Đề tài Phân tích tình hình tài chính tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên

Quá trình phân tích em có thể đưa ra nhận xét: Tình hình tài chính của Chi nhánh có nhiều điểm mạnh thể hiện ở độ tăng trưởng nhanh về cơ cấu tài sản, nguồn vốn. Chi nhánh đã hạn chế được các khoản nợ xấu, nợ quá hạn và đặc biệt là không có khoản nợ không có khả năng thu hồi. Tuy mới thành lập và đi vào hoạt động trong thời gian chưa dài, nhưng NHCSXH tỉnh Thái Nguyên đã phát triển nhiều mặt từ tổ chức điều hành đến công tác huy động nguồn vốn, mở rộng nghiệp vụ cho vay. Nguồn vốn đầu tư của ngân hàng các năm được tập trung cho phát triển kinh tế nông nghiệp từ 88%-90%, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp 4-5%, dịch vụ buôn bán nhỏ 3%-4%. Số đông hộ nghèo được vay vốn đã thực sự tạo ra sức sản xuất mới trong nông nghiệp cả về năng suất, sản lượng, chất lượng hàng hoá. Nhiều nơi dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn và giúp đỡ của chính quyền người dân đã tham gia vào trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như mía, chè, cây ăn quả, cải tạo hàng vạn ha vườn tạp thành vườn cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc và nuôi các loại con có giá trị kinh tế cao như bò sữa, cá, ba ba, nâng cao giá trị hàng nông sản.

doc83 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 07/01/2014 | Lượt xem: 2234 | Lượt tải: 12download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích tình hình tài chính tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ác hoạt động khác nhau kết hợp với phân tích Tổng thu nhập của Chi nhánh, nhằm làm rõ sự thay đổi thu nhập trong kỳ nghiên cứu. Bảng 10: Phân tích chi tiết thu nhập của NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên Đơn vị tính: Triệu đồng CHỈ TIÊU Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Tuyệt đối Tương đối (%) TN lãi và các khoản thu nhập tương tự 4.043 93,36 6.363 99,55 2.320 57,41 TN từ hoạt động dv 191 4,40 23 0,36 -168 -87,78 TN từ hoạt động khác 96 2,23 5 0,08 -91 -94,41 TN từ vốn góp cổ phần - - - - - - Tổng thu nhập 4.330 100 6.392 100 2.062 47,63 (Nguồn: Phòng Kế toán – Ngân quỹ) Bảng trên ta thấy: Tổng thu nhập năm 2011 là 6.392 triệu đồng tăng 2.062 triệu đồng với tổng thu nhập năm 2010, tương đương với tốc độ tăng là 47,63%. Trong đó: + TN lãi và các khoản thu nhập tương tự: Khoản mục này bao gồm hai khoản mục nhỏ là thu từ lãi tiền cho vay và thu từ lãi tiền gửi. Cũng như các Ngân hàng và tổ chức tín dụng khác, nguồn thu từ các nghiệp vụ truyền thống của NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Khoản thu từ lãi năm 2010 là 4.043 triệu đồng chiếm 93,36%, năm 2011 là 6.363 triệu đồng chiếm tỷ trọng 99,55% trong tổng thu nhập. Như vậy, khoản mục thu nhập từ lãi đã tăng 2.321 triệu đồng trong năm 2011 với tốc độ tăng trung bình là 57,41%. Đây là khoản mục không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về tỷ trọng trong cơ cấu thu nhập. Vì đây là nguồn thu lớn nhất của Chi nhánh nên thời gian tới Chi nhánh cần duy trì phát huy tốc độ tăng trưởng khoản mục này hơn nữa. + Thu nhập từ hoạt động dịch vụ: Năm 2010 là 191 triệu đồng chiếm tỷ trọng 4,4% trong tổng thu nhập, năm 2011 là 23 triệu đồng chiếm 0,36%. Như vậy thu nhập từ hoạt động dịch vụ đã giảm 167 triệu đồng với tốc độ giảm 87,78% so với năm 2010. Tuy chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong cơ cấu thu nhập của Chi nhánh nhưng đây cũng là khoảm mục cần chú ý hơn nữa, cần làm tốt các sản phẩm dịch vụ của mình, nếu như vậy Chi nhánh không chỉ cải thiện thu nhập từ hoạt động dịch vụ mà còn nâng cao vị thế của mình, qua đó tăng thu nhập toàn diện cho Chi nhánh. + Thu nhập từ hoạt động khác: Năm 2011 là 5 triệu đồng chiếm 0,08% trong tổng thu nhập, năm 2010 là 96 triệu đồng đã giảm 91 triệu đồng với tốc độ giảm 94,41% so với năm 2010. Đây là khoản thu từ các hoạt động nhỏ có thể không dự báo trước được. Thu nhập này ảnh hưởng rất ít đến tổng thu nhập của Chi nhánh. 2.6.2. Phân tích chi tiết chi phí. Bảng 11: Phân tích chi tiết chi phí của NHCSXH Thái Nguyên Đơn vị tính: Triệu đồng CHỈ TIÊU Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Tuyệt đối Tương đối (%) CP lãi và các chi phí tương tự 33 0,20 56 0,37 23 66,67 CP hoạt động dịch vụ 1.086 6,68 1.251 8,26 165 15,26 CP hoạt động khác - - 17,2 0,11 - - CP hoạt động 15.135 93,10 13.823 91,23 -1.312 -8,67 CP dự phòng rủi ro TD 2 0,01 4 0,03 2 100 Tổng chi phí 16.256 100 15.152 100 -1.104 -6,79 (Nguồn: Báo cáo phân tích tài chính NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên) Tổng chi phí của Chi nhánh năm 2010 là 16.256 triệu đồng, năm 2011 tổng chi phí là 15.152 triệu đồng, đã giảm 1.104 triệu đồng tương ứng giảm 6,79%. Tổng chi phí tăng là do: + Chi phí lãi và các chi phí tương tự: Năm 2010 chi phí lãi là 33 triệu đồng chiếm 0,2%, năm 2011 là 56 triệu đồng chiếm 0,37% tổng chi phí. Đã tăng 22 triệu đồng, tương đương với mức tăng 66,67%. Điểm khác biệt của Ngân hàng chính sách xã hội Chi nhánh Thái Nguyên so với các Ngân hàng thương mại là thường có chi phí lãi rất thấp trong cơ cấu chi phí. Điều này là do nguồn vốn hoạt động của các Chi nhánh trong cả nước nói chung, Chi nhánh Thái Nguyên nói riêng đều được NHCSXH Việt Nam cung cấp một lượng khá “dồi dào”, là đơn vị thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. + Chi phí hoạt động: Đây là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng chi phí của Chi nhánh. Năm 2010 chi phí này là 15.135 triệu đồng chiếm 93,1%. Năm 2011 chi phí này đã giảm 1.312 triệu đồng còn 13.823 triệu đồng chiếm 91,23%. Với vai trò thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo, Chi nhánh NHCSXH Thái Nguyên cần có một khoản chi phí hoạt động lớn, việc kiểm soát chặt chẽ khoản chi phí này sẽ không ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu mà còn giúp Chi nhánh hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao. Năm 2011 chi phí hoạt động giảm cả về số lượng và tỷ trọng, đây là một điểm quan trọng làm cho khoản lỗ của Chi nhánh năm 2011 nhỏ hơn năm 2010. + Chi phí hoạt động dịch vụ: Năm 2010 chi phí này là 1.086 triệu đồng chiếm 6,68%, năm 2011 là 1.252 triệu đồng chiếm 8,26% tổng chi phí. Qua thống kê trên ta có sự so sánh về số lượng và tỷ trọng của chi phí hoạt động dịch vụ. Khoản chi phí này tăng lên 166 triệu đồng trong năm 2011 tức tăng 15,26% so với năm 2010. Đây là mức tăng bình thường trong xu hướng mở rộng của Chi nhánh. + Chi phí hoạt động khác và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng: Đây là hai khoản chi phí nhỏ nhất và chiếm tỷ trọng không đáng kể trong cơ cấu chi phí của Chi nhánh. Đây cũng là hệ quả của việc đảm bảo khả