trị cao, do đó nhóm A cần được quản lý một cách thật thận trọng. Công ty nên đầu tư trong tâm vào 66 mặt hàng A, dành các nguồn tiềm lực để mua mặt hàng này nhiều hơn và thực hiện kiểm toàn thường xuyên hàng tháng. Quản lý hàng tồn kho tốt sẽ giúp Công ty đảm bảo được quá trình sản xuất luôn diễn ra liên tục, không bị gián đoạn, hạn chế những biến động bất thường từ nguồn cung và hạn chế tới mức thấp nhất chi phí phát sinh trong quá trình lưu kho. Các sản phẩm của Công ty khá đa dạng về chủng loại và giá trị về mặt kinh tế. Nếu hàng tồn kho không được kiểm soát chặt chẽ có thể sẽ khiến cho công ty gặp khó khắn về khả năng quay vòng tiền, vốn ứ đọng. 3.2.3 Quản lý phải thu khách hàng Tỷ trọng các khoản phải thu của công ty trong 3 năm 2011 – 2013 liên tục tăng lên khiến cho nguồn vốn công ty bị chiếm dụng cũng tăng. Công ty cần có biện pháp giảm thiểu khoản phải thu khác hàng nhằm tránh rủi ro thu hồi vốn của công ty. Quản lý tốt khoản phải thu sẽ làm tăng tốc độ luân chuyển của TSNH, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho công ty. Đồng thời, điều này còn tạo uy tín và vị thế vững chắc cho công ty trên thị trường trên cơ sở thiết lập các mối quan hệ tốt đẹp với bạn hàng, hạn chế khoản vốn bị chiếm dụng đến mức thấp nhất. Tuy nhiên, việc quản lý các khoản phải thu, phải trả cũng cần đảm bảo lợi ích giữa hai bên. Điều kiện nhận thầu dự án Như đã phân tích trong chương hai, Công ty cho ta thấy hiệu quả sử dụng khoản phải thu ở Công ty là không được tôt, Công ty cần có những chính sách, điều kiện nhận thầu dự án hợp lý hơn. Đối với những hợp đồng tư vấn, thiết kế dự án có giá trị lớn hơn 1 tỷ đồng, Công ty nên yêu cầu thanh toán theo tiến độ công việc. + Đối với hợp đồng tư vấn, thiết kế dự án, Công ty yêu cầu thanh toán 40% ngay sau khi hoàn tất việc tìm hiểu thực tiễn, 10% nữa khi đệ trình bản báo cáo và phần còn lại 50% khi dự thảo hoàn tất. + Đối với các hợp đồng thi công dự án, Công ty yêu cầu ứng trước 30% ngay sau khi ký kết hợp đồng, 40% nữa sau khi hoàn thành các hạng mục của dự án, và 30% sau khi nghiệm thu bàn giao dự án. + Đối với những hợp đồng tư vấn, thi công một dự án có giá trị nhỏ hơn 1 tỷ đồng, Công ty có thể để chủ đầu tư trả tiền sau khi hoàn thành dự án. Phân tích năng lực tín dụng của khách hàng Bước đầu tiên trong cấp tín dụng thương mại, đó là phân tích năng lực tín dụng của khách hàng. Nó bao gồm: thứ nhất, phải xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn tín dụng hợp lý; thứ hai, xác minh phẩm chất tín dụng của khách hàng tiềm năng. Nếu khả Thang Long University Library 67 năng tín dụng của khách hàng phù hợp với những tiêu chuẩn tín dụng tối thiểu thì tín dụng thương mại có thể được cấp. Nếu tiêu chuẩn tín dụng quá cao, rủi ro thấp, kéo theo lợi nhuận thấp và ngược lại. Khi phân tích khả năng tín dụng của khách hàng, các tiêu chuẩn thường được sử dụng đó là: + Phẩm chất tư cách tín dụng: tiêu chuẩn này nói lên tinh thần trách nhiệm của khách hàng trong việc trả nợ, trên cơ sở việc thanh toán các khoản nợ trước đây của khách hàng đối với doanh nghiệp và đối với những doanh nghiệp khác. + Năng lực trả nợ: Dựa vào các chỉ tiêu về khả năng thanh toán nhanh, bảng dự trữ ngân quỹ của doanh nghiệp + Vốn của khách hàng: đánh giá khả năng tài chính dài hạn của khách hàng. + Thế chấp: xem xét các tài sản riêng mà khách hàng sử dụng để đảm bảo các khoản nợ. + Điều kiện kinh tế: Đánh giá khả năng phát triển của khách hàng trong tương lai. Các tài liệu được sử dụng để phân tích khách hàng là bảng cân đối kế toán, bảng kế hoạch ngân quỹ, phỏng vấn trực tiếp, kiểm kê trực tiếp hay tìm hiểu thông qua bên thứ ba. Sau khi đưa ra những phân tích hợp lý, doanh nghiệp mới nên tiến hành cấp tín dụng thương mại. Theo dõi các khoản phải thu Công ty nên theo dõi các khoản nợ quá hạn bằng cách lập ra một bản kê thời gian quá hạn của các khoản phải thu. Khi một khách hàng chậm thanh toán, Công ty gửi một bảng sao kê tài sản (hồ sơ quyết toán). Tiếp theo đó là sử dụng thư tín hoặc điện thoại nhắc nợ ngày càng thúc bách hơn, điều này đòi hỏi sự tế nhị và óc phán đoán. Công ty phải cứng rắn với những khách hàng thực sự không muốn trả nợ, nhưng không nên làm mất lòng một khách hàng tốt bằng các bức thư thúc giục trả tiền quá gay gắt. Giải quyết mâu thuẫn này bằng cách xây dựng thời gian các khoản phải thu hợp lý. Nếu các biện pháp đòi nợ “cứng rắn” không có hiệu quả, Công ty có thể nhờ đến pháp luật can