Đề tài Phân tích vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội và liên hệ ở Việt Nam hiện nay

I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ 1. Nguồn gốc của thuế 2. Khái niệm 3. Các đặc trưng cơ bản của thuế 4. Phân loại II. SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG THUẾ Ở VIỆT NAM III. PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA THUẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ LIÊN HỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào NSNN 2. Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội 3. Góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội IV. KẾT LUẬN

doc26 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 15/05/2013 | Lượt xem: 7297 | Lượt tải: 43download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Phân tích vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội và liên hệ ở Việt Nam hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THUẾ Nguồn gốc của thuế Cho tới nay, chưa xác định rõ ràng vùng lãnh thổ nào trên trái đất khai sinh ra thuế, song một điều không thể phủ nhận là Thuế gắn liền với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Thời nguyên thủy, con người liên kết với nhau một cách tự phát để chung sống. Sản phẩm do mỗi cá nhân làm ra chỉ vừa đủ thậm chí còn thiếu so với nhu cầu tối thiểu của con người. Trong quá trình sống và lao động, con người đã tích lũy được kinh nghiệm, cải tiến công cụ lao động, một số người đã bắt đầu tạo ra nhiều của cải hơn mức cần thiết cho cuộc sống bình thường, rồi trở lên dư thừa và giàu có. Họ thoát ly dần lao động và mướn người làm thay. Họ trở lên có thế lực và được nhiều người kính nể, cử làm đại diện cho bộ lạc – thị tộc. Dần dần họ nắm quyền lực và cai trị bộ lạc. Những “gia đình” danh giá và giàu có này tập hợp nhau lại bên ngoài thị tộc của họ, thành một giai cấp riêng và đặc quyền. Thực tế, nhóm người này trở thành người đứng đầu “chính quyền” công cộng, cuối cùng cũng phát triển thành Nhà nước. Ở khía cạnh phân công lao động xã hội, Nhà nước là một tổ chức bộ máy với nhiều hệ thống cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau để tổ chức điều hành, cai quản xã hội. Những người tham gia bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương là những người không tham gia trực tiếp sản xuất. Phải có nguồn tài chính để nuôi bộ máy quản lý công việc của Nhà nước. Phải có nguồn tài chính để chi tiêu cho những công việc thuộc chức năng Nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước càng lớn về quy mô và phạm vi chi tiêu. Nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu trên chỉ có thể “lấy” từ việc động viên đóng góp một phần thu nhập xã hội do các tầng lớp dân cư trong xã hội trực tiếp lao động ra. Từ trước đến nay, các Nhà nước thường có ba cách để động viên một phần thu nhập xã hội cho nguồn ngân sách Nhà nước: quyên góp, vay và dùng quyền lực để buộc dân phải đóng góp. Hai hình thức đầu phụ thuộc vào tính tự nguyện và tự giác của dân chúng, riêng hình thức dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho Nhà nước – đó là Thuế. Như vậy, thuế ra đời và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước. Vậy thuế là một tất yếu khách quan với chức năng chủ yếu và đầu tiên là nhằm đảm bảo nguồn thu tài chính phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà nước. Cơ sở quan trọng khác cho sự ra đời của thuế là thu nhập. Nếu của cải làm ra chỉ đủ nuôi sống bản thân người lao động thì không có gì để đóng góp cho Nhà nước. Sự hình thành thu nhập trong xã hội là cơ sở vật chất tạo khả năng cho nguồn động viên về thuế. Có thu nhập thì người dân mới có thể đóng góp cho Nhà nước và ngược lại. Vậy thuế xuất hiện trong xã hội loài người với hai điều kiện cần và đủ - đó là sự xuất hiện của Nhà nước và sự xuất hiện thu nhập xã hội. Khái niệm Hiện nay khái niệm thuế đã được bổ sung, chỉnh sửa và hoàn thiện như sau: Thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung. 3. Các đặc trưng cơ bản của thuế Thứ nhất, thuế là khoản trích nộp bằng tiền Về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, điều này trái ngược với các hình thức thanh toán bằng hiện vật đã tồn tại trước đây. + Trước đây: Thông thường là các hình thức nộp cho thuế đất. Nhà Vua ban đất cho giới quý tộc, nên họ phải cống nạp cho triều đình bằng sự phục vụ của chính bản thân và những sản phẩm do nông nô trong các trang trại sản xuất ra. Đây cũng là nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm quan trọng và là một trong những hình thức nộp thuế TS bằng hiện vật đầu tiên. Vào thế kỷ thứ 13, các hình thức quản lý hành chính mới được hình thành. Mỗi khu vực hành chính do một lãnh chúa đứng đầu. Lãnh chúa giao đất cho nông dân và nông dân phải nộp thuế bằng nông sản + Hiện nay: Cá nhân và doanh nghiệp có thể đến cơ quan thuế nộp trực tiếp bằng tiền: Nộp tiền thuế trực tiếp vào kho bạc Nhà nước hoặc thông qua ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng và tổ chức dịch vụ khác theo quy định tại khoản 13 Điều 1 Nghị định số 106/2010/NĐ-CP của Chính phủ. Giao dịch điện tử để nộp thuế: Theo quy định của Thông tư 180/2010/TT-BTC có hiệu lực từ 1/1/2011, người nộp thuế có thể thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế (trừ trường hợp nộp thuế qua giao dịch trực tiếp với ngân hàng mà ngân hàng có quy định khác). Người nộp thuế sẽ có thể lựa chọn các hình thức nộp thuế điện tử như: Giao dịch trực tiếp với ngân hàng nơi người nộp thuế mở tài khoản thông qua các kênh giao dịch điện tử (Internet, Mobile, ATM) của ngân hàng để thực hiện thủ tục nộp thuế, hoặc thông qua cổng thông tin điện tử của cơ quan thuế. Sự phát triển của quan hệ hàng hoá - tiền tệ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thuế, đổi lại, nghĩa vụ của đối tượng nộp thuế được thực hiện bằng tiền lại góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế thị trường. Nhà nước dùng nguồn tiền thu từ thuế tác động đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội như tiết kiệm, đầu tư, tiêu dùng, xuất nhập khẩu, giá cả, thị trường, việc làm, thất nghiệp, công bằng xã hội,… Thứ hai, thuế là khoản trích nộp bắt buộc được thực hiện thông qua con đường quyền lực: - Tính bắt buộc của thuế xuất phát từ đặc tính của hàng hóa công cộng Tính bắt buộc của thuế xuất phát từ đặc tính của hàng hóa công cộng là có thể sử dụng chung và khó có thể loại trừ: + Có thể sử dụng chung: Nghĩa là việc một cá nhân này đang sử dụng hàng hóa đó không ngăn cản những người khác sử dụng nó. Ví dụ: con đường xây dựng nên thì tất cả mọi người đều được đi trên nó, pháo hoa được bắn lên thì mọi người đều được nhìn thấy nó. + Khó có thể loại trừ  Hàng hóa công cộng một khi đã được cung cấp tại một địa phương nhất định thì không thể hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa của mình. Ví dụ : Quốc phòng là hàng hóa công cộng nhưng quân đội không chỉ bảo vệ những người trả tiền mà không bảo vệ những người không trả tiền đó. Mọi người đều có quyền thụ hưởng những hàng hóa công cộng như quốc phòng, môi trường pháp luật, phòng dịch bệnh, tu sửa đường xá, đê điều,… song không ai tự nguyện trả tiền cho việc thụ hưởng đó. Vì vậy để đảm bảo chi tiêu công, Nhà nước phải dùng quyền lực của mình để bắt buộc các thể nhân, pháp nhân phải nộp thuế cho Nhà nước. - Được thực hiện thông qua con đường quyền lực qua hệ thống pháp luật thuế. Bao gồm : + Luật Quản lý Thuế + Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt + Luật thuế Thu nhập cá nhân + Luật thuế Giá trị gia tăng + Luật thế thu nhập doanh nghiệp … Các doanh nghiệp phải có trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế. Trong luật quản lý thuế có quy định các biện pháp cưỡng chế Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế là hoạt động cưỡng chế mang tính quyền lực của Nhà nước phát sinh khi có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế. Do đó, đối tượng nộp thuế không có quyền trốn thuế hoặc mong muốn tự mình ấn định hay thoả thuận mức đóng góp của mình mà chỉ có quyền chấp thuận. Những đối tượng nộp thuế vi phạm luật sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hoặc cưỡng chế thi hành theo quy định của pháp luật để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế. Đây là đặc điểm bao trùm nhất của thuế. Thứ ba, thuế là khoản thu có tính chất xác định: Thuế là khoản thu xác định của các tổ chức thụ hưởng, đó là Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương. Nhờ các căn cứ tính thuế mà đối tượng chịu thuế cũng như cơ quan thuế tính được số tiền mà tổ chức, cá nhân phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Trong đó căn cứ tính thuế như là thuế suất áp dụng trên từng đối tượng chịu thuế. Ví dụ như, đối với thuế GTGT, mức thuế suất 5% áp dụng với hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng thiết yếu; đối với thuế thu nhập, doanh nghiệp mức thuế suất khoảng 25% áp dụng với thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; thuế xuất khẩu, mức thuế suất 15% áp dụng với hàng quặng xuất khẩu,… Nhờ đó mà hàng năm có thể xác định được khoản tiền thuế thu vào ngân sách là bao nhiêu. Thứ tư, thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể, không có tính hoàn trả trực tiếp - Thuế là một khoản thu không có đối khoản cụ thể Nghĩa là, số tiền thu được từ thuế sẽ được nhà nước chi dùng cho nhiều mục tiêu khác nhau, và việc định ra một loại thuế không nhằm đáp ứng một khoản chi cụ thể của nhà nước. Điều này thể hiện rõ ở chỗ nguồn thu từ mỗi loại thuế không được quy định gắn với mục đích chi tiêu cụ thể nào cả mà đều được sử dụng để đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. - Không có tính hoàn trả trực tiếp Trước khi thu thuế, Nhà nước không hề cung ứng trực tiếp một dịch vụ nào cho người nộp thuế. Sau khi thu thuế, Nhà nước cũng không có sự bồi hoàn trực tiếp nào cho người nộp thuế. Tuy nhiên một phần thuế được hoàn trả gián tiếp cho người nộp thuế thông qua các hàng hóa công cộng, bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế-xã hội, chi xây dựng cơ sở hạ tầng, và tòa án, viện kiểm soát, hệ thống quân đội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm cuộc sống cho mọi người; chi cho hệ thống giáo dục, nghiên cứu khoa học công nghệ, y tế, văn hóa, nghệ thuật,thể dục thể thao; chi cho hệ thống an sinh xã hội, chi hỗ trợ đảm bảo công bằng cho mọi người . Phân loại Lợi ích của việc phân loại thuế là tạo ra một cách tiếp cận tổng hợp đối với cơ cấu thuế. Căn cứ theo đặc điểm, công dụng, chức năng và vai trò của từng loại thuế đối với quá trình phát triển kinh tế, xã hội và tuỳ theo mục tiêu, yêu cầu của quản lý mà người ta có thể đưa ra các cách phân loại thuế khác nhau, từ đó nhằm sử dụng phát huy vai trò tích cực của từng công cụ thuế trong quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu: Phân loại theo tính chất Kinh tế Theo cách này, thuế có thể được phân loại dựa theo 3 tiêu thức chủ yếu: theo các yếu tố kinh tế bị đánh thuế; theo tác nhân kinh tế chịu thuế hoặc theo lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế Nếu dựa theo yếu tố kinh tế bị đánh thuế, thuế được chia thành: Thuế đánh vào thu nhập: + Thuế thu nhập doanh nghiệp: là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế. Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hiện nay là 25% trên thu nhập chịu thuế. + Thuế thu nhập cá nhân: là loại thuế đánh vào thu nhập cá nhân gồm: tiền lương, tiền công, lợi tức cổ phần và các khoản thu nhập khác. Thuế đánh vào tiêu dùng (sử dụng thu nhập) + Thuế giá trị gia tăng (VAT): là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất lưu thông đến tiêu dùng. Ba mức thuế VAT như sau: Mức thuế 0% áp dụng cho hàng hoá xuất khẩu phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, xuất khẩu phần mềm, các dịch vụ cho công ty hoạt động trong khu chế xuất, hàng hoá do nhà thầu phụ sản xuất và hàng của một doanh nghiệp đầu tư nước ngoài bán cho khác hàng là người nước ngoài nhưng giao nhận tại Việt Nam; và các hoạt động xây lắp cho các dự án xây dựng nước ngoài Mức thuế 5% áp dụng cho khoảng 41 nhóm hàng hoá và dịch vụ như than, máy móc, sản phẩm luyện kim, khuôn đúc, hoá chất, máy tính và linh kiện, chất nổ, săm lốp, que hàn, dịch vụ xây lắp, dịch vụ sửa chữa thiết bị , dịch vụ đăng ký phương tiện giao thông vận tải, các sản phẩm xi măng công nghiệp, nhựa thông, đường, mía, nước uống, phân bón, thuốc trừ sâu, thiết bị y tế, dược phẩm, đồ chơi, sản phẩm nông lâm nghiệp chưa qua chế biên, máy tính và đĩa vi tính Mức thuế 10% áp dụng cho 16 hạng mục hàng hoá và dịch vụ đặc biệt cùng với nhóm hàng thứ 17 bao gồm bất kỳ loại hàng hoá và dịch vụ nào không bao gồm trong hai mức thuế nói trên như kinh doanh vàng, bạc và đá quý, đại lý vận chuyển đường biển, dịch vụ môi giới, ôtô bốn chỗ, dầu mỏ, khí ga, đồ điện tử, thiết bị gia dụng, vải, quần áo, xây dựng, lắp đặt, bưu chính, viễn thông, tư vấn, kế toán, dịch vụ du lịch và vận chuyển đường biển. Thuế đánh vào tài sản. VD: Doanh nghiệp có tài sản là quyền sử dụng đất phải đóng thuế đất. Nếu dựa theo yếu tố và tác nhân kinh tế chịu thuế, có các loại: Thuế đánh vào doanh nghiệp. Doanh nghiệp hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam phải chịu các khoản thuế sau: Thuế môn bài. Thuế xuất nhập khẩu Thuế thu nhập cá nhân Thuế tài nguyên Thuế tiêu thụ đặc biệt Phí, lệ phí khác Tiền thuê đất Thuế đánh vào hộ gia đình. Thuế đánh vào sản phẩm: VD: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; Rượu; Bia; Xe ô tô; Tàu bay, du thuyền; Xăng các loại; Bài lá; Vàng mã, hàng mã; Kinh doanh vũ trường; Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke)…. Nếu dựa theo lĩnh vực, thuế được phân chia theo các lĩnh vực kinh tế bị đánh thuế. Ví dụ: thuế đánh vào bảo hiểm, thuế đánh vào tiết kiệm, thuế đánh vào bất động sản... Phân loại theo tính chất kỹ thuật Cách phân loại này được dựa vào các tiêu thức kỹ thuật trong việc đánh thuế, mang tính cổ điển, được sử dụng nhiều nhất và thường là trung tâm của các cuộc tranh luận. Theo cách này, thuế được phân thành các nhóm chủ yếu sau: Thuế trực thu và thuế gián thu Thuế trực thu Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp vào khoản thu nhập, lợi ích thu được của các tổ chức kinh tế hoặc cá nhân. Thuế trực thu trực tiếp điều tiết vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế Ở nước ta hiện nay, thuế trực thu bao gồm: Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập cá nhân, Thuế chuyển quyền sử dụng đất... Thuế gián thu Là loại thuế do các nhà sản xuất, thương nhân hoặc người cung cấp dịch vụ nộp cho Nhà nước thông qua việc cộng số thuế này vào giá bán cho người tiêu dùng chịu. Ở nước ta hiện nay, thuế gián thu bao gồm: Thuế giá trị gia tăng Thuếtiêu thụ đặc biệt Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu. Thuế tỷ lệ và thuế luỹ tiến Thuế tỷ lệ: là loại thuế áp dụng một thuế suất như nhau đối với mọi đối tượng chịu thuế. Thuế luỹ tiến là loại thuế áp dụng các thuế suất tăng dần đối với các nhóm đối tượng chịu thuế hoặc toàn bộ đối tượng chịu thuế. Thông thường, đối với các sắc thuế tiêu dùng thường áp dụng thuế suất tỷ lệ; đối với các sắc thuế thu nhập, thuế tài sản có thể áp dụng thuế suất luỹ tiến. Thuế theo mức riêng biệt hoặc thuế theo giá trị Loại thuế có mức riêng biệt: (cũng có thể được dịch là thuế đặc biệt, quen được gọi là thuế tuyệt đối) Nếu trong đó, mức thuế suất được xác định bằng mức tiền riêng biệt trên một đơn vị vật chất của đối tượng bị đánh thuế (trọng lượng, khối lượng, diện tích...), độc lập với giá trị tiền tệ của chúng. Thuế tính theo giá trị: Là loại thuế được tính toán bằng cách áp dụng một tỷ lệ (hoặc tỷ lệ phần trăm) trên căn cứ tính thuế. 4.3 Phân loại theo tính chất hành chính Cách phân loại này thường được sử dụng trong kế toán quốc gia, theo đó, dựa vào cách tổ chức quản lý thu và cấp ngân sách thụ hưởng chúng: thuế được phân thành hai loại: + Thuế nhà nước (quốc gia) + Thuế địa phương. Ở Việt Nam, Nhà nước được xây dựng theo nguyên tắc tập trung - dân chủ: Trung ương thống nhất ban hành pháp luật, chính sách; các cấp chính quyền địa phương không được phép ban hành và quản lý thu các loại thuế riêng. Tất cả các nguồn thu thuế do Nhà nước thống nhất quản lý và việc phân bổ nguồn lực cho các địa phương, phân chia các nguồn thu từ thuế trên địa bàn được thực hiện theo quy định của Luật ngân sách nhà nước. Vì vậy, hiện hành ở nước ta không sử dụng cách phân loại này. SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG THUẾ Ở VIỆT NAM Dưới thời phong kiến Nhà Lê đã có hai loại thuế chính là: Thuế trực thu (thuế than, thuế điền) Thuế gián thu (đánh vào hoạt động thủ công nghiệp). Đến thời Nhà Nguyễn, chế độ thuế cũng chia làm hai loại: Thuế chính phú (thực chất đây là thuế trực thu) gồm các thuế điền thổ, thuế than, thuế tạp dịch Thuế tạp phú (thực chất đây là thuế gián thu) gồm thuế cảng, thuế quan tân, thuế hầm mỏ, thuế các hộ sản xuất. Thời phong kiến nửa thuộc địa (từ cuối thế kỷ XIX đến năm 1945) Một mặt, về cơ bản các loại thuế thời Nguyễn vẫn được duy trì nhưng ở mức độ nặng nề hơn Mặt khác, thực dân Pháp cho kinh doanh thuốc phiện, mở sòng bạc, quán rượu, tiệm nhảy,… để thu thuế. Ngoài chế độ thuế khóa nặng nề nhân dân còn bị bọn tham quan, ô lại nhũng nhiễu. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, chính phủ đã hủy bỏ thuế thân, giảm, miễn thuế ruộng đất, thuế môn bài. Chính phủ ban hành các sắc lệnh về thuế nhằm đáp ứng một phần chi tiêu cho kháng chiến chống Pháp, phát triển để sản xuất. Trong thời gian khá dài, nền kinh tế được quản lý theo mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp. Trong cơ chế quản lý này, vai trò của thị trường và hạch toán kinh tế bị coi nhẹ. Ngân sách Nhà nước dưạ vào chế độ thu hoặc bù theo chi tiêu. Vai trò của thuế với ý nghĩa thực sự của nó không quan trọng lắm. Chuyển sang thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, thuế bắt đầu có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước. Hệ thống thuế hiện hành ở Việt Nam bao gồm: Thuế giá trị gia tăng Thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu Thuế tiêu thụ đặc biệt Thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập cá nhân Thuế tài nguyên Thuế chuyển quyền sử dụng đất Các sắc thuế khác như thuế môn bài, … PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA THUẾ ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ XÃ HỘI VÀ LIÊN HỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy động tập trung một phần của cải vật chất trong xã hội vào NSNN Đây là vai trò quan trọng nhất của thuế đối với nền kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Việc các chủ thể nộp thuế - thực hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của pháp luật thuế đã tạo ra nguồn tài chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân. ngân sách Nhà nước. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN Thuế chiếm một tỷ trọng rất lớn trong thu NSNN. Nhà nước có thể thu ngân sách từ nhiều nguồn khác nhau nhưng không có nguồn thu nào ổn định và bền vững bằng thuế. Vì mang tính không hoàn trả trực tiếp nên nhà nước có thể yên tâm dùng thuế làm công cụ chủ yếu để thu ngân sách, phục vụ các chi tiêu của quốc gia mà không phải lo lắng về nghĩa vụ bồi hoàn hay trả nợ. Hàng năm, thuế luôn đóng góp khoảng trên 90% vào tổng thu ngân sách nhà nước. Đơn vị: tỷ đồng Năm 2008 2009 2010 Dự toán thu NSNN 323.000 389.900 461.500 Thu từ thuế, phí 300.100 364.472 432.536 Thuế/tổng thu NSNN 93% 93.5% 93.7% (Nguồn: www.mof.gov.vn) Với việc đóng góp một tỷ trọng cao và ngày càng tăng lên trong tổng thu ngân sách nhà nước, thuế đang ngày càng chứng tỏ vai trò chủ đạo của mình trong việc huy động tài chính công phục vụ chi tiêu cho cả quốc gia. Chủ thể nộp thuế rất rộng. Hầu hết mọi cá nhân, tổ chức sống, hoạt động và thực hiện các giao dịch trong phạm vi quy định đều phải nộp thuế vào ngân sách nhà nước. Các cá nhân, tổ chức khi thực hiện bất kỳ giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ hay tài sản nào cũng đều phải nộp thuế trên giá trị hàng hóa đó. Loại thuế không thể tránh được là thuế giá trị gia tăng, ngoài ra còn có thể có thuế xuất nhập khẩu hay thuế tiêu thụ đặc biệt. Khi thực hiện các giao dịch khác liên quan đến tài sản của mình, tổ chức và cá nhân cũng phải nộp thuế vào ngân sách nhà nước. Cá nhân có thu nhập cao phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Mọi doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh có lãi đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Như vậy, hầu như không ai sống trong xã hội mà không phải nộp thuế cho nhà nước. Từ những người nội trợ, người làm việc văn phòng, doanh nhân cho đến các tổ chức hoạt động vì mục tiêu phi lợi nhuận hay các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh kiếm lời đều phải thường xuyên đóng thuế vào ngân sách Nhà nước. Đối tượng đánh thuế bao quát toàn bộ nền kinh tế. Đối tượng đánh thuế trong mỗi nền kinh tế rất rộng lớn và gần như bao quát toàn bộ nền kinh tế - xã hội của quốc gia đó. Thuế đánh vào tiêu dùng: là loại thuế phổ biến và có tính thường xuyên, ổn định nhất. Không có tổ chức, cá nhân nào có thể tồn tại trong nền xã hội mà không tiêu dùng. Vì vậy, đánh thuế vào tiêu dùng là một chính sách giúp ổn định nguồn thu và tạo tính công bằng xã hội. Mọi hàng hóa, dịch vụ lưu thông trên thị trường đều phải chịu thuế, trong đó, thuế phổ biến nhất là thuế giá trị gia tăng. Tiêu dùng ở đây không chỉ nói đến tiêu dùng cho đời sống và sinh hoạt hàng ngày của người dân mà còn nói đến nhu cầu mua sắm nói chung, kể cả mua sắm nguyên vật liệu, trang thiết bị, cơ sở vật chất của các tổ chức, doanh nghiệp trong cả nước. Vì vậy, thuế đánh vào tiêu dùng đã tạo nên nguồn thu ổn định nhất cho ngân sách. Thuế đánh vào tài sản: mọi hoạt động, giao dịch liên quan đến tài sản của tổ chức, cá nhân đều phải chịu thuế của Nhà nước. Ở Việt Nam hiện nay, tài sản bị đánh thuế có rất nhiều chủng loại và giá trị thường cao, thêm vào đó, các hoạt động, giao dịch liên quan đến tài sản là rất đa dạng như đăng ký tài sản, thừa kế, biếu, tặng, chuyển nhượng tài sản (nhà, đất, vốn, trái phiếu...), khai thác tài nguyên quốc gia... nên nó tạo nên một nguồn thu tương đối lớn cho ngân sách Nhà nước. Đặc biệt, trong những tài sản này, thuế thu được từ bất động sản chiếm một tỷ trọng rất lớn. Hàng năm, lượng bất động sản được giao dịch với số lượng rất lớn như mua, bán, tặng, thừa kế… thêm vào đó, đây lại là hàng hóa có giá trị cao nên thuế thu được từ tài sản này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu ngân sách Nhà nước. Thuế đánh vào thu nhập: hai loại thuế thu nhập mang tính thường xuyên và ổn định nhất là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Hầu hết các doanh nghiệp tham gia sản xuất, kinh doanh có lãi đều phải trích nộp 25% lợi nhuận của mình vào ngân sách nhà nước. Luật thuế thu nhập cá nhân năm 2007 quy định cá nhân có thu nhập trên 4 triệu đồng phải đóng thuế thu nhập cá nhân. Nhà nước huy động thuế vào ngân sách nhà nước bằng cả hình thức thu trực tiếp lẫn gián tiếp Nhà nước sử dụng công cụ thuế để thu ngân sách khá triệt để bằng cả hai hình thức là thu trực tiếp (thuế trực thu) và thu gián tiếp (thuế gián thu). Dù là bằng hình thức trực tiếp hay gián tiếp, mọi đối tượng thực hiện các hoạt động, giao dịch để có được thu nhập, thu được lợi ích đều phải nộp thuế vào ngân sách Nhà nước. Phương pháp này giúp Nhà nước quản lý rất hiệu quả công tác thu ngân sách của mình, hạn chế tối đa được thất thu ngân sách. Thuế là nguồn động viên GDP vào NSNN Thuế là nguồn động viên GDP vào ngân sách nhà nước để chính phủ có tiền thực hiện các nhiệm vụ chi tiêu công, nhằm thực hiện việc phân phối lại tổng sản phẩm cho xã hội. Hiện nay, thuế chiếm khoảng 20% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Giai đoạn 2001-2005 Tổng thu