Đề tài Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU: . 01 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ODA NHẬT BẢN: . 03 I. Khái niệm ODA: . 03 1. Khái niệm ODA: 03 2. Phân loại ODA: . 03 3. Ưu điểm và bất lợi khi tiếp nhận ODA: . 05 II.ODA Nhật Bản: . 06 1. Mục tiêu cấp ODA của Nhật Bản cho Việt Nam: . 06 2. Chính sách ODA của Nhật Bản tại Việt Nam: 09 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ODA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM . 13 I. Quy mô và cơ cấu: 13 1. Quy mô: .13 2. Cơ cấu: . 15 II. Đánh giá thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam: 25 1. Thành tựu: 25 2. Hạn chế: . 29 CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ODA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM . 33 I. Phương hướng vận động của ODA trong thời gian tới: .33 1. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm(2006-2010): 33 2. Phương hướng vận động của ODA trong thời gian tới: 34 II. Một số giải pháp nhằm thu hút và đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn ODA Nhật Bản vào Việt Nam: 36 KẾT LUẬN 38 TÀI LIỆU THAM KHẢO .39

pdf40 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 13/04/2013 | Lượt xem: 3038 | Lượt tải: 24download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hành tái cơ cấu lại ngành, lĩnh vực. - Cho vay theo chương trình định hướng vào lĩnh vực then chốt. f. Quy trình xin vay và triển khai dự án: Các dự án vay ODA được thực hiện qua một số bước như sau: Chuẩn bị 11 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam (xây dựng) dự án; Nộp hồ sơ xin vay; Thẩm định dự án; Thỏa thuận, thống nhất giữa các bên về nội dung hợp đồng vay; Triển khai dự án; Kết thúc, đánh giá dự án hoặc điều chỉnh. Trong đó, riêng khâu thẩm định dự án gồm 3 bước như sau: - Sàng lọc sơ bộ: Hồ sơ dự án xin vay vốn (theo mẫu JBIC hướng dẫn) gửi đến JBIC sẽ được phân loại thành 3 loại A, B, C phù hợp với tiêu chí bảo vệ môi trường mà JBIC đưa ra. - Xem xét, phân tích đánh giá kỹ các yếu tố liên quan đến môi trường đối với từng loại dự án đă phân loại. - Khẳng định sự phù hợp của dự án liên quan đến các vấn đề môi trường, có 2 phương diện đánh giá cơ bản mà dựa trên đó hệ thống các tiêu chí được thiết lập bao gồm: môi trường thiên nhiên và môi trường xã hội. Việc tìm hiểu bản chất đích thực của nguồn vốn ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng để một mặt tiếp nhận và sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất mang lại lợi ích cho Việt Nam, mặt khác tránh được sự lệ thuộc hay phải đánh đổi những lợi ích mà chúng ta không đáng phải đánh đổi với Nhật Bản. Vậy, thực trạng việc tiếp nhận ODA Nhật Bản của Việt Nam như thế nào và chúng ta đã có được những thành tựu gì cũng như những vấn đề gì còn vướng mắc? Chương 2 cùa bài viết sẽ đề cập đến vấn đề này. 12 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ODA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM I. Quy mô và cơ cấu: 1. Quy mô: Việt Nam là một trong những thị trường thu hút được rất nhiều vốn ODA. Hiện nay có 28 nhà tài trợ song phương, 23 tổ chức tài trợ ODA đa phương. trong đó có 24 nhà tài trợ cam kết ODA thường niên (úc, Bỉ, Canađa, Séc, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, Hàn Quốc, Lux-xem-bua, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thái Lan, Anh, Hoa Kỳ, Ailen, ), 4 nhà tài trợ không cam kết ODA thường niên (Áo, Trung Quốc, Nga, Singapore) mà cam kết ODA theo từng dự án cụ thể. Dưới đây là bảng 10 nhà tài trợ hàng đầu cho Việt Nam giai đoạn 1993-2006: Số vốn ODA cam kết của 10 nhà tài trợ hàng đầu cho Việt Nam giai đoạn 1993-2006 (Đơn vị: Triệu USD) Nhà tài trợ Số lượng vốn cam kết Nhật Bản 8.469,73 WB 5.329,82 ADB 2.900,97 Pháp 912,26 Đức 597,35 Đan Mạch 549,48 Thuỵ Điển 412,83 Trung Quốc 301,08 Ôxtrâylia 282,32 EU 269,83 (Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư) 13 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Nhìn trên bảng số liệu ta thấy Nhật Bản là nước viện trợ cho lớn nhất cho Việt Nam. ODA Nhật Bản tăng dần ngay cả trong những năm nền kinh tế Nhật Bản gặp khó khăn nhất, và trong ba năm trở lại đây, 2006, 2007,2008. Nhật Bản luôn là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam. Từ 1992-2007 đạt khoảng 13 tỷ USD, chiếm khoảng 30 % tổng khối lượng ODA của cộng đồng quốc tế cam kết dành cho Việt Nam, trong đó viện trợ không hoàn lại khoảng 1,5 tỷ USD. Ngày 31-3-2009, với số tiền 900 triệu USD cho tài khóa 2008 được ký đã nâng tổng số tiền cam kết của các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008 lên con số 6 tỷ USD (so với 5 tỷ USD của năm 2007). Với con số này, ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam năm 2008 vừa qua đã đạt mức kỷ lục cao nhất từ trước đến nay. Viện trợ phát triển chính thức ODA Nhật Bản cho Việt Nam Đơn vị: tỷ Yên (Nguồn: Bộ kế hoạch và Đầu tư) 14 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam 2.Cơ cấu: a. Theo loại hình viện trợ Bảng cơ cấu ODA Nhật Bản theo loại hình viện trợ tính đến năm 2003 Đơn vị: tỷ yên ( Nguồn: Bộ kế hoạch - đầu tư) • Hợp tác vốn vay: Hợp tác vốn vay là hình thức cho vay của chính phủ Nhật Bản đối với chính phủ các nước đang phát triển với các điều kiện cho vay mềm dẻo hơn như lãi suất thấp và thời hạn vay dài. Tại Việt Nam, hợp tác vốn vay chủ yếu dùng cho xây dựng cơ sở hạ tầng như giao thông vận tải, điện lực, phát triển nông thôn. Hợp tác vốn vay thường do Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) thực hiện. Tín dụng ưu đãi của Nhật được thực hiện dưới hai hình thức: - Tín dụng theo dự án - Tín dụng phi dự án Tỷ lệ vốn vay chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số ODA Nhật Bản( 87.3%). Tư tưởng chủ đạo của ODA Nhật Bản là nhấn mạnh đến yếu tố làm chủ và chủ 15 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam động của nước tiếp nhận viện trợ, và do vậy Nhật Bản tập trung cho các khoản tín dụng ưu đãi hơn là viện trợ. Chính phủ Nhật cho rằng nghĩa vụ trả nợ sẽ tạo động lực mạnh hơn cho những nỗ lực tăng cường ý thức tự lực cánh sinh. Cho đến nay thì Nhật Bản đã cùng hợp tác với các nhà đầu tư của ta để xây dựng những dự án như: Dự án xây dựng cầu Bãi Cháy, dự án cầu Cần Thơ, dự án xây dựng nhà ga hành khách Quốc Tế sân bay Tân Sơn Nhất, xây dựng đường cao tốc Đông Tây Sài Gòn, dự án đường hầm Hải Vân, dự án phát triển cơ sở hạ tầng qui mô nhỏ cho người nghèo, Dự án nhà máy nhiệt điện Phả Lại, dự án nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ, dự án cải thiện môi trường nước Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, dự án mở rộng cảng Cái Lân, dự án nâng cấp quốc lộ số 5, dự án mạng lưới thông tin liên lạc nông thôn miền Trung Việt Nam, dự án nhà máy nhiệt điện Ô Môn. • Hợp tác viện trợ không hoàn lại: Hợp tác viện trợ không hoàn lại là việc trao tặng vốn cho chính phủ các nước đang phát triển mà không kèm theo nghĩa vụ hoàn trả. Mục đích chính của hợp tác viện trợ không hoàn lại là đáp ứng cho những nhu cầu căn bản của con người (nâng cao mức sống cho tầng lớp người dân nghèo đói nhất), đào tạo nhân lực và xây dựng cơ sở hạ tầng. Hợp tác viện trợ không hoàn lại do bộ ngoại giao thực hiện, trong đó các dự án hợp tác viện trợ không hoàn lại do địa phương hoặc viện trợ không hoàn lại hỗ trợ cho các tổ chức phi chính phủ (NGO) của Nhật Bản do Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam thực hiện. Viện trợ không hoàn lại chiếm 7.3% trong tổng cơ cấu ODA Nhật Bản. Viện trợ không hoàn lại tập chung vào việc xóa đói giảm nghèo và giải quyết nhu cầu thiết yếu của con người, cải thiện, nâng cao đời sống con người. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân đối với nước ta. Chính phủ Nhật Bản cũng đã viện trợ không hoàn lại để phát triển những dự án như: xây dựng TT đào tạo nguồn nhân lực, viện trợ học bổng phát triển nguồn Nhân lực, cầu Miền Bắc -Trung, xây lại cầu ở đồng bắng sông Cửu Long, trường kỹ thuật giao thông vận tải I, NC trường tiểu học vùng bão lụt khu vực miền Trung, NC trường tiểu học miền núi phía Bắc, nâng cấp khoa Nông nghiệp, trường ĐH Cần Thơ, xây dựng cảng cá 16 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Vũng Tàu, hệ thống tưới tiêu Tân Chi, nâng cao điều kiện sống ở Nam Đàn Nghệ An, nâng cấp bệnh viện (bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Hai Bà Trưng, viện Nhi Trung ương, bệnh viện Trung ương Huế, bệnh viện Đà Nẵng,... ). Sản xuất Vắc xin Sởi, nhà máy nước Gia Lâm, mở rộng hệ thống cấp nước Hải Dương, nâng cấp hệ thống cấp nước miền Bắc, nâng cấp thiết bị trồng rừng (Tây Bắc), thiết bị trồng rừng Tây Nguyên, trồng rừng ven biển khu vực Nam Trung bộ. • Hợp tác kỹ thuật: Hợp tác kỹ thuật là hình thức cử chuyên gia, nghiên cứu phát triển, chương trình đào tạo, cung cấp thiết bị nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng thể chế. Hợp tác kỹ thuật của chính phủ Nhật Bản phần lớn do cơ quan hợp tác quốc tế Nhật bản (JICA) thực hiện. Khác với vốn vay chủ yếu dành cho phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông vận tải) thì hợp tác kỹ thuật chủ yếu tập chung cho phát triển nguồn nhân lực, xây dựng thể chế thông qua chuyên gia kỹ thuật và kiến thức thích hợp cho Việt nam. Chương trình đào tạo kỹ thuật và cử các chuyên gia đơn lẻ là hai hình thức hợp tác cơ bản. Hiện nay, chính phủ Nhật cũng đã mở một số hình thức mới như chương trình tình nguyện viên cấp cao tại Việt Nam (2001), Chương trình nâng cao năng lực cộng đồng (1998)…. Tuy nhiên, ODA Nhật Bản giành cho Việt Nam trong cơ cấu hợp tác kỹ thuật còn hạn chế, chiếm 5.4%. Hiện nay, dự án hợp tác kỹ thuật: tổng cộng có 15 dự án hiện đang thực hiện (Phục hồi rừng đầu nguồn miền Bắc, Thụ tinh nhân tạo bò, Hợp tác về luật, Sức khoẻ Sinh sản Nghệ An, Nâng cao kỹ thuật môi trường nước,...) ; ngoài ra Nhật đã tiếp nhận 9.729 thực tập sinh (tính đến năm 2003) ; cử 1.612 chuyên gia (tính đến năm 2003) ; 114 thanh niên tình nguyện theo chương trình hợp tác tình nguyện viên hải ngoại Nhật Bản b. Cơ cấu theo lĩnh vực: b.1. Phát triển nguồn nhân lực, xây dựng thể chế: • Phát triển nguồn nhân lực: 17 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Thực hiện đường lối “đổi mới” nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đào tạo phát triển nguồn nhân lực, coi “phát triển nguồn nhân lực và giáo dục và đào tạo” là quốc sách hàng đầu. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó chính phủ Nhật Bản đã và đang hỗ trợ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế với nhiều chương trình và dự án quan trọng. Dự án “Trung tâm Hợp tác Nguồn Nhân lực Việt Nam - Nhật Bản” là một trong các dự án quan trọng trên lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực và là biểu tượng của tình đoàn kết hữu nghị giữa hai nước. Năm 2000, theo Hiệp định ký kết giữa Chính phủ Nhật Bản và Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Trung tâm hợp tác Nguồn Nhân lực Việt Nam – Nhật Bản (VJCC) đã được chính thức thành lập trong đó kết hợp khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản để xây dựng cơ sở vật chất trang thiết bị cho Trung tâm và việc tiếp nhận các chuyên gia dài hạn Nhật Bản trong chương trình Hợp tác Kỹ thuật. Sau gần một năm xây dựng hai trung tâm ở Hà Nội và Tp. Hồ Chí Minh, trong khuôn viên trường Đại học Ngoại thương, ngày 19 tháng 3 năm 2002 Trung tâm VJCC Hà Nội đã chính thức được khai trương và đi vào hoạt động và sau đó đến Trung tâm VJCC Tp Hồ Chí Minh ngày 10 tháng 5 năm 2002. Ngoài ra, Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã cử khoảng 31.000 tu nghiệp sinh sang Nhật Bản. Năm 2004, Việt Nam đã lập Văn phòng quản lý lao động tại Tokyo. Ngày 11/11/2005, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định 141/2005/NĐ-CP về quản lý lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài. Năm 2007 đưa được 6.513 tu nghiệp, tăng 15% so với 2006. Năm 2008, số tu nghiệp sinh và lao động Việt Nam sang Nhật Bản tu nghiệp và làm việc khoảng 6.670 người, tăng gần 5% so với năm 2007. • Xây dựng thể chế: Xây dựng thể chế làm cơ sở cho xã hội và kinh tế có vai trò quan trọng không thể thiếu cả đối với tăng trưởng kinh tế và khắc phục các vấn đề về môi trường sinh hoạt và xã hội. Chính phủ Nhật Bản đang hỗ trợ cho việc thúc đẩy 18 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam hoàn thiện hệ thống pháp lý, cải cách chế độ công chức và cải cách tài chính của Việt Nam Ví dụ về việc hỗ trợ xây dựng hệ thống pháp luật của Nhật Bản với Việt Nam - Giai đoạn 1(1996-1999): Nhật Bản cử các chuyên gia để hỗ trợ phác thảo và thực hiện của cải cách pháp luật cũng như việc cải cách tư pháp. - Giai đoạn 2 (1999-2002): hỗ trợ mở rộng hơn sang các cơ quan có liên quan khác bao gồm tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm soát nhân dân tối cao. - Giai đoạn 3 (2003- nay): chú trọng việc đào tạo cán bộ tư pháp cho Viêt Nam, hỗ trợ một cách toàn diện, xây dựng các cơ quan đào