Đề tài Nghiên cứu gian lận báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong thẩm định tín dụng

Tổ chức quản lý, điều hành, hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ: - Bố trí cán bộ thẩm định hợp lý, tránh sự chồng chéo, đảm bảo sắp xếp cán bộ có đủ trình độ, năng lực, chuyên môn, trách nhiệm làm công tác này. Phân công cán bộ thẩm định cũng phải căn cứ vào trình độ, kinh nghiệm, thế mạnh của từng người. - Nên phân cán bộ thẩm định phụ trách theo ngành nghề, mỗi bộ phận cán bộ thẩm định phụ trách những ngành nghề khác nhau và cho cán bộ đi tìm hiểu về loại ngành nghề đó. - Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống kiểm toán nội bộ. - Định kỳ kiểm tra và thay đổi cán bộ quản lý hồ sơ. - Có hình thức chế tài hợp lý đối với công tác hậu kiểm. Thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm, tập huấn nhân viên để nâng cao nghiệp vụ thẩm định

pdf49 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 23/06/2014 | Lượt xem: 4125 | Lượt tải: 13download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Nghiên cứu gian lận báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong thẩm định tín dụng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
xấu nếu công ty kinh doanh thua lỗ, phải thu hẹp hoạt động, doanh thu giảm, lỗ vốn nên vốn chủ sở hữu giảm và vốn chủ sở hữu giảm nhiều hơn lợi nhuận. o ROE giảm là tốt nếu cả lợi nhuận và vốn chủ sở hữu đều tăng nhưng vốn chủ sở hữu tăng nhanh hơn tốc độ tăng lợi nhuận. o ROE giảm là xấu nếu cả lợi nhuận và vốn chủ sở hữu đều giảm do kinh doanh thua lỗ, thu hẹp quy mô … 2.2.2.5 Hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với chi phí thấp nhất. 25 Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có quan hệ với tất cả các quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh (lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động) nên doanh nghiệp chỉ đạt được hiệu quả kinh doanh khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Để đánh giá chính xác, có cơ sở khoa học hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cần phải xây dựng hệ thống chỉ tiêu phù hợp bao gồm các chỉ tiêu tổng quát và các chỉ tiêu cụ thể. Các chỉ tiêu phải phản ánh được sức sản xuất, sinh lợi và suất hao phí của từng yếu tố, từng loại vốn và phải thống nhất với công thức tính hiệu quả chung. Hiệu quả kinh doanh = (Kết quả đầu ra) / (Kết quả đầu vào) (1) Kết quả đầu ra được xác định bằng các chỉ tiêu như: Tổng sản lượng, doanh thu thuần, lãi gộp, thu nhập thuần...Còn các yếu tố đầu vào bao gồm lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn vay, vốn chủ sở hữu.. Chỉ tiêu (1) phản ánh sức sản xuất, sức sinh lợi của các chỉ tiêu phản ánh đầu vào. Hiệu quả kinh doanh còn được đo bằng cách nghịch đảo. Hiệu quả kinh doanh = (Kết quả đầu vào) / (Kết quả đầu ra) (2) Chỉ tiêu (2) phản ánh suất hao phí của các chỉ tiêu đầu vào, nghĩa là để có một đơn vị kết quả đầu ra thì hao phí hết mấy đơn vị chi phí đầu vào.  Phương pháp phân tích: Tính ra các chỉ tiêu phục vụ cho quá trình phân tích, sau đó so sánh giữa kỳ phân tích với kỳ gốc (kỳ kế hoạch hoặc thực tế kỳ trước). Nếu các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tăng lên chứng tỏ hiệu quả sử dụng tài sản tăng lên và ngược lại. Bên cạnh đó cần so sánh với số liệu của các doanh nghiệp khác hoặc chỉ số trung bình ngành (nếu có) để đưa ra các kết luận khách quan nhất. 2.2.2.6 Các chỉ số giá trị thị trường (Market Value Ratios) Có thể rút ra nhiều kết luận có ý nghĩa từ việc phân tích kỹ bảng cân đối kế toán và kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, có một đặc tính rất quan trọng của doanh nghiệp lại không thể tìm thấy trong các báo cáo kế toán: giá trị thị trường của doanh nghiệp. 26 Giá thị trường của một cổ phiếu phổ thông là mức giá mà người mua và người bán xác lập khi thực hiện giao dịch cổ phiếu đó. Giá trị thị trường của một doanh nghiệp được tính bằng giá thị trường một cổ phiếu nhân với tổng số cổ phiếu của doanh nghiệp. Hai chỉ số giá thị trường thường được sử dụng trong công tác phân tích báo cáo tài chính nhất là: P/E và P/B.  Chỉ số giá-thu nhập - Price to Earning Ratio (P/E): được tính bằng cách lấy giá thị trường bình quân của cổ phiếu do doanh nghiệp phát hành trong một kỳ nhất định chia cho thu nhập bình quân trên một cổ phần mà doanh nghiệp phải trả cho nhà đầu tư trong kỳ đó. - Công thức cụ thể như sau: Tỷ số P/E = Giá thị trường một cổ phiếu Thu nhập bình quân trên một cổ phần - Vì: Thu nhập bình quân trên một cổ phần = Tổng thu nhập trong kỳ Tổng số cổ phần - Nên cũng có thể tính tỷ số P/E theo cách sau: Tỷ số P/E = Tổng giá trị thị trường các cổ phiếu Tổng thu nhập trong kỳ  Chỉ số giá thị trường trên giá ghi sổ - Price to Book ratio (P/B): Đây là tỉ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỉ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó. Công thức tính như sau: Tỷ số P/B = Tổng giá trị thị trường các cổ phiếu Tổng giá trị tài sản - giá trị tài sản vô hình và nợ - Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ tìm kiếm các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua. 27 - Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỷ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hoặc là thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp. - Nếu như điều kiện đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị thật. - Còn nếu điều thứ hai đúng, thì có khả năng lãnh đạo mới của công ty hoặc các điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty, tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đông. - Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao. Ngoài hai chỉ số trên, còn có một chỉ số được sử dụng đánh giá mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp, đó là tỷ số tăng trưởng. Đây là các chỉ số cực kỳ có ý nghĩa với các cổ đông và nhà đầu tư để xem xét xem công ty đáng giá đến đâu và cho phép các chủ nợ dự đoán được khả năng trả nợ của các khoản nợ hiện hành và đánh giá các khoản nợ tăng thêm nếu có Chỉ số tăng trưởng: G =RR x ROE Trong đó: RR: Tỷ lệ lợi nhuận giữ lại ROE: Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu 2.2.3 Phân tích dòng tiền doanh nghiệp Như chúng ta đã biết Bảng lưu chuyển tiền tệ nói lên khả năng tạo tiền, tình hình quản lý các tài sản và trách nhiệm pháp lý ngoài vốn hiện thời, chi tiết các khoản