nội địa năm 2005 ước đạt 170.500 tỷ đồng, tăng 19,1% so với cùng kỳ. Hầu hết các khoản thu, sắc thuế chiếm tỷ trọng lớn đều hoàn thành vượt mức dự toán pháp lệnh và có mức tăng trưởng cao so với năm trước. Cụ thể là: Tổng thu NSNN 5 năm ước đạt 770.000 tỷ đồng (vượt 150.000 tỷ đồng) đạt khoảng 25,1% GDP Tổng số thu thuế và phí 5 năm ước đạt 708.000 tỷ đồng (vượt 148.000 tỷ đồng) Điều đáng nói là cơ cấu số thu về thuế đã chuyển theo hướng tích cực, tỷ trọng thu nội địa (trừ dầu thô) trong tổng thu Ngân sách Nhà nước đã tăng từ 50,7% năm 2001 lên 55% năm 2005. Ngược lại, thu từ xuất nhập khẩu giảm từ 22,1% năm 2001 xuống còn 17,9% năm 2005. Tỷ trọng nguồn thu từ các cơ sở kinh doanh so với thu nội địa ngày càng tăng, nếu trong giai đoạn 1996-2000 mới chỉ chiếm 66,4% thì đến giai đoạn 2001-2005 đã chiếm tới 71,4%, bình quân mỗi năm tăng 19,9%. Giai đoạn 2006-2010 Kết quả thu ngân sách Nhà nước năm 2010 do ngành thuế quản lý ước đạt 400,8 nghìn tỷ đồng, vượt 11% so dự toán ngân sách pháp lệnh tăng 21,4% so với năm 2009. Trong đó : Thu từ dầu thô ước đạt 70.8 nghìn tỷ đồng, vượt 6,8% dự toán và tăng 17% so với 2009.Sản lượng dầu thô thanh toán ước đạt 14 triệu tấn, bằng 95,4% sản lượng kế hoạch đã đề ra; giá dầu thô bình quan đạt 78,5 USD/thùng, tăng 10,5 USD/thùng tương đương 15,4% so dự toán. Thu nội địa ước đạt 330 nghìn tỷ đồng, tăng 22,4% so với cùng kỳ Với kết quả này, ngành thuế đã hoàn thành mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010. Tổng thu nội địa 5 năm ước đạt 1.551 nghìn tỷ đồng, bằng 116,5% so với dự toán, vượt 2,1% so với mục tiêu đề ra, tăng gấp 2,5 lần so với thực hiện giai đoạn 2001 - 2005, tốc độ tăng thu bình quân đạt 16,5%/năm.  Trong đó: Thu dầu thô đạt 383 nghìn tỷ đồng, bằng 115,8% so với dự toán, tăng gấp 1,9 lần so với thực hiện giai đoạn 2001 - 2005; thu nội địa trừ dầu đạt 1.168 nghìn tỷ đồng, bằng 116,7% so với dự toán, tăng gấp 2,8 lần so với thực hiện giai đoạn 2001 - 2005; đạt mức tăng trưởng bình quân 22,5%/năm.  Theo tổng cục thuế “Kết quả thu như trên đã góp phần đưa tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước đạt 27,9% GDP, trong đó tỷ lệ huy động từ thuế phí đạt 25,2% GDP, cao hơn so với mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 10 đã đề ra là 21-22% GDP” Cũng theo Tổng cục Thuế, cơ cấu nguồn thu đã thay đổi theo chiều hướng tích cực, tỷ trọng thu từ các yếu tố tài nguyên đất đai, dầu thô ngày càng giảm, tỷ trọng thu từ nội lực của nền kinh tế ngày càng tăng.  Cụ thể, tỷ trọng thu từ dầu thô trong tổng thu ngân sách nhà nước giảm từ 29,8% năm 2006 xuống còn 13,4% năm 2010; tỷ trọng thu nội địa trừ dầu tăng từ 52,0% năm 2006 lên 62,5% năm 2010; tỷ trọng nguồn thu từ khu vực sản xuất kinh doanh trong tổng thu nội địa trừ dầu ngày càng tăng, giai đoạn 2001-2005 chiếm 62,4% thì giai đoạn 2006-2010 tăng lên 67,1%, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm là 22,5%/năm. Thu sản xuất kinh doanh trong nước (không kể thu từ dầu thô, từ đất đai) tăng từ 2-2,2 lần so với giai đoạn 2006-2010, tốc độ tăng trưởng thu bình quân hàng năm tăng từ 15-16%/năm. Tỷ trọng nguồn thu từ sản xuất kinh doanh trong nước (không kể thu từ dầu thô) trong tổng thu ngân sách nhà nước phấn đấu chiếm 68%-70%. Với nhiệm vụ trước mắt, ngành thuế đặt mục tiêu hoàn thành vượt mức ít nhất 5% nhiệm vụ thu ngân sách năm 2011 đã được Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tài chính giao là 451,3 nghìn tỷ đồng, trong đó thu dầu thô là 69,3 nghìn tỷ đồng; thu nội địa là 382 nghìn tỷ đồng Về nhiệm vụ công tác thuế giai đoạn 2011-2015, Tỷ lệ huy động bình quân từ thuế, phí đạt khoảng 22% - 23% GDP.Trong đó thu từ thuế , phí đạt trên 21% GDP. Dự toán thu nội địa của cả nước (không kể thu từ dầu thô, thu tiền sử dụng đất) nội địa tối thiểu tăng gấp 1,9 lần so với giai đoạn 2006-2010 và tăng bình quân tối thiểu 17-19% so với đánh giá ước thực hiện năm 2010 Dự toán thu từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng tối thiểu 7-9% so đánh giá ước thực hiện năm 2010( cả hai mức dự toán này đã loại trừ các yếu tố tác động do thực hiện gia hạn thuế trong năm 2009 và 2010)  2. Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế và đời sống xã hội Thứ nhất : Thông qua pháp lệnh về thuế, Nhà nước chủ động tác động đến cung - cầu của nền kinh tế góp phần phân bổ lại nguồn lực nhằm thực hiện tốt chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Thuế có tác động định hướng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thông qua tác động trực tiếp tới cung- cầu thị trường Chính sách thuế phải thiết thực, góp phần chuyển được cơ cấu kinh tế cũ, lạc hậu sang cơ cấu kinh tế mới hiện đại, hợp lý và thay đổi được tỷ lệ tương quan giữa các ngành trong GDP, đúng chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế phụ thuộc một phần rất lớn vào mối quan hệ cung cầu của thị trường. Có nhu cầu tất yếu đòi hỏi phát triển sản xuất, dịch vụ để đủ cung ứng cho nhu cầu và ngược lại. Mục tiêu của chuyển dịch cơ cấu kinh tế là làm tăng tổng cung gắn với kích cầu để quá trình chuyển dịch cơ cấu đạt hiệu quả tốt. Tổng cầu tăng hay giảm phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan, chủ yếu là thu nhập của các tầng lớp dân cư, giá cả từng loại sản phẩm, cơ cấu hàng hoá trên thị trường….. Ảnh hưởng của chính sách thuế thông qua các mức thuế, các chế độ miễn giảm, các chế độ quản lý thu thuế khác nhau có vai trò quan trọng đến việc tạo nên tổng cầu theo hai hướng: khuyến khích phát triển hay hạn chế. Thuế cũng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới cung của thị trường. Đó là việc đánh thuế cao hay thấp vào các yếu tố sản xuất, tiêu dùng, thu nhập. Đối với sản xuất: + Nhà nước sử dụng thuế nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, khuyến khích hoặc hạn chế các ngành sản xuất mong muốn. Thực tế, đối với các ngành sản xuất yếu kém trong nước, khả năng cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu kém cả về giá cả và chất lượng, nếu muốn duy trì và phát huy các ngành này, buộc nhà nước phải có chính sách bảo hộ nhất định để hạn chế được tính cạnh tranh gay gắt từ các mặt hàng nhập khẩu cùng loại, và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước tăng sản xuất. Nhà nước có thể điều tiết, hướng dẫn tiêu dùng, bảo vệ sản xuất trong nước, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thay thế nguyên liệu nhập khẩu bằng nguyên liệu sản xuất sẵn có trong nước theo mức độ tỷ lệ nội địa hoá, góp phần tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong nước, đặc biệt trong tiến trình hội nhập hiện nay, làm cho hàng hoá trong nước có sức cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa cũng như thị trường quốc tế. Thông qua thuế nhập khẩu, chính sách thuế sẽ tác động đến giá cả hàng hóa trên thị trường, là công cụ hữu hiệu để hướng dẫn sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ lĩnh vực đầu tư kém hiệu quả sang lĩnh vực đầu tư có hiệu quả hơn. Đối với những hàng hoá là máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu… phục vụ sản xuất, việc đánh thuế với thuế suất thấp có tác dụng làm giảm chi phí “đầu vào” của sản xuất, giúp doanh nghiệp sản xuất trong nước có điều kiện đổi mới công nghệ, giảm giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm. Khi đánh thuế hàng nhập cao, giá hàng nhập đắt sẽ khuyến khích tiêu dùng hàng sản xuất trong nước. Với điều kiện đó, hàng sản xuất trong nước có thế cạnh tranh hơn,  giá thành hạ so với hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực thì vai trò bảo hộ của thuế nhập khẩu sẽ bị hạn chế do thực hiện các cam kết khu vực và quốc tế. Hơn nữa nếu các quốc gia quá dựa vào vai trò bảo hộ từ thuế nhập khẩu, không những làm cho chính sách thuế nhập khẩu ảnh hưởng không lợi đến chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước trong bối cảnh mới, mà còn làm cho nền sản xuất trong nước trì trệ, kém phát triển, nhân dân thường xuyên phải dùng hàng hoá với giá đắt và mẫu mã không được đổi mới theo xu thế phát triển của khu vực và thế giới Ví dụ: Điển hình là ngành sản xuất ô tô. Theo cam kết WTO, tất cả các loại ôtô chở người  đều quy về một mức thuế suất NK là 47%. Trong khi theo cam kết ASEAN/AFTA, ôtô chở người dưới 9 chỗ trong khu vực này NK vào VN sẽ áp mức thuế suất 0% từ năm 2018. Do đó, hiện nay Việt nam vẫn đang duy trì mức thuế suất NK ô tô rất cao, nhằm bảo hộ cho các doanh nghiệp sản xuất ô tô nội địa. Cụ thể, mức thuế suất ô tô nhập khẩu mới năm 2011 như sau: Loại động cơ Dung tích Thuế NK mới (%) ThuếTTĐB (%) Thuế GTGT (%) Tổng thuế mới (%) Thay đổi so với 2010 (%) Xe 1 cầu Xe 2 cầu Xe 1 cầu Xe 2 cầu Xe 1 cầu Xe 2 cầu Xăng Dưới 2lit 82(83) 82(83) 45 10 290,3 290,3 0,5 0,5 2-2,5 lít 82(83) 82(83) 50 300,3 300,3 0,5 0,5 2,5-3 lít 77(80) 77(80) 50 292 292 1,7 1,7 Trên 3 lít 77(80) 72(77) 60 311,5 302,7 1,7 2,8 Dầu Dưới 2lit 82 82 45 10 290,3 290,3 0,5 0,5 2-3lit 50 300,3 300,3 0,5 0,5 Trên 3lit 60 320,3 320,3 0,5 0,5 Thuế nhập khẩu ô tô đã qua sử dụng năm 2011 cũng duy trì ở mức 150%. Như vậy là rất cao so với mức thuế nhập khẩu ô tô của WTO là 47%. + Khuyến khích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh một số ngành nghề Với việc thiết kế và xây dựng hệ thống chính sách thuế có phân biệt theo ngành, vùng khác nhau, Nhà nước có thể thúc đẩy phát triển nhiều ngành nghề kinh tế mũi nhọn, then chốt và các vùng kinh tế trọng điểm, góp phần khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo bước công nghiệp hóa - hiện đại hóa.. Chính sách thuế phân biệt theo thuế suất cao, thấp khác nhau đối với từng ngành nghề sản xuất kinh doanh, đối với từng sản phẩm, dịch vụ, tuỳ thuộc vào sự cần thiết của sản xuất và đời sống xã hội, tự nó đã có tác dụng điều chỉnh việc phân bổ lại nguồn vốn đầu tư trong xã hội. + Việc áp dụng các hình thức ưu đãi (thuế suất, thời gian miễn giảm thuế…) đối với hàng hoá, dịch vụ phù hợp với hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế thường sẽ làm cho giá cả hàng hoá dịch vụ đó giảm xuống. Khi giá cả hàng hoá, dịch vụ giảm thì lượng cầu sẽ tăng lên. Để đáp ứng cho sự gia tăng về cầu hàng hoá, các doanh nghiệp  sẽ mở rộng quy mô sản xuất nhằm thu lợi nhuận nhiều hơn. + Ngược lại, khi áp dụng thuế suất cao, giá tăng sẽ có giảm sút về cầu, thu hẹp quy mô sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ tìm lĩnh vực đầu tư mới để chuyển dịch cơ cấu kinh tế với mục đích sản xuất mặt hàng khác có thể tạo lợi nhuận nhiều hơn. + Với chính sách ưu đãi qua thuế suất, thời gian miễn giảm của thuế TNDN, Nhà nước có thể khuyến khích đầu tư trong nước cũng như đầu tư nước ngoài vào những ngành, những lĩnh vực và những vùng cần khuyến khích đầu tư. Chẳng hạn: áp dụng mức thuế suất thấp và miễn giảm hấp dẫn đối với các dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi đầu tư như các cơ sở sản xuất mới thành lập; đầu tư ở miền núi, hải đảo, các vùng có nhiều khó khăn - Đối với tiêu dùng Để hạn chế hay khuyến khích tiêu dùng, Nhà nước xây dựng một biểu thuế phù hợp, tác động trực tiếp đến tâm lý tiêu dùng của người dân. Ví dụ: - Đối với mặt hàng hạn chế tiêu dùng là thuốc lá, Nhà nước tiến hành tăng thuế suất từ 30% lên 50% và dự kiến tăng kịch sàn theo quy định của WTO là 100%. Các nghiên cứu cho thấy, khi giá thuốc lá tăng 10% sẽ làm giảm ít nhất 5% lượng thuốc lá tiêu thụ. - Hay việc quy định các mức thuế suất đối với thuế thu nhập cá nhân cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tiêu dùng. Thuế tăng cao, đồng nghĩa với việc thu nhập giảm, người dân buộc phải có những điều chỉnh trong chi tiêu thích hợp để hài hòa ngân sách của chính mình. Mức thuế thu nhập cá nhân lũy tiến tăng dần theo quy định như sau: Bậc thuế Phần thu nhập tính thuế/ năm Phần thu nhập tính thuế/tháng Thuế suất (%) 1 Đến 60 Đến 5 5 2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10 3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15 