Đề tài Thực trạng và giả pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty motor Đức Phương

Mở đầu. 1 PHẦN I 2 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH ĐỨC PHƯƠNG 2 1.1. Thông tin chung về công ty thực tập. 2 1.1.1 Giới thiệu công ty. 2 1.1.2. Quá trình hình thành và phát triển. 2 1.1.3 Lĩnh vực hoạt động. 3 1.2. Cơ cấu tổ chức của công ty. 4 1.2.1. Sơ đồ tổ chức. 4 1.2.2. Nhiệm vụ của các cấp và các bộ phận. 5 1.2.2.1. Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ công ty. 5 1.2.2.2. Hai kế toán trưởng. 5 1.2.2.3. Trưởng văn phòng đại diện tại Hà Nội 5 1.2.2.4. Phó tổng giám đốc. 5 1.2.2.5Các giám đốc và các trưởng phòng ban: 5 1.3. Đặc điểm kinh tế kĩ thuật của công ty. 5 1.3.1 Đặc điểm sản phẩm. 5 1.3.2.Đặc diểm công nghệ. 6 1.3.3 Đặc điểm lao động. 8 1.3.4. Đặc điểm thị trường và khách hàng. 9 1.3.4.1 Kênh phân phối sản phẩm. 9 1.3.4.2. Hệ thống các Chi nhánh và cửa hàng trưng bày sản phẩm của Công ty. 11 1.3.4.3. Mạng lưới Đại lý tiêu thụ hiện có của Công ty. 12 Phần 2 14 Thực trạng sử dụng vốn tại công ty TNHH Đức Phương 14 2.1. Khái niệm và vai trò của vốn 14 2.1.1. Khái niệm vốn. 14 2.1.2. Vai trò của vốn. 14 2.2 Thực trạng sử dụng vốn tại công ty TNHH Đức Phương. 14 2.2.1. Căn cứ vào nguồn hình thành vốn. 14 2.2.2. Cơ cấu vốn của doanh nghiệp theo công dụng. 18 2.2.3 Tình hình sử dụng vốn cố định. 21 2.2.4 Tình hình sử dụng vốn lưu động 24 2.2.5. Chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp. 27 2.3. Tính toán các chỉ số tài chính cơ bản. 31 2.4. Những kết quả đạt được. 32 2.4.1 - Về vốn cố định. 32 2.4.2 - Về vốn lưu động 32 2.5. Những mặt hạn chế. 33 2.5.1 - Về sử dụng vốn cố định. 33 2.5.2 - Về vốn lưu động 34 2.5.3 Những nguyên nhân gây ra hạn chế trên. 34 Phần 3.Một số giải pháp để huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Đức Phương. 36 3.1 Định hướng hoạt động cho công ty trong thời gian tới. 36 3.1.1 Cơ hội và thách thức. 36 3.1.1.1 Cơ hội. 36 3.1.1.2 Thách thức. 37 3.1.2 Định hướng hoạt động cho công ty trong thời gian tới. 38 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Đức Phương. 38 3.2.1 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn. 38 3.2.2 Hoàn thiện hệ thống quản lý tài chính của doanh nghiệp. 39 3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. 39 3.2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. 42 3.2.4.1 Tận dụng tối đa khả năng của các tài sản cố định. 42 3.2.4.2 Gắn trách nhiệm của người lao động với quá trình sử dụng các tài sản cố định. 42 3.2.4.3 Nâng cao tay nghề của người lao động. 43 3.2.5 Các biện pháp khác. 43 3.2.5.1 Xây dựng chiến lược của doanh nghiệp một cách hợp lý, rõ ràng. 43 3.2.5.2 Đẩy mạnh việc quảng bá thương hiệu và tiêu thu sản phẩm. 43 3.2.6 Kiến nghị đối với nhà nước. 44 Kết luận. 45 Danh mục tài liệu tham khảo. 46

doc49 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 24/05/2013 | Lượt xem: 1500 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng và giả pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty motor Đức Phương, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n. Trong năm 2007, hiệu suất là 1,7 tức là từ 1 đồng vốn cố định tào ra được 1,7 đồng doanh thu thì sang đến năm 2008 giảm xuống 1,09 và đến năm 2009 chỉ còn là 0,87. Trong khi đó, hàm lượng vốn cố định lại đang tăng lên từ mức 0,59 của năm 2007 lên mức 0,96 vào năm 2008 và đến năm 2009 là 1,19 nó cho thấy để có được một đồng doanh thu, doanh nghiệp ngày càng phải bỏ ra nhiều đồng vốn cố định hơn. Điều này được giải thích là do sự sụt giảm về mặt doanh thu của doanh nghiệp, một sự sụt giảm rất lớn trong khi lượng vốn cố định vẫn giữ ở mức tương đối ổn định. Trong khhi đó, hệ số hao mòn tài sản cố định luôn ở mức ổn định là 0,03 đến 0,04 nguyên nhân chính là do doanh nghiệp sử dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng vì vậy mà chỉ tiêu này không có nhiều biến động. Nhưng đây cũng là một điểm yếu của doanh nghiệp khi mà các tài sản, thiết bị máy móc trong thời gian đầu luôn hoạt động hiệu quả hơn những thời gian sau đó. Tỷ suất lợi nhuận của vốn cố định cũng đang giảm dần và ở một mức rất thấp trên dưới 1% trong đó thấp nhất là năm 2009 chỉ có 0,18%. Một dấu hiệu cho thấy sự hoạt động kém hiệu quả của doanh nghiệp trong thời gian này. Hệ số trang bị tài sản cố đinh cũng đang giảm đi, nguyên nhân chính của vấn đề này đó là do doanh nghiệp đang mở rộng quy mô về lao động, lượng lao động làm việc trong doanh nghiệp năm 2009 đã tăng gần gấp 2 lần so với năm 2007. Mặc dù vậy thì tỷ suất đầu tư tài sản cố định vẫn luôn giữ ở mức cao trên 50% đây cũng là điều dễ hiểu vì đây là một doanh nghiệp công nghiệp với hoạt động chính của mình là lắp rắp ô tô, xe máy. Trong khi đó thì hiệu suất sử dụng tài sản cố định lai đang giảm đi. Để thấy rõ hơn về thực trạng sử dụng vốn cố định, ta thông qua bảng phân tích dưới đây: Bảng 8: tỷ suất tài trợ vốn cố đinh. (Đơn vị: đồng) Năm Chỉ tiêu 2007 2008 2009 1. Tài sản cố định 199.356.829.659 192.715.029.659 192.715.029.659 2. Nợ dài hạn 9.996.711.135 7.775.219.135 5.553.727.135 3. Vốn chủ sở hữu 218.134.564.900 239.661.229.897 251.006.639.898 4. Vốn lưu động thường xuyên 28.774.446.376 54.721.419.373 63.845.337.374 Qua số liệu ở bảng 8, ta thấy vốn lưu động thường xuyên của công ty luôn lớn hơn 0, nó cho thấy nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp luôn đủ để đầu tư cho tài sản cố định, thậm chí doanh nghiệp đang có dấu hiệu dư thừa một lượng vốn khá lớn. Lượng vốn lưu động thường xuyên dùng để tài trợ cho lượng vốn cố định của doanh nghiệp đang tăng nên hàng năm, nó cho thấy doanh nghiệp có một sự đảm bảo vững chắc hơn những tài sản cố đinh của mình bằng lượng vốn chủ sở hữu. Sự tăng lên này một phần là do sư tăng lên của vốn chủ sỡ hữu, một phần cũng là do sự sụt giảm của tài sản cố định trong doanh nghiệp vì hoạt động hạch toán, khấu hao trong quá trình hoạt động. 2.2.4 Tình hình sử dụng vốn lưu động Bảng 9: cơ cấu vốn lưu động. Năm Khoản mục 2007  2008  2009 Giá trị (VNĐ) Tỉ trọng % Giá trị (VNĐ) Tỉ trọng % Giá trị (VNĐ) Tỉ trọng % I. Tiền 273.341.443 0,36 356.735.827 0,32 162.230.487 0,11 1. Tiền mặt tại quỹ 210.365.800 0,28 118.275.600 0,11 36.598.000 0,02 2. Tiền gửi ngân hàng. 62.975.643 0,08 238.460.227 0,22 125.632.487 0,08 II. Các khoản phải thu 12.314.868.600 16,11 22.289.156.000 20,24 22.508.656.000 14,88 1. Phải thu của khách hàng 5.729.212.600 7,49 15.703.500.000 14,26 15.923.000.000 10,53 2. Phải thu nội bộ 6.585.656.000 8,61 6.585.656.000 5,98 6.585.656.000 4,35 III. Hàng tồn kho 63.292.611.576 82,78 87.239.682.500 79,20 126.724.821.058 83,77 1. Nguyên vật liệu tồn kho 41.942.634.520 54,86 19.238.212.500 17,47 33.688.518.062 22,27 2. Thành phẩm tồn kho 16.187.587.856 