đầu tư vào tài sản sản suất và các khoản đầu tư tài chính của doanh nghiệp. Bảng lưu chuyển tiền tệ có liên quan mật thiết với bảng cân đối và báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nó cần các dữ liệu từ: 28 - Bảng CĐKT dùng để thu thập dòng tiền từ tất cả các hoạt động. Để quá trình này được dễ dàng nên tính toán thay đổi từ thời điểm đầu kì đến thời điểm cuối kì của mỗi khoản. - Một báo cáo kết quả hoạt động SXKD sử dụng ban đầu để thu thập các dòng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh. - Các chi tiết phụ khác liên quan đến một số tài khoản phản ánh vài loại giao dịch và vấn đề khác nhau. Việc nghiên cứu các tài khoản riêng biệt là cần thiết bởi thường tổng số thay đổi của cân bằng TK trong năm không chỉ ra được bản chất thực của dòng tiền. Về cơ bản, bảng lưu chuyển tiền tệ giải thích sự vận động tiền tệ từ cân bằng tiền đầu kì đến mức cân bằng cuối kì (tiền tệ bao gồm tiền và các khoản tương đương tiền như đầu tư ngắn hạn, các khoản đầu tư có độ thanh khoản cao, thông thường là các khoản đầu tư đáo hạn dưới ba tháng. Các dòng tiền trong bảng lưu chuyển tiền tệ được chia thành 3 loại: dòng tiền từ hoạt động sản xuất - kinh doanh, dòng tiền từ hoạt động tài chính và dòng tiền từ hoạt động đầu tư. Thực tế, để lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ thì doanh nghiệp có thể lập theo một hoặc cả hai phương pháp: phương pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp. Tương ứng với mỗi phương pháp có mẫu báo cáo riêng, nhưng mẫu báo cáo của hai phương pháp chỉ khác nhau ở phần lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh.  Theo phương pháp trực tiếp: Đặc điểm của phương pháp này là các chỉ tiêu được xác lập theo các dòng tiền vào hoặc ra liên quan trực tiếp đến các nghiệp vụ chủ yếu, thường xuyên phát sinh trong các loại hoạt động của doanh nghiệp. Tần số phát sinh và độ lớn của loại nghiệp vụ kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến lưu chuyển tiền trong kỳ kế toán của doanh nghiệp. - Đối với hoạt động kinh doanh thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến hoạt động bán hàng, cung cấp dịch vụ và việc thanh toán các khoản nợ phải trả liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh thường bao gồm: tiền thu từ bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu khác, tiền đã trả nợ cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ, tiền trả cho người lao động, tiền đã nộp thuế… 29 - Đối với hoạt động đầu tư thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến việc mua sắm, thanh lý, nhượng bán TSCĐ; xây dựng cơ bản, hoạt động cho vay, mua bán các công cụ nợ của đơn vị khác, hoạt động đầu tư vào các đơn vị khác. Do vậy, các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư thường bao gồm: thu về thanh lý, nhượng bán TSCĐ, thu nợ cho vay, thu hồi các khoản vốn đầu tư vào đơn vị khác, chi mua sắm TSCĐ, xây dựng cơ bản, chi cho vay, chi đầu tư vào các đơn vị khác. - Đối với hoạt động tài chính thì dòng tiền phát sinh chủ yếu liên quan đến các nghiệp vụ nhận vốn, rút vốn từ các chủ sỡ hữu và các nghiệp vụ đi vay, trả nợ vay. Do vậy các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính thường bao gồm: tiền thu do chủ sở hữu góp vốn, tiền chi trả vốn góp cho chủ sở hữu, tiền vay nhận được, tiền trả nợ vay… - Ngoài ra nếu doanh nghiệp có sử dụng ngoại tệ trong giao dịch thì khoản chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư cuối kỳ của tiền và tương tiền bằng ngoại tệ khi lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng là một chỉ tiêu nằm trong báo cáo lưu chuyển tiền tệ của doanh nghiệp. Một vấn đề cần lưu ý đối với các doanh nghiệp nhỏ có khối lượng nghiệp vụ liên quan đến tiền phát sinh không nhiều thì dựa vào cách xác định như trên để thực hiện một lần vào cuối tháng; Đối với những doanh nghiệp lớn có khối lượng nghiệp vụ liên quan đến tiền phát sinh nhiều thì định kỳ 10 ngày nên dựa vào cách xác định như trên để thực hiện một lần, sau đó đến cuối tháng sẽ cộng dồn để xác định lưu chuyển tiền cho tháng (quý, năm). Lợi ích của việc lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ chính là cái nhìn trực diện về nguồn gốc của những dòng tiền mà doanh nghiệp tạo ra được cũng như các dạng chi phí lấy đi dòng tiền của doanh nghiệp trong kỳ. Với những chi tiết trên, người đọc BCTC có thể phân tích rõ ràng mức ảnh hưởng của các dòng tiền ra vào từ hoạt động kinh doanh chính của doanh nghiệp. Kết quả này có thể kết hợp với dự đoán hoạt động kinh doanh trong tương lai để đưa ra nhận định về khả năng hoàn trả nợ của doanh nghiệp trong tương lai.  Theo phương pháp gián tiếp: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp gián tiếp theo quy định hiện nay chỉ thực sự gián tiếp ở phần lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh, còn lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và lưu chuyển tiền từ hoạt động tài chính được xác định giống như phương pháp trực tiếp – Việc xác lập như vậy cũng tỏ ra phù hợp bởi mục tiêu của phương pháp này là xác lập mối liên 30 hệ giữa lợi nhuận với lưu chuyển tiền để giúp người nhận thông tin thấy rằng không phải doanh nghiệp có lãi là có tiền nhiều, doanh nghiệp bị lỗ thì có tiền ít hoặc không có tiền. Vấn đề là tiền nằm ở đâu, ở đâu ra và dùng cho mục đích gì, mà đã đặt trong mối liên hệ với lợi nhuận thì hầu hết lợi nhuận lại được tạo ra từ hoạt động kinh doanh. Các chỉ tiêu thuộc lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh theo phương pháp gián tiếp có thể nhận diện dễ dàng qua công thức sau: Lợi nhuận trước thuế = Doanh thu - Chi phí tạo ra doanh thu = (Tiền + Nợ phải thu) - (Tiền + Hàng tồn kho + Chi phí trả trước phân bổ + Nợ phải trả + Khấu hao + Dự phòng + Chi phí lãi vay). = Tiền (lưu chuyển) + Nợ phải thu – Hàng tồn kho – Chi phí trả trước phân bổ - Nợ phải trả – Khấu hao – Dự phòng – Chi phí lãi vay. Lưu chuyển tiền = Lợi nhuận trước thuế + Khấu hao + Dự phòng + Chí phí lãi vay + Hàng tồn kho – Nợ phải thu + Nợ phải trả + Chi phí trả trước phân bổ. Qua công thức này thấy rằng, lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh nếu được xác định bắt đầu từ lợi nhuận trước thuế thì các chỉ tiêu điều chỉnh bao gồm: Khấu hao (điều chỉnh tăng), Dự phòng (điều chỉnh tăng), Chi phí lãi vay (điều chỉnh tăng), con các chỉ tiêu: Hàng tồn kho, Nợ phải thu, Nợ phải trả và Chi phí trả