năng thanh toán từ Chính phủ đối với Chi nhánh, việc cấp bù chênh lệch giữa chi phí và thu nhập. 2.6.3. Phân tích lợi nhuận trước thuế. Lợi nhuận là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sản phẩm thặng dư do kết quả sản xuất kinh doanh của Chi nhánh mang lại. Để đánh giá chung tình hình lợi nhuận biết được lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh ở kỳ báo cáo so với kỳ gốc, biến động sản xuất kinh doanh và mức biến động đáng kể với từng hoạt động (sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính, hoạt động bất thường) cần đánh giá chung tình hình lợi nhuận của Chi nhánh. Lợi nhuận là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất mở rộng tại đơn vị, tạo lạp các quỹ nâng cao đời sống cán bộ công nhân viên. Do đó phân tích tình hình lợi nhuận của Chi nhánh, phân tích nguyên nhân và xác định mức độ ảnh hưởng của nó đến tình hình biến động của Chi nhánh giúp ta có cái nhìn tương đối tổng quát về tình hình tài chính tại Chi nhánh. Bảng 12: Bảng phân tích sự thay đổi lợi nhuận trước thuế Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 So sánh Tuyệt đối Tương đối (%) Tổng thu 4.330 6.392 2.062 47,63 Tổng chi 16.256 15.151 -1.105 -6,79 Lợi nhuận trước thuế -11.926 -8.759 3.167 -26,55 (Nguồn: Phòng Kế toán – Ngân quỹ) Nhìn một cách tổng quát, tổng thu nhập năm 2011 là 6.392 triệu đồng tăng 2.062 triệu đồng với tổng thu nhập năm 2010, tương đương với tốc độ tăng là 47,63%. Tổng chi phí của Chi nhánh năm 2010 là 16.256 triệu đồng, năm 2011 tổng chi phí là 15.151 triệu đồng, đã giảm 1.105 triệu đồng tương ứng giảm 6,79%. Như vậy, tổng chi phí có giảm nhưng tổng chi phí còn quá cao không làm cho hoạt động của Ngân hàng có lãi, trái lại Ngân hàng còn bị lỗ một lượng lớn. Năm 2010 lợi nhuận trước thuế bị thua lỗ là 11.926 triệu đồng, năm 2011 khoản lỗ giảm hơn còn 8.760 triệu đồng, tức là đã giảm 3.167 triệu đồng, tốc độ giảm lỗ 26,55%. Qua phân tích các chỉ tiêu thu nhập, chi phí trong hai năm 2010 và 2011 ta thấy được NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên có lợi nhuận liên tục âm, phản ánh phần nào sự hạn chế trong công tác quản lý, công tác hoạch định tại đơn vị, thái độ ỷ lại vào sự trợ cấp vốn của NHCSXH Việt Nam. Bên cạnh đó, một nguyên nhân quan trọng dẫn đến các khoản lỗ hàng năm cho đơn vị là việc thực hiện các quyết định cho vay ưu đãi, các chương trình quốc gia mang tính “trợ cấp xã hội”, thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng và Nhà nước là xóa đói giảm nghèo, giúp người dân ổn định và phát triển kinh tế… cho nên, việc chấp nhận nhiều khoản vay nhỏ lẻ, với rủi ro cao cộng thêm nhiều khoản chi phí triển khai các chương trình về tới tận người dân sẽ làm tăng chi phí, thu nhập bị giảm sút ảnh hưởng đến lợi nhuận của đơn vị. Công tác phân tích lợi nhuận ở Chi nhánh sử dụng là phương pháp phân tích so sánh để tính toán sự thay đổi của thu nhập, chi phí dẫn đến sự thay đổi tổng lợi nhuận qua các năm. 2.7. Một số chỉ tiêu quan trọng trong phân tích tài chính tại chi nhánh 2.7.1. Chỉ tiêu đánh giá sự biến động của vốn, nguồn vốn. * Hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu Chi nhánh luôn muốn thay đổi tỷ trọng của các loại vốn theo hướng tối ưu, tuy nhiên kết cấu này phụ thuộc vào tình hình đầu tư. Vì vậy cần thiết phải nghiên cứu cơ cấu vốn và nguồn vốn của Chi nhánh thông qua hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu. (1) Hệ số nợ Cách tính: Hệ số nợ = Nợ phải trả Tổng nguồn vốn Ý nghĩa: Hệ số nợ phản ánh trong 100 đồng vốn kinh doanh có bao nhiêu đồng huy động nguồn vốn bên ngoài. Hệ số này càng cao chứng tỏ Ngân hàng huy động được lượng vốn bên ngoài nhiều. (2) Hệ số vốn chủ sở hữu (hệ số tự tài trợ). Cách tính: Hệ số vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu Tổng nguồn vốn Ý nghĩa: Hệ số này đo lường sự đóng góp của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng. Hệ số này càng cao chứng tỏ nguồn vốn tự có của Ngân hàng càng cao. Bảng 13: Bảng tính chỉ tiêu hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu Đơn vị tính: Lần CHỈ TIÊU Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch Tuyệt đối Tương đối (%) Hệ số nợ 0,195 0,158 -0.037 -18,97 Hệ số vốn chủ sở hữu 0,805 0,842 0,037 4,59 (Nguồn: Phòng Kế toán – Ngân quỹ) Qua bảng ta thấy, hệ số nợ của Chi nhánh qua hai năm 2010, 2011 là thấp. Năm 2010 hệ số nợ của Chi nhánh là 0,195 lần, sang năm 2011 hệ số này còn giảm đi còn 0,158 lần. Đồng thời là sự tăng lên của hệ số vốn chủ sở hữu. Do đặc điểm của ngân hàng là đi vay để cho vay, bản thân Chi nhánh thường huy động nguồn vốn được rất ít nên khả năng phụ thuộc vào vốn vay của Chi nhánh là nhỏ. Nguồn vốn chủ sở hữu là rất cao, chiếm tỷ trọng thường trên 80% qua các năm, nguyên nhân là do khoản vốn được cung cấp từ Ngân hàng cấp trên. Điều này cho thấy khả năng tự chủ tài chính của Chi nhánh đối với các chủ nợ là rất tốt. 2.7.2. Chỉ tiêu tỷ lệ giữa các khoản phải thu và phải trả (3) Tỷ lệ giữa các khoản phải thu và phải trả Cách tính: Tỷ lệ giữa các khoản phải thu và phải trả = Khoản phải thu Khoản phải trả Ý nghĩa: Chỉ tiêu này nhằm phân tích tình hình vốn của NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên đang bị các đối tác của mình chiếm dụng. Chỉ tiêu này thể hiện sự chênh lệch giữa các khoản phải thu và phải trả. Nếu tỷ lệ này lớn hơn 1 điều đó có nghĩa là Chi nhánh đang bị các đối tác khác chiếm dụng vốn và ngược lại, nếu tỷ lệ này nhỏ hơn 1 có nghĩa là các khoản phải trả lớn hơn cá khoản phải thu, lúc này Chi nhánh đang đi chiếm dụng vốn của người khác. Bảng 14: Bảng tính tỷ lệ giữa các khoản phải thu và phải trả Đơn vị tính: Lần CHỈ TIÊU Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch Tuyệt đối Tương đối (%) Tỷ lệ giữa các khoản phải thu và phải trả 4,84 5,58 0,72 14,97 (Nguồn: Phòng Kế toán - Ngân quỹ) Qua bảng tính trên, ta thấy tỷ lệ giữa các khoản phải thu và phải trả của Chi nhánh qua hai năm đều lớn hơn 1 có nghĩa là các khoản phải thu lớn hơn các khoản phải trả, lúc này Chi nhánh đang bị chiếm dụng vốn. Tỷ lệ này qua 2 năm là rất cao chứng tỏ Chi nhánh đang cho vay một lượng khá lớn so với lượng mà Chi nhánh đi vay, thể hiện rủi ro cho Cho chi nhánh. 2.7.3. Chỉ tiêu tài sản cố định trên vốn chủ sở hữu (4) Chỉ tiêu tài sản cố định trên vốn chủ sở hữu Cách tính: Tỷ lệ tài sản cố định trên vốn chủ sở hữu = Tài sản cố định x 100% Vốn chủ sở hữu Ý nghĩa: Chỉ tiêu này đánh giá mức độ đầu tư vào tài sản cố định trên vốn chủ sở hữu của Chi nhánh. Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng vốn chủ sở hữu thì có bao nhiêu đồng được đầu tư vào tài sản cố định. Bảng 15: Bảng tính tỷ lệ tài sản cố định trên vốn chủ sở hữu CHỈ TIÊU Đơn vị Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch Tuyệt đối Tương đối (%) Tài sản cố định Triệu đồng 2.434 10.548 8.114 333,38 Vốn chủ sở hữu Triệu đồng 74.476 101.318 26.842 36,04 Tỷ lệ TSCĐ trên VCSH Lần 0,032 0,104 0,071 218,57 (Nguồn: Phòng Kế toán - Ngân quỹ) Năm 2011 tài sản cố định tăng 8.114 triệu đồng từ 2.434 triệu đồng lên 10.579 triệu đồng tăng 333,38%. Vốn chủ sở hữu tăng 26.842 triệu đồng tức tăng 36,04%. Mặc dù vốn chủ sở hữu năm 2011 tăng so với năm 2010, nhưng mức đầu tư vào tài sản cố định của chi nhánh còn thấp, thể hiện ở tỷ lệ tài sản cố định được đầu tư trên vốn chủ sở hữu. Năm 2010 tỷ số này là 0,032 lần năm 2011 là 0,104 lần như vậy cho thấy Chi nhánh đã có sự đầu tư tăng thêm khá lớn vào tài sản cố định trong năm 2011 so với 2010. Chỉ số này phụ thuộc hai yếu tố là tài sản cố định và vốn chủ sở hữu, vậy khi đánh giá ta xem xét góc độ tăng giảm hợp lý của yếu tố đầu vào. Chi nhánh muốn nâng cao chỉ tiêu này cần chú trọng việc tăng tài sản cố định, tránh việc giảm nguồn vốn chủ sở hữu. 2.7.4. Chỉ tiêu đánh giá sự biến động của Vốn tự có Nâng cao năng lực tài chính của mỗi ngân hàng trước hết được biểu hiện qua quy mô của vốn tự có, Ngân hàng nào có quy mô vốn càng lớn bao nhiêu càng thể hiện năng lực tài chính của mình nổi trội hơn so với các Ngân hàng khác. Vốn tự có, còn được gọi là vốn chủ sở hữu, là vốn riêng của một Ngân hàng. Đây là số vốn ban đầu và được gia tăng không ngừng cùng với quá trình phát triển của hầu hết các Ngân hàng. (5) Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tiền gửi * Cách tính: Tỷ lệ vốn tự có trên tổng tiền gửi = Vốn tự có x 100% Tổng tiền gửi * Ý nghĩa: Khi Chi nhánh mất khả năng chi trả thì Vốn tự có sẽ đựợc sử dụng để chi trả cho khách hàng. Vì vậy, tỷ lệ này càng cao khả năng chi trả cho khách hàng gửi tiền càng được đảm bảo. Bảng 16: Bảng tính sự biến động của Vốn tự có trên Tổng tiền gửi CHỈ TIÊU Đơn vị Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch Tuyệt đối Tương đối (%) Vốn chủ sở hữu Triệu đồng 74.476 101.318 26.842 36,04 Tổng tiền gửi Triệu đồng 1.913 2.573 660 34,48 Vốn chủ sở hữu trên Tổng tiền gửi Lần 38,92 39,37 0,45 1,16 (Nguồn: Phòng Kế toán - Ngân quỹ) Qua bảng tính, ta thấy tỷ lệ Vốn tự có trên tổng tiền gửi có xu hướng tăng, năm 2011 tăng so với năm 2010 là 0,45 lần tăng 1,16%. Điều đó cho thấy khả năng chi trả cho khách hàng gửi tiền tại Chi nhánh tăng lên. Nguyên nhân là do vốn tự có của Chi nhanh tăng, năm 2010 là 74.476 triệu đồng trong năm 2011 là 101.318 triệu đồng, với mức độ 26.842 triệu đồng tương ứng 36,04%. Lượng tiền gửi năm 2011 cũng tăng so với năm 2010, từ 1.913 triệu đồng tăng lên 2.573 triệu đồng năm 2011, tuy nhiên tốc độ này chỉ đạt 34,48% nhỏ hơn tốc độ tăng vốn chủ sở hữu. Tổng tiền gửi tăng nhưng mức tăng chậm hơn tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu sẽ làm cho tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tiền vay tăng lên trong năm 2011. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu * Cách tính: Tỷ lệ an toàn vốn = Vốn tự có x 100% Tổng tài sản “Có” rủi ro Trong đó: + Vốn tự có = VTC Cấp I + VTC Cấp II + Tổng tài sản Có rủi ro quy đổi được xác định bao gồm hai bộ phận: Thứ nhất: Tổng tài sản Có rủi ro nội bảng. Thứ hai: Tài sản Có rủi ro ngoại bảng. Tài sản “Có” rủi ro nội bảng được quy đổi theo công thức sau: TS có rủi ro nội bảng = TS có nội bảng x Hệ số rủi ro Mức độ rủi ro được quy định theo QĐ 457/2005/QĐ/NHNN và QĐ 903/2007/QĐ/NHNN. Trong đó tài sản có nội bảng là tất cả các loại tài sản được liệt kê và phản ánh trong BCĐKT của Ngân hàng, bao gồm: - Tiền mặt - Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước - Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng - Cho vay các tổ chức tín dụng - Cho vay các tổ chức kinh tế và cá nhân - Các khoản đầu tư - Tài sản cố định - Tài sản có khác * Tài sản “Có” rủi ro ngoại bảng được quy đổi theo công thức sau: TS có rủi ro ngoại bảng = TS ngoại bảng x Hệ số chuyển đổi x Hệ số rủi ro Tỷ lệ này do Uỷ ban thanh tra ngân hàng (Uỷ ban Basle) lập ra để đo lường, tỷ lệ này tối thiểu 9%. 2.7.5. Chỉ tiêu đánh giá tình hình huy động vốn Về nguyên tắc, nguồn vốn huy động loại thời hạn nào phải cho vay theo thời hạn đó. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động cũng như trong điều kiện nền kinh tế ổn định, ngân hàng có thể sử dụng một phần nguồn vốn có thời hạn ngắn để đầu tư vào các tài sản có thời hạn dài hơn nhưng ở một tỷ lệ nhất định vì nếu lớn hơn nữa thì đến một thời điểm nào đó phải chịu sức ép về khả năng thanh toán vì dư nợ cho vay là một tài sản kém lỏng mà cho vay dài hạn là một loại tài sản kém lỏng nhất. Ngược lại, nếu ngân hàng sử dụng nguồn vốn dài hạn để cho vay ngắn hạn thì sẽ khó đảm bảo chênh lệch lãi suất và không hiệu quả vì nguồn vốn dài hạn có chi phí cao hơn trong khi lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn. Để đánh giá mối quan hệ giữa nguồn vốn so với tín dụng, nhà phân tích cần sử dụng chỉ tiêu sau: (7) Hệ số biến động của nguồn vốn huy động so với tín dụng Hệ số biến động của nguồn vốn huy động so với tín dụng = Số dư nguồn vốn kỳ phân tích - Số dư nguồn vốn kỳ gốc x 100% Số dư cho vay kỳ phân tích - Số dư cho vay kỳ gốc Chỉ tiêu này giúp Chi nhánh thấy mối quan hệ giữa nguồn vốn huy động so với tín dụng, nếu nguồn vốn huy động quá nhiều nhưng không tìm được đầu ra sẽ dẫn tới tình trạng ứ đọng vốn, không thu được lãi mà vẫn phải trả lãi cho nguồn vốn huy động. Hệ số biến động của nguồn vốn huy động so với tín dụng = 2.573 - 1.913 x 100% = 3,6% 106.208 - 87.845 Hệ số biến động nguồn vốn huy động so với tín dụng tại NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên là rất nhỏ, thể hiện lượng dư vốn huy động đáp ứng một phần nhỏ so với lượng tín dụng cho vay tại Chi nhánh. Tại Chi nhánh không sảy ra tình trạng ứ đọng vốn, đặc biệt vốn huy động luôn cho vay hết. Ngoài ra, Chi nhánh cần phân tích cơ cấu huy động theo kỳ hạn để có cái nhìn tổng thể về các khoản huy động tại Chi nhánh. * Phân tích cơ cấu huy động theo kỳ hạn Bảng 17: Bảng phân tích cơ cấu huy động theo kỳ hạn Đơn vị tính: Triệu đồng Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch Số tiền Tỷ trọng (%) Số tiền Tỷ trọng (%) Tuyệt đối Tương đối (%) - Không kỳ hạn 1.680 87,8 2.556 99,3 876 52,1 - Có kỳ hạn 233 12,2 17 0,7 -216 -92,7 - Tiền gửi vốn chuyên dùng - - - - - - - Tiền gửi ký quỹ - - - - - - Tổng tiền gửi 1.913 100 2.573 100 660 34,5 (Nguồn: Thuyết minh báo cáo tài chính NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên) + Tiền gửi không kỳ hạn: khoản mục này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền gửi. Năm 2010 tiền gửi không kì hạn là 1.680 triệu