21,17 41.092.470.000 37,31 65.716.302.996 43,44 3. Hàng gửi đi bán 5.162.389.200 6,75 26.909.000.000 24,43 27.320.000.000 18,06 IV. Tài sản lưu đông khác. 579.200.000 0,76 264.675.000 0,24 1.875.720.000 1,24 Các khoản cầm cố, ký quỹ ký cược ngắn hạn. 579.200.000 0,76 264.675.000 0,24 1.875.720.000 1,24 Tổng 76.460.021.619 100,00 110.150.249.327 100,00 151.271.427.545 100,00 (Nguồn: bảng cân đối kế toán của công ty). Kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp đã có sự thay đổi khá lớn. Về mặt giá trị, lượng vốn lưu động đã tăng lên khá cao, nếu như năm 2007 mới chỉ khoảng 76 tỷ đồng thi sang năm 2008 đã lên tới 110 tỷ đồng và đến năm 2009 là 151 tỷ đồng. Sự thay đổi đó cũng được thể hiện trong từng khoản mục của vốn lưu động. Hàng tồn kho là một khoản mục luôn chiếm tỉ trọng rất lớn trong toàn bộ vốn lưu động, năm 2007 là 63 tỷ đồng tương đương với 82,78%, sang năm 2008 là 87 tỷ đồng tương ứng với mức 79,02% và sang đến năm 2009 thì nó lại chiếm tới 83,77% vốn lưu động của doanh nghiệp với gần 127 tỷ đồng. Mặc dù có sự thây đổi thất thường về mặt tỉ trọng, nhưng về mặt giá trị thì khoản mục này vẫn tăng đều các năm. Nguyên nhân làm cho lượng hàng tồn kho của công ty tăng lên là do lượng thành phẩm tồn kho và lượng hàng gửi đi bán tăng lên với cao cả về mặt giá trị và tỉ trọng. Đó là dấu hiệu cho thấy hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt được hiệu quả không cao, hàng hóa tồn đọng nhiều, gây ứ đọng vốn của doanh nghiệp. Trong khi đó, khoản phải thu cũng đã tăng lên và thường xuyên chiếm khoảng trên 15% vốn lưu động của doanh nghiệp. Sự tăng lên của khoản mục này chính là do sự tăng lên của khoản phải thu khách hàng, nó cho thấy doanh nghiệp đã để cho khách hàng chiếm dụng một lượng vốn khá lớn. Tiền mặt của doanh nghiệp không có nhiều biến động và luôn chiếm một tỉ lệ rất thấp, gần như 0%, cao nhất là trong năm 2007 với mức 0,36% và thấp nhất vào năm 2009 với mức 0,11% điều này gây ảnh hưởng rất lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới khả năng chi trả của doanh nghiệp khi có những biến động bất thường của thị trường. Bảng 10: chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Năm Khoản mục Đơn vị tính 2007 2008 2009 1.Vốn lưu động sử dụng trong kì Đồng 76.460.021.619 110.150.249.327 151.271.427.545 2.Hiệu suất sử dụng vốn lưu động % 446 198 116 3.Sức sinh lợi của vốn lưu động Lần 0,04 0,01 0,00 4.Số vòng quay vốn lưu động Vòng 4 2 1 5.Thời gian của một vòng luân chuyển Ngày 80 180 360 Muốn hiểu rõ hơn thực trạng sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp ta thông qua số liệu phân tích ở bảng 10. Mặc dù lượng vốn lưu động sủ dụng bình quân trong kì tăng lên nhưng hiệu suất sử dụng thì lại đang giảm sút khi từ mức 446% của năm 2007 xuống còn 198% vào năm 2008 và sang năm 2009 chỉ còn 116%. Đây cũng là điều dễ hiểu vì doanh thu của doanh nghiệp trong năm 2008 và 2009 đã bị giảm sút do sự tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua. Chính vì vậy, sức sinh lời của vốn lưu động cũng đã giảm xuống rất thấp, năm 2009 gần như ở mức 0. Hoạt động của doanh nghiệp cũng có những dấu hiệu trầm lắng khi số vòng quay của vốn cũng bị giảm xuống, lượng vốn ứ đọng nhiều và giảm khả năng thanh khoản của vốn. Để thấy được rõ hơn tình hình của vốn lưu động trong doanh nghiệp ta nghiên cứu bảng số liệu sau đây: Bảng 11: Nguồn tài trợ vốn lưu động. (Đơn vị: đồng) Năm Chỉ tiêu 2007 2008 2009 1. Nợ ngắn hạn 48.666.225.243 70.621.367.312 97.352.930.728 2. Tồn kho 63.292.611.576 87.239.682.500 126.724.821.058 3. Phải thu 12.314.868.600 22.289.156.000 22.508.656.000 4. Tồn kho và các khoản phải thu 75.607.480.176 109.528.838.500 149.233.477.058 5. Nhu cầu VLĐ thường xuyên (4-1) 26.941.254.933 38.907.471.188 51.880.546.330 (Nguồn : báo cáo cáo của công ty) Qua bảng trên ta thấy, nhu cầu vốn lưu động thường xuyên luôn lớn hơn 0, điều đó cho thấy các nguồn vốn ngắn hạn từ từ bên ngoài không đủ để tài trợ vốn ngắn hạn của doanh nghiệp. Điều đó cho thấy doanh nghiệp vẫn cần phải bổ sung thêm vốn ngắn hạn của mình để có thể đáp ứng được nhu cầu của mình hoặc có những biện pháp tăng cường, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa để giảm thiểu tối đa lượng hàng hóa tồn kho bên trong doanh nghiệp. Lượng vốn lưu động của doanh nghiệp cũng đang bị ứ đọng rất nhiều, đặc biệt là lượng tồn kho, nó chiếm một giá trị quá lớn khiến cho nhu cầu về lượng vốn lưu động của doanh nghiệp tăng cao, gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng nên có những biện pháp để bù đắp lượng vốn lưu động đang bị thiếu hụt và cắt giảm lượng tồn kho để giảm bớt chi phí cho doanh nghiệp, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh được diễn ra liên tục và tăng hiệu quả của doanh nghiệp. 2.2.5. Chính sách sử dụng vốn của doanh nghiệp. Qua phân tích trên, ta thấy doanh nghiệp luôn thường xuyên thiếu hụt một lượng vốn lưu động khá lớn, vì vậy để bù đắp lượng vốn thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp đang sử dụng chính sách tài chính mạo hiểm khi thế chấp tài sản cố đinh của mình đi vay vốn ngân hàng. Đây là phương thức đã được công ty sủ dụng nhiều trong thời gian qua và cũng được rất nhiều các doanh nghiệp áp dụng. Trong bối cảnh hiện nay, việc tạo lập vốn qua kênh tín dụng này rất nhanh chóng và tiện dụng để có thể đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp một cách nhanh nhất có thể. Với ưu thế là một doanh nghiệp được thành lập hoạt động nhiều năm trên thị trường, đã tạo dựng được tên tuổi, uy tín và chỗ đứng trên thương trường cùng với lượng tài sản cố định khá lớn cho nên doanh nghiệp có đủ những điều kiện cần thiết để có thể tiếp cận được thị trường tài chính truyền thống này một cách dễ dàng. Bảng 12: lượng vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp (Đơn vị: đồng) Năm Khoản mục 2007 2008 2009 I. Lượng vốn vay ngân hàng 60.000.000.000 40.000.000.000 50.000.000.000 II. Giá tri tài sản đem thế chấp 70.541.123.000 46.265.893.107 66.372.849.818 1. Trị giá nhà xưởng 32.028.123.000 26.411.660.725 25.833.000.886 2. Trị giá máy móc thiết bị 48.513.000.000 39.682.472.286 40.539.848.932 Nguồn: báo cáo tài chính của công ty Tuy nhiên, để có thể vay được vốn từ ngân hàng, doanh nghiệp phải có tài sản đem ra thế chấp đảm bảo khả năng trả nợ của mình và phải chịu một mức lãi suất khá cao. Lượng vốn vay của doanh nghiệp đang ở mức khá cao. Để vây được lượng vốn mình cần, doanh nghiệp gần như đã phải cầm cố toàn bộ hệ thống nhà xưởng và máy móc thiết bị hiện có của mình để đảm bảo cho hoạt động đó. Thậm trí, vào năm nay do nhu cầu về vốn tăng cao, doanh nghiệp đã phải cầm cố gần như toàn bộ tài sản bao gồm: nhà xưởng, máy móc thiết bị, khách sạn, nhà riêng ... để thế chấp với ngân hàng vay vốn. Việc vay vốn với lãi suất khá cao trong những năm gần đây, lãi xuất luôn ở mức trên dưới 20% đã gây khá nhiều ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để xem xét sự tác động của chính sách tài chính mạo hiểm đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ta thông qua bảng 13 về báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp những năm gần đây để thấy được điều này. Dựa vào số liệu trong bảng thì ta có thể thấy chi phí tài chính đã tăng lên rất cao vào năm 2008 là khoảng 8,4 tỷ đồng và năm 2009 đạt gần 9 tỷ đồng, túc là gần gấp đôi so với mức hơn 5 tỷ đồng của năm 2007. Cũng qua bảng 13 ta thấy lợi nhuận của doanh nghiệp đang giảm đi rất nhanh, nguyên nhân chính là so sự sụt giảm về doanh thu. Và một nguyên nhân nữa đứng hàng thứ 2 đó chính là do sự tăng lên của chi phí tài chính trong doanh nghiệp. Một chi phí khá lớn đối với doanh nghiệp, Đặc biệt hơn nữa là trong bối cảnh đang diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế thị trường và tình hình buôn bán, doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đang có dấu hiệu giảm sút khá nghiêm trọng. Khi mà doanh thu của doanh nghiệp vẫn đang giảm đều từng năm và chưa có dấu hiệu phục hồi, trong năm 2007 doanh thu của đạt trên 340 tỷ thì sang đến năm 2008 chỉ còn ở mức 217 tỷ, năm 2009 doanh thu tiếp tục bị giảm xuống còn trên 175 tỳ. Chính những điều này đã làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm khá mạnh từ mức trên 2 tỷ đồng của năm 3007 xuống còn trên 300 triệu đồng của năm 2009, tương ứng với mức giảm gần 10 lần. Bảng 13: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2007- 2009. (Đơn vị: đồng). Năm. Khoản mục 2007 2008 2009 1.Doanh thu thuần từ bán hàng và cung câp dịch vụ. 340.801.084.877 217.639.542.313 175.268.553.182 2. Giá vốn hàng bán. 321.630.616.530 201.312.566.830 160.758.710.967 3. Lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ. 19.170.468.347 16.326.975.483 14.509.842.215 4. Doanh thu từ hoạt động tài chính. 10.225.362 8.254.362 5.658.965 5. Chi phí tài chính. 5.121.965.000 8.388.650.000 8.896.117.490 Trong đó: lãi vay phải trả. 5.121.965.000 8.388.650.000 8.896.117.490 6. Chi phí bán hàng. 5.212.655.346 3.276.985.300 2.456.985.123 7. Chi phí quản lý doanh nghiệp. 5.496.949.587 3.905.660.325 2.781.546.322 8. Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh. 3.349.123.776 763.934.220 380.852.245 9. Tổng lợi nhuận trước thuế. 3.349.123.776 763.934.220 380.852.245 10. Thuế TNDN phải nộp. 937.754.657 213.901.582 76.170.449 11. Lợi nhuận sau thuế. 2.411.369.119 550.032.638 304.681.796  (Nguồn: báo cáo của công ty). Như vậy,ta đã thấy chính sách này của đang gây khá nhiều ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đặc biệt là với bối cảnh của nền kinh tế hiện nay đang trong giai đoạn khủng hoảng, suy thoái, nó đang là một nguy co tiềm ẩn luôn luôn rình rập doanh nghiệp. Thị trường tài chính đang có rất nhiều những biến động bất thường, hàng loạt những ngân hàng lớn trên thế giới đã bị phá sản. Ngay tại Việt Nam, các doanh nghiệp cũng đã phải hứng chịu khá nhiều tác động, riêng trong ngành công nghiệp ô tô còn non trẻ thì số lượng các doanh nghiệp cũng đã có sự sụt giảm, những năm trước đây có hàng chục doanh nghiệp hoạt động thì đến bây giờ chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Hơn nữa cùng với đó là sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các tập đoàn ô tô nổi tiếng của thế giới như Honda, Toyota, … Chính vì vậy mà doanh nghiệp cần cân nhắc kĩ lưỡng hơn đối với các chính sách về vốn của mình để có được những biện pháp tối ưu nhất, giảm thiểu tối đa những tác động và giảm thiểu những chi phí phát sinh thêm để hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể diễn ra một cách bình thường, tốt đẹp, vượt qua thời kì khó khăn của nền kinh tế. Vốn vay từ ngân hàng là một trong những nguồn vốn quan trọng không chỉ đối với sự phát triển của bản thân doanh nghiệp mà còn đối với toàn bộ nền kinh tế. Nguồn vốn này xuất hiện từ sớm trong lịch sử và tiếp tục khẳng định ưu thế của nó đến ngày hôm nay. Tuy nhiên, với tình hình như hiện nay doanh nghiệp cần có những tính toán chính xác để cho mình có thể có được nguồn vốn với những chi phí thấp nhất có thể. Hiện nay, để đối phó phần nào với cuộc khủng hoảng tài chính, các ngân hàng cũng thắt chặt hơn với các khoản cho vay của mình. Chính vì vậy, doanh nghiệp nên lựa chọn cho mình những chính sách mới để sử dụng vốn cho phù hợp. Đặc biệt với các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện nay đang sử dụng chính sách vốn đầu tư mạo hiểm từ các tổ chức, cá nhân, đây là một chính sách khá khôn ngoan khi mà họ có thể có được lượng vốn mình cần mà không phải thế chấp những tài sản mình đang có và đồng thời cũng giảm được những chi phí tài chính cao do lãi suất khi vay ngân hàng. Đây là một chính sách khá khôn ngoan của doanh các doanh nghiệp hiện nay, vì vậy doanh nghiệp nên xem xét đưa nó vào trong chiến lược của mình để có thể giảm bớt chi phí, và rủi ro cũng như góp phần nâng cao lợi nhuận, lợi tức và tự chủ hơn trong các kế hoạch hoạt động kinh doanh của mình. 2.3. Tính toán các chỉ số tài chính cơ bản. Bảng 14: Chỉ tiêu tài chính. Chỉ tiêu ĐVT 2007 2008 2009 1. Bố trí cơ cấu tài sản và cơ cấu nguồn vốn 1.1. Bố trí cơ cấu tài sản TSCĐ/Tổng TS % 72,02 60,59 53,65 TSLĐ/Tổng TS % 27,62 34,63 42,12 1.2. Bố trí cơ cấu nguồn vốn Nợ phải trả/Tổng NV % 21,19 24,65 30,03 Vốn CSH/Tổng NV % 78,81 75,35 69,97 2. Khả năng thanh toán 2.1. Kn thanh toán nợ NH Lần 2.2. Kn thanh toán nhanh Lần 0,27 0,32 0,24 2.3 Kn thanh toán tức thời Lần 1,57 1,56 1,45 3. Tỷ suất sinh lời 3.1. Tỷ suất LN/DT LNTT/DT % 0,98 0,35 0,22 LNST/DT % 0,71 0,25 0,17 3.2. Tỷ suất LN/Tổng TS LNTT/Tổng TS % 1,21 0,24 0,11 LNST/ Tổng TS % 0,87 0,17 0,09 3.3 Tỷ suất LNST/Vốn CSH % 1,11 0,23 0,12 Qua bảng trên, ta thấy khả năng thanh toán các khoản vay của doanh nghiệp được giữ ở mức tương đối ổn định. Khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp đạt mức cao nhất vào năm 2008 là 0,32 lần, điều này cho thấy doanh nghiệp khó có khả năng thanh toán nhanh những khoản nợ ngắn hạn nếu có những thay đổi từ phía những chủ nợ. Trong khi đó, khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp lại luôn lớn hơn 1, nó cho thấy doanh nghiệp đang bị ứ đọng nhiều tiền mặt, doanh nghiệp đã không sử dụng hiệu quả những nguồn lực hiện có của mình. Lợi nhuận, điều đáng quan tâm nhất đối với doanh nghiệp đang bị giảm sút. Tỷ suất lợi nhuận của doanh nghiệp đang ở mức rất thấp và đang giảm xuống qua từng năm. Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu và vốn chủ sỏ hữu ở mức trên dưới 1%. Điều đó phản ánh các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không hiệu quả. 2.4. Những kết quả đạt được. 2.4.1 - Về vốn cố định. Công ty đã chú trọng đầu tư vào máy móc, thiết bị, dụng cụ quản lý, tiến hành nhượng bán số máy móc thiết bị cũ, lạc hậu, tiến hành sửa chữa và bảo dưỡng những máy móc thiết bị cũ mà vẫn còn sử dụng hiệu quả và phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Sử dụng hợp lý nguồn vốn tự có để đầu tư thay mới, đảm bảo cho công ty có được một cơ cấu tài sản cố định hợp lý với máy móc, phương tiện hiện đại phục vụ tốt cho hoạt động kinh doanh của mình. Chính vì vậy, doanh nghiệp đã duy trùy được nguồn vốn cố định với sự thay đổi không đáng kể về mặt giá trị qua các năm. Công ty đã tiến hành lập kế hoạch khấu hao cho từng năm, từng chu kì sản xuất kinh doanh cụ thể và chi tiết. Việc lập kế hoạch cụ thể cho giúp công ty kế hoạch hoá được nguồn vốn khấu hao, sử dụng một cách hợp lý và có hiệu quả nguồn vốn này. Đồng thời, công ty quy định rõ trách nhiệm đối với từng cá nhân, phòng ban trong việc sử dụng các tài sản của mình, đảm bảo tài sản được sử dụng đúng mục đích có hiệu quả. Hiệu quả sử dụng vốn cố định của công ty ngày càng tăng qua các năm kể từ năm 2007 đến năm 2009. 2.4.2 - Về vốn lưu động Khả năng thanh toán của công ty được duy trì ở mức tương đối ổn định, có nghĩa là tình hình tài chính của công ty cũng được duy trì ở một mức độ nào đó. Từ kết quả đã đạt được trong năm 2007 - 2009, giúp công ty tạo thêm được mối quan hệ với nhiều bạn hàng, có uy tín hơn trên thương trường. Điều này giúp công ty thuận lợi hơn nhiều trong việc huy động nguồn vốn để tài trợ cho công tác sử dụng vốn của mình. Công ty đã thực hiện cơ chế hạch toán kinh doanh độc lập tới các phân xưởng, nhà máy, đơn vị thành viên, giúp các tổ chức này có trách nhiệm hơn trong việc sử dụng và quản lý vốn được giao, giảm được sự mất mát về tài sản như trước đây. Đời sống kinh tế của các cán bộ công nhân viên trong công ty ngày càng được cải thiện. ¨ Những nguyên nhân khách quan. Mục tiêu kinh doanh của công ty phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá và xu thế hội nhập quốc tế. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp trong lĩnh vực ô tô, xey máy thực hiện nội địa hóa sản phẩm để có thể tạo ra những sản phẩm mang thương hiệu Việt. Nhà nước đã ban hành một hành lang pháp lý, có ảnh hưởng và tạo cơ hội thuận lợi cho công ty hoạt động và có một sân chơi công bằng và thông thoáng hơn. ¨ Nguyên nhân chủ quan. Do sự cố gắng nỗ lực của các cán bộ công nhân viên trong công ty. Thời gian đầu, công ty luôn trong tình trạng thiếu vốn, thiếu nhân lực có trình độ cao nhưng đến nay cán bộ của công ty được trang bị khá đầy đủ với trình độ cao. Công ty đã tổ chức và quản lý tốt quá trình kinh doanh của mình. Các khâu tổ chức đã được phối hợp nhịp nhàng, ăn khớp chặt chẽ với nhau tránh tình trạng lãng phí vốn trong quản lý cũng nhu trong quá trình sản xuất kinh doanh.. Thường xuyên tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh giúp công ty nắm bắt được tình hình tài chính của mình, cũng như tình hình tài chính bên ngoài có ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Do công ty đã tổ chức quản lý tốt khâu tuyển chọn các cán bộ lao động cho công ty giúp công ty năng động hơn trong các tình huống kinh doanh của mình. Uy tín của công ty ngày càng lớn đối với bên đối tác kinh doanh của mình, được khách hàng ngày càng tin tưởng hơn. 2.5. Những mặt hạn chế. Song song với những thành tựu đạt được ở trên thì hiệu quả sử dụng vốn của công ty còn những hạn chế sau: 2.5.1 - Về sử dụng vốn cố định. Vốn cố định chiếm tỷ trọng quá lớn trong tổng vốn của công ty. Công ty chỉ mua máy móc, thiết bị mới khi máy móc cũ hoặc hỏng hóc sử dụng với hiệu suất quá kém. Công ty áp dụng cách tính khấu hao theo đường thẳng để lập kế hoạch khấu hao cho tài sản của mình trong năm. Đây là một hạn chế vì trong những năm đầu hiệu suất làm việc của máy móc cao hơn nhiều so với những năm cuối, đem lại hiệu quả cao kinh doanh cao hơn nhiều trong giai đoạn cuối. 2.5.2 - Về vốn lưu động Tình hình cho thấy, các khoản phải thu của công ty chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong tổng tài sản lưu động của công ty. Năm 2007 là 16% đến năm 2008 có xu hướng tăng lên tới 20%, gần gấp đôi về mặt giá trị, sang năm 2009 tỷ trọng có xu hướng giảm nhẹ xuống còn khoảng 15% nhưng về mặt giá trị thì không có biến động nhiều, tạo ra đôi chút khó khăn cho hoạt động kinh doanh cũng như trong khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Hàng tồn kho của công ty tăng rất nhanh và chiếm một tỉ trọng rất lớn, bình quân luôn ở mức trên 80% vốn lưu động của doanh nghiệp. Điều đó chứng tỏ công ty còn tồn đọng nhiều sản phẩm sản xuất dở dang, tồn đọng nguyên nhiên vật liệu trong kho. Doanh nghiệp cần nghiên cứu giải phóng bớt hàng tồn kho để giảm bớt sự ứ đọng nguồn vốn. Lượng tiền trong doanh nghiệp luôn ở mức rất thấp và chiếm một tỉ trọng quá nhỏ gần như không đáng kể khi mà nó luôn xấp xỉ ở mức 0% so với nguồn vốn khiến cho khả năng chi trả của doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn. Mặc dù khả năng thanh toán của công ty có nhiều biến đổi nhưng nó vẫn là quá thấp. Khả năng thanh toán của công ty còn yếu trong khi đó tỷ lệ nợ phải trả của công ty là quá cao. Doanh nghiệp cần tìm ra giải pháp khắc phục tình trạng này. Hiệu suất sử dụng tài sản có thể tạm chấp nhận được nhưng hệ số sinh lời thấp, hơn nữa hiệu suất này lại biến động không đều qua các năm gần đây. Điều này có thể là do chi phí quản lý còn quá cao, doanh nghiệp cần có giải pháp giảm chi phí này. 2.5.3 Những nguyên nhân gây ra hạn chế trên. Do sự gia tăng liên tục với tốc độ cao của giá trị hàng tồn kho và các khoản phải thu. Vấn đề này làm đau đầu các nhà quản trị trong công tác quản lý và sử dụng vốn của công ty. Các khoản phải thu tăng lên trong đó chủ yếu là các khoản phải thu của khách hàng. Bên cạnh đó, việc thẩm định khả năng trả nợ của khách hàng chưa được công ty tiến hành chặt chẽ. Hơn nữa, hệ thống ngân hàng Việt Nam tuy đã phát triển hơn trước nhưng vẫn còn yếu kém so với hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới. Việc thanh toán của người Việt chúng ta hầu như là bằng tiền mặt không quen thanh toán bằng các hình thức khác như: chuyển khoản, thẻ tín dụng... mặc dù đã có nhưng chưa được phổ biến. Điều này gây khó khăn trong việc nắm bắt tình hình tài chính của khách hàng. Khi khách hàng ký kết hợp đồng mua bán, giao dịch hàng hóa với công ty cần có những thông tin về khách hàng như tình hình thu nhập, đối với đối tác là các doanh nghiệp thì còn cần thêm thông tin về tài chính của doanh nghiệp họ… Do vậy, vấn đề xảy ra nợ quá hạn hay nợ khó đòi là điều khó tránh khỏi đối với công ty. Doanh nghiệp áp dụng hình thức khấu hao theo đường