trước thì việc điều chỉnh tăng, giảm phụ thuộc vào số dư cuối kỳ và số dư đầu kỳ của các tài khoản nằm trong các chỉ tiêu này: o Đối với hàng tồn kho: - Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK > 0: Điều chỉnh giảm (chứng tỏ có một bộphận tiền được chuyển thành hàng tồn kho). - Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK < 0: Điều chỉnh tăng (chứng tỏ có một bộphận hàng tồn kho được chuyển thành tiền). o Đối với Nợ phải thu: - Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK > 0: Điều chỉnh giảm (chứng tỏ có một bộphận tiền được chuyển thành nợ phải thu). - Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK < 0: Điều chỉnh tăng (chứng tỏ có một bộphận nợ phải thu được chuyển thành tiền). o Đối với Chi phí trả trước: 31 - Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK > 0: Điều chỉnh giảm (chứng tỏ có một bộ phận tiền được chuyển thành chi phí trả trước). - Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK < 0: Điều chỉnh tăng (chứng tỏ có một bộ phận chi phí trả trước đã chuyển hóa thành tiền). o Đối với Nợ phải trả: - Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK > 0: Điều chỉnh tăng (chứng tỏ có một bộphận nợ phải trả được chuyển thành tiền). - Nếu SDCK SDĐK tức là SDCK – SDĐK < 0: Điều chỉnh giảm (chứng tỏ có một bộphận tiền được dùng để thanh toán nợ phải trả). Qua lý giải trên có thể thấy rằng, lưu chuyển tiền nghịch biến với sự biến động của hàng tồn kho, nợ phải thu, chi phí trả trước và đồng biến với sự biến động của nợ phải trả. Ngoài ra do chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế bao gồm cả lợi nhuận của hoạt động đầu tư và lãi, lỗ chênh lệch tỷ giá hối đoái chưa thực hiện nên các chỉ tiêu này cũng được dùng để điều chỉnh khi xác định lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc nếu lãi thì điều chỉnh giảm, ngược lại lỗ thì điều chỉnh tăng. Đồng thời lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh còn liên quan đến một số nghiệp vụ khác không ảnh hưởng đến sự biến động của lợi nhuận trong mối quan hệ với lưu chuyền tiền nên cần được xác định thành các chỉ tiêu thu, chi khác nằm trong lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh.  So sánh hai phương pháp: Nhìn chung, về nguyên tắc, giữa 2 phương pháp này không khác nhau. Chỉ có sự khác biệt duy nhất trong cách trình bày các các thay đổi trong tài sản thuần từ hoạt động kinh doanh. Còn cách trình bày về lưu chuyển tiền từ hoạt động đầu tư và họat động tài chính thì không có sự khác biệt. Cụ thể hơn, đối với phương pháp trực tiếp: các luồng tiền thu và chi theo từng nội dung thu, chi phí được trình bày phù hợp với báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh. Báo cáo sẽ cung cấp thông tin trực tiếp về từng luồng tiền thu, luồng tiền chi của hoạt động kinh doanh. Chính điều này gây ra sự hạn chế của phương pháp là không cho thấy được mối liên hệ giữa kết quả sản xuất kinh doanh với kết quả lưu chuyển tiền từ hoạt động này. Đồng thời, các 32 số liệu trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ khó kiểm tra, đối chiếu được với các số liệu từ báo cáo tài chính khác. Còn đối với phương pháp gián tiếp: cho phép tính toán, xác định luồng tiền từ hoạt động kinh doanh trên cơ sở lấy tổng lợi nhuận trước thuế và điều chỉnh cho các khoản thu, chi không phải bằng tiền, các thay đổi trong vốn lưu động và các khoản tiền lưu chuyển không phải từ hoạt động kinh doanh. Nhờ đó, báo cáo thể hiện được mối liên hệ giữa kết quả hoạt động kinh doanh với kết quả lưu chuyển tiền từ hoạt động này một cách cụ thể, chi tiết. Công việc tính toán cũng đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu với các số liệu trong các báo cáo tài chính khác. 2.2.4 Phân tích so sánh Lưu ý rằng khi phân tích BCTC, ngoài những chỉ số của kỳ hiên tại của doanh nghiệp, người phân tích phải thực hiện việc so sánh để xác định được tình hình hoạt động của doanh nghiệp một cách rõ ràng. - So sánh kỳ này với kì trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính, để thấy được tình hình tài chính được cải thiện hoặc xấu đi như thế nào để có biện pháp kịp thời. - So sánh kỳ này, với mức trung bình của ngành nghĩa là so sánh với những doanh nghiệp cùng loại để thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp đang ở hiện trạng tốt hơn hay xấu hơn, được hay chưa được. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, các tỷ số trung bình ngành chưa được thống kê, thì khi phân tích các nhà phân tích tài chính có thể đưa ra những tỷ số tài chính mẫu mà được đánh giá tốt hoặc doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hiệu quả với tình hình tài chính lành mạnh, từ đó chọn tỷ số tài chính làm thước đo, tiêu chuẩn tiến hành so sánh. 33 2.3 Các dấu hiệu gian lận báo cáo tài chính Một trong những dấu hiệu để nhận biết một báo cáo tài chính không phản ánh trung thực tình hình của doanh nghiệp là sự bất thường. Nếu có sự thay đổi bất thường trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp mà không có nguyên nhân rõ ràng, thì điều này cho thấy dấu hiệu của một báo cáo tài chính không trung thực Một ví dụ là tình hình kinh doanh của doanh nghiệp thể hiện trong báo cáo tài chính đi ngược lại với xu hướng chung của ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động. Trong tình hinh kinh tế khó khăn chung như hiện nay, các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiêu thụ hàng hóa và giữ vững được tình hình hoạt động kinh doanh tốt như các năm trước. Nếu trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp mà không thể hiện tình hình khó khăn chung của thị trường, không thấy sự sụt giảm trong doanh thu, lợi nhuận cũng như sự tăng lên của các khoản phải thu, các khoản trích lập dự phòng sản phẩm và dự phòng nợ phải thu khó đòi thì điều này là một dấu hiệu của việc gian lận báo cáo tài chính. Một dấu hiệu khác của việc báo cáo tài chính có vấn đề là doanh thu hoặc chi phí không thường xuyên của doanh nghiệp tăng cao. Khi một doanh nghiệp có doanh thu từ hoạt động kinh doanh khác hoặc các chi phí không thường xuyên tăng đột biến, đó là dấu hiệu đáng lưu ý khi đọc báo cáo tài chính. Các khoản doanh thu chi phí bất thường này có thể là do doanh nghiệp đã thực hiện một số thủ thuật trong năm nhằm thể hiện một kết quả kinh doanh đúng theo ý của người lập báo cáo tài chính. Một điểm khác cần lưu ý khi phân tích báo cáo tài