đồng chiếm 87,8% trong tổng tiền gửi, năm 2011 là 2.556 triệu đồng chiếm 99,3% tổng tiền gửi đã tăng 876 triệu đồng tức tăng 52,1%. Đây là khoản mục có tính ổn định thấp, thường xuyên thay đổi nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với Chi nhánh trong việc huy động vốn. + Tiền gửi có kì hạn: Năm 2010 là 233 triệu đồng, năm 2011 giảm 216 triệu đồng còn 17 triệu đồng. Ta thấy khoản mục này quá thấp tỷ trọng cơ cấu tiền gửi tại Chi nhánh. Nguyên nhân là do năm 2011 kinh tế đất nước khó khăn, không ngoại trừ tỉnh Thái Nguyên. Điều này làm cho lượng tiền gửi trong khu vực dân cư cũng như các tổ chức không ổn định, họ không muốn gửi tiền kì hạn bởi sẽ gặp nhiều khó khăn khi cần dùng tiền đột xuất. 2.7.6. Chỉ tiêu đánh giá tình hình tín dụng Công tác phân tích tình hình tín dụng phải đảm bảo phân tích đầy đủ và toàn diện mọi khía cạnh của vấn đề nhằm đưa lại cho nhà quản trị cái nhìn sâu sắc và toàn diện nhất. Đối với các Ngân hàng, các tổ chức tín dụng việc phân tích hoạt động tín dụng là vô cùng cần thiết bởi nó là việc xem xét đánh giá khả năng sinh lời của Ngân hàng. Ngân hàng chinh sách hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, tuy vậy tại Chi nhánh, nội dung phân tích được bổ sung thêm những khía cạnh đánh giá tổng quát là tương đối có ích: (8) Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi so với vốn tự có Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi so với vốn tự có = Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi x 100% Vốn tự có của Chi nhánh Chỉ tiêu nợ quá hạn không có khả năng thu hồi so với vốn tự có càng lớn thể hiện sự thâm hụt vốn tự có càng nhiều do chất lượng tín dụng suy giảm. Đặc biệt, khi chỉ tiêu này lớn hơn 1, Chi nhánh hoàn toàn không còn khả năng thanh toán. Tại NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên khoản nợ quá hạn không có khả năng thu hồi không phát sinh trong các năm gần đây, đây là một dấu hiệu đáng mừng thể hiện khả năng kiểm soát năng lực khách hàng vay tiền là tương đối tốt tại Chi nhánh. (9) Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng * Cách tính: Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng = Nợ xấu x 100% Tổng dư nợ tín dụng Ý nghĩa: Cho biết tình hình nợ xấu của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu cao không chỉ báo động sự phát sinh khoản phải thanh lý lớn trong tương lai mà còn thể hiện sự giảm sút thu nhập ở hiện tại do các khoản dư nợ này không còn mang lại lợi nhuận hoặc lợi nhuận ít, không đáng kể. Vì vậy, các nhà quản trị Ngân hàng thường mong muốn tỷ lệ nợ xấu càng thấp càng tốt (dưới 3% tổng dư nợ). Bảng 18: Bảng phân tích nợ xấu của Chi nhánh CHỈ TIÊU Đơn vị tính Năm 2010 Năm 2011 Chênh lệch Tuyệt đối Tương đối (%) Nợ xấu Tr.đ 170 129 -41 -24,27 Dư nợ tín dụng Tr.đ 87.845 106.208 18.363 20,9 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ tín dụng Lần 0,19 0,12 -0,07 -36,8 (Nguồn: Phòng Kế toán - Ngân quỹ) Tại Chi nhánh, nợ xấu năm 2010 là 170 triệu đồng, năm 2011 là 129 triệu đồng đã giảm 41 triệu đồng tương ứng giảm 24,27%. Trong khi đó dư nợ tín dụng tăng mạnh trong năm 2011 từ 87.845 triệu lên 106.208 triệu đồng, tăng 20,9%. Làm cho tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ tín dụng giảm, chứng tỏ tại Chi nhánh công tác khiểm soát chặt chẽ tín dụng, thực hiện giới hạn và cơ cấu tín dụng được nâng cao. (10) Tỷ lệ cho vay đối với một khách hàng lớn nhất Tỷ lệ cho vay đối với 1 khách hàng lớn nhất = Mức dư nợ cho vay khách hàng lớn nhất x 100% Vốn tự có của ngân hàng Ở Việt Nam, theo điều 8 của quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng, tổng mức cho vay và bảo lãnh đối với một khách hàng không vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng. Đối với một nhóm khách hàng có liên quan, mức tối đa của các tỷ lệ này tương ứng là 50% và 60%. Tại NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên chỉ tiêu Tỷ lệ cho vay đối với một khách hàng lớn nhất là không có nhiều ý nghĩa. Bởi là đơn vị kinh tế hành chính sự nghiệp hoạt động vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo, phần nào cải thiện đời sống nhân dân, hoạt động không vì mục đích lợi nhận nên đối tượng mà NHCSXH nói chung NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên nói riêng hướng đến là bộ phận người nghèo, các đối tượng chính sách… Vì vậy các món vay thường nhỏ lẻ theo các chương trình chung áp dụng rộng rãi trên toàn tỉnh. 2.7.7. Chỉ tiêu phân tích rủi ro (11) Rủi ro tín dụng * Cách tính: Rủi ro tín dụng = Nợ quá hạn x 100% Tổng dư nợ tín dụng *Ý nghĩa: Tỷ lệ này đánh giá chất lượng tín dụng của ngân hàng, tỷ số này càng cao phản ánh khả năng thu hồi của ngân hàng thấp. Tại Chi nhánh khoản nợ quá hạn không phát sinh, cho thấy khả năng thu hồi vốn trên khía cạnh này là rất tốt. (12) Mức dự trữ thừa hoặc thiếu Mức dự trữ thừa hoặc thiếu = Tiền dự trữ thực tế - Tiền dự trữ bắt buộc theo quy định Chỉ tiêu trên giúp đánh giá tình hình dự trữ của các Ngân hàng để đáp ứng các yêu cầu về thanh khoản. Dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN là số tiền phải tính dự trữ bắt buộc nhân với tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo quy định của NHNN. Ngân hàng có thể giữ tiền mặt cao hơn hoặc bằng dự trữ bắt buộc nhưng không được phép ít hơn mức dự trữ này. Tại thời điểm 31/12/2009 tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo QĐ 2560/NHNN ngày 3/11/2009 như sau: Đối với tiền gửi VNĐ: Kỳ hạn dưới 12 tháng là 10%; kỳ hạn trên 12 tháng là 4%. Đối với tiền gửi USD: Kỳ hạn dưới 12 tháng là 9%; kỳ hạn trên 12 tháng là 3%. Như vậy việc tính toán chỉ tiêu mức tiền dự trữ thừa hoặc thiếu sẽ giúp cho Chi nhánh tránh được dự trữ quá nhiều, lãng phí nguồn vốn, ảnh hưởng đên lợi nhuận của Chi nhánh, đồng thời tránh được việc vi phạm quy định về dự trữ bắt buộc của NHNN. Đối với NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên thì lượng dự trữ luôn ở mức rất thấp. Bởi trong hệ thống Ngân hàng chính sách xá hội thì mức dự trữ được Ngân hàng Nhà Nước cho phép là 0%. Được Chính Phủ đảm bảo khả năng thanh khoản. Vì vậy NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên có thể không giữ tiền dự trữ. 2.8. Phân tích Lợi nhuận ròng 2.8.1. Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu (ROS): Để đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh thịnh vượng hay suy thoái, ngoài việc xem xét chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ đạt được trong kì, các nhà phân tích còn xác định trong 100 đồng doanh thu có bao nhiêu đồng lợi nhuận: ROS = Lợi nhuận ròng x 100% Doanh thu thuần Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, nó chịu ảnh hưởng của sự thay đổi sản lượng, giá bán, chi phí… Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 ROS -297,47% -138,77% Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu ( ROS) tại NHCSXH Thái Nguyên: Năm 2010 cứ 100 đồng doanh thu thì Chi nhánh bị lỗ 297,47 đồng. Năm 2011 hệ số này có phần cải thiện, cứ 100 đồng doanh thu Chi nhánh bị lỗ 138,77 đồng. Điều này đánh giá lợi nhuận thực hiện trong 2 năm 2010, 2011 tại Chi nhánh là rất kém. 2.8.2. Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) * Cách tính: ROA = Lợi nhuận ròng x 100% Tài sản Có bình quân * Ý nghĩa: Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đo lường hoạt động của một đơn vị trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. Nó cho biết một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Qua đó đánh giá chất lượng tài sản có trong ngân hàng. Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 ROA -12,88% -7,27% Tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) tại NHCSXH Thái Nguyên: Năm 2010 cứ 100 đồng tài sản thì Chi nhánh bị lỗ 12,88 đồng. Năm 2011 thì cứ 100 đồng doanh thu Chi nhánh bị lỗ 7,27 đồng. Như vậy lợi nhuận sinh ra trên tài sản của Chi nhánh là không có, không những vậy Chi nhánh còn bị lỗ làm cho chỉ tiêu này bị âm, không chính xác trong việc đánh giá. 2.8.3. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có (ROE) * Cách tính: ROE = Lợi nhuận ròng x 100% Vốn tự có bình quân Ý nghĩa: ROE cho biết hiệu quả sử dụng vốn tự có để tạo ra lợi nhuận. Nó cho biết 100 đồng vốn tự có sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Đây là chỉ số được các nhà đầu tư quan tâm khi ra quyết định đầu tư vào Ngân hàng. Qua đó đánh giá chất lượng và hiệu quả sử dụng đồng vốn trong ngân hàng. ROE cao sẽ giúp Chi nhánh thu hút được vốn đầu tư mới tuy nhiên, ROE cao không phải lúc nào cũng thuận lợi. Trường hợp vốn chủ sở hữu là quá nhỏ thì tỉ lệ lợi nhuận mà chủ sở hữu có được là nhỏ. Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 ROE -16,01% -7,49% Tỷ suất lợi nhuận trên vốn tự có (ROE) tại NHCSXH Thái Nguyên: Năm 2010 cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu thì Chi nhánh bị lỗ 16,01 đồng. Năm 2011 thì cứ 100 đồng vốn chủ sở hữu Chi nhánh bị lỗ 7,49 đồng. Qua bảng tính trên, ta thấy các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận ròng của Chi nhánh đều âm. Nguyên nhân là do lợi nhuận sau thuế của Chi nhánh trong các năm gần đây đều ở mức lỗ. Chi nhánh cần xem xét thắt chặt các hoạt động kinh doanh, sang lọc các khoản tín dụng xấu… giúp Chi nhánh thoát khỏi tình trạng thua lỗ này. PHẦN III NHẬN XÉT VÀ KẾT LUẬN 3.1. Giải pháp nâng cao hiệu quả phân tích tài chính tại NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên. 3.1.1. Định hướng hoạt động của NHCSXH tỉnh Thái Nguyên. Với phương châm hành động “ phát triển, an toàn, hiệu quả” trong thời gian tới Chi nhánh phối tập trung triển khai thực hiện nghiêm chỉnh các chủ trương chính sách mới của Nhà nước, các chương trình hành động của ngành Ngân hàng. Và các chỉ tiêu mà tổng Giám đốc Ngân hàng CSXH giao cho. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ, nâng cao ý thức chấp hành cơ chế của thống đốc Ngân hàng nhà nước và Tổng Giám đốc Ngân hàng CSXHVN ban hành đến từng cán bộ công nhân viên. Tiếp tục tiến hành chương trình đào tạo và bồi dưỡng nghiệp vụ cho tất cả các cán bộ công nhân viên phù hợp với nhiệm vụ được giao. Muốn thực hiện được định hướng này trước hết ban lãnh đạo của Ngân hàng cùng toàn thể cán bộ công nhân viên cần phải lường hết những khó khăn do nguyên nhân chủ quan hay khách quan có thể xảy ra, để cùng nhau vững vàng vượt qua và quyết tâm thực hiện thắng lợi những mục tiêu trên. * Trong công tác huy động vốn. + Tiếp tục làm tốt công tác huy động vốn, đảm bảo cho nguồn vốn luôn tăng trưởng, thực hiện tốt chỉ tiêu chuyển vốn của Ngân hàng cấp trên giao cho. + Tiếp tục nâng cấp trang thiết bị hiện đại phục vụ tốt cho việc giao dịch diễn ra hàng ngày một cách nhanh chóng và hệu quả. + Không ngừng nâng cao trách nhiệm và phong cách giao dịch của cán bộ tiết kiệm, đặc biệt quan tâm hơn nữa đến đời sống vật chất cũng như tinh thần của cán bộ và nhân viên,đẩy mạnh công tác thi đua, khen thưởng kịp thời các cá nhân và tập thể có thành tích trong công tác. * Trong công tác sử dụng vốn + Tiếp tục triển khai chiến lược tăng trưởng dư nợ lành mạnh, an toàn, hiệu quả, nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng thẩm định dự án. + Nhanh chóng giải quyết các khoản nợ đọng, đôn đốc thu hồi nợ đến hạn khó đòi, phấn đấu giảm nợ quá hạn cũ, hạn chế tối đa phát sinh nợ quá hạn mới, để nhanh chóng đưa tỷ trọng nợ quá hạn trên tổng dư nợ là dưới 1%. 3.1.2. Một số nhận xét về công tác phân tích tài chính tại NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên. 3.1.2.1. Ưu điểm * Về nguồn số liệu Nguồn số liệu dùng để phân tích tài chính là các báo cáo tại Chi nhánh. Cụ thể: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và thuyết minh báo cáo tài chính. Vì vậy, số liệu dùng trong phân tích hoàn toàn đáng tin cậy. * Về phân công công việc phân tích tài chính Lập báo cáo tài chính, phân tích các chỉ tiêu tài chính để phục vụ cho nhà quản trị của Chi nhánh thuộc trách nhiệm của Phòng Kế toán – Ngân quỹ. Phân tích báo cáo tài chính giúp lãnh đạo Chi nhánh nắm bắt tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh để đưa ra những quyết định kịp thời trong từng giai đoạn. * Về phương pháp phân tích Phương pháp được sử dụng chủ yếu trong quá trình phân tích là phương pháp so sánh, phương pháp tỷ lệ, phương pháp cân đối. Trong đó phương pháp so sánh được sử dụng xuyên suốt trong tất cả các nội dung phân tích giúp thấy được sự tăng trưởng của các chỉ tiêu qua các năm. * Về nội dung phân tích Chi nhánh đã vận dụng một cách linh hoạt nội dung và hệ thống chỉ tiêu phân tích báo cáo tài chính trên các nội dung phân tích cấu trúc tài sản, cơ cấu nguồn vốn, phân tích tình hình sử dụng vốn, phân tích tình hình hoạt động tín dụng, phân tích khả năng thanh toán, phân tích khả năng sinh lời. Việc phân tích các nội dung không dừng lại ở việc phản ánh quy mô, cơ cấu mà còn đi nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến sự biến động của các chỉ tiêu đó. 3.1.2.2. Hạn chế * Về nguồn số liệu  Chi nhánh chưa lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ vì vậy mà việc phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ chưa được thực hiện. Đây là một hạn chế lớn của Chi nhánh, vì báo cáo lưu chuyển tiền tệ có tầm quan trọng đặc biệt. Thông qua phân tích BCLCTT, sẽ cung cấp thông tin về dòng tiền Ngân hàng sinh ra từ đâu và sử dụng vào những mục đích gì. Từ đó, có thể đánh giá khả năng tạo tiền của Ngân hàng trong kỳ là