thẳng, do đó giá trị TSCĐ đã được khấu hao hết nhưng lượng TSCĐ này lại chưa được đầu tư mới hoặc chỉ đầu tư khi máy móc đó không còn sử dụng được, hiệu quả kém. Thực tế công ty đã không chú trọng đến TSCĐ của mình nên chất lượng, sản phẩm của công ty chưa được như mong muốn, chưa phát huy hết khả năng sẵn có của mình, gây khó khăn trong cạnh tranh với các hãng nước ngoài như Nhật, Pháp, Mỹ... thậm trí kể cả cới các sản phẩm của Trung Quốc hay Thái Lan chúng ta cũng không chiếm được nhiều ưu thế. Việc bố trí cơ cấu vốn của doanh nghiệp cũng chưa được phù hợp. Chủ yếu là vốn cố đinh còn lưu động chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng vốn của công ty. Đây là vấn đề không hợp lý trong phân bổ cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Chi phí quản lý của doanh nghiệp còn quá cao làm giá thành sản phẩm của công ty bị đội lên tạo ra khó khăn trong việc cạnh tranh với các đối thủ. Sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đang diễn ra trong thời gian gần đây, nó đã tác động tới mọi hoạt động của nền kinh tế, ngành công nghiệp ô tô không phải là ngoại lệ. Khủng hoảng làm cho khả doanh thu của các doanh nghiệp đều bị giảm sút và gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động sử dụng nguồn vốn của doanh nghiệp nói riêng. Do tình trạng thiếu vốn, công ty phải đi vay ngắn hạn ngân hàng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Việc đi vay ngân hàng khiến công ty phải trả một khoản tiền lãi khá lớn, nó làm giảm lợi nhuận của công ty làm cho công ty ít có cơ hội đầu tư vào các lĩnh vực kinh doanh khác. Trình độ cán bộ quản lý của công ty nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều cán bộ chưa tích cực học tập, trong điều kiện khoa học công nghệ, nhất là các tiến bộ khoa học công nghệ trong lĩnh vực giao thông vận tải đang ngày càng phát triển nhanh chóng, vẫn còn tư tưởng ỷ lại vào Nhà nước. Ngoài ra, còn nhiều nguyên nhân khác nữa cũng ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp như: Hành lang pháp luật, định hướng phát triển kinh tế đất nước … Phần 3 Một số giải pháp để huy động và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Đức Phương. 3.1 Định hướng hoạt động cho công ty trong thời gian tới. Là một doah nghiệp đã được thành lập và hoạt động hơn 17 năm, từ khi nền kinh tế Việt Nam bắt đầu hội nhập với kinh tế thế giới, công ty đã từng bước khẳng định và tìm được cho mình những hướng đi riêng giúp công ty đứng vững và phát triển trên thị trường đầy sự cạnh tranh khốc liệt. Trong thời buổi toàn cầu hóa của nền kinh tế, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được những cơ hội cũng như những thách thức đang chờ đợi mình ở phía trước để có những bước đi an toàn và chính xác. 3.1.1 Cơ hội và thách thức. 3.1.1.1 Cơ hội. Là một doanh nghiệp có thời gian hoạt động khá lâu và đã tích lũy được rất nhiều kinh nghiệm trong thương trường và hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vậy mà doanh nghiệp có lợi thế hơn so với những doanh nghiệp mới được thành lập sau này. Cuộc khủng hoảng kinh tế đầu thế kỉ 21 đã tác động mạnh mẽ tới tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế, trong đó chịu ảnh hưởng mạnh nhất là lĩnh vực tài chính, tiếp theo đó là ngành công nghiệp ô tô, cùng với đó là sự phá sản và thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp trong ngành như: GM, Toyota,... Ngành công nghiệp ô tô trong nước cũng chịu những tác động khá lớn từ cuộc khủng hoảng này. Từ chỗ có hàng trăm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực lắp ráp, sản xuất ô tô. Xe máy trong nước thì đến nay chỉ còn hơn chục công ty hoạt động trong lĩnh vực này. Đây là cơ hội lớn để cho doanh nghiệp tận dùng thời cơ mở rộng thị trường của mình do sự giảm bớt các đối thủ cạnh tranh. Dòng sản phẩm mà doanh nghiệp đang sản xuất là những dòng sản phẩm mới như xe 4 bánh, xe dùng trong nông nghiệp... vì vậy doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt động của mình, nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường để tạo vị thế riêng. Sự hội nhập ngày càng mạnh mẽ của Việt Nam với nền kinh tế thế giới, đặc biệt là khi Việt Nam bắt đầu thực hiện các cam kết khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO và thực hiện các điều khoản của khu vực mậu dịch tự do ASEAN – AFTA điều này sẽ làm giảm bớt các rào cản về thuế quan, giúp doanh nghiệp có thể nhập khẩu được những nguồn nguyên liệu tốt, những thiết bị linh kiện, phụ kiện chất lượng với giá cả phù hợp để góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp tìm cho mình cơ hội đưa sảm phẩm đến với các nước trên thế giới, thúc đẩy xuất khẩu thu ngoại tệ về cho đất nước. Một thuận lợi nữa đó là sự đầu tư mạnh mẽ của các nhà đầu tư nước ngoài, điều đó giúp doanh nghiệp có thể thu hút được cho mình những nguồn vốn với những chi phí thấp nhất, hoặc tiếp cận được với những công nghệ hiện đại nhất thông qua việc chuyển giao công nghệ với chi phí thấp. Điều đó giúp cho doanh nghiệp giảm được giá thành của sản phẩm và nâng cao chất lượng cũng như khả năng cạnh tranh trên thị trường. Do số lượng các doanh nghiệp lắp ráp ô tô, xe máy trong nước còn ít cùng với những chính sách hỗ trợ tích cực từ phía nhà nước giúp cho doanh nghiệp có được những cơ hội dễ dàng tiếp cận với những nguồn đầu tư, công nghệ,... giảm được những chi phí về thuế ... Người lao động Việt Nam ngày càng có những tiến bộ, lượng lao động có tay nghề cao ngày càng nhiều. Đặc biệt, sau cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều người bị mất việc, đây là cơ hội để doanh nghiệp tuyển mộ cho mình những lao động phù hợp với tay nghề cao nhất, lành nghề nhất. Nhu cầu đi lại của người dân ngày càng tăng cao, mức sống của người dân cũng đang thay đổi theo chiều hướng tích cực hơn, số lượng gia đình, người dân có ô tô, xe máy ngày càng nhiều, vì vậy nó mở ra một nhu cầu lớn về các phương tiện đi lại tạo ra một thị trường rộng lớn để doanh nghiệp tiêu thu các sản phẩm của mình. Người nông dân Việt Nam ngày biết ứng dụng những tiến bộ của khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất, vì vậy với những dòng sản phẩm mới phục vụ cho nông nghiệp của công ty đã có những thị trường tiềm năng rộng mở để phát triển hoạt động tiêu thụ của mình. Cùng với một hệ thống các đại lý rộng khắp đất nước, điều mà không phải bất cứ doanh nghiệp nào có được, nó sẽ giúp doanh nghiệp nhanh chóng và có nhieuf lợi thế hơn so với các doanh nghiệp khác trên thị trường. 