thiệp. Tuy nhiên, biện pháp này thường ít khi sử dụng, bởi nếu khách hàng thực sự không có khả năng trả nợ, có kiện ra tòa thì họ cũng không có khả năng để trả, mà bản thân Công ty lại mất thêm khoản án phí. Do đó, công tác thẩm định dự án, và uy tín của khách hàng là khâu quan trọng nhất, giúp Công ty tránh được những rủi ro. Những giải pháp trên sẽ giúp công ty quản lý khoản phải thu một cách hiệu quả nhất, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH. Như ta đã biết, hiện nay, các doanh 68 nghiệp cạnh tranh vô cùng gay gắt. Một trong những phương pháp cạnh tranh hiệu quả nhất hay được các doanh nghiệp áp dụng chính là chính sách bán chịu. Chính sách này bên cạnh việc giúp công ty nâng cao sức mua của khách hàng mà còn tạo dựng được mối quan hệ khăng khít với họ. Tuy nhiên, nếu để khách hàng chịu một khoản tiền quá lớn sẽ gây bất lợi cho doanh nghiệp trong việc thu hồi vốn và quay vòng vốn kinh doanh. Từ đó, quản lý các khoản phải thu đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý và vận hành bộ máy kinh doanh của doanh nghiệp. 3.2.4 Một số giải pháp khác Bên cạnh việc đề ra những biện pháp thích hợp nhằm quản lý TSNH, công ty cần xem xét một số giải pháp sau: − Quản lý chặt chẽ các chi khoản chi phí, tránh chi tiêu không hợp lý, dẫn tới giảm lợi nhuận công ty thu về. − Đầu tư vào TSDH nhiều hơn để có thể ứng dụng các công nghệ hiện đại vào sản xuất và kinh doanh − Tổ chức các khoá huấn luyện nghiệp vụ cho nhân viên, khuyến khích tinh thần làm việc của nhâm viên bằng cách khen thưởng hoặc tổ chức những cuộc thi đua trong tháng, quý hoặc năm để toạ động lực làm việc hiệu quả. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Dựa vào những phân tích về thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn trong chương 2, cùng với những cơ sở lý thuyết tại chương 1, chương 3 đã đưa ra những giải pháp nhằm nâng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt. Những giải pháp đưa ra phù hợp với điều kiện tài chính của công ty cũng như tình hình nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Thang Long University Library KẾT LUẬN Tài sản ngắn hạn là một nguồn lực không thể thiếu đối với mỗi doanh nghiệp. Do đó, việc sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn có vài trò hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt nói riêng. Quản lý và sử dụng hiệu quả tài sản ngắn hạn góp phần nâng cao công tác quản lý tài chính, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, trong môi trường cạnh tranh gay gắt và tiềm ẩn đầy rủi ro như hiện nay, việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn là một vấn đề nan giải đối với các nhà quản trị. Trong thời gian nghiên cứu và làm khoá luận, em nhận thấy rằng công ty đã rất tích cực đề ra các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn và đạt được những thành công nhất định. Bên cạnh đó, trong công tác quản lý vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần phải khắc phục. Với kiến thức đã học ở trường cùng với sự chỉ bảo nhiệt tình của giáo viên hướng dẫn, em đã mạnh dạn đưa ra một số giải pháp để nâng cao được hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại công ty nhằm giúp công ty phát triển vững mạnh trong tương lai. Tuy nhiên, do thời gian có hạn cũng như do kiến thức còn chưa sâu và thiếu kinh nghiệm thực tế nên em không tránh khỏi được những sai sót. Em rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý của các quý thầy cô để bài luận văn của em được hoàn thiện hơn Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn tới cô giáo hướng dẫn Thạc sĩ Vũ Lệ Hằng cùng toàn thể các thầy cô trong bộ môn kinh tế Trường Đại học Thăng long và các cô chú, anh chị trong Công ty cổ phần thiết bị Năm Sao Việt đã giúp đỡ để em có thể hoàn thành khóa luận này. Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 2014 Sinh viên Nguyễn Thị Liên TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. cafef.vn 2. cophieu68.vn 3. Luận văn Trường Đại học Thăng Long 4. Nguyễn Hải Sản, Quản trị tài chính doanh nghiệp, NXB Thồng Kê, Hà Nội 5. PGS.TS Nguyễn Đình Kiệm, Giáo trình tài chính doanh nghiệp, NXB Tài Chính 6. Th.S Vũ Lệ Hằng, Slide bài giảng quản lý tài chính doanh nghiệp 1, Đại học Thăng Long 7. TS Nguyễn Minh Kiều, Tài chính doanh nghiệp căn bản, NXB Thống kê, Hà Nội. 8. vneconomy.vn Thang Long University Library

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfa19057_358.pdf
Luận văn liên quan