4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20 5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25 6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30 7 Trên 960 Trên 80 35 Thuế có vai trò phục vụ yêu cầu tài trợ cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế Vai trò tích cực của thuế với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn có thể được xem xét ở góc độ tài trợ. Tài trợ từ thuế được thực hiện bằng phương pháp: trực tiếp hay gián tiếp. Một là, thực hiện các thuế suất đặc biệt, cho miễn giảm thuế nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể kinh tế có thêm thu nhập để giải quyết yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Hai là, qua nguồn thu tăng nhiều từ thuế, Nhà nước có thêm vốn ban đầu cho các cơ sở, địa phương, vùng lãnh thổ có khó khăn trong việc thực hiện các chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế hoặc tài trợ cho các trường hợp dạy nghề để người lao động có trình độ thấp đáp ứng được yêu cầu phục vụ các ngành cần trình độ kỹ thuật công nghệ cao được hình thành trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển nông – lâm – ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, bảo quản sau thu hoạch, xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, hỗ trợ lưu thông nguyên, nhiên, vật liệu, tiêu thụ hàng hoá hay xây dựng các công trình thuỷ lợi ở những vùng thường xảy ra hạn hán nhằm nâng cao được năng suất lao động, bảo đảm được an toàn lương thực trong hoàn cảnh diện tích đất sản xuất nông nghiệp càng bị thu hẹp trong quá trình đô thị hoá. Thứ hai: Thuế là công cụ điều chỉnh giá cả thị trường và kiềm chế lạm phát Trong điều kiện kinh tế thế giới có nhiều biến động, khủng hoảng, suy thoái… và kinh tế trong nước vẫn đang trong giai đoạn phát triền, thị trường luôn có những biến động khó lường. Để kiểm soát được những biến động này, Nhà nước phải sử dụng kết hợp rất nhiều biện pháp và chính sách đồng thời. Trong đó, có sự tham gia của chính sách thuế. Sự tăng giá liên tục của thị trường gây ra tình trạng lạm phát khó kiểm soát. Dự báo tỷ lệ lạm phát của Việt Nam năm 2011 lên đến 11% Đối với các mặt hàng có sự tăng giá liên tục Nhà nước buộc phải có các chính sách thuế nhằm hỗ trợ điều chỉnh giảm giá. Ví dụ: Sự tăng giá của dầu thô khiến cho giá xăng dầu trong nước tăng cao, buộc Nhà nước phải điều chỉnh giảm thuế suất thuế nhập khẩu xăng dầu từ 15% - 20% tuỳ theo từng loại nhiên liệu xuống còn 0% Góp phần đảm bảo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và công bằng xã hội Thứ nhất, hệ thống pháp luật về thuế đã được áp dụng thống nhất cho các ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư Sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về thuế tại Việt Nam được thể hiện rõ từ quá trình ban hành và thực hiện các văn bản pháp luật. Cụ thể đó là mọi nguồn thu từ thuế, lệ phí đều do Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội đặt ra bằng luật và pháp lệnh và được áp dụng thực hiện thống nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Thêm vào đó, tính thống nhất còn được thể hiện qua việc hệ thống thuế ở nước ta không chia thành các sắc thuế quốc gia và các sắc thuế địa phương như ở một số nước. Thứ hai, chính sách động viên giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có cùng một điều kiện hoạt động Để đảm bảo sự bình đẳng, công bằng về cạnh tranh, lợi ích cũng như sự phát triển hài hòa giữa các chủ thể trong xã hội thì mức thuế suất được sử dụng để động viên là như nhau đối với các chủ thể có cùng một điều kiện hoạt động, và đi cùng với điều kiện hoạt động khác nhau là các mức thuế suất khác nhau. Minh họa cho đặc điểm này, có thể lấy vị dụ về mức thuế suất theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, Theo đó, thuế suất chung áp dụng cho các doanh nghiệp là 25%, tuy nhiên đối với tất cả các doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn sẽ được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm. Miễn thuế 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo, nếu doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực xã hội hóa tại địa bàn khó khăn… Thứ ba, Thuế góp phần giảm bớt khoảng cách giàu nghèo thông qua việc điều tiết thu nhập Trong nền kinh tế thị trường , thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó. Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác biệt về thu nhập của mỗi người. Chính sự khác biệt ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo, là sự bất bình đẳng trong xã hội. Và thuế là công cụ chính được nhà nước sử dụng để điều hòa vĩ mô thu nhập xã hội, thông qua cả hai hình thức thuế trực thu và thuế gián thu. + Đối với thuế trực thu Đây là loại thuế được nhà nước sử dụng để động viên và điều tiết trực tiếp thu nhập của các chủ thể trong xã hội, Trong đó điển hình là thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp. - Thuế thu nhập cá nhân với biểu thuế luỹ tiến từng phần đã giúp đảm bảo công bằng xã hội, giảm bớt khoảng cách giàu nghèo thông qua việc điều tiết mạnh thu nhập của những người có thu nhập cao và điều tiết ở mức độ hợp lý đối với các cá nhân có thu nhập trung bình hoặc thấp.   