3.1.1.2 Thách thức. Cùng với quá trình hội nhập sâu rộng, sự thâm nhập của các doanh nghiệp ô tô, xe máy nước ngoài với thượng hiệu đã được khẳng định trên toàn thế giới cùng với công nghệ tiên tiến tạo ra những sản phẩm mẫu mã đẹp, hiện đại, sang trọng đang tạo ra những thách thức không nhỏ đối với doanh nghiệp. Cùng với sự phát triển của các liên doanh, cũng như các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Sự xuất hiện hầu hết các hãng xe nổi tiếng thế giới tại Việt Nam đang tạo ra một sự cạnh tranh rất lớn. Sự thâm nhập mạnh mẽ của các sản phẩm mang thương hiệu “made in China” với ưu thế về giá cả cũng như mẫu mã. Xu hướng tiêu dùng của người Việt Nam vẫn chưa được thay đổi nhiều, đặc biệt là xu thế sính hàng ngoại chê hàng nội và phải cần một thời gian dài mới có thể thay đổi được. 3.1.2 Định hướng hoạt động cho công ty trong thời gian tới. Với những cơ hội và thách thức lớn như vậy, doanh nghiệp cần tìm cho mình những hướng đi đúng đắn và phù hợp nhất. Công cần ty xác định vấn đề tăng doanh thu, tăng lợi nhuận và mở rộng thi trường là những vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp, muốn vậy thì doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của mình. Một trong những mục tiêu hàng đầu của doanh nghiệp đó là tăng dần tỷ lệ nội địa hóa, đây là một vấn đề rất khó mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam đang mắc phải mà vẫn chưa tìm được cho mình bước đi đúng đắn. Muốn thực hiện được mục tiêu này, doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một chiến lược rõ ràng, cụ thể để thực hiện. Tập trung vào những dòng sản phẩm chiến lược mà doanh nghiệp mình đang có lợi thế như: xe tải, xe 3 bánh, xe 4 bánh... đồng thời có chiến lược hướng vào những thị trường cụ thể tránh viêc dàn trải các nguồn lực của doanh nghiệp. Mục tiêu của doanh nghiệp là mở rộng thị trường nhưng trước hết phải giũ vững được vị thế của mình tại những thị trường, khu vực truyền thống của mình. 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Đức Phương. 3.2.1 Đa dạng hóa các hình thức huy động vốn. Hiện nay, doanh nghiệp chủ yếu mới huy động vốn từ hai nguồn chính đó là vốn chủ sở hữu và vốn vay ngân hàng. Tuy nhiên, để có được một lượng vốn kinh doanh lớn đủ để thực hiện các chiến lược phát triển lâu dài của doanh nghiệp thì doanh nghiệp nên đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn vốn kinh doanh của mình. Huy động vốn từ thị trường chứng khoán: trong khoảng 10 năm trở lại đây, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc về quy mô, số lượng các công ty lên sàn ngày càng nhiều cùng với đó là lượng người tham gia chơi chứng khoán càng đông. Để có thể tăng thêm nguồn vốn kinh doanh cho mình thì doanh nghiệp có thể sử dụng thị trường chứng khoán để thu hút nguồn vốn bằng cách phát hành các trái phiếu của công ty, tiến hành cổ phần rồi đưa cổ phiếu của doanh nghiệp lên sàn để thu hút lượng vốn từ các nhà đầu tư chứng khoán. Huy động vốn từ các các nguồn tín dụng thuê mua tài chính. Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, hoạt động tín dụng của và hoạt động ngân hàng cũng phát triển mạnh mẽ theo. Kèm theo đó là sự ra đời của rất nhiều các công ty cho thuê tài chính như: công ty thuê mua và đầu tư của Vietcombank, công ty thuê mua và tư vấn của ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, … Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể huy động thêm vốn cho mình từ các nguồn khác như tín dụng từ các nhà cung cấp, nguồn tạm ứng của khách hàng, … 3.2.2 Hoàn thiện hệ thống quản lý tài chính của doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp thì con người và bộ máy quản lý của doanh nghiệp luôn là yếu tố có ảnh hưởng quyết định đến mọi hoạt động của đơn vị chứ không riêng gì bộ phận tài chính của công ty. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần xây dựng cho mình một bộ máy quản lý tài chính hợp lý phù hợp với mục tiêu cũng như điều kiện hiện tại của doanh nghiệp. Bộ máy quản trị của doanh nghiệp phải đảm bảo tính gọn nhẹ, năng động, linh hoạt trước những biến đổi của thị trường và của nền kinh tế. Luôn chú ý khâu tuyển dụng theo nguyên tắc tuyển người theo yêu cầu của công việc chứ không được phép làm ngược lại. Thường xuyên tổ chức những khóa huấn luyện bồi dưỡng nghiệp vụ cho nhân viên nhằm nâng cao trình độ, giúp đội ngũ cán bộ nhân viên nắm bắt được kịp thời các quy định của nhà nước, học hỏi tiếp thu kinh nghiệm của những người đi trước. Làm tăng khả năng ứng phó kịp thời với sự biến động mạnh mẽ của thị trường tài chính. Xây dựng chế độ khen thưởng kỉ luật rõ ràng để qua đó khuyến khích cán bộ nhân viên hoàn thành tốt các công việc được giao, mặt khác hạn chế được các tiêu cực. Có cơ chế để khuyến khích nhân viên đưa ra sang kiến và ứng dụng nó vào trong thực tế. Tạo ra những cuộc thi đua lành mạnh trong công ty để mọi người hăng hái tham gia. 3.2.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Để đảm bảo quá trình sản xuất được diễn ra liên tục, vốn lưu động luôn luôn thay đổi giá trị và vận động theo chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp từ cung ứng đến sản xuất và lưu thông. Như vậy, vốn lưu động được tiếp tục tuần hoàn và chu chuyển theo chu kì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Với vai trò quan trọng như vậy, doanh nghiệp cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng dòng vốn lưu động này. Để sử dụng được hiệu quả, doanh nghiệp cần xác định: Xác đinh chính xác vốn lưu động được luân chuyển ở từng khâu: đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản trị vốn lưu động nhằm: - Tiết kiệm vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh. - Thông qua việc xác định vốn lưu động ở từng khâu để nắm được tình hình vốn lưu động thừa thiếu ra sao để doanh nghiệp có kế hoạch đi vay bổ sung hoặc tránh ứ đọng nguồn vốn trong doanh nghiệp. Qua đó đảm bảo đủ lượng vốn lưu động cần thiết trong doanh nghiệp giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh được tiến hành một cách liên tục, thúc đẩy tốc độ sử dụng vốn lưu động để qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại doanh nghiệp. Tổ chức triển khai tốt nguồn vốn lưu động phục vụ cho quá trình sản xuất. Trước hết, doanh nghiệp cần khai thác triệt để các nguồn vốn nội bộ và các nguồn vốn có thể chiếm dụng một cách thường xuyên như nợ định mức, phải trả khách hàng, … sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn vốn này. Nếu còn thiếu thì doanh nghiệp phải tìm các nguồn khác để bổ sung từ bên ngoài doanh nghiệp như đi vay ngân hàng, các tổ chức tín dụng, phát hành trái phiếu, … Tuy nhiên doanh nghiệp cần cân nhắc và lựa chọn kĩ lưỡng giữa các hình thức sao cho có được phương án huy động với mức chi phí thấp nhất. Thường xuyên phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động. Tăng cường kiểm tra tài chính với dòng vốn lưu động, thực hiện việc này thông qua một số chỉ tiêu như: vòng quay vốn lưu động, sức sinh lợi của vốn lưu động… Qua đó biết được rõ ràng tình hình sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp để phát hiện ra những vướng mắc và sửa đổi kịp thời những thiếu xót, vướng mắc đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Ngoài các biện pháp trên thì doanh nghiệp cần thực hiện một số các biện pháo tổng hợp khác như đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ hàng hóa, sử lý kịp thời vật tư, nguyên liệu, hàng tồn kho,… để luân chuyển giải phóng vốn. Thường xuyên xác định sự biến động của thị trường để có biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả. Thực hiện triệt để công tác thanh toán nợ và chủ động phòng ngừa rủi ro, hạn chế tình trạng chiếm dụng vốn lưu động khiến doanh nghiệp phải đi vay bên ngoài khi có nhu cầu, làm tăng chi phí vốn và tăng gánh nặng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần lập các quỹ dự phòng để tài chính để bù đắp khi có sự thiếu hụt về vốn. Hạn chế vốn lưu động bị chiếm dụng nhằm thu hồi vốn nhanh, tăng vòng quay của vốn. Trong điều kiện hiện nay, việc chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp có xu hướng ngày càng gia tăng. Trong tình hình chung đó, số vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp chiếm tỉ lệ không nhỏ chiếm khoảng trên 15% vốn lưu động của doanh nghiệp. Lượng vốn bị chiếm dụng này không những không sinh lãi mà còn làm giảm vòng quay của vốn, hạn chế hiệu quả sử dụng vốn của công ty. Do vậy cần thực hiện các biện pháp sau để hạn chế vốn bị chiếm dụng trong khâu lưu thông. Trước khi ký hợp đồng, doanh nghiệp cần nắm tình hình tín dụng của các khách hàng về các mặt sau: - Báo cáo tài chính: doanh nghiệp có thể đề nghị khách hàng cung cấp thông tin tài chính như bảng tổng kết tài sản, báo cáo thu nhập, một số tỉ lệ như lợi nhuận vốn, tốc độ chu chuyển vốn lưu động. - Báo cáo tín dụng về tình hình thanh toán của khách hàng với các doanh nghiệp khác để xem xét lịch sử thanh toán của doanh nghiệp với các khách hàng khác, trả tiền đúng hạn hay không, bao nhiêu lần gây rắc rối trong việc trả tiền... - Quan hệ tín dụng với các ngân hàng của doanh nghiệp. Khi ký kết hợp đồng, doanh nghiệp cần thoả thuật trong hợp đồng có phần phạt hành chính nếu khách hàng trả tiền chậm tuỳ vào giá trị lô hàng, thời gian khách hàng trả chậm. Làm như vậy sẽ đảm bảo cả hai bên đều có trách nhiệm hơn nữa trong vấn đề thanh toán của mình. Khi xảy ra tranh chấp hợp đồng, cả doanh nghiệp và khách hàng cần phải nhanh chóng giải quyết dứt điểm không để xảy ra tình trạng gây tình trạng ứ đọng vốn lâu, mất uy tín của doanh nghiệp với khách hàng hiện tại cũng như trong tương lai. Mặt khác, phía doanh nghiệp phải luôn sẵn sàng tạo các điều kiện cần thiết để khi khách hàng yêu cầu đáp ứng ngay và đúng tiến độ trong hợp đồng đã ký kết xí nghiệp cũng cần mạnh dạn khuyến khích khách hàng thực hiện đúng thời hạn trong hợp đồng, nhằm tăng tốc độ tiêu thụ và thu hút khách hàng ngày càng đông. Như vậy có nghĩa rằng muốn tạo ra một cơ chế thu hồi nhanh vốn, bảo toàn được vốn, tăng vòng quay vốn đòi hỏi phải có một hệ thống đồng bộ. Tuy nhiên chúng ta cũng cần thấy rằng không phải lúc nào thu tiền ngay cũng có lợi nhất là đối với các bạn hàng truyền thống hoặc những bạn hàng nằm trong diện ưu tiên. Khi đó doanh nghiệp nên cho phép khách hàng trả chậm nhưng vẫn phải đảm bảo thu hồi đúng thời hạn và chi phí cho việc khách hàng thanh toán chậm là nhỏ nhất để có thể giữ được mối quan hệ tốt đẹp đối với những khách hàng này. 3.2.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định. 3.2.4.1 Tận dụng tối đa khả năng của các tài sản cố định. Để tận dụng tối đa khả năng sử dụng của các tài sản cố định công ty nên có nhũng biện pháp cụ thể để quản lý một cách chặt chẽ và hiệu quả nguồn vốn cố định của mình như: Khi mua sắm hay thanh lý bất cứ một loại tài sản cố định nào doanh nghiệp cũng cần xem xét một cách kĩ lưỡng về mặt hiệu quả sử dụng của những thiết bị cũ cũng như chi phí do sử dụng những thiết bị đó mà có cùng với việc so sánh với việc sử dụng những thiết bị mới về khả năng sản xuất, hiệu quả đầu tư, chi phí … từ việc sử những thiết bị mới này để có được những phương án sử dụng và đầu tư hiệu quả nhất cho doanh nghiệp. Khi đã quyết đinh mua sắm trang thiết bị mới thì doanh nghiệp cần xây dựng cho mình những phương án kinh doanh thích hợp rồi qua đó chọn ra phương án kinh doanh khả thi, mang lại hiệu quả cao nhất để khi đưa tài sản cố định đó vào sử dụng sẽ phát huy được tối đa công suất đảm bảo đầu tư có hiệu quả. Đối với những thiết bị đã có thời gian khấu hao dài, công suất kém thì công ty lên lựa chọn cho mình giữa các phương án tiếp tục sử dụng hoặc thanh lý đầu tư mới. Nếu tiếp tục sử dụng thì công ty phải lựa chọn giải pháp để sửa chữa, duy tu bảo dưỡng để nâng cao hiêu quả của thiết bị. 3.2.4.2 Gắn trách nhiệm của người lao động với quá trình sử dụng các tài sản cố định. Có thể nói, tại doanh nghiệp thì bất cứ một nhân viên, công nhân nào từ quản lý cấp cao cho đến những người làm việc tại phân xưởng cũng đều trực tiếp điều hành và sử dụng một loại tài sản cố định nào đó. Cho nên việc gắn trách nhiệm của họ đối với những tài sản cố định mà họ sử dụng có ý nghĩa rất lớn đối với chính doanh nghiệp trong việc nâng cao tuổi thọ và hiệu quả sử dụng của tài sản đó. Tại doanh nghiệp, các tài sản tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất có giá trị lớn là các dây truyền máy móc thiết bị ở phân xưởng như: thiết bị dây truyền ô tô, thiết bị sơn điện ly, thiết bị gá hàn, … Người lao động sử dụng trực tiếp các thiết bị này là những người công nhân sản xuất, vì là những thiết bị có giá trị lớn, công nghệ cao nên khi hỏng hóc thì chi phí phải bỏ ra để sửa chữa là rất lớn. Chính vì thế mà doanh nghiệp cần có những nội quy quy định trách một cách cụ thể đối với công nhân để nâng cao trách nhiệm của họ. Từ đó có những chính sách khen thưởng đối với những người thực hiện tốt và kỉ luật đối với những ai đã vi phạm. 3.2.4.3 Nâng cao tay nghề của người lao động. Người lao động chính là những người tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, trình độ của họ quyết định một phần nào đó đến hiệu quả sản xuất, sử dụng của máy móc thiết bị và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải có những biện pháp để nâng cao tay nghề của người lao động qua đó góp phần nâng cao hiêu quả sử dụng của vốn cố định. Hàng năm, doanh nghiệp nên tổ chức các buổi huấn luyên kĩ năng, thao tác sử dụng, bảo quản máy móc thiết bị cho công nhân, có những chỉ dẫn cụ thể đối với từng người để giúp họ nhanh chóng làm quen với thiết bị công nghệ… Tổ chức các cuộc thi nâng cao tay nghề, các cuộc thi sản xuất an toàn, hiệu quả cho công nhân lao động toàn công ty, cùng với đó là những biện pháp khen thưởng phù hớp đối với những cá nhân tập thể có thành tích xuất