tạo thống nhất các cán bộ tư pháp: luật sư, kiểm soát viên… b.2. Phát triển cơ sở hạ tầng: Cơ sở hạ tầng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển của đất nước. Cơ sở hạ tầng của Việt Nam vẫn bị đánh giá là lạc hậu, nhỏ bé, thô sơ và phân bổ không đều. Chính vì vậy, ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng luôn là một trong những kế hoạch phát triển kinh tế dài hạn của đất nước ta. Phát triển cơ sở hạ tầng sẽ ảnh hưởng tích cực đến việc xóa đói giảm nghèo, phát triển kinh tế, kích thích đầu tư trong nước và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Vì vậy mà chính phủ Nhật luôn đề cao vai trò của cơ sở hạ tầng trong sự phát triển của đất nước ta. Đại sứ Nhật Bản nói rằng phát triển cơ sở hạ tầng vẫn là một trong những ưu tiên chính của VN. Từ 1992-1994, nguồn ODA của Nhật Bản vào Việt Nam luôn ưu tiên cho việc phát triển cơ sở hạ tầng. Phát triển cơ sở hạ tầng là ngành tiếp nhận vốn ODA lớn nhất với tổng giá trị hiệp định ký kết đạt khoảng 9,88 tỷ USD thời kỳ 1993-2008. Kể từ năm 1994 đến nay, nhiều công trình quan trọng sử dụng vốn ODA như: QL 1A, QL5, QL18, QL10, hầm đường bộ Hải Vân, cầu Mỹ Thuận, cầu Bãi Cháy, các cảng Sài Gòn, Cái Lân, Tiên Sa, Hải Phòng, , Nhà ga T2 sân bay quốc tế Tân Sân Nhất,... đã đưa vào khai thác với lượng hàng hóa, hành khách thông qua tăng trưởng xa so với dự kiến. Hiện nay vẫn còn rất nhiều dự án lớn đang triển khai bằng nguồn vốn ODA trong kế hoạch 5 năm 2006- 2010. Điển hình là Dự án xây dựng cầu 19 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Thanh Trì và đoạn phía Nam vành đai 3 Hà Nội. Nhật Bản cũng đã làm việc với VN trong việc xây dựng cơ sở hạ tầng, trong đó có 3 dự án trọng điểm được Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đặt hàng Chính phủ Nhật Bản. Đó là dự án phát triển khu công nghệ cao Hoà Lạc, dự án xây dựng đường bộ cao tốc Bắc - Nam và dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam. Năm 2009, dự án xây dựng tuyến đường sắt đô thị thành phố Hà Nội (đoạn Nam Thăng Long-Trần Hưng Đạo, tuyến số 2, giai đoạn 1 có giá trị 14,688 tỷ Yên). Đây là dự án rất lớn giúp giải quyết vấn đề vận tải trong nội đô Hà Nội từ phía Nam cầu Thăng Long đến trung tâm thành phố b.3. Nông nghiệp và phát triển nông thôn. Nông nghiệp là một lĩnh vực rất quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Nhật Bản cũng đã rất chú trọng trong việc phát triển nông- lâm-ngư-nghiệp của Việt Nam. Đặc biệt, trong điều kiện hiện nay, khi xã hội Việt Nam còn nhiều vấn đề như dân số tăng nhanh trong khi diện tích đất đai, rừng bị thu hẹp hay khoa học kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu ở nhiều địa phương, và hơn hết là việc thiếu trầm trọng những kỹ sư nông-lâm-ngư-nghiệp có kỹ thuật, tay nghề. ODA của Nhật cũng đã không ngừng hỗ trợ cho Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp. Hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam chủ yếu trong ba lĩnh vực: • Cải thiện thu nhập, cũng như đời sống người nông dân • Nâng cao hệ thống giáo dục nông nghiệp ở Việt Nam • Phát triển thủy sản ở Việt nam Các chương trình và dự án ODA ký kết trong thời kỳ 1993-2008 đạt tổng trị giá khoảng 5,5 tỷ USD, trong đó có nhiều dự án quy mô lớn như dự án giảm nghèo các tỉnh vùng núi phía Bắc, dự án phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn dựa vào cộng đồng, dự án phát triển sinh kế miền Trung, chương trình cấp nước nông thôn, giao thông nông thôn và điện khí hóa nông thôn, chương trình thủy lợi đồng bằng sông Cửu Long và nhiều dự án phát triển nông thôn tổng hợp kết hợp xóa đói, giảm nghèo khác. Ngoài ra khoảng 12.409 km đường nông thôn và 35.343 m cầu nhỏ nông thôn được cải tạo nâng cấp, 111 cầu nhỏ nông thôn với chiều dài 25-100m/cầu được xây dựng đã góp phần hỗ trợ phát triển nông 20 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam nghiệp và cải thiện một bước quan trọng đời sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục. Gần đây dự án phát triển nông nghiệp, nông thôn đáng chú ý là: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) ký biên bản dự án hợp tác Việt Nam - Nhật Bản về phát triển năng lực ngành nghề nông thôn có trị giá 3,5 triệu USD, triển khai trong ba năm tại bốn tỉnh Tây Bắc là Ðiện Biên, Lai Châu, Sơn La và Hòa Bình. Ðây là các địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao, nhưng nhiều tiềm năng phát triển ngành nghề thủ công và chế biến nông, lâm sản. Mục tiêu của dự án là xây dựng mô hình phát triển nông thôn toàn diện thông qua tập huấn kiến thức cho người nghèo, đầu tư vốn tạo ra những mặt hàng nông, lâm sản chất lượng, trên cơ sở tiềm năng và điều kiện của địa phương. NIPON KOEI là công ty tư vấn được JICA lựa chọn đã hợp tác với HRPC để tiến hành khảo sát và đánh giá tiềm năng của 80 xã thuộc 4 tỉnh vùng dự án. Đoàn công tác của HRPC với 10 chuyên gia đã triển khai từ ngày 8/1/2009 đến 22/1/2009, hoàn thành công việc khảo sát tại 60 xã của 3 tỉnh Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên Phủ, và sẽ tiếp tục khỏa sát 20 xã còn lại của tỉnh Lai Châu từ 3/2/2009. Và dự án đã được đề xuất với bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn vào đầu tháng 3/2009 b.4. Giáo dục: Giáo dục là một trong những lĩnh vực quan trọng trong sự phát triển bền vững của một quốc gia. Phát triển giáo dục là một trong những động lưc thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh. Giáo dục đào tạo đang là mục tiêu hàng đầu của các quốc gia đang phát triển và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Chính vì vậy, Nhật Bản rất chú trọng trong việc phát triển giáo dục - đào tạo ở Việt Nam. Quan hệ hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước Việt Nam, Nhật Bản đã phát triển dưới nhiều hình thức: hợp tác giữa hai Chính phủ, giữa các trường học, giữa các tổ chức, giữa các cá nhân. Những năm gần đây, Nhật Bản là một 21 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam trong những nước viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam. Trong chuyến thăm Nhật Bản của PTT-BT Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân (cuối tháng 3/2008), hai bên đã ký Bản ghi nhớ về việc Nhật giúp Việt Nam đào tạo 1000 tiến sỹ cho Việt Nam đến năm 2020 và tiếp tục tăng học bổng cho Việt Nam trong 3 năm tới. Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, ODA Nhật Bản hỗ trợ cho việc thực hiện cải cách giáo dục ở tất cả các cấp học (giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề), đào tạo giáo viên, tăng cường năng lực công tác kế hoạch và quản lý giáo dục, cung cấp học bổng đào tạo đại học và sau đại học ở nước ngoài, cử cán bộ, công chức đào tạo và đào tạo lại tại nước ngoài về các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ và quản lý. Chính phủ Nhật Bản nhận khoảng trên 100 học sinh sinh viên Việt Nam sang Nhật Bản đào tạo hàng năm. Ngoài ra còn có nhiều học sinh du học tự túc. Tổng số lưu học sinh Việt Nam ở Nhật hiện nay khoảng hơn 1000 người. Ngoài ra, trong 5 năm (1994-1999), Chính phủ Nhật đã viện trợ 9,5 tỉ yên để xây dựng 195 trường tiểu học ở các tỉnh miền núi và vùng ven biển hay bị thiên tai. Về phía Việt Nam, Việt Nam cũng đã mời nhiều giáo sư, chuyên gia Nhật Bản sang giảng dạy, tiếp nhận các học giả Nhật Bản sang tìm hiểu về văn hoá, lịch sử Việt Nam. Với sự trợ giúp của chính phủ Nhật Bản, Việt Nam đang thí điểm dạy tiếng Nhật tại một số trường phổ thông cơ sở tại Hà Nội và TP.HCM. Nhật Bản dự kiến mời 2.000 thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản trong 5 năm, theo nhiều chương trình trong đó bao gồm cả chương trình dành cho học sinh cấp 2 và cấp 3. Mới đây, Ngày 2/10/2008, trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã khánh thành phòng học tiếng Nhật do Chính phủ Nhật Bản tài trợ. Đây là một trong các dự án của chương trình “Viện trợ Văn hoá không hoàn lại quy mô nhỏ” do Chính phủ Nhật Bản tài trợ, với tổng trị giá hơn 67.000 USD trang bị thiết bị nghe nhìn phục vụ giảng dạy và học tập tiếng Nhật. Đến nay, Chính phủ Nhật Bản đã tài trợ 6 dự án về giáo dục tại các tỉnh, thành phố phía Nam với tổng trị giá hơn 246.000 USD. 22 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam b.5. Y tế: Trong lĩnh vực y tế, vốn ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, khoảng 58% trong tổng vốn ODA (khoảng 0,9 tỷ USD) đã được sử dụng để tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuật cho công tác khám và chữa bệnh (xây dựng bệnh viện và tăng cường trang thiết bị y tế cho một số bệnh viện tuyến tỉnh và thành phố, các bệnh viện huyện và các trạm y tế xã, xây dựng cơ sở sản xuất kháng sinh, trung tâm truyền máu quốc gia, tăng cường công tác kế hoạch hóa gia đình, phòng chống HIV/AIDS và bệnh truyền nhiễm như lao, sốt rét; đào tạo cán bộ y tế, hỗ trợ xây dựng chính sách và nâng cao năng lực quản lý ngành. Dự án nâng cấp tiêu chuẩn dịch vụ y tế tại bệnh viện Lục Yên, dự án nâng cấp thiết bị y tế tại Trung tâm Mắt Hải Phòng, dự án nâng cấp thiết bị y tế tại Trung tâm Bảo vệ Sức khỏe Sinh sản, nâng cấp bệnh viện Chợ Rẫy, bệnh viện Bạch Mai, bệnh viện Hai Bà Trưng, Viện Nhi Trung ương, bệnh viện Trung ương Huế, bệnh viện Đà Nẵng… b.6. Cấp thoát nước: Ngoài lĩnh vực trên thì lĩnh vực cấp thoát nước cũng được Nhật Bản chú trọng trong nhiều năm qua nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc tế. Chính vì vậy Nhật Bản đã, đang và sẽ hỗ trợ xây dựng mới hoặc cải tạo hệ thống cung cấp nước, thoát nước và xử lý nước thải… ở Việt Nam Mới đây là dự án Thoát nước Cải thiện Môi trường Hà Nội (II) 29,289 tỉ Yên mở rộng ra ngoài phạm vi của sông Tô Lịch và tăng cường khả năng thoát nước ra sông Nhuệ, góp phần giải quyết tình trạng úng ngập, cải thiện môi trường hiện nay ở Hà Nội và dự án Thoát nước Cải thiện Môi trường TP Hải Phòng II 21,306 tỉ Yên nâng cấp hệ thống thoát nước và xử lý chất thải lỏng ở thành phố này. Trong giai đoạn 1 của Dự án thoát nước cải thiện môi trường Hà Nội (kết thúc vào năm 2005), JICA đã tiến hành cải tạo một số sông hồ lớn trong thành phố, xây dựng trạm bơm (hồ điều tiết Yên Sở, trạm bơm Yên Sở). Tiếp nối dự án trên, dự án lần này sẽ tiến hành cải thiện môi trường lưu vực sông nối với các sông chủ yếu trong thành phố, xây dựng trạm bơm với 23 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam công suất thoát nước gấp đôi nhằm cải thiện tình trạng lũ lụt và môi trường tại Hà Nội. Bằng việc xây dựng nhà máy xử lý nước thải quy mô bậc trung tiếp theo nhà máy xử lý nước thải được xây dựng thí điểm trong giai đoạn 1, Dự án hy vọng sẽ đóng góp vào việc cải thiện tình trạng vệ sinh của thành phố. Sau giai đoạn 1 (năm 2005 với 3,044 tỉ Yên) phục vụ cho thiết kế chi tiết, dự án vốn vay lần này sẽ xây dựng nhà máy xử lý nước thải. Ngoài ra, JICA còn tiến hành xây dựng hệ thống xử lý rác thải nhằm cải thiện môi trường nước và nâng cấp hệ thống thoát nước tại Hà Nội và TP Hải Phòng. Sau giai đoạn 1 (năm 2004 với 1,517 tỉ Yên) phục vụ cho thiết kế chi tiết, dự án vốn vay lần này sẽ xây dựng nhà máy xử lý rác thải. Biều đồ cơ cấu ODA theo ngành và lĩnh vực giai đoạn 1993-2008 15,66% 21,78% 28,06% 9,17% 8,90% 3,32% 13,11% Nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xóa đói giảm nghèo Năng lượng và công nghiệp Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông Cấp, thoát nước và phát triển đô thị Y tế, giáo dục đào tạo Môi trường, khoa học kỹ thuật Các ngành khác (Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư) 24 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam II. Đánh giá thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam: 1.Thành tựu: Trong vòng 17 năm trở lại đây, nguồn vốn ODA Nhật Bản đã đóng một vai trò hết sức quan trọng trọng chiến lược phát triển kinh tế; thúc đẩy phát triển nông nghiệp nông thôn xóa đói giảm nghèo; và đóng góp trong một số lĩnh vực xã hội của Việt Nam Đóng góp cho phát triển kinh tế: ODA Nhật Bản góp phần rất lớn thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Như ta đã biết, để tiến hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước cần hội đủ rất nhiều yếu tố, trong đó có hai yếu tố vốn và kĩ thuật. Trong giai đoạn 1992- 2007, tổng số vốn ODA Nhật Bản cam kết dành cho Việt Nam đạt khoảng 13 tỉ USD, chiếm khoảng 30% tổng số khối lượng ODA của cộng đồng quốc tế cam kết dành cho Việt Nam. Nhật Bản cũng là nước đứng đầu trong thực hiện và giải ngân nguồn vốn này, với tổng số vốn thực hiện lên tới hơn 5,2 tỷ USD. Ở Việt Nam, mô hình kinh tế công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu đã tạo cho nước ta cơ hội phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, quá trình này ban đầu gặp không ít khó khăn do sự yếu kém về cơ sở hạ tầng kinh tế, trong khi Việt Nam còn là một đất nước nghèo, nhu cầu về xây dựng các cơ sở vật chất phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối lập với khả năng đáp ứng nội tại của nền kinh tế. ODA của Nhật Bản cũng