Thông thường, thuế thu nhập cá nhân chỉ đánh vào thu nhập cao hơn mức khởi điểm thu nhập chịu thuế, không đánh thuế vào những cá nhân có thu nhập vừa đủ nuôi sống bản thân và gia đình ở mức cần thiết. Thêm vào đó khi thu nhập cá nhân tăng lên thì tỷ lệ thu thuế cũng tăng thêm. Thêm vào đó còn có quy định miễn, giảm thuế cho những cá nhân mang gánh nặng xã hội. Tại Việt Nam biểu thuế suất thuế TNCN như sau: Bậc thuế Phần thu nhập tính thuế/ năm Phần thu nhập tính thuế/tháng Thuế suất (%) 1 Đến 60 Đến 5 5 2 Trên 60 đến 120 Trên 5 đến 10 10 3 Trên 120 đến 216 Trên 10 đến 18 15 4 Trên 216 đến 384 Trên 18 đến 32 20 5 Trên 384 đến 624 Trên 32 đến 52 25 6 Trên 624 đến 960 Trên 52 đến 80 30 7 Trên 960 Trên 80 35 Biểu thuế luỹ tiến từng phần (điều 22- Luật thuế thu nhập cá nhân 2007) Với nước ta, Luật thuế thu nhập cá nhân hiện nay vẫn chưa thực sự đáp ứng đầy đủ yêu cầu đảm bảo công bằng.Vì như đã biết tính chất công bằng trong một chính sách thuế liên quan đến cả công bằng dọc và công bằng ngang. Công bằng dọc tức là người có thu nhập cao hơn phải đóng góp nhiều hơn, trong khi công bằng ngang phải đảm bảo mức đóng góp như nhau cho những người có thu nhập ngang bằng nhau. Và có một thực tế ở nước ta hiện nay đó là không phải người nào giàu nhất cũng đang đóng thuế nhiều nhất nhưng lại có những nhóm người nghèo lại phải gánh những khoản thuế quá mức so với thu nhập và nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của họ. Do đó, việc cải cách cơ chế tiền lương theo hướng minh bạch, chẳng hạn như giảm các khoản phụ cấp không qua lương, sẽ góp phần làm tăng tính hiệu quả cho công cuộc cải cách thuế hướng đến mục tiêu công bằng hơn và hiệu quả hơn. - Thuế thu nhập doanh nghiệp cũng là công cụ quan trọng để thực hiện chức năng tái phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội. Trong nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh bình đằng. Theo đó, doanh nghiệp nào với lực lượng lao động có tay nghề cao, năng lực tài chính mạnh thì doanh nghiệp đó sẽ chiếm ưu thế và có cơ hội để nhận được thu nhập cao; ngược lại các doanh nghiệp với năng lực tài chính, lực lượng lao động bị hạn chế sẽ nhận được thu nhập thấp, thậm chí không có thu nhập. Ðể hạn chế nhược điểm đó, Nhà nước sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp làm công cụ điều tiết thu nhập của các chủ thể có thu nhập cao, đảm bảo yêu cầu đóng góp của các chủ thể kinh doanh vào ngân sách Nhà nước được công bằng, hợp lý. + Đối với thuế gián thu Có thể kể đến các loại thuế như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu.. Thuế gián thu điều tiết thu nhập thực tế có khả năng thanh toán của dân cư bằng việc đánh thuế cao với hàng hóa dịch vụ cao cấp, đánh thuế thấp với các hàng hóa dịch vụ thiết yếu đảm bảo đời sống của dân cư. Ví dụ: Nhà nước đánh thuế cao đối với mặt hàng ô tô – đây là loại hàng hóa mà chỉ những người có thu nhập cao mới mua được. Mặt hàng này phải chịu thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt với mức thuế suất rất cao. Như đối với xe ô tô chở từ 9 người trở xuống có dung tích xi lanh dưới 1,8 L và từ 1,8 L – 2,5L bị đánh thuế nhập khẩu 82 %. Trong khi đó lương thực, thực phẩm – những mặt hàng thiết yếu cho đời sống người dân thường chỉ phải chịu mức thuế thấp hoặc không đánh thuế. Thứ tư, Nguồn thuế thu được, một phần được sử dụng để phân phối lại cho các đối tượng chính sách, khó khăn trong xã hội. Thuế là nguồn thu chủ yếu để hình thành nên ngân sách nhà nước và nhà nước sẽ sử dụng ngân sách để trang chải cho các khoản chi tiêu công nhằm thực hiện vai trò và chức năng của mình. Trong các khoản chi của nhà nước thì khoản chi liên quan đến chi phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, chi các chương trình mục tiêu để hỗ trợ cho những người có thu nhập thấp, những người thuộc diện chính sách, đối tượng khó khăn… luôn chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi ngân sách của nhà nước. Và đặc biệt đối với Việt Nam- đất nước đang phấn đấu thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa- thì các khoản chi tiêu này là một trong số các ưu tiên hàng đầu trong quá trình phân bổ ngân sách của nhà nước. Ví dụ - Trong dự toán phân bổ ngân sách nhà nước năm 2011 được quốc hội thông qua thì tổng số chi ngân sách là 725.600 tỷ đồng, trong đó dành 143.400 tỷ đồng tập trung thực hiện đảm bảo an sinh xã hội như điều chỉnh chuẩn nghèo, thực hiện chế độ bảo hiểm y tế cho người nghèo, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, tăng chi đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, cải cách tiền lương. Hay như các chính sách hỗ trợ người nghèo như cho sinh viên và các hộ nghèo vay vốn ưu đãi… - Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định trợ cấp khó khăn từ ngân sách nhà nước thu được phần lớn do nguồn thuế cho cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, người hưởng lương hưu có mức lương thấp, người hưởng trợ cấp ưu đãi người có công và hộ nghèo đời sống khó khăn: Theo Quyết định 471/QĐ-TTg có hiệu lực từ 30/3/2011, mức trợ cấp cho 5 nhóm đối tượng với các mức 100.000 đồng/người và 250.000 đồng/người. Cụ thể: Đối tượng Mức hưởng 1 Đối tượng là những người có hệ số lương (lương chức vụ hoặc lương theo ngạch, bậc hiện hưởng) từ 3,00 trở xuống. 250.000 đồng/người 2 Người hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội mức thấp, đời sống khó khăn được hưởng trợ cấp khó khăn là những người có mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội từ 2,2 triệu đồng/tháng trở xuống. 250.000 đồng/người 3 Người có công với cách mạng hưởng trợ cấp thường xuyên (không bao gồm đối tượng hưởng trợ cấp tuất). 250.000 đồng/người 4 Người hưởng trợ cấp tuất (bao gồm cả đối tượng hưởng trợ cấp tuất bảo hiểm xã hội và trợ cấp tuất đối với người có công). 100.000 đồng/người 5 Hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ. 250.000 đồng/hộ KẾT LUẬN Như vậy, thuế có vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Thuế là khoản thu chủ yếu của NSNN và là công cụ quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nền kinh tế ngày càng phát triển, ngày càng có nhiều chính sách thuế mới được ra đời khiến hệ thống thuế trở nên đa dạng, linh hoạt và tác động sâu rộng đến mọi hoạt động kinh tế- xã hội. Đánh thuế không đơn thuần để tạo thu NSNN mà còn mang nhiều ý nghĩa quan trọng về kinh tế, xã hội, chính trị, đối nội, đối ngoại. Do đó Nhà nước cần phải có các biện pháp quản lý thu thuế hợp lý, hiệu quả nhằm phát huy được những tác động tích cực của thuế đối với hoạt động kinh tế- xã hội trong từng thời kỳ. CÁC NỘI DUNG CHÍNH I.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docPhân tích vai trò của thuế đối với nền kinh tế xã hội và liên hệ ở việt nam hiện nay.doc
Luận văn liên quan