nhiều hay ít, thu chủ yếu từ hoạt động nào và dự đoán được khả năng tạo ra tiền trong tương lai, hay đánh giá khả năng thanh toán, khả năng đầu tư bằng tiền nhàn rỗi của Ngân hàng. * Về phân công công việc phân tích tài chính Phân tích tài chính tại Chi nhánh do cán bộ kế toán đảm nhiệm. Song trong phòng Kế toán lại không phân công rõ ràng cán bộ nào chịu trách nhiệm phân tích báo cáo tài chính định kỳ. * Về phương pháp phân tích Chi nhánh sử dụng 4 phương pháp là phương pháp so sánh, phương pháp phân tổ, phương pháp tỷ lệ và phương pháp cân đối để thấy được sự biến động tình hình tài chính của mình theo thời gian. Những phương pháp đó không làm rõ được những tác động thực sự của nhân tố thành phần tới chỉ tiêu mà chỉ đưa ra được những tác động của nhiều nhân tố. Vì thế, đôi lúc vấn đề không được phát hiện và Chi nhánh không chủ động trước những biến động. * Về nội dung phân tích Nội dung phân tích tài chính còn sơ sài chưa sử dụng hết các thông tin trên báo cáo tài chính. Việc phân tích vẫn chủ yếu đưa ra các con số tăng giảm mà chưa đưa ra được nguyên nhân, các xu thế biến động của từng chỉ tiêu. Chẳng hạn qua công tác phân tích tài sản – nguồn vốn nhà quản trị chưa phân tích chỉ tiêu thể hiện rõ mối quan hệ mật thiết giữa việc huy động vốn và sử dụng vốn hoặc mối quan hệ tài sản có với một bộ phận tài sản nợ và ngược lại. Phân tích vốn tự có Chi nhánh không tính đến hoạt động ngoại bảng mà ngày nay những rủi ro của nó cũng có tác động không kém phần khốc liệt so với các hoạt động nội bảng. Trong việc đánh giá chỉ tiêu an toàn vốn NHNN đã có quyết định 297/QĐ- NH5 quy định về việc đánh giá hệ số Cook theo tiêu chuẩn của uỷ ban Basel có điều chỉnh cho phù hợp với thực tế của Việt Nam. Phân tích quy mô, cơ cấu tín dụng Chi nhánh không sử dụng chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa cơ cấu tín dụng với tình hình huy động vốn của mình chưa phản ánh chỉ tiêu bù đắp rủi ro. 3.1.2.3. Nguyên nhân Thứ nhất : Hạn chế nội tại của Chi nhánh * Về nhận thức, quan tâm đến phân tích báo cáo tài chính + Phân tích tình hình tài chính nhằm đưa ra kết quả đánh giá hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của đơn vị để có biện pháp xử lí kịp thời các tình huống khó khăn về tài chính, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. + Phân tích tình hình tài chính góp phần xác định chính xác hơn giá trị của đơn vị trong các hoạt động đầu tư tài chính và định hướng phát triển trong tương lai trên cơ sở đánh giá tương quan rủi ro, lợi nhuận và vị trí của Chi nhánh trong ngành. + Phân tích tài chính xác định khả năng thanh toán của Chi nhánh để các bạn hàng của đơn vị và cơ quan quản lí nhà nước kiểm soát được năng lực tài chính và khả năng kinh doanh thực tế của mình. + Phân tích tài chính giúp xây dựng kế hoạch và chính sách của Chi nhánh như chính sách huy động vốn, chính sách cơ cấu tài chính, chính sách phân phôi thu nhập của Chi nhánh … Nhìn chung phân tích tình hình tài chính tại đơn vị nhằm chỉ ra được thực trạng tài chính của Chi nhánh ở từng thời điểm và trong từng thời kì để phục vụ cho mục tiêu của chủ thể phân tích Hầu hết các ngân hàng nói chung và Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên nói riêng đều coi việc phân tích tài chính chỉ phục vụ cho việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan quản lý nhà nước, thuế... mà chưa nhận thức hết được vai trò của phân tích tài chính. Do đó, mà ban lãnh đạo Chi nhánh chưa quan tâm tới việc tổ chức công tác phân tích tài chính. * Về công tác tổ chức phân tích tài chính Cán bộ làm công tác phân tích còn hạn chế, đa số cán bộ là cán bộ trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm lĩnh vực trong hoạt động ngân hàng. Mà công việc phân tích chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tiễn được tích lũy trong công tác. Mặt khác, những kiến thức phân tích tài chính cũng còn có nhiều hạn chế, chủ yếu những người làm công tác phân tích đều lấy cơ sở là phân tích tài chính của doanh nghiệp sau đó kết hợp với các đặc trưng hoạt động của Ngân hàng và quy định của NHNN để phân tích. * Về nguồn số liệu Chi nhánh chưa lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ vì vậy khi phân tích tài chính tại chi nhánh nhà quản trị sẽ không có thông tin về dòng tiền Chi nhánh sinh ra từ đâu và sử dụng vào những mục đích gì. Để có quyết định sáng suốt trong tương lai. Thứ hai: Hạn chế đến từ phía NHNN Các tài liệu hướng dẫn chủ yếu được sử dụng để tập huấn các cán bộ thanh tra của NHNN. Các chỉ tiêu phân tích tài chính mới chỉ là các quy định những tiêu chuẩn mang tính chất giới hạn trong hoạt động Ngân hàng tạo cơ sở cho quá trình nhà quản trị tự phân tích. NHNN chưa quy định rõ về chỉ tiêu phân tích tài chính thiết lập các phương pháp phân tích chung thống nhất để hướng dẫn các Ngân hàng và xây dựng phần mềm hỗ trợ các Ngân hàng. Chính vì thế công tác phân tích tài chính không đồng nhất cả về chỉ tiêu, phương pháp, tiêu thức mà phụ thuộc vào từng mảng hoạt động quan trọng đặc trưng của mỗi Ngân hàng mà mỗi Ngân hàng tự đưa ra cho riêng mình. 3.1.3. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phân tích tài chính tại NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên Phân tích tài chính của Chi nhánh chỉ phát huy hiệu quả khi được tổ chức thực hiện phân tích một cách khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc điểm kinh doanh, cơ chế quản lý tài chính và cơ chế họat động của ngân hàng. Vì vậy, việc hoàn thiện quy trình phân tích tài chính là vấn đề cần thiết để Chi nhánh nâng cao hiệu quả phân tích tài chính. Chi nhánh cần làm tốt các việc: Thứ nhất: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của phân tích tài chính tại Chi nhánh của các cán bộ làm công tác phân tích tài chính cũng như cán bộ của phòng ban liên quan khác. Đảm bảo sự kết hợp giữa các phòng ban, bộ phận trong Chi nhánh một cách chặt chẽ, đảm bảo cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời phục vụ cho công tác phân tích. Thứ hai: Nâng cao trình độ phân tích tài chính cho các nhà quản trị Chi nhánh. Vì có những thay đổi trong tài chính của ngân hàng cho nên cần có hình thức phổ biến và đào tạo, hướng dẫn về những khoản mục mới trọng yếu để có thể phù hợp giữa lý luận và thực tiễn, giúp các nhà quản trị nhìn nhận vấn đề một cách tổng quát hơn, phù hợp giữa trình độ của nhà quản trị và đối tượng bị quản trị. Thứ ba: Hoàn thiện tổ chức thực hiện quy trình phân tích tài chính. Phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cán bộ làm báo cáo phân tích tài chính tại Chi nhánh. Báo cáo phân tích tài chính phải được nộp định kỳ hàng tháng, hàng quý nhằm phản ánh kịp thời, thường xuyên tình hình tài