như các nhà tài trợ khác, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: Giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, năng lượng và công nghiệp – những lĩnh vực đòi hỏi vốn và kĩ thuật hết sức tiên tiến, nhưng ngân sách Việt Nam còn hạn chế; khu vực tư nhân trong và ngoài nước trong thời gian đầu phát triển thì không mặn mà bởi vốn cao mà thời gian thu hồi vốn thì chậm, chưa kể đây là những lĩnh vực nhạy cảm, ảnh hưởng đến an ninh quốc phòng nên gặp phải rào cản rất lớn từ phía Nhà Nước. Những dự án lớn, những công trình trong lĩnh vực giao thông và điện đã hoàn thành và đưa vào sử dụng góp phần tạo điều kiện cho Việt Nam mở rộng tái sản xuất, tạo môi 25 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam trường thuận lợi thu hút nguồn vốn trong nước và vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài vào Việt Nam để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Đó cũng là động lực mạnh mẽ cho sự tăng trưởng vượt bậc của Việt Nam trong những năm gần đây. Bên cạnh việc cung ứng về vốn, các dự án ODA còn mang lại công nghệ, kỹ thuật hiện đại, nghiệp vụ chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến. Hợp tác kỹ thuật là một bộ phận của ODA Nhật Bản, được chính phủ Nhật Bản đặc biệt coi trọng. Các chương trình hợp tác kỹ thuật do chính phủ Nhật Bản thực hiện tiến hành ở Việt Nam với rất nhiều hình thức đa dạng đã góp phần chuyển giao, cải tiến trình độ công nghệ cũng như tiếp thu công nghệ ở nước ta. Các dự án hợp tác kĩ thuật đã góp phần chuyển giao công nghệ cho các kỹ sư, kỹ thuật viên, nhân viên y tế… của nước ta bằng cách cho họ tham gia vào các dự án phát triển thuộc nhiều lĩnh vực cụ thể như nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh cá, y tế, nghiên cứu về dân số và kế hoạch hóa gia đình, dạy nghề và các hoạt động nghiên cứu liên quan đến các lĩnh vực đó… Ngoài ra, các khảo sát về phát triển được tiến hành nhằm kiểm tra lại khả năng thành công của các dự án từ khía cạnh kỹ thuật, kinh tế, tài chính – cũng góp phần vào việc cải tiến trình độ công nghệ của nước ta. Nhìn chung, các dự án ODA của Nhật Bản vào Việt Nam đều có trình độ công nghệ cao. Bên cạnh việc hỗ trợ vốn và kĩ thuật, ODA Nhật Bản có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc góp phần tăng cường năng lực và thể chế thông qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính (như dự án Cải cách Hành chính Thuế giai đoạn 1, giai đoạn 2) hay hỗ trợ cải cách cơ cấu kinh tế (sáng kiến NEW Miyazawa)… Điều này giúp cải tạo môi trường đầu tư của Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế, từ đó thu hút được thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Đó là chưa kể việc Việt Nam mới chỉ được coi là nền kinh tế đang chuyển đổi, chưa được công nhận là nền kinh tế thị trường, điều luôn khiến các doanh nghiệp Việt Nam phải chịu thiệt thòi khi đứng trên các sân chơi lớn. Việc cải cách cơ cấu kinh tế sẽ góp phần đắc lực trong việc rút ngắn khoảng thời gian chuyển đổi này (Theo cam kết của Việt Nam là trong 26 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam vòng 12 năm nhưng có thể rút ngắn được thời gian nếu chúng ta thực sự nỗ lực). Thêm vào đó, ODA Nhật Bản cũng đã góp phần bù đắp một lượng lớn vốn cho thâm hụt ngân sách của nước ta. Theo tính toán của các chuyên gia Nhật Bản bằng các biện pháp kinh tế lượng, trong khoảng 10 năm kể từ khi nối lại viện trợ cho Việt Nam (1992-2001), ODA Nhật đã góp phần tăng GDP của Việt Nam thêm 1,57%, dự trữ tiền mặt lên 4,65%, nhập khẩu thêm 5,94% và xuất khẩu thêm 3,84% trong năm 2000. Đóng góp đối với việc thúc đẩy nông nghiệp nông thôn và kết hợp với công tác xóa đói giảm nghèo Thông qua các dự án lớn trong lĩnh vực này, ODA của Nhật Bản giúp cho nông dân nghèo tiếp cận với các nguồn vốn để tạo ra các ngành nghề phụ, phát triển nông – lâm – ngư nghiệp, phát triển hạ tầng nông thôn như: giao thông, điện, nước sạch... Qua đó, đã góp phần hỗ trợ phát triển nông nghiệp và cải thiện một bước quan trọng đời sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục. Số liệu điểu tra mức sống của người dân trong thời gian qua cho thấy tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% vào năm 1993 xuống còn 37% vào năm 1998, 18,1% vào năm 2004 và 14,8% năm 2007. Kết quả này cho thấy Việt Nam đã vượt được mục tiêu phát triển thiên niên kỉ (MDGs) đã cam kết với thế giới. Việt Nam được coi là một trong những nước thành công nhất trong việc thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo. Và để đạt được điều đó thì không thể không kể đến những đóng góp to lớn của Nhật Bản. Đóng góp đối với một số lĩnh vực xã hội Nhờ lượng vốn lớn và hợp tác kỹ thuật đa dạng, ODA của Nhật đã góp phần vào sự phát triển của ngành giáo dục đào tạo Việt Nam từ cấp trung ương đến địa phương, từ giáo dục tiểu học đến đào tạo sau đại học. Nguồn vốn này đã giúp chúng ta, trước hết là khắc phục được những khó khăn về cơ sở hạ tầng giáo dục, đồng thời tạo điều kiện cho ngành giáo dục Việt Nam theo kịp và hòa nhập vào nền giáo dục của khu vực và thế giới. Ngành giáo dục và đào tạo của chúng ta đã đưa ra được định hướng đào tạo, nghiên cứu khoa học và ứng dụng 27 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam công nghệ tiên tiến vào một số lĩnh vực chủ chốt như: khoa học cơ bản, khoa học xã hội và nhân văn, kinh tế, nông lâm nghiệp, điện tử viễn thông, tự động hóa, dược, môi trường… Bên cạnh đó, một lượng lớn nguồn vốn ODA được đầu tư vào lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đặc biệt là các vùng sâu vùng xa đã góp phần trang bị lại cơ sở vật chất cho rất nhiều bệnh viện tuyến từ trung ương đến địa phương, giải quyết những khó khăn trong việc chăm sóc, chữa trị, đặc biệt là các bệnh xã hội và nâng cao sức khỏe cộng đồng, dân số kế hoạch hóa gia đình. Nhờ đó mà chỉ số phát triển con người (HDI) cũng như chỉ số phát triển quốc gia của Việt Nam dần được cải thiện. HDI đã tăng từ 0,646 năm 1995 lên 0,691 năm 2003, đứng thứ 112 trong tổng số 177 nước được xếp hạng. Điều này phản ánh những thành tựu đạt được trong các lĩnh vực phát triển con người chủ chốt như mức sống, y tế và giáo dục. Ngoài ra, như đã đề cập ở trên, việc hỗ trợ Việt Nam xây dựng cơ sở hạ tầng và tăng cường cải cách cơ cấu hành chính, pháp luật khiến cho môi trường đầu tư của Việt Nam ngày càng trở nên hấp dẫn. Ngày càng nhiều luồng vốn FDI từ nước ngoài đổ vào Việt Nam, trong đó đặc biệt là của các công ty Nhật