sắc. Tổ chức các cuộc trao đổi kinh nghiệm trong phạm vi các phòng ban, tổ đội, giữa những người lao động có sự góp mặt của các lãnh đạo để có sự giao lưu học tập kinh nghiệm tốt của nhau giữa những người lao động, nhất là đối với những lao động thường xuyên sử dụng máy móc móc thiết bị tại phân xưởng sản xuất. 3.2.5 Các biện pháp khác. 3.2.5.1 Xây dựng chiến lược của doanh nghiệp một cách hợp lý, rõ ràng. Chiến lược luôn là một bài toán quan trọng hàng đầu đối với tất cả mọi doanh nghiệp dù bất kể trong lĩnh vực nào. Có chiến lược rõ ràng thì doanh nghiệp mới xây dựng được những kế hoạch cụ thể cho từng nhiệm vụ, từng mục tiêu, và qua đó mới xác định rõ ràng được nhu cầu về vốn để doanh nghiệp có kế hoạch huy động và sử dụng có hiệu quả. 3.2.5.2 Đẩy mạnh việc quảng bá thương hiệu và tiêu thụ sản phẩm. Qua phân tích ta thấy tình hình tiêu thụ sản phẩm của công ty vẫn còn nhiều vấn đề hạn chế, thương hiệu của doanh nghiệp chưa được nhiều người tiêu dùng Việt Nam biết đến, điều đó phần nào cũng gây ra khó khăn cho việc tiêu thụ sản phẩm của công ty. Trong khi đó lượng hàng tồn kho của công ty vẫn tăng cao hàng năm, nó thúc đẩy doanh nghiệp phải tìm cho mình một chiến lược tiêu thụ sản phẩm hợp lý. Doanh nghiệp nên chú trọng đầu tư vào các dòng sản phẩm chiến lược của mình, lựa chọn những sản phẩm mà mình có ưu thế cạnh tranh để phát triển, không nên chạy đua với đối thủ. Việc quảng bá thương hiệu còn giúp nâng cao hình ảnh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị tài sản cố định vô hình của mình. 3.2.6 Kiến nghị đối với nhà nước. Hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo một hành lang pháp lý và môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Việc củng cố và hoàn thiện hệ thống pháp luật là cần thiết, đặc biệt Luật đầu tư làm cho môi trường đầu tư ngày càng hấp dẫn hơn. Có những cơ chế hợp lý để ưu tiên, khuyến khích các doanh nghiệp trong việc thực hiện mục tiêu nội địa hóa của doanh nghiệp. Phát triển có cạnh tranh trong một môi trường đầu tư thống nhất, kinh tế thị trường có điều tiết của Nhà nước. Xoá bỏ hạn ngạch nhập khẩu linh kiện lắp ráp đối với các liên doanh sản xuất ô tô để cho các liên doanh này có quyền chủ động lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của mình, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi trên cơ sở cạnh tranh lành mạnh và theo pháp luật. Thay vào đó là áp dụng những chính sách thuế riêng biệt đối với từng loại linh kiện. Hiện nay xe máy, xe đạp vẫn là phương tiện đi lại phổ biến nhất của người dân tại Việt Nam. Chính những phương tiện này đã gây nên nạn ách tắc giao thông hiện nay tại các thành phố lớn do đó cần phải tăng cường hệ thống xe buýt bằng cách đầu tư cho các dự án về xe buýt. Khuyến khích các nhà đầu tư đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực vận tải hành khách công cộng. Nếu thực hiện được các dự án này sẽ góp phần mở rộng được thị trường ô tô trực tiếp là xe buýt cỡ trung và cỡ lớn, làm giảm tốc độ gia tăng phương tiện đi lại như xe máy hiện nay và gián tiếp làm tăng nhu cầu về xe ô tô con cho tương lai. Có những chế độ phù hợp để bảo vệ nền công nghiệp sản xuất ô tô còn non trẻ ở trong nước mà không vi phạm luật pháp quốc tế. Hoạt động nhập lậu ô tô diễn ra ngày càng tăng với mức độ tinh vi, phức tạp gây rất nhiều khó khăn cho công tác tiêu thụ sản phẩm của các công ty sản xuất ô tô. Do vậy Nhà nước cần có những biện pháp mạnh mẽ hơn để xử phạt nghiêm minh đối với hành vi nhập lậu này, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các doanh nghiệp lắp ráp và sản xuất ô tô trong nước. Thực hiện có hiệu lực và hiệu quả công tác hậu kiểm đối với việc thực hiện luật pháp và chính sách đã ban hành. Chỉ có như vậy mới đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và tính bình đẳng thực sự trong cạnh tranh giữa các loại hình doanh nghiệp trong cơ chế thị trường mà đất nước ta đang hướng tới. Kết luận. Vốn là mạch máu của doanh nghiệp, mọi hoạt động kinh tế đều liên quan mật thiết đến nguồn vốn của doanh nghiệp dưới dạng tiền tệ hoặc hàng hoá. Không có vốn doanh nghiệp sẽ không thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Do đó, việc hiểu về vốn kinh doanh, phân loại vốn kinh doanh để từ đó có kế hoạch quản lý vốn kinh doanh hiệu quả, hợp lý và an toàn là yêu cầu đặt ra đối với tất cả các doanh nghiệp. Tuỳ theo từng quy mô, lĩnh vực sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp đặt ra cho mình kế hoạch quản lý vốn kinh doanh phù hợp với từng thời kỳ đặt ra. Qua phân tích tình hình thực tế hiệu quả sử dụng vốn tại công ty TNHH Đức Phương, em đã phần nào thấy được những thành tựu mà công ty đã đạt được trong những năm qua và những hạn chế còn tồn tại cần khắc phục trong thời gian tới để công ty có thể nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh của mình nhằm góp phần đưa đất nước tiến vào xu thế hội nhập và quốc tế hoá trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, trong quá trình viết do trình độ và khả năng còn hạn chế nên chuyên đề không thể tránh khỏi những điểm hạn chế, khiếm khuyết nhất định hoặc còn những vấn đề chưa được nghiên cứu sâu, kể cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn. Em xin chân thành cảm ơn và mong nhận được sự đánh giá, góp ý kiến của các cán bộ trong công ty và các thầy cô trong khoa để hoàn thiện hơn nữa chuyên đề tốt nghiệp này. Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thạc sĩ Nguyễn Ngọc Điệp là người đã trực tiếp hướng dẫn để em có thể hoàn thành được bản chuyên đề thực tập này. Xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo công ty Đức Phương, ông Nguyễn Văn Hồng kế toán trưởng miền Bắc, ông Lại Minh Đạo trưởng văn phòng Hà Nội và các nhân viên trong công ty đã tạo điều kiện để em có thể hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Sinh viên Nguyễn Văn Hiểu. Danh mục tài liệu tham khảo. 1. Báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh và báo cáo tổng hợp của công ty Đức Phương năm 2007 - 2009. 2. Quy hoạch tổng thể công nghiệp ôtô đến năm 2020. 3. Tạp chí ôtô máy. 4. Thời báo kinh tế Việt Nam. 5. Tạp chí khoa học kinh tế Việt Nam. 6. Trang web chính thức của công ty ducphuong-motor.com…. 7. Giáo trình Quản trị doanh nghiệp, Đại học kinh tế quốc dân, 2004, PGS.TS Lê Văn Tâm và PGS.TS Ngô Kim Thanh đồng chủ biên. 8. Giáo trình Quản trị tài chính doanh nghiệp, Viện quản trị kinh doanh trường Đại học kinh tế quốc dân. 9. Giáo trình Phân tích kinh doanh, Đại học kinh tế quốc dân, PGS.TS Nguyễn Văn Công chủ biên. NHẬN XÉT (Của giảng viên hướng dẫn) Mục lục

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực trạng và giả pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại công ty motor Đức Phương.doc
Luận văn liên quan