chính của Chi nhánh. Thứ tư: Nâng cao chất lượng của kiểm toán nội bộ Kiểm toán nội bộ phải luôn đề ra những kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện các nguyên tắc trong thủ tục kiểm soát nội bộ và đảm bảo cho hoạt động của các bộ phận theo đúng quan điểm mà ban kiểm soát và lãnh đạo đề ra. Kế toán là bộ phận quan trọng mà kiểm toán nội bộ cần phải chú ý để đảm bảo hoạt động của kế toán theo đúng nguyên tắc của hệ thống kiểm soát nội bộ từ đó đảm bảo tính chính xác về số liệu và quy trình nghiệp vụ của kế toán. Thứ năm: Cần ứng dụng tin học vào công tác phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh Chi nhánh. Các chỉ tiêu kinh tế là những hàm với nhiều biến số tác động. Vì thể để có thể phân tích, đánh giá một cách chính xác và toàn diện nhiều nhân tố thì phải sử dụng khoa học kỹ thuật hỗ trợ, giúp công việc của nhà phân tích đơn giản hơn nhưng hiệu quả hơn, có thể xem xét được nhiều biến cố phức tạp tác động đến các chỉ tiêu tài chính. Từ đó nhà phân tích có thể đưa ra những thông tin chính xác, giúp nhà quản trị đưa ra những quyết định tối ưu. 3.1.3.1. Hoàn thiện công tác lập kế hoạch phân tích Đây là giai đoạn đầu tiên, là một khâu quan trọng, ảnh hưởng nhiều đến chất lượng, thời hạn và tác dụng của phân tích tài chính. Giai đoạn lập kế hoạch phân tích được tiến hành chu đáo, chuẩn xác sẽ giúp cho các giai đoạn sau tiến hành có kết quả tốt. Lập kế hoạch phân tích bao gồm việc: * Xác định mục tiêu, phạm vi, thời gian tiến hành phân tích: Cần xác định rõ tiến hành phân tích để làm gì, phạm vi phân tích là tại chi nhánh, thời gian dự kiến tiến hành phân tích để trên cơ sở đó thiết lập các công việc cần thực hiện tiếp theo. * Xác định rõ nội dung, chỉ tiêu và phương pháp phân tích sử dụng: Có nhiều nội dung phân tích báo cáo tài chính ngân hàng. Do đó, tuỳ thuộc vào yêu cầu về thông tin của các nhà quản trị Ngân hàng mà kế hoạch phân tích cần xác định rõ các nội dung sẽ tiến hành phân tích để công việc phân tích được hiệu quả, tránh lãng phí thời gian và công sức. Tương ứng với nội dung phân tích, tuỳ thuộc vào mức độ chi tiết hoá thông tin, khả năng sẵn có và độ tin cậy của thông tin, nguồn gốc thông tin mà xác định các chỉ tiêu phân tích và phương pháp phân tích thích hợp. * Xác định những tài liệu, thông tin cần thu thập: Căn cứ vào nội dung, chỉ tiêu và phương pháp phân tích đã xác định, kế hoạch phân tích cần chỉ rõ những tài liệu, thông tin cần thu thập, tìm hiểu cũng như các nguồn cung cấp thông tin để đảm bảo sưu tầm được nguồn tài liệu đầy đủ và thích hợp cho việc phân tích. * Xác định nhu cầu về nhân sự và tổ chức lực lượng phân tích: Con người luôn là yếu tố quan trọng để thực hiện phân tích tài chính. Để đảm bảo cuộc phân tích tài chính diễn ra đúng tiến độ, theo quy trình khoa học thì kế hoạch phân tích cần xác định nhu cụ thể về nhân sự cũng như phân công công việc, xác định nhiệm vụ của mỗi cá nhân và mối liên hệ giữa các cán bộ phân tích nhằm thực hiện phân tích một cách hiệu quả, tiết kiệm. 3.1.3.2 Tiến hành phân tích Đây là giai đoạn triển khai, thực hiện các công việc đã ghi trong kế hoạch. Tiến hành phân tích bao gồm các công việc cụ thể sau: * Sưu tầm tài liệu và xử lý số liệu Sưu tầm và xử lý số liệu chính là yếu tố đầu vào của quá trình phân tích và có ảnh hưởng rất lớn tới kết quả phân tích. Để có thể phân tích báo cáo tài chính của Ngân hàng cần có một nguồn thông tin, tài liệu đầy đủ và đáng tin cậy nhất. Tài liệu dùng vào việc phân tích bao gồm: Báo cáo tài chính. Theo chế độ kế toán hiện hành, hệ thống báo cáo tài chính gồm 4 báo cáo: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính. Ngoài ra còn có các nguồn tài liệu khác chẳng hạn các thông tin liên quan đến tình hình tài chính của ngân hàng như thông tin chung về kinh tế, tiền tệ, thuế khoá, các thông tin về ngành, các thông tin về pháp lý... Tài liệu dùng để phân tích được cung cấp từ nhiều nguồn khác nhau, và trong quá trình hạch toán có thể có những nhầm lẫn, sai sót. Do đó, để đảm bảo tính đúng đắn cho kết quả phân tích, cần kiểm tra tính chính xác, hợp lý của các số liệu trên các tài liệu sử dụng cho quá trình phân tích. * Thực hiện việc phân tích Căn cứ vào các tài liệu đã thu thập được, nhà phân tích tiến hành tính toán và so sánh các chỉ tiêu phân tích tương ứng theo từng nội dung phân tích. Việc tính toán, so sánh các chỉ tiêu có thể thực hiện thủ công hoặc tự động trên cơ sở ứng dụng công nghệ tin học để xây dựng các phần mềm tính toán hoặc chương trình phân tích. Sau khi có được kết quả so sánh các chỉ tiêu giữa kỳ này với kỳ gốc, các nhà phân tích đánh giá được mức độ thực hiện chỉ tiêu cũng như những biến động của chỉ tiêu nghiên cứu qua các kỳ khác nhau. Để biết được sự biến động của chỉ tiêu do ảnh hưởng của những nhân tố nào, cần phải xác định các nhân tố ảnh hưởng và tính toán cụ thể mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu phân tích giữa kỳ này với kỳ gốc. Dựa vào phương pháp phân chia, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch… nhà phân tích tiến hành tính toán cụ thể các mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến các chỉ tiêu phân tích, phân tích tính chất ảnh hưởng của các nhân tố. Dựa trên kết quả tính toán và ý nghĩa các chỉ tiêu cũng như mức độ và tính chất của các nhân tố ảnh hưởng đến các chỉ tiêu phân tích, nhà phân tích rút ra nhận xét, kết luận về tình hình tài chính của ngân hàng. 3.1.3.3. Kết thúc phân tích * Lập báo cáo phân tích Nội dung chủ yếu của báo cáo phân tích phải trình bày rõ kết quả thực hiện chỉ tiêu một cách cụ thể, vạch rõ các nhân tố ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực, khách quan hay chủ quan bằng số liệu minh họa. Các số liệu có thể trình bày dưới dạng đồ thị hoặc bảng biểu để người sử dụng dễ nhìn và dễ hiểu, kèm theo đó là những giải trình về nguyên nhân chi tiết, cụ thể. Để phát huy tác dụng của phân tích báo cáo tài chính, báo cáo phân tích phải chỉ ra các ý kiến đề xuất nhằm khắc phục những mặt còn tồn tại, phát huy những mặt mạnh nhằm tăng cường hơn nữa tiềm lực tài chính cũng như lành mạnh hóa tài chính Ngân hàng. Các ý kiến đề xuất đưa ra phải có cơ sở và có tính khả thi. * Tổ chức báo cáo kết quả phân tích Kết quả phân tích tài chính Ngân hàng chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng trước hết bởi các nhà quản lý Ngân hàng. Do đó, phân tích tài chính Ngân hàng được gửi tới cho Ban lãnh đạo ngân hàng. Từ kết quả phân tích, giúp Ban lãnh đạo đánh giá được tình hình tài chính của đơn vị mình, làm cơ sở để hoạch định các chính sách cũng như ra các quyết định trong tương lai. Báo cáo phân tích cũng được gửi tới các ban, phòng có liên quan trong ngân hàng để các