Bản, đã tạo ra một số lượng lớn việc làm cho dân cư. Tính đến hết năm 2003, các doanh nghiệp FDI của Nhật Bản đã tạo ra công ăn việc làm cho khoảng 39.000 người lao động Việt Nam. Đây là một trong những tác động to lớn của ODA Nhật Bản đối với Việt Nam. 2.Hạn chế: 9 Nhận thức về ODA: Nâng cao hiệu quả sử dụng ODA là một trong những vấn đề quan trọng mà Việt Nam phải giải quyết. Một trong những nguyên nhân chính của việc sử dụng ODA chưa có hiệu quả là nhận thức và hiểu về bản chất của ODA chưa được chính xác và đầy đủ trong quá trình huy động và sử dụng. Nhận thức cho rằng ODA là cho không và trách nhiệm trả nợ nguồn vốn vay ODA thuộc về chính phủ. Nhận thức sai lệch như vậy đã dẫn đến tình trạng kém hiệu quả 28 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam trong việc thực hiện một số chương trình và dự án ODA. Thực tế, mặc dù hầu hết ODA là dưới dạng các khoản vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời gian trả nợ và ân hạn dài, ODA không phải là thứ cho không và việc sử dụng ODA là một sự đánh đổi. Nếu sử dụng ODA không hiệu quả, gánh nặng trả nợ sẽ tăng lên. 9 Tốc độ giải ngân: Tỷ lệ giải ngân ODA ở Việt nam vẫn còn thấp. Từ năm 1993 đến 2006, vốn ODA đã giải ngân là 15,9 tỷ USD, chỉ chiếm 42,9% tổng số ODA cam kết (37 tỷ USD). Như trong Hình 1, tỷ lệ giải ngân bình quân chỉ khoảng 50% trong những năm gần đây. Tỷ lệ giải ngân bình quân của Việt Nam cũng thấp hơn của các nước ASEAN (xem Bảng 1). Tỷ lệ ODA trong GDP của Việt Nam dao động từ 3,5% đến 4,5%, thấp hơn một số nước có cùng trình độ phát triển kinh tế Việt Nam cần phải nỗ lực hơn nữa để đẩy nhanh tiến độ giải ngân ODA vì so với sự tăng lên của vốn cam kết mỗi năm, kết quả đạt được còn xa với mong đợi. Theo dự đoán của các chuyên gia Ngân hàng Phát triển Châu Á, nếu Việt Nam cải thiện được tỷ lệ giải ngân ODA, tốc độ tăng trưởng GDP có thể tăng từ mức 8 – 8,4% như hiện tại lên tới 9% và Việt Nam có thể trở thành nước có mức thu nhập trung bình vào năm 2009, sớm hơn mục tiêu là năm 2010. Có một vài nguyên nhân giải thích vì sao ODA lại giải ngân chậm ở Việt Nam. 29 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Thứ nhất: thông thường phải mất một thời gian dài để các chương trình và dự án ODA được triển khai. Khoảng 50% nguồn vốn ODA ở Việt Nam được dành cho các dự án cơ sở hạ tầng, lĩnh vực cần nhiều thời gian hơn để tiến hành và thậm chí kết thúc chậm hơn từ 3 đến 5 năm so với các dự án ở các lĩnh vực khác (trong các khâu đền bù, giải phóng mặt bằng; chất lượng nhà thầu; lựa chọn tư vấn ở các khâu của dự án). điều này đã dẫn đến việc giải ngân chậm. Một số nước đang phát triển khác, chẳng hạn như một số nước ở châu Phi, chỉ sử dụng một phần ba nguồn vốn ODA cho các dự án cơ sở hạ tầng và có tỷ lệ giải ngân cao hơn. Thứ hai,: năng lực quản lý và giám sát thực hiện dự án và chương trình ODA của Việt Nam còn hạn chế và bất cập, đặc biệt là ở khi có sự tham gia của chính quyền địa phương. Thứ ba, khuôn khổ pháp lý về quản lý và sử dụng vốn ODA chưa đồng bộ và việc hiểu các văn bản này cũng không thống nhất. Hơn nữa, sự khác nhau trong nhận thức giữa các đối tác Việt Nam và các nhà tài trợ còn lớn, làm hạn chế việc thực hiện các dự án. Trong Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ gần đây (2007), các nhà tài trợ cho Việt Nam đã khẳng định rằng việc giải ngân ODA sẽ được cải thiện mạnh mẽ nếu cách thức thực hiện của Chính phủ Việt Nam và các nhà tài trợ hài hoà được với nhau. Có những ví dụ rất khó tin về vấn đề trên: Đơn cử như việc tranh luận về cao độ đặt bệ trụ của cầu (thuộc dự án 44 cầu tuyến Thống Nhất) đã mất tới 8 tháng trời. Theo phía Nhật Bản, bệ trụ nên đặt thấp, dưới lòng sông để đảm bảo thông thoáng dòng chảy, nhưng cơ quan thẩm định ở Tổng công ty Đường sắt Việt Nam lại dứt khoát không đồng ý vì cho rằng rất khó đảm bảo an toàn khi vừa thi công vừa chạy tàu. 9 Năng lực quản l ý và tình trạng thất thoát: Cơ cấu tổ chức và năng lực cán bộ trong công tác quản lý và thực hiện ODA còn yếu và chưa đáp ứng những yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả ODA. Theo bảng xếp hạng về cảm nhận tham nhũng của Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố tháng 9 năm 2008, trong 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, Việt 30 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Nam xếp tới thứ 121. Sự thất thoát và tham nhũng ở dự án PMU18, những dự án lớn trong lĩnh vực dầu khí, vụ hối lội PCI vừa qua là những ví dụ về hạn chế trong quản lý và theo dõi ODA. Thách thức về đảm bảo sự minh bạch và trách nhiệm trong quản lý ODA từ phía Việt Nam đang là một vấn đề hết sức cấp thiết. Vụ hối lộ quan chức Việt Nam của công ty PCI (Pacific Consultants International, viết tắt là PCI, Công ty Tư vấn Quốc tế Thái Bình Dương, Nhật Bản) là vụ việc nổi đình đám trong năm 2008 tại Việt Nam, liên quan đến việc đưa hối lộ của một số quan chức công ty PCI Nhật Bản với Ban Quản lý dự án PMU tại thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là với ông Huỳnh Ngọc Sỹ, Phó Giám đốc Sở Giao thông Công chính Thành phố Hồ Chí Minh kiêm Giám đốc Ban Quản lý PMU Đông-Tây. Sự kiện PCI đã gây một cú sốc lớn trong dư luận Nhật. Ngay cả những người dân bình thường ở Nhật cũng biết. Có lẽ nhiều người Nhật đã bàng hoàng khi thấy trong vụ PCI số tiền chi tiêu bất chính quá lớn (chỉ một dự án mà số tiền bất chính lên tới 820.000 đô la) và nhất là tiền hối lộ đó được cho là đưa cho quan chức của một nước mà GDP đầu người mới 850 đô la. Nhật đã phải đi đến quyết định tạm ngừng cấp ODA cho Việt Nam trong năm 2009, đồng thời đóng băng lượng tài trợ khoảng 700 triệu đô la đã cấp trong năm 2008. Hầu hết nguồn vốn này tập trung cho các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng. Sự kiện này làm xấu đi hình ảnh đất nước Việt Nam trong con mắt bạn bè quốc tế. Sau đó, uỷ ban hỗn hợp Việt Nam - Nhật Bản phòng chống tham nhũng liên quan tới ODA Nhật Bản đã được thành lập. Trước thái độ của Chính phủ Việt Nam trong chống tham nhũng và xử lý nghiêm khắc các hành vi vi phạm liên quan đến các cá các cá nhân của Việt Nam, ngày 23/02/2009, Nhật Bản mới quyết định nối lại ODA cho Việt Nam 9 Phân cấp: Phân cấp trong quản lý và sử dụng ODA đã được thực hiện và thu được những kết quả quan trọng như mở rộng đối tượng hưởng thụ và nâng cao quyền 31 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam tự chủ của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, việc phân cấp ODA chưa đáp ứng được những yêu cầu của đổi mới quản lý nguồn lực công. Chính sách phân cấp trong quản lý và sử dụng ODA chưa có sự thống nhất giữa trung ương và địa phương. Những hạn chế về năng lực của đội ngũ cán bộ ở địa phương trong chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ cũng là nhân tố làm hạn chế việc phân cấp và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này. Sự phối hợp kém giữa chính quyền trung ương và địa phương, giữa chính quyền địa phương và các nhà tài trợ đã dẫn tới sự chậm trễ trong quá trình thiết kế và thực hiện dự án. Tình trạng này cũng dễ dẫn đến việc sử dụng ODA lãng phí và kém hiệu quả. Để nâng cao hiệu quả sử dụng ODA, cần phải đầu tư nhiều hơn vào việc xây dựng năng lực cho quản lý và điều hành ở địa phương. 