chính, đó là cách thể hiện cách thuyết minh của doanh nghiệp. Nêu như các số liệu trên bảng cân đối kế toán và kết quả hoạt động kinh doanh chỉ được thuyết minh một cách sơ sài, không rõ ràng với các khoản không rõ nội dung có số dư lớn, người đọc báo cáo tài chính nên lưu ý về tính minh bạch và trung thực của báo cáo tài chính này. Ngoài những lưu ý về các dấu hiệu thường gặp trên, người sử dụng báo cáo tài chính còn nên quan tâm đến các dấu hiệu bất thường hoặc không rõ ràng khác của báo cáo tài chính làm căn cứ cho mức độ trung thực của báo cáo tài chính này cũng như việc báo cáo tài chính có được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán độc lập có uy tín không để làm căn cứ cho mức độ tin tưởng báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Việc thay đổi kế toán trưởng hoặc người chịu trách 34 nhiệm về việc thực hiện các hoạt động kế toán của doanh nghiệp, hoặc thay đổi đơn vị kiểm toán bất thường cũng có thể là dấu hiệu cho một báo cáo tài chính không minh bạch. 2.4 Các thủ thuật gian lận trong BCTC: 2.4.1 Che dấu công nợ và chi phí Che dấu công nợ đưa đến giảm chi phí là một trong những kỹ thuật gian lận phổ biến trên báo cáo tài chính nhằm mục đích khai khống lợi nhuận. Khi đó, lợi nhuận trước thuế sẽ tăng tương ứng với số chi phí hay công nợ bị che dấu. Đây là phương pháp dễ thực hiện và khó bị phát hiện vì thường không để lại dấu vết. Có ba phương pháp chính thực hiện giấu gian lận và chi phí:  Không ghi nhận công nợ và chi phí, đặc biệt không lập đầy đủ các khoản dự phòng;  Vốn hoá chi phí;  Không ghi nhận hàng bán trả lại – các khoản giảm trừ và không trích trước chi phí bảo hành; Đối với một số hàng hóa đặc thù, nhiều công ty còn cho phép khách hàng là những nhà phân phối hoàn trả lại hàng khi sắp hết hạn sử dụng. Mặc dù thường xuyên có một tỉ lệ hàng trả lại nhất định nhưng vào cuối năm, công ty vẫn “quên” lập dự phòng cho số hàng này. Trong thời điểm hiện nay, trường hợp thường gặp của các công ty là không thực hiện trích lập dự phòng đúng như quy định. Một trường hợp khác của việc che dấu các khoản chi phí của doanh nghiệp là việc không hợp nhất kết quả kinh doanh của các công ty con, các công ty đầu tư dài hạn của doanh nghiệp khi kết quả kinh doanh bất lợi. Các khoản lỗ đầu tư này có thể là rất lớn và ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. o Ví dụ: Trường hợp của công ty CTCP Xuất nhập khẩu Bến Tre công bố báo cáo tài chính 2012. Theo báo cáo, lợi nhuận trước thuế đạt 86 tỷ đồng, giảm 10,7 tỷ đồng (giảm 11% so với số liệu trước kiểm toán). Theo giải trình của công ty, lợi nhuận giảm do công ty phải trích lập dự phòng chi phí nuôi cá tại các trại nuôi (10,5 tỷ đồng), trích lập dự phòng phải thu (40 triệu đồng). 35 Bourbon Tây Ninh cũng giảm lớn lợi nhuận sau kiểm toán do công ty đã trích lập dự phòng bổ sung 95,5 tỷ đồng cho khoản vay đã cấp cho công ty Bourbon An Hòa. 2.4.2 Bóp méo doanh thu trong kỳ Việc làm tăng doanh thu trong kỳ có thể thực hiện thông qua nhiều biên pháp. Đầu tiên là ghi nhận vào sổ sách một nghiệp vụ bán hàng hoá hay cung cấp dịch vụ không có thực. Kỹ thuật thường sử dụng là tạo ra các khách hàng giả mạo thông qua lập chứng từ giả mạo nhưng hàng hóa không được giao và đầu niên độ sau sẽ lập bút toán hàng bán bị trả lại, Khai cao doanh thu còn được thực hiện thông qua việc cố ý ghi tăng các nhân tố trên Hóa đơn như số lượng, giá bán… hoặc ghi nhận doanh thu khi các điều kiện giao hàng chưa hoàn tất, chưa chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đối với hàng hoá – dịch vụ được bán. Một cách mà cách doanh nghiệp thường làm là tạo một hoạt động bán hàng cuối năm, xuất hóa đơn đầy đủ nhưng không thực hiện giao hàng. Sang năm sau sẽ ghi nhận giảm trừ khoản doanh thu này. Việc làm này thực chất là cố gắng sử dụng một phần doanh thu thực của sang năm để ghi nhận trong năm nay. Doanh thu thực sang năm sẽ phải chịu giảm đi phần đã ghi nhận này. Một trường hợp khác là công ty vội vàng ghi nhận doanh thu khi khách hàng mới chỉ dùng thử sản phẩm và có quyền trả lại hàng hóa nếu không hài lòng, hoặc hàng xuất đi chỉ là hàng gửi bán mà chưa được bán ra. Đối với một số hàng hóa đặc thù như hóa chất, nhiều công ty còn cho phép khách hàng là những nhà phân phối hoàn trả lại hàng khi sắp hết hạn sử dụng. Mặc dù thường xuyên có một tỉ lệ hàng trả lại nhất định nhưng vào cuối năm, công ty vẫn “quên” lập dự phòng cho số hàng này. Mua hóa đơn cho những chi phí không có thật cũng là một gian lận khá phổ biến. Ngoài việc tăng khống doanh thu nêu trên, doanh nghiệp còn có các biện pháp để có thể tăng doanh thu trên báo cáo tài chính của mình. Một cách thường gặp là tăng ảo doanh thu cuối kỳ thông qua các hoạt động đẩy mạnh doanh thu không bình thường. Ngoài ra việc tăng cường tín dụng cho đối tác, giảm giá hàng bán hoặc tăng các ưu đãi bán hàng cuối năm cũng được nhiều doanh nghiệp xử dụng để làm tăng doanh thu trong báo cáo tài chính năm nay. Việc này cũng gây ảnh hưởng giảm đến doanh thu sang năm của doanh nghiệp. 36 Một cách khác mà doanh nghiệp có thể tăng nhanh doanh thu và lợi nhuận trong kỳ của mình, đó là bán các tài sản hoặc các khoản đầu tư sinh lời của mình. Việc này có thể làm lợi nhuận trong kỳ của doanh nghiệp tăng nhiều, nhưng đã làm mất đi những lợi ích tương lai mà các tài sản hoặc khoản đầu tư này mang lại. o Ví dụ: Trường hợp Công ty Cổ phần Xây dựng Điện VNECO (VE1). Năm 2011, từ chỗ lỗ 2,9 tỉ đồng tính đến quý III, bằng việc đã cấp một khoản tín dụng khá lớn cho khách hàng, kết quả kinh doanh cuối năm của VE1 đã trở thành đạt lợi nhuận 89 triệu. 