ban, phòng thấy được những điểm mạnh và điểm yếu của tình hình tài chính. Đồng thời xác định trách nhiệm của các ban, phòng trong việc thực hiện các giải pháp mà phân tích tài chính đưa ra. * Hoàn chỉnh và lưu trữ hồ sơ phân tích Hồ sơ phân tích báo cáo tài chính bao gồm tất cả các tài liệu liên quan đến quá trình phân tích tài chính, từ kế hoạch phân tích cho tới sản phẩm cuối cùng của phân tích là báo cáo phân tích. Đó chính là bằng chứng chứng minh rằng một cuộc phân tích có được tiến hành đúng theo trình tự hay không. Đồng thời, cũng là nơi lưu các tài liệu để kiểm tra tính đúng đắn của kết quả tính toán các chỉ tiêu phân tích và là cơ sở cho các cuộc phân tích tiếp theo cũng như các cuộc phân tích của kỳ sau. Hồ sơ phân tích cần quản lý một cách khoa học. 3.2. Kết luận. Qua thời gian thực tập tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên, em đã nghiên cứu và thực hiện chuyên đề: “Phân tích tình hình tài chính tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên” em đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm và kiến thức thực tế để củng cố kiến thức của mình. Em đã có cơ hội tìm hiểu sâu về công tác phân tích tài chính tại Chi nhánh. Nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú cán bộ nhân viên tại Chi nhánh, cùng sự hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thu Nga, em đã hoàn thành chuyên đề này. Nội dung bài báo cáo đã phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua các báo cáo tài chính và một số chỉ tiêu quan trọng. Quá trình phân tích em có thể đưa ra nhận xét: Tình hình tài chính của Chi nhánh có nhiều điểm mạnh thể hiện ở độ tăng trưởng nhanh về cơ cấu tài sản, nguồn vốn. Chi nhánh đã hạn chế được các khoản nợ xấu, nợ quá hạn và đặc biệt là không có khoản nợ không có khả năng thu hồi. Tuy mới thành lập và đi vào hoạt động trong thời gian chưa dài, nhưng NHCSXH tỉnh Thái Nguyên đã phát triển nhiều mặt từ tổ chức điều hành đến công tác huy động nguồn vốn, mở rộng nghiệp vụ cho vay. Nguồn vốn đầu tư của ngân hàng các năm được tập trung cho phát triển kinh tế nông nghiệp từ 88%-90%, phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp 4-5%, dịch vụ buôn bán nhỏ 3%-4%. Số đông hộ nghèo được vay vốn đã thực sự tạo ra sức sản xuất mới trong nông nghiệp cả về năng suất, sản lượng, chất lượng hàng hoá. Nhiều nơi dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn và giúp đỡ của chính quyền người dân đã tham gia vào trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao như mía, chè, cây ăn quả, cải tạo hàng vạn ha vườn tạp thành vườn cây ăn quả, chăn nuôi đại gia súc và nuôi các loại con có giá trị kinh tế cao như bò sữa, cá, ba ba, nâng cao giá trị hàng nông sản. Nhiều ngành nghề truyền thống trước đây bị mai một do không có vốn nay được các gia đình khôi phục lại, nhiều nghề mới được mở thêm tạo việc làm cho nhiều con em hộ nghèo có thu nhập ổn định. - Nhiều hộ sử dụng vốn đem lại hiệu quả cao, mau chóng thoát khỏi cảnh nghèo đói. Thực hiện việc đổi mới cơ chế chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo có điều kiện thụ hưởng lợi ích, để phát triển và mở rộng hoạt động của ngân hàng. Là một ngân hàng mới thành lập và đi vào hoạt động thời gian chưa lâu, nhưng ngay thời gian đầu Ban đại diện HĐQT đã có nhiều cố gắng trong xây dựng chính sách và cơ chế nghiệp vụ sao cho phù hợp với thực tiễn. Phương châm là dành sự thuận lợi nhất cho người nghèo để họ có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn ưu đãi, mặt khác lại phải đảm bảo quản lý chặt chẽ nguồn vốn tránh thất thoát và bảo đảm bù đắp các chi phí hoạt động. Sở dĩ đạt được những kết quả trên là do NHCSXH đã không ngừng thực hiện việc đổi mới các chính sách, cơ chế nghiệp vụ cho phù hợp thực tế phát triển của từng thời kỳ. Bên cạnh đó, tại Chi nhánh vẫn còn một số tồn tại nhất định: lợi nhuận liên tục bị âm, một số chỉ tiêu tài chính chưa an toàn hiệu quả. Công tác tín dụng chưa thực sự đến sát với người nghèo, chưa cải thiện đời sống các hộ thuộc diện dân tộc, chính sách. Đây là lần đầu tiên em đi từ lý luận vào thực tế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự góp ý của thày cô và các bạn để đề tài này được hoàn thiện hơn. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn Cô giáo Nguyễn Thu Nga, cùng các cô chú tại NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên đã giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề báo cáo này! TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Bảng cân đối kế toán năm 2011, Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên. 2. Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2011, Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên. 3. Thuyết minh báo cáo tài chính 2011, Ngân hàng Chính sách Xã hội Chi nhánh Thái Nguyên. 4. Trang web Ngân hàng chính sách xã hội 5. TS Lưu Thị Hương, Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, ĐH Kinh tế quốc dân. 6. PGS.TS Trần Ngọc Thơ, Tài Chính Doanh Nghiệp Hiện Đại, NXB Thống kê, ( 2005). 7. Giáo trình tài chính doanh nghiệp, ĐH kinh tế và quản trị kinh doanh (2010) 8. PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang & Nguyễn Thị Liên Hoa, Phân Tích Tài Chính, NXB Lao Động – Xã Hội, (2007). 9. ThS Nguyễn Tấn Bình, Phân Tích Quản Trị Tài Chính, NXB Thống Kê, (2005).  MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 01: Phân tích lao động tại NHCSXH Thái Nguyên theo giới tính - 18 - Bảng 02: Phân tích lao động tại NHCSXH Thái Nguyên theo trình độ - 18 - Bảng 03: Phân tích cơ cấu tài sản của NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên - 26 - Bảng 04: Phân tích cơ cấu nguồn vốn của NHCSXH Thái Nguyên - 30 - Bảng 05: Đánh giá vốn tự có của Chi nhánh - 33 - Bảng 06: Bảng phân tích cơ cấu huy động vốn - 34 - Bảng 07: Bảng phân tích cơ cấu dư nợ. - 36 - Bảng 08: Bảng phân tích chất lượng tín dụng - 38 - Bảng 09: Phân tích dư nợ theo lĩnh vực hoạt động của đối tượng vay. - 39 - Bảng 10: Phân tích chi tiết thu nhập của NHCSXH Chi nhánh Thái Nguyên - 44 - Bảng 11: Phân tích chi tiết chi phí của NHCSXH Thái Nguyên - 46 - Bảng 12: Bảng phân tích sự thay đổi lợi nhuận trước thuế - 48 - Bảng 13: Bảng tính chỉ tiêu hệ số nợ và hệ số vốn chủ sở hữu - 50 - Bảng 14: Bảng tính tỷ lệ giữa các khoản phải thu và phải trả - 52 - Bảng 15: Bảng tính tỷ lệ tài sản cố định trên vốn chủ sở hữu - 53 - Bảng 16: Bảng tính sự biến động của Vốn tự có trên Tổng tiền gửi - 54 - Bảng 17: Bảng phân tích cơ cấu huy động theo kỳ hạn - 57 - Bảng 18: Bảng phân tích nợ xấu của Chi nhánh - 60 -

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docphan_tich_tinh_hinh_tai_chinh_tai_ngan_hang_chinh_sach_xa_hoi_thai_ng_.doc
Luận văn liên quan