9 Trả nợ: Vần đề trả nợ ODA của cũng cần được đặt ra từ bây giờ. Ở Việt Nam, việc huy động ODA mới chỉ tập trung vào việc thu hút càng nhiều ODA với các điều kiện dễ dàng, tuy nhiên nguồn lực và khả năng trả nợ vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Theo số liệu từ MPI, tổng nợ của Việt nam hiện nay khoảng hơn 22 tỷ USD và chiếm khoảng 37% GDP. Với mức nợ an toàn là 40% GDP theo như khuyến cáo của IMF, khả năng vay nợ của Việt Nam không còn nhiều. Do vậy, Việt Nam cần quan tâm đến nguồn trả nợ và vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng ODA trở nên quan trọng cho việc trả nợ ODA. 32 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Qua việc đánh giá thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam, có thể thấy, nhìn chung, Việt Nam đã thu hút và sử dụng ODA Nhật Bản khá hiệu quả. Tuy nhiên, chúng ta cũng gặp phải những vấn đề không nhỏ dẫn đến thu hút chưa xứng đáng với tiềm năng, thậm chí gây ra tình trạng lãng phí nguồn vốn này. Chương III này sẽ đưa ra một số giải pháp để thu hút và sử dụng ODA hiệu quả hơn. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THU HÚT VỐN ODA NHẬT BẢN VÀO VIỆT NAM I. Phương hướng vận động của ODA Nhật Bản trong thời gian tới: 1. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010: Giai đoạn 2006-2010, Chính phủ sẽ dành 33% trong số 23,75 tỷ USD vốn ODA để phát triển giao thông, bưu chính viễn thông, cấp thoát nước và đô thị. Đầu tư trọng điểm vào phát triển cơ sở hạ tầng, là một trong những nội dung quan trọng nhất trong bản đề án "Định hướng thu hút và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) thời kỳ 2006 - 2010" được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định phê duyệt số 290/2006/QĐ - TTg ngày 29/12/2006. Theo bản đề án, lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông tiếp tục là mối quan tâm hàng đầu của Chính phủ. Cụ thể, nguồn vốn ODA cho lĩnh vực này trong 5 năm tới sẽ tiếp tục tăng mạnh để đầu tư cho các lĩnh vực phát triển hệ thống đường cao tốc Bắc - Nam, các đường trục chính của các vùng kinh tế; ưu tiên phát triển các tuyến đường ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, ĐBCSL; phát triển mạnh hệ thống đường cao tốc, nhất là tại các vùng kinh tế trọng điểm. Ngoài ra, nguồn vốn này sẽ phát triển các tuyến hành lang giao thông trong khuôn khổ hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng. Trong đó gồm có tam giác phát triển Việt Nam - Lào - Campuchia và hai hành lang và một vành đai kinh tế Việt - Trung, xây dựng một số cầu đường bộ lớn ở cả 3 miền, trong đó có các cầu Cao Lãnh, Vàm Cống thuộc Dự án đường Hồ Chí Minh 33 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Chính phủ cũng định hướng cụ thể trong việc sử dụng nguồn vốn ODA. Đối với nguồn vốn ODA hoàn lại, đặc biệt là các khoản vay có ưu đãi cao (lãi suất thấp, thời gian trả nợ dài và có ân hạn) thì ưu tiên sử dụng để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế. Các khoản vay ODA có điều kiện ưu đãi kém hơn (lãi suất cao, thời gian trả nợ và ân hạn ngắn) sẽ được sử dụng cho các chương trình, dự án có tính khả thi cao về mặt kinh tế và có khả năng trả nợ. 2. Phương hướng vận động của ODA Nhật Bản: Mặc dù năm 2008 qua đi với sự kiện khủng hoảng kinh tế Mỹ. Nhưng quan điểm của Chính phủ Nhật Bản: dù kinh tế khó khăn nhưng Nhật Bản vẫn sẽ tăng viện trợ ODA cho các nước châu Á, trong đó có Việt Nam, để kích thích sự phát triển kinh tế khu vực. Để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong thời kỳ 5 năm 2006 - 2010, Chính phủ tiếp tục chủ trương huy động mọi nguồn vốn, trong đó nguồn vốn ODA tiếp tục góp vị trí quan trọng, tổng nguồn vốn ODA thực hiện dự kiến khoảng 11- 12 tỷ USD trong 5 năm 2006 - 2010, chiếm khoảng 80 % tổng ODA cam kết. Huy động vốn ODA giai đoạn 2006-2010 Gía trị ODA theo hiệp định 2001-2005 Dự báo giá trị ODA theo hiệp định 2006- 2010 Dự báo giá trị ODA cam kết Ngành, lĩnh vực Tỷ USD Tỷ trọng đầutư(%) Tỷ USD Tỷ trọng đầutư(%) Tỷ USD Nông nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ sản phát triển nông thôn xoá đói giảm nghèo 1.6 14.6 2.2– 2.5 18 2.9-3.3 Năng lượng và công nghiệp 2.1 18.7 1.9-2.2 16 2.6-2.9 Giao thông, bưu chính-viễn thông, cấp thoát nước và đô thị 2.9 26.3 3.6-4.1 30 4.8-5.5 34 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Y tế, giáo dục và đào tạo, môi trường, khoa học công nghệ và các ngành khác 4.5 40.4 4.3-4.9 36 5.8-6.6 Tổng 11.1 100 12.-13.6 100 16-18.2 (Nguồn: Trung tâm thông tin và dự báo Kinh tế-xã hội Quốc gia) Mỗi nguồn vốn đều có những đặc điểm và thế mạnh riêng, không thể thay thế cho nhau. Vốn ODA cũng như vốn nước ngoài là quan trọng nhưng không thể thay được tính chất quyết định của nguồn vốn trong nước. Thế mạnh của mỗi nguồn vốn chỉ phát huy được khi có sự phối hợp với các nguồn vốn khác, nhằm tạo nên một sức mạnh tổng hợp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, cần phối hợp sử dụng vốn ODA với vốn FDI, vốn đầu tư tư nhân và hộ gia đình, vốn của các doanh nghiệp nhà nước và các nguồn vốn ngân sách khác. Vốn ODA cũng được dùng để cho các doanh nghiệp, các hộ gia đình, tư nhân vay lại để kết hợp với các nguồn vốn khác phát huy tác dụng. Chẳng hạn như các dự án thuộc các ngành công nghiệp mũi nhọn, thuộc các ngành được ưu đãi đầu tư như trồng cây lâu năm trên đất chưa sử dụng, đồi núi trọc, nghiên cứu khoa học công nghệ.. Ngoài ra, Việt Nam chủ trương tiếp tục đẩy mạnh cả bề rộng lẫn chiều sâu quan hệ đối tác với các nhà tài trợ. Việc sử dụng ODA theo hướng lựa chọn giữa các nguồn lực, đặt trọng tâm vào tính hợp lý và hiệu quả của viện trợ. Tại cuộc họp đối thoại chính sách, phía Nhật Bản đã