2.4.3 Ghi nhận sai niên độ Doanh thu hay chi phí được ghi nhận không đúng với thời kỳ mà nó phát sinh. Doanh thu hoặc chi phí của kỳ này có thể chuyển sang kỳ kế tiếp hay ngược lại để làm tăng hoặc giảm thu nhập theo mong muốn. Vào những ngày cuối năm, công ty có thể ghi nhận doanh thu trước khi thực sự xuất hàng để đạt chỉ tiêu doanh thu. Việc hạch toán doanh thu được thực hiện ngay khi xuất hóa đơn vào ngày cuối năm trong khi sang năm mới, sau nhiều ngày, hàng mới được xuất đi. Đối với các công ty xuất khẩu, chênh lệch thời gian nói trên thường rất lớn, đẩy doanh thu tăng lên đáng kể. Thủ thuật này cũng có thể dễ dàng áp dụng đối với doanh thu cung cấp dịch vụ bằng cách thay đổi thời gian và mức độ hoàn thành dịch vụ. Đối với chi phí, các doanh nghiệp cũng có thể ghi nhận chậm các khoản chi phí phải được ghi nhận trong năm sang năm sau, từ đó làm tăng lợi nhuận trong kỳ của công ty Phương thức này thường được các công ty sử dụng để có thể đạt được chỉ tiêu kinh doanh trong năm. o Ví dụ: Trường hợpCông ty Cổ phần Địa ốc Đà Lạt (DLR) ghi nhận 31,15 tỷ đồng doanh thu với giá vốn 27,98 tỷ đồng từ Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung cư Yersin thành phố Đà Lạt. Theo ký kết, công ty sẽ bàn giao từng phần hạng mục công ty của dự án sau khi hoàn thành và đủ điều kiện để bố trí tái định cư. UBND sẽ thanh toán cho công ty khi quyết toán dự án và đã được cơ quan độc lập kiểm toán. Tuy nhiên, tại Báo cáo tài chính năm 2010, công ty đã ước tính và ghi nhận doanh thu, giá vốn như trên theo số liệu hoàn thành giữa công ty và đội thi công của 37 công ty trong khi UBND tỉnh Lâm Đồng chưa có văn bản chỉ định UBND thành phố Đà Lạt nghiệm thu. Đơn vị kiểm toán cho biết, ngày 22/2/2011, UBND tỉnh Lâm Đồng đã có công văn thống nhất giao cho UBND thành phố Đà Lạt là đơn vị tiếp nhận từng hạng mục công trình theo từng giai đoạn giá trị công trình hoàn thành để DLR ghi nhận doanh thu. Qua đây cho thấy DRL đã ghi nhận doanh thu và giá vốn Dự án xây dựng Cụm dân cư - Khu chung cư Yersin thành phố Đà Lạt sai niên độ, doanh thu và giá vốn này phải được ghi nhận ở niên độ năm 2011, nhưng đã được doanh nghiệp ghi nhận vào năm 2010. 2.4.4 Không khai báo đầy đủ thông tin Việc không khai báo đầy đủ các thông tin nhằm hạn chế khả năng phân tích của người sử dụng Báo cáo tài chính. Các thông tin thường không đựợc khai báo đầy đủ trong thuyết minh như nợ tiềm tàng, các sự kiện phát sinh sau ngày khóa sổ kế toán, thông tin về bên có liên quan, các những thay đổi về chính sách kế toán, giao dịch với công ty con, các bên liên quan… o Ví dụ: Trường hợp Công ty Cổ phần Container Phía Nam (VSG), kiểm toán viên lưu ý người sử dụng đến khoản lỗ chênh lệch tỷ giá chưa thực hiện do đánh giá lại số dư có gốc ngoại tệ cuối năm của khoản vay dài hạn với số tiền 33,16 tỷ đồng đang được ghi nhận trên chỉ tiêu “chênh lệch tỷ giá hối đoái”. Điều này giúp cho người sử dụng hiểu được, việc áp dụng TT 201/2009 giúp cho công ty giảm lỗ 33,16 tỷ đồng. Nếu áp dụng VSA 10 thì chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính của công ty năm 2010 không phải con số lỗ 40,66 tỷ đồng mà là con số lỗ 73,82 tỷ đồng. Qua đó cho người sử dụng thấy một phần lợi nhuận được tạo ra (hoặc một phần giảm lỗ) là do sự thay đổi cách hạch toán mà có chứ không phải do bản thân hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty tạo ra. 2.4.5 Giao dịch với công ty con Giao dịch đối với công ty con, công ty mẹ hoặc các công ty liên kết khác là một thủ thuật thường được dùng để tác động đến báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Các công ty có thể dùng các tổ chức hoặc cá nhân liên quan làm công cụ hỗ trợ. Chẳng hạn, ký các hợp đồng mua bán với số lượng cao và giá bán tốt với một số công ty mà thực chất 38 là công ty mẹ, công ty con hoặc các công ty trong tập đoàn, nhằm tăng doanh số tạm thời, tạo nhu cầu và giá bán ảo cho hàng hóa của công ty. Một thủ thuật khác thường được các công ty đa quốc gia sử dụng, đó là thực hiện chuyển giá bằng các kê khai tăng các chi phí trong các giao dịch với công ty mẹ hoặc các công ty trong cùng hệ thống tập đoàn. Điều này làm giảm lợi nhuận thực tế của công ty và chuyển các khoản lợi nhuận này cho các công ty đối tác, nhằm làm giảm phần thuế phải đóng của công ty tại địa phương. Thực trạng thường thấy khác ở Việt Nam hiện nay là các giao dịch tài sản qua lại giữa các công ty liên quan. Giá bán lại được định ra cao hơn nhiều so với giá mua vào ban đầu để tạo nguồn doanh thu ảo cho công ty bán ra, mà sau đó lại mua vào với giá cao hơn để tạo lợi nhuận cho công ty đối tác. Các khoản chi phí tư vấn, thuê chuyên gia từ nước ngoài cũng là một khoản mục thường hay được các công ty tác động làm tăng chi phí của công ty con và tăng lợi nhuận công ty mẹ. o Ví dụ: Trường hợp công ty Coca Cola, người ta thực chất không thể xác định được giá trị thực tế của các giao dịch nội bộ giữa công ty tại Việt Nam và công ty mẹ ở nước ngoài. Chi phí giao dịch nội bộ quá lớn khiến Coca Cola Việt Nam báo lỗ trong nhiều năm và tránh được khoản thuế lớn tại Việt Nam. 2.4.6 Ghi nhầm chỗ Thường gặp nhất là việc các công ty ghi nhận các khoản thu nhập khác vào doanh thu như thu nhập từ hoạt động tài chính và thu nhập bất thường, nhằm tăng tỉ lệ tăng trưởng doanh thu, tạo ảo tưởng về tiềm năng phát triển của công ty. Các khoản thu nhập như chiết khấu thanh toán, thanh lý tài sản cố định là ví dụ. Các chi phí cá nhân cũng được hạch toán vào chi phí công ty. Kiểu gian lận này có thể được dùng nhiều, khi liên quan tới bất động sản và phương tiện đi lại. 39 2.4.7 Che giấu giao dịch Với nhiều mục đích khác nhau, nhiều giao dịch bị che giấu bằng cách không hạch toán hoặc hạch toán dưới nội dung khác. Doanh thu bán phế phẩm, hoa hồng và chiết khấu nhận từ nhà cung cấp không được ghi vào sổ sách nhằm đem lại lợi ích cho cá nhân. Những công ty mà hoạt động xuất khẩu là chính có thể không xuất hóa đơn và ghi nhận doanh thu với hàng bán trong nước nhằm trốn thuế. Những khoản chi hoa hồng, tiền hối lộ, chi phí cho cá nhân được hợp thức hóa bằng các hợp đồng tư vấn. Các chi phí chưa nhận được hóa đơn vẫn không được trích trước dù đã phát sinh trong kỳ báo cáo, nhằm làm tăng lợi nhuận và giảm nợ phải trả. Thuế không được tính và kê khai đầy đủ. Các khoản nợ xấu và hàng chậm luân chuyển, trợ cấp thôi việc không được trích lập dự phòng… 2.4.8 Thay đổi chính sách kế toán Các chính sách kế toán thường xuyên bị biến hóa bao gồm phương pháp xác định giá thành sản phẩm, chính sách lập dự phòng, phương pháp khấu hao. Chi phí sản xuất có thể không được phân bổ đủ vào thành phẩm mà treo tại chi phí sản phẩm dở dang, dẫn đến giá vốn hàng bán giảm và lợi nhuận tăng. Ngược lại, chi phí sản xuất có thể bị hạch toán thẳng vào giá vốn hàng bán hay chi phí khác để làm giảm giá trị thành phẩm tồn kho và giá vốn hàng bán trong năm tới. Tỉ lệ nợ xấu và hàng hỏng cần lập dự phòng được giảm đi để cải thiện tình hình lợi nhuận trong năm. Thời gian khấu hao của tài sản được kéo dài để giảm chi phí khấu hao. Đối với các ngành nghề khác nhau, các hình thức gian lận báo cáo tài chính thường gặp cũng khác nhau. Thủ thuật hay được sử dụng trong ngành ngân hàng là phân loại sai các khoản vay theo mức độ rủi ro nhằm giảm chi phí dự phòng và tăng thu nhập từ tiền lãi. Thủ thuật thứ hai là không lập hoặc lập dự phòng không đủ cho các khoản đầu tư chứng khoán, đặc biệt là chứng khoán trên thị trường tự do và những khoản đầu tư dài hạn vào các công ty. Một thủ thuật nữa là bán những khoản đầu tư cho các bên liên quan với giá cao hơn giá thị trường nhằm đạt chỉ tiêu lợi nhuận. Đối với các công ty sản xuất, gian lận báo cáo tài chính phổ biến là đẩy chi phí sản xuất vào sản phẩm dở dang nhằm tăng giá trị hàng tồn kho, giảm giá vốn hàng bán và tăng lợi nhuận; lập dự phòng không đầy đủ đối với hàng hỏng và hàng chậm luân chuyển; kéo dài thời gian 40 khấu hao của tài sản cố định. Chia tách công ty để tăng giá trị tài sản thông qua việc đánh giá lại tài sản theo giá trị thị trường cũng là một cách gian lận. Đối với doanh nghiệp bán lẻ, hình thức gian lận thường gặp là không lập đủ dự phòng cho hàng chậm luân chuyển và lỗi thời; không ghi nhận các khoản chiết khấu được hưởng từ nhà cung cấp; không ghi nhận đủ doanh số bán hàng bằng tiền mặt. 2.4.9 Thực hiện các ước tính kế toán không phù hợp Ước tính doanh thu chi phí trong kỳ là một hoạt động thường xuyên mà doanh nghiệp nào cũng phải thực hiện, đồng thời dễ tác động nhằm thay đổi kết quả kinh doanh mà nếu chỉ nhìn trên báo cáo tài chính, người đọc khó có thể nhận ra vấn đề Trong quá trình lập báo cáo tài chính, các công ty thường sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán (Accrual earnings management) có ảnh hưởng trực tiếp tới lợi nhuận trong kỳ của công ty. Vì việc thực hiện các ước tính kế toán này thường thay đổi theo các chính sách kế toán mà doanh nghiệp cũng như khó phát hiện sự sai sót về giá trị các ước tính này, nên nó được xem là một công cụ đắc lực để tác động đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một số thủ thuật làm tăng mức lợi nhuận thường gặp như tăng giảm mức khấu hao, giảm mức dự phòng, giảm giá hàng tồn kho, giảm dự phòng nơ khó đói, không ghi nhận chi phí khi tài sản bị giảm giá xuấng dưới giá trị thuần, vốn hoá các khoản chi phí không đủ điều kiện... Thủ thuật phù phép lợi nhuận dựa trên các ước tính kế toán thực chất không làm tăng lợi nhuận mà chỉ đơn thuần chuyển lợi nhuận của kỳ sau sang kỳ hiện tại. Hậu quả tất yếu là lợi nhuận các năm sau sẽ bị giảm. Để tiếp tục đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư, báo cáo tài chính các năm tiếp theo cũng phải được thay đổi. 2.5 Một số phương pháp- kỹ thuật phát hiện gian lận báo cáo tài chính Các thủ thuật gian lận trong BCTC nêu trên sẽ gây ra hậu quả làm sai lệch tính chính xác khi đánh giá hiệu quả của DN, ảnh hưởng đến việc ra quyết định duyệt hồ sơ vay vốn. Để khắc phục tình trạng này, cán bộ thẩm định cần lưu ý những phương pháp như sau: - Phương pháp thông thường nhất để phát hiện các dấu hiệu gian lận của báo cáo tài chính là phương pháp phân tích so sánh giữa các năm. Những sự gia tăng hay sụt giảm đột ngột của các khoản chi phí là điều cần tìm hiểu để loại trừ những gian lận trong báo cáo tài chính. 41 Cán bộ tín dụng là người có điều kiện tìm hiểu các thông tin về DN, do đó cần thường xuyên cập nhật thông tin phi tài chính về công ty, đội ngũ lãnh đạo và sự thay đổi các cổ đông lớn. Khi có sự thay đổi liên tục giám đốc tài chính hoặc kế toán trưởng, cán bộ tín dụng cũng cần tìm hiểu nguyên nhân. - Thông thường khi phân tích BCTC, người phân tích thường chỉ chú ý vào BCĐKT, báo cáo kết quả kinh doanh. Dòng tiền là một yếu tố quan trọng cho việc phân tích BCTC doanh nghiệp, phát hiện sự thay đổi bất thường từ các dòng tiền phát sinh trong năm. Ngoài ra, thuyết minh BCTC cũng chứa đựng rất nhiều thông tin mà cán bộ tín dụng cần tìm hiểu để phát hiện được các dấu hiệu nghi vấn đã trình bày ở trên. - Việc phân tích các chỉ số tài chính thông thường như hệ số hoạt động, hệ số cơ cấu vốn, hệ số kết quả kinh doanh qua các năm cũng mang lại nhiều thông tin và khả năng phát hiện các gian lận tài chính của doanh nghiệp. Khi phân tích các chỉ số trên qua các năm, sự bất thường của các hệ số sẽ dễ dàng được tìm thấy, và những bất hợp lý về biến động của các hệ số này đều cần phải tìm hiểu. - Để rà soát các khoản chi phí chưa được ghi nhận, ta so sánh các loại chi phí thay đổi qua các năm, cũng như đặt nghi vấn khi các chi phí đáng lẽ phải tăng trong năm do tình hình kinh doanh không tốt như chi phí trích lập dự phòng các khoản nợ tiềm ẩn lại không được ghi nhận tăng trong năm. - Thông tin về các giao dịch giữa các bên liên quan cũng cần được nghiên cứu liên kết với các hoạt động tăng doanh thu, chi phí bất thường do giao dịch với các bên liên quan này. Các khoản lãi lỗ việc hợp nhất kết quả kinh doanh của các công ty con, các khoản đầu tư dài hạn được giấu đi cũng nên được cán bộ tín dụng kiểm tra bằng cách xem xét kết quả kinh doanh của các công ty này khi thực hiện phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp. - Cán bộ tín dụng cũng cần cảnh giác trước sự thay đổi chính sách khấu hao, các giao dịch với các bên liên quan và những khoản chi phí hay thu nhập bất thường. - Để nhận ra hiện tượng bất thường về chi phí khi các DN đang cố gắng sử dụng các thủ thuật để làm giảm chi phí trong kỳ, cán bộ tín dụng có thể xem xét các tỉ lệ về giá vốn/doanh thu, chi phí/doanh thu khi các chỉ số này có biến động lớn so với cùng kỳ hoặc so với bình quân ngành khi DN không có biến động lớn về quản lý. Vì tỷ lệ giá vốn/ doanh thu thường không thay đổi nhiều trừ khi có sự thay đổi về công nghệ/ phương thức quản lý của DN, nếu ta nhận 42 thấy sự tăng hoặc giảm bất thường của tỷ số này qua các năm, có thể đây là dấu hiệu của việc sử dụng thủ thuật tác động vào BCTC. - Với tình hình thị trường hiện nay, lưu ý khi xem xét các khoản đầu tư hoặc nợ phải thu của DN, khi các DN thường có xu hướng không trích lập dự phòng cho các khoản này nhằm hạn chế chi phí trong kỳ. Với các khoản đầu tư, cần xác nhận xem xét giá các chứng khoán đầu tư của công ty, đánh giá lại giá trị các khoản đầu tư chứng khoán theo giá thị trường để phát hiện các khoản lỗ dự phòng mà doanh nghiệp chưa trích lập. - Đối với doanh thu của DN, cần xem xét đến giá trị các khoản giảm trừ của DN. Nếu các khoản giảm trừ của DN có xu hướng cao trong các năm trước, có khả năng DN thường thực hiện các thủ thuật làm tăng doanh thu cuối năm và thực hiện hoàn lại sản phẩm trong năm sau. - Một cách hiệu quả để phát hiện bất thường của doanh thu trong kỳ là xem xét báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hàng tháng hoặc hàng quý của DN. Nếu doanh thu tăng cao bất ngờ vào các tháng cuối năm so với các tháng còn lại, nghi vấn về việc áp dụng các thủ thuật tác động đến doanh thu của các DN nên được đặt ra. Ngoài ra, việc phân tích cơ cấu doanh thu trong kỳ của DN cũng mang lại cái nhìn toàn diện về hoạt động kinh doanh của DN. Khi thực hiện các thủ thuật ngoài hoạt động kinh doanh chính nhằm làm tăng lợi nhuận trong kỳ, các khoản doanh thu bất thường sẽ tăng cao và tỷ trọng của doanh thu khác trong tổng doanh thu của DN. - Một cách đơn giản nữa để nhận biết sự bất thường trong doanh thu của DN là sự biến đổi bất thường của tỷ số nợ phải thu/ doanh thu trong kỳ, hoặc sự tăng giảm bất thường của nợ phải thu. Nếu tỷ số trên tăng cao vào những tháng cuối năm, hoặc tăng so với các năm trước, cán bộ tín dụng nên đặt ra nghi vấn về việc. - Việc phân tích BCTC cần làm chi tiết cho từng phần riêng biệt của các báo cáo, đối chiếu với các thuyết minh báo cáo nhằm tìm ra những dấu hiệu bất thường của báo cáo tài chính. - Yêu cầu DN công bố đầy đủ các BCTC đã được kiểm toán đính kèm với báo cáo kiểm toán, kể cả trường hợp công bố BCTC tóm tắt (đối với DN thuộc diện bắt buộc phải kiểm toán hàng năm theo quy định), chú ý những vùng loại trừ của kiểm toán. - Đề nghị DN bổ sung BCTC có xác nhận đã nộp của Cơ quan Thuế để tham khảo, đối chiếu. 43 - Ngoài các chỉ tiêu tài chính, cần phân tích cả những chỉ tiêu phi tài chính khác cũng như đánh giá DN trong sự tương quan ngành, so sánh với tình hình chung của thị trường. Việc sosánh này sẽ chỉ ra được các bất thường trong báo cáo tài chính mà doanh nghiệp đã cố ý che dấu. 2.6 Xử lý khi phát hiện gian lận trong BCTC khi TĐTD:  Những điều cần có của người cán bộ thẩm định tín dụng: - Kính trọng người điều hành DN: bất cứ lúc nào cũng phải kính trọng người điều hành bởi người điều hành là “khách quý” đồng thời cũng là chuyên gia của dự án đó. - Kiên trì điều tra thực tế: Khi đánh giá tín dụng, nếu cảm thấy còn có điều nghi vấn, phải kiên trì điều tra, không được chán nản. - Có đạo đức nghề nghiệp, không thông đồng, móc ngoặc với DN để gian lận vay vốn nhằm trục lợi riêng tư.  Xử lý khi phát hiện gian lận trong BCTC khi thẩm định tín dụng: - Khi nghi ngờ gian lận BCTC khi thẩm định tín dụng, cán bộ thẩm định sẽ tham khảo thêm các chỉ số phi tài chính, đánh giá sự tương quan ngành; hoặc yêu cầu DN bổ sung thêm các BCTC kiểm toán kèm báo cáo kiểm toán hoặc BCTC nộp cho cơ quan thuế để tham khảo, đối chiếu. - Nếu đúng là BCTC đã được “phù phép”, cán bộ tín dụng có thể yêu cầu DN điều chỉnh, nộp lại BCTC khác. - Trường hợp DN cố tình gian lận trong BCTC, tùy theo mức độ gian lận và quy trình thẩm định tính dụng quy định tại từng ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ quyết định từ chối hồ sơ vay vốn, hay trình hồ sơ cho lãnh đạo phụ trách xem xét, ra quyết định cho vay và mức cho vay phù hợp. 2.7 Phân tích ví dụ thực tiến nhằm phát hiện gian lận và các dấu hiệu nhận biết: Khi đang kiểm tra việc cắt giảm doanh số bán hàng ở một khách hàng, trong số các nghiệp vụ đã được chọn lựa, Ngân hàng đã bắt gặp một nghiệp vụ liên quan đến doanh số từ một 44 khách hàng mà dựa vào việc đánh giá tình hình kinh doanh ở các phần hành kiểm toán khác, Ngân hàng nhận ra khách hàng này là một người mua chính. Nghiệp vụ này xảy ra không thường xuyên, và được đánh giá là trọng yếu. Những tài liệu có liên quan đến nghiệp vụ này được thu thập. Những tài liệu này bao gồm những bằng chứng liên quan đến việc chi trả của các khoản phải thu sau ngày kết thúc Báo cáo tài chính năm. Tuy nhiên tài liệu liên quan đến việc giao hàng bẳng đường thuỷ đã không được cung cấp. Quá trình phân tích đã chỉ ra rằng không hề có việc ghi chép quá trình vận chuyển. Mặc dù có bằng chứng của việc chi trả, nhưng không hề có bằng chứng chứng minh rằng hàng hóa đã được giao. Việc phân tích thêm nữa được mở rộng, hoá đơn của công ty được Ngân hàng yêu cầu. Ngân hàng chứng minh được vài hoá đơn “dịch vụ đặc biệt” đã được giao cho khách hàng khi công ty được chi trả. Những hoá đơn này ít chi tiết hơn hẳn những hoá đơn khác trong tập hồ sơ và không được được làm sáng tỏ hơn qua các đơn đặt hàng hay là các giấy tờ phải thu. Tổng số hoá đơn đặc biệt này đã chứng minh được rằng nghiệp vụ bán hàng đó hoàn toàn đáng nghi vấn. Việc phát hiện này được trao đổi với Giám đốc tài chính, người sẽ đưa ra lời giải thích thiếu chính xác. Sau khi tiếp xúc với ban quản trị, Ngân hàng gặp lại Giám đốc tài chính và báo rằng việc điều tra đang được xem xét. Giám đốc tài chính đã thông đồng với Giám đốc điều hành xây dựng kế hoạch để tăng doanh số nhằm đạt được mục tiêu doanh thu. Khi muốn hợp thức hoá, Giám đốc tài chính đã chọn một khách hàng chính, để thực hiện kế hoạch này. Vị giám đốc tài chính sẽ từng kỳ trực tiếp hướng dẫn khách hàng ghi hoá đơn và trả trong vòng 30 ngày. Sau đó, Giám đốc tài chính này sẽ phối hợp và “tạo ra” doanh số ảo đến công ty của người mua với số tiền tương đương. Trong vòng 30 ngày chi trả doanh số ảo này, khách hàng sẽ trì hoãn việc chi trả. Vào cuối kỳ kế toán, kế hoạch này đã khiến khoản bán hàng không trung thực này được ghi nhận vào doanh thu. Điều này cho phép họ đạt được mục tiêu doanh số. Biển thủ tài sản:Trong khi đang tiến hành các thủ tục kiểm tra vật chất hàng tồn kho, các Ngân hàng đã phát hiện ra một sự mâu thuẫn trọng yếu hay là cụ thể hơn là sự thiếu hụt giữa việc ghi chép liên tục với việc kiểm đếm để xác định tính hiện hữu của hàng tồn kho. Chủ nhiệm kiểm toán đã đưa vấn đề này cho Giám đốc kiểm toán và được yêu cầu tiến hành điều tra thêm. 45 Việc phát hiện này chỉ ra rằng vấn đề này cần phải phân tích thêm. Các Ngân hàng xem xét kỹ lưỡng giấy tờ liên quan đến hang tồn kho thời gian trước đó,đặc biệt chú ý các khoản thiếu hụt tương tự với cùng một hàng tồn kho. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, khoản thiếu hụt này được cho là vụn vặt, và chẳng có cuộc điều tra nào được tiến hành. Và khoản này đã được ghi vào tài khoản hao hụt. Ngân hàng sau đó yêu cầu kiểm tra khoản phải trả, việc mua hàng, và việc ghi các khoản phải thu. Kế toán công nợ phải trả đã cung cấp một bảng báo cáo về các khoản phải trả của từng người bán riêng lẻ và các tài liệu liên quan. Ngân hàng không được cung cấp các tài liệu liên quan đến khoản phải trả được giữ bởi thủ kho. Ngân hàng đã trực tiếp yêu cầu người thủ kho cung cấp các tài liệu đó. Chúng được hứa sẽ đưa vào tuần tới. Sau 2 tuần nhắc nhở liên tục, không một tài liệu liên quan đến các khoản phải trả và hàng hoá đã nhận nào được cung cấp và vị thủ kho được báo là phải nằm viện. Tiến hành làm việc với những tài liệu sẵn có, Ngân hàng xem xét lại các tài liệu liên quan đến việc bán hàng thông qua hoá đơn. Họ điều tra được rằng, tên và địa chỉ người trả mâu thuẫn với hoá đơn mà việc chi trả được uỷ quyền cho người thủ kho. Sau đó Ngân hàng đã yêu cầu được cung cấp những hoá đơn liên quan đến việc huỷ bỏ các Séc thanh toán cho người bán hàng. Ngân hàng đã phát hiện ra rằng, một số các hoá đơn được đánh dấu ở mặt sau và được ký hiệu đặc biệt. Trong khi các hóa đơn khác có những chú thích khác chỉ ra rằng chúng đã được thông qua ở bộ phận kiểm đếm tiền mặt. Ngân hàng quyết định rằng, vị thủ kho của công ty đã thực hiện việc mua bán ảo bằng cách làm hoá đơn bán hàng giả mạo. Khoản phải trả sau đó đã được trả đến địa chỉ mà chỉ có người thủ kho có thể nắm được. Và vị thủ kho này cũng tự ý không qua bộ phận kiểm đếm tiền. 46 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP KHUYẾN NGHỊ KIỂM SOÁT GIAN LẬN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG 3.1 Ngân hàng, tổ chức tín dụng  Tổ chức quản lý, điều hành, hệ thống kiểm tra kiểm soát nội bộ: - Bố trí cán bộ thẩm định hợp lý, tránh sự chồng chéo, đảm bảo sắp xếp cán bộ có đủ trình độ, năng lực, chuyên môn, trách nhiệm làm công tác này. Phân công cán bộ thẩm định cũng phải căn cứ vào trình độ, kinh nghiệm, thế mạnh của từng người. - Nên phân cán bộ thẩm định phụ trách theo ngành nghề, mỗi bộ phận cán bộ thẩm định phụ trách những ngành nghề khác nhau và cho cán bộ đi tìm hiểu về loại ngành nghề đó. - Nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống kiểm toán nội bộ. - Định kỳ kiểm tra và thay đổi cán bộ quản lý hồ sơ. - Có hình thức chế tài hợp lý đối với công tác hậu kiểm. Thường xuyên tổ chức rút kinh nghiệm, tập huấn nhân viên để nâng cao nghiệp vụ thẩm định  Cán bộ tín dụng: - Nắm vững mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như của Ngân hàng nhà nước. Thành thạo chuyên môn nghiệp vụ ngân hàng nhất là nghiệp vụ tín dụng. - Có kiến thức tổng thể về kinh tế thị trường, nhanh nhạy nắm bắt thông tin, am hiểu về pháp luật. Hiểu biết nhất định trên một số lĩnh vực có liên quan đến nghiệp vụ tín dụng. - Thường xuyên cập nhật kiến thức và tình hình khách hàng, thực hiện các cuộc kiểm tra khách hàng thường xuyên và triển khai việc thu thập thông tin khách hàng qua nhiều nguồn chứ không đơn thuần chỉ dựa vào các thông tin trên báo cáo tài chính mà DN cung cấp. - Nâng cao đạo đức nghề nghiệp, thẩm định BCTC cũng như hồ sơ vay vốn của khách hàng một cách khách quan, tránh tình trạng móc ngoặc với DN làm gian lận BCTC hồ sơ vay vốn để tư lợi riêng. 3.2 Chính phủ - Tạo môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch cho hoạt động báo cáo tài chính, kiểm toán. 47 - Tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan. Xây dựng và ban hành luật là bước quan trọng hoàn thiện hành lang pháp lý cho lĩnh vực kiểm toán. - Có các yêu cầu về kiểm tra kiểm soát nghiêm ngặt về số liệu, sổ sách ít nhất là cho các công ty niêm yết. - Bắt buộc kiểm toán đối với tất cả các công ty có dư nợ tại các tổ chức tín dụng. - Kiểm soát nghiêm ngặt các công ty kiểm toán độc lập - đưa ra mức xử phạt cao cho các công ty kiểm toán có dấu hiệu tiếp tay cho gian lận sổ sách. Công khai thông tin Doanh nghiệp có gian lận chứng từ sổ sách trong vòng 2 năm trên kênh thông tin chuyên biệt giống như thông tin về nợ xấu tại CIC. 3.3 Doanh nghiệp - Để hạn chế gian lận trong DN, cần tạo mội trường làm việc rõ ràng, minh bạch, hệ thống phúc lợi, lương thưởng hợp lý. Tùy quy mô và chi phí hợp lý, DN có thể xây dựng hệ thống kiếm soát – kiểm toán nội bộ, tách các bộ phận này khỏi những áp lực từ phía quản lý công ty, thường xuyên rà soát các hoạt động sản xuất-kinh doanh, áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro mới. - Các doanh nghiệp cần có nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng và lợi ích của việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ vững mạnh. - Ngoài ra, doanh nghiệp có thể mời kiểm toán độc lập kiểm tra thường niên hoặc bán niên. 3.4 Công ty kiểm toán - Nâng cao trình độ nghiệp vụ, trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên. Tránh chạy đua doanh số mà ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán, có hành vi thông đồng với khách hàng. - Cần xây dựng hiệp hội kiểm toán Việt Nam với sự kết nối chia sẻ nhiều hơn nữa giữa các thành viên, cũng như siết chặc các quy định về việc thường xuyên cập nhập các thông tin mới trong lĩnh vực kiểm toán, tạo ra những cuộc thi, sân chơi trong ngành kiểm toán, mục đích tuyên dương, giới thiệu đến công chúng những công ty kiểm toán chất lượng, có tiềm năng. 48 - Việc thực hiện một bảng phân loại nhằm đánh giá các công ty kiểm toán một cách thường xuyên cũng nên được thực hiện, từ đó đưa ra được các công ty kiểm toán đáng tin cậy cũng như tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh về chất lượng và dịch vụ kiểm toán của các công ty kiểm toán. 49 KẾT LUẬN Hiện nay, nhiều doanh nghiệp khát vốn nhưng gặp khó khăn trong việc tiếp cận được nguồn vốn cho vay của các ngân hàng thương mại, ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp và hơn nữa là ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam nói chung. Đứng về góc độ người cho vay, một trong những rào cản lớn khiến ngân hàng thương mại không thể cho doanh nghiêp vay vốn chính là số liệu trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp thường không trung thực và thiếu minh bạch. Từ những tình huống trên có thể thấy các gian lận hiện nay rất phức tạp và tinh vi. Trong khi đó, công tác kiểm tra, giám sát còn nhiều hạn chế và thiếu sót. Chính vì thế đòi hỏi các ngân hàng thương mại cần nâng cao hệ thống quản lý, kiểm toán và đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, có đạo đức tốt.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfn_repair_4985.pdf
Luận văn liên quan