thông báo danh sách các chương trình, dự án đề xuất trong danh sách ngắn các dự án đề nghị Chính phủ Nhật Bản tài trợ năm 2009 sẽ được Chính phủ Nhật Bản thẩm định để dự kiến cam kết vốn cho đợt 1 tài khoá 2009 bao gồm 6 chương trình, dự án sau: - Chương trình tín dụng giảm nghèo 8 (PRSC8) - Chương trình sử dụng hiệu quả, bảo toàn năng lượng và sản xuất năng lượng tái tạo 35 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam - Dự án xây dựng đường tránh quốc lộ 1 - Dự án tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 3 - Chương trình tín dụng chuyên ngành 6 - Dự án xây dựng nhà máy điện Thái Bình 1 (chạy than) II. Giải pháp thu hút và đẩy nhanh tốc độ giải ngân vốn ODA: 9 Hoàn thiện chiến lược thu hút và sử dụng ODA: 9 Nâng cao chất lượng công tác, lập danh mục dự án kêu gọi đầu tư: 9 Đa dạng hóa các phương thức vận động ODA: đẩy mạnh thu hút vào những ngành, những địa phương còn chậm phát triển, tạo động lực lớn giúp những ngành, địa phương đó theo kịp sự phát triển chung. 9 Hoàn thiện các quy định pháp lý về ODA: - Chính sách đền bù, giài phóng mặt bằng: - Cơ chế vốn đối ứng: vốn đối ứng là giá trị các nguồn lực, tiền mặt huy động trong nước để chuẩn bị và thực hiện các chương trình, dự án ODA theo yêu cầu. 9 Chuẩn bị cho thời kỳ "hậu ODA'': Sau năm 2010, Việt Nam không còn là nước được ưu đãi ODA nữa. Do vậy, chúng ta cần chuẩn bị để xoay sở được với vấn đề này: - Đánh giá đúng mức độ tăng trưởng GDP Việc xác định đúng mức độ tăng trưởng GDP trong những năm sắp tới là hết sức cần thiết. Không thể vì thành tích mà tự nhận mình là quốc gia có thu nhập đầu người đạt ngưỡng 1.000 đô la. Thậm chí cũng nên chấp nhận thực tế nếu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010 có nhiều chỉ tiêu không đạt, trong đó có chỉ tiêu về GDP. Như vậy, không những chúng ta tự đánh giá đúng về bản thân mà còn có thể kéo dài thời hạn ưu đãi ODA từ các nhà tài trợ. - Đẩy mạnh công tác quản lý ODA Tính từ thời điểm này, còn hơn một năm nữa để thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010. Trong thời gian còn lại, cần có những 36 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam bước đột phá trong việc thúc đẩy giải ngân nguồn vốn ODA, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, sử dụng tiết kiệm, đúng mục đích... Những sai lầm trước đây về quản lý và phân cấp sử dụng vốn ODA cần được rút kinh nghiệm nghiêm túc để tránh không lặp lại vết xe đổ. Theo tính toán, hiện nhu cầu vốn đầu tư phát triển là rất lớn, trong hai năm còn lại nếu Chính phủ kêu gọi được khoảng hơn 20 tỉ đô la từ nguồn ODA thì mới có thể đáp ứng được phần nào nhu cầu. Tuy nhiên, dù có lạc quan cũng phải thừa nhận, đạt được con số này là rất khó, vì năm 2008, năm mà Việt Nam thu hút được nhiều nguồn vốn cam kết viện trợ nhất, cũng mới chỉ đạt hơn 5 tỉ đô la. Vì vậy, song song với sự chuẩn bị cho thời kỳ “hậu ODA”, đã đến lúc cần có một cái nhìn toàn diện và tỉnh táo hơn về vai trò của nguồn vốn vay nợ nước ngoài này để từ đó hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp. Và trên hết, cần nhận thức rằng phải giảm dần sự lệ thuộc vào ODA, đồng thời phát huy nguồn vốn trong nước, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân. 9 Một vài giải pháp khác: - Tăng cường đàm phán để huy động ODA không hoàn lại và ODA kỹ thuật vì tỷ lệ này nhìn chung còn rất nhỏ trong cơ cấu ODA Nhật cấp cho Việt Nam. - Có biện pháp thích hợp để có kế hoạch trả nợ, đặc biệt là phải quan tâm đến vấn đề trả nợ bằng đồng Yên. - Cần xem xét lại việc đánh thuế với các dự án xây dựng trên vốn ODA của Nhật Bản. - Triệt để chống tham nhũng gây mất niềm tin của nhà đầu tư. 37 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam KẾT LUẬN Sau khi nghiên cứu đề tài, có thể rút ra một số kết luận sau đây: - Thứ nhất: ODA không phải là vốn cho không, nó vừa mang lại lợi ích cho quốc gia nhận viện trợ,vừa gây ra những tổn thất nếu không biết sử dụng hợp lý và hiệu quả cũng như tránh được các lợi ích bị đánh đổi với nước viện trợ. - Thứ hai: Trong những năm qua, Nhật Bản liên tiếp là quốc gia viện trợ ODA cho Việt Nam nhiều nhất, trong đó, một trong những nguyên nhân phải kể đến là do chúng ta sử dụng ODA tương đối hiệu quả. - Thứ ba: tuy rằng có sử dụng hiệu quả, song, chúng ta vẫn không tránh khỏi những hạn chế nhất định trong quá trình thu hút và sử dụng ODA của Nhật. Do vậy, phải xem xét và khăc phục. - Thứ tư: Việc sử dụng ODA thế nào cho hợp lý là quan trọng, song chuẩn bị cho thời kỳ "hậu ODA" cũng cần được lưu tâm đúng mức. 38 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam Danh mục tài liệu tham khảo 1. GS- PTS. Tô Xuân Dân- PTS. Vũ Chí Lộc, (1997), Quan hệ kinh tế quốc tế: lý thuyết và thực tiễn, NXB Thống Kê, Hà Nội. 2. GS- TS Võ Thanh Thu, (2008), Quan hệ kinh tế quốc tế, NXB Thống Kê, Hà Nội. 3. ThS. Phan Minh Hòa, (2008), slide bài giảng Quan hệ kinh tế quốc tế, Đại học Ngoại Thương- Hà Nội. 4. ThS Hồ Công Lưu, (2009), Mấy nét về nguồn viện trợ ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam, Khoa Việt nam học, đại học SP.Hà Nội. 5. TS. Phan Minh Ngọc,(2006), "Đặc điểm và vai trò của vốn ODA Nhật trong phát triển kinh tế châu Á", Người Đại Biểu Nhân dân,( 303), tr. 7-8 6. Phan Thanh Tịnh, (2009), " Chuẩn bị gì cho thời kỳ hậu ODA", Thời báo Kinh tế Sài Gòn. 7. TS. Hoàng Văn Xô, (2008), "Những bài học kinh nghiệm trong quản lý dự án ODA tại Việt Nam", Đặc san: ODA – 15 năm Hợp tác và phát triển - Bộ Kế hoạch và đầu tư. 8. TS. Cao Viết Sinh, (2009),“ Tổng quan ODA ở Việt Nam 15 năm (1993 – 2008) - Bộ Kế Hoạch và đầu tư. 9. GS. Trần Văn Thọ, (2008), "Sự kiện PCI và quyết định ngưng cấp ODA của Nhật", Thời báo kinh tế Sài Gòn. 10. Lê Diệu Thúy, (2009), "ODA Nhật Bản- Hướng tiếp cận triển vọng để đầu tư vào lĩnh vực bảo vệ môi trường", Tạp chí Bảo Vệ Môi trường, (07) 11. Tú Ân, (2005), “ Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam”, chuyên san Người viễn xứ - Vietnamnet ngày 21/09/2005. 12. TS. Lê Quốc Hội, (2009), "Định hướng sử dụng ODA”, website Viện nghiên cứu- diễn đàn phát triển Việt Nam 13. Đức Vương, (05/1/2007), “ Định hướng vốn ODA giai đoạn 2006-2010”, Thời báo Kinh tế Việt Nam. 14. Lan Hương, (31/03/2009), “ Nhật cấp 900 triệu USD vốn ODA cho Việt Nam”, Báo Dân Trí. 39 Thực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam 40

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfThực trạng thu hút ODA Nhật Bản vào Việt Nam.pdf
Luận văn liên quan