Đề tài Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ cho việc ra quyết định trong quá trình quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay

MỤC LỤC A/ LỜI MỞ ĐẦU 3 B/NỘI DUNG 5 I/MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THÔNG TIN VÀ RA QUYẾT ĐỊNH TRONG QUẢN LÝ KINH TẾ. 5 1.Thông Tin 5 1.1.Các khái niệm 5 1.2. Đặc điểm của thông tin kinh tế 6 1.3.Chức năng của thông tin kinh tế: 8 2.Quyết định quản lý kinh tế : 9 2.1.Khái niệm quyết định quản lý kinh tế: 9 2.2.Chức năng của quyết định quản lý kinh tế. 10 3.Mối quan hệ giữa thông tin và ra quyết định trong quản lý 12 3.1.Thông tin là nguyên liệu đầu vào ,quyết định quản lý là sản phẩm đầu ra 12 3.2.Chất lượng thông tin ảnh hưởng đến chất lượng ra quyết định 12 3.3.Thu thập thông tin để làm rõ mục tiêu mà quyết định hướng tới. 13 II/ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN 13 1.Vai trò của thông tin nói chung. 13 1.1.Thông tin có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức xã hội và lập trường chính trị. 13 1.2.Thông tin giữ vai trò quan trọng trong công tác lãnh đạo và quản lý. 13 1.3.Thông tin giữ vai trò quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo. 14 1.4.Thông tin thúc đẩy sự phát triển của khoa học 14 1.5.Thông tin với sự phát triển của mỗi quốc gia . 14 2.Vai trò của thông tin trong việc ra quyết định quản lý 14 2.1.Thông tin là cơ sở tiền đề của các quyết định 14 2.2.Thông tin là công cụ của các quyết định 15 2.3. Đánh giá quyết định khi nó đã được thực thi nhờ hệ thống thông tin phản hồi. 15 III/THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH 16 1.Một số nét về hệ thống thông tin kinh tế của nước ta hiện nay. 16 1.1.Hệ thống thông tin kinh tế nội bộ của các đơn vị kinh tế. 17 1.2.Hệ thống thông tin thị trưòng. 17 1.3.Hệ thống thông tin kinh tế của chính phủ. 18 2.Thực trạng của thông tin kinh tế ở Việt Nam 18 2.1.Những ưu điểm trong hệ thống thông tin kinh tế 20 2.2. Những nhược điểm của hệ thống thông tin kinh tế của nước ta 22 3.Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống thông tin kinh tế ở nước ta: 28 3.1.Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin góp phần tăng cường chất lượng của quá trình quản lý kinh tế. 29 3.2.Thực hiện phân cấp đúng đắn trong quản lý ,sử dụng thông tin kinh tế. 31 3.3.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục. 32 3.4.Cụ thể hoá hướng phát triển thông tin ở các vùng khác nhau. 32 3.5.Phải tạo được sự cân đối về thị trường thông tin ,sự bình đẳng về thông tin trên thị trường thông tin. 33 3.6.Đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin. 34 C/KẾT LUẬN 35 D/TÀI LIỆUTHAM KHẢO 36

docx36 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 23/05/2013 | Lượt xem: 2495 | Lượt tải: 3download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ cho việc ra quyết định trong quá trình quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ong tương lai gần ? Mục tiêu đó có nhằm đạt mục tiêu tông thể dài hạn không ? Để đạt được những mục tiêu đó tổ chức cần thực hiện những nhiệm vụ nào ?... Trả lời câu hỏi ai làm , thường là nhũng quyết định tổ chức.Để thực hiện mục tiêu cần sắp xếp cơ cấu tổ chức như thế nào để đảm bảo toàn bộ hệ thông hoạt động một cách linh hoạt để đi đên mục tiêu ? Sắp xếp hệ thông quản lý , hệ thống sản xuất của tổ chức ra sao ?... Trả lời câu hỏi làm như thế nào ,thường là những quyết định kế hoạch và lãnh đạo.Gồm có quyết định về lựa chọn công nghệ ,kỹ thuật ,phương thức tiến hành… 2.2.Chức năng của quyết định quản lý kinh tế. Các chức năng của một quyết định quản lý biểu hiện nội dung mà một quyết định cần làm rõ.Một quyết định quản lý có nhũng chức năng cơ bản sau : 2.2.1.Chức năng định hướng: Mỗi quyết định quản lý đều nhằm hướng tơí một mục tiêu.Vì vậy mỗi quyết định quản lý đều chứa đựng mục tiêu và những nhiệm vụ được đề ra.Tính định hướng ở đây thể hiện ở chỗ nó xác định rõ nhiệm vụ cụ thể cần thực hiện cho những người thực hiện quyết định biết họ phải làm gì ? Làm như thế nào ? Và trách nhiện của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác quyết định quản lý còn nhằm tập trung mọi nguồn lực của hệ thống để thực hiện các mục tiêu chung và mục tiêu bộ phận của hệ thống ,tránh sự phân tán nguồn lực như về nhân sự , các yêú tố đàu vào…Ngoài ra cung tránh sự trồng chéo trong hoạt động của các cấp thực hiện vì kèm theo các quyết định là các nhiệm vụ cụ thể cua tưng cấp. 2.2.2.Chức năng bảo đảm nguồn lực cho quyết định: Khi đưa ra quyết định không phải bất cứ phương án nào đi đến được mục tiêu đều được lựa chọn mà chỉ có phương án có chi phí ít nhất mới được lựa chọn tức tiết kiệm nguồn lực nhất.Khi ra quyết định về sản phẩm sản xuất cần dựa vào nguồn lực của công ty để quyết định sử dụng dây chuyền công nghệ nào , nguyên vật liệu từ nguồn nào để đảm bảo lợi nhuận của doang nghiệp đạt được mức đề ra.Như vậy chức năng đảm bảo nguồn lực cuả các quyết định quản lý đòi hỏi khi đưa ra các quyết định ,các nhà quản lý cần xác định rõ nguồn lực vật chất để thực hiện quyết định. 2.2.3.Chức năng phối hợp Đối với quản lý ,một quyết định đưa ra phải nhằm một mục tiêu tổng thể chung của cả hệ thống thông việc thực hiện các mục tiêu bộ phận.Như vậy các bộ phận của tổ chức không chỉ quan tâm đến mục tiêu riêng của bộ phận mình mà phải xem xét đóng góp của mục tiêu riêng đó vào mục tiêu chung như thế nào.Vì vậy quyết định phải thực hiện chức năng phối kết hợp .Chức năng này thực hiện trong quá trình đưa ra quyết định có sự phối kết hợp của các bộ phận và cá nhân có liên quan đến quyết định,bao gồm cả bộ phận quản lý và bộ phận bị quản lý ,đặc biệt giữa các bộ phận quản lý.Thực hiện chức năng này nhằm tránh sự chồng chéo , mâu thuẫn giữa các quyết định trong tổ chức hay bỏ xót một trong những nhiệm vụ cần làm. 2.2.4.Chức năng động viên cưỡng bức: Các quyết định mà nhà quản lý đưa ra đều phải có các cấp dưới thực hiện , quyết định được ban hành phải được coi như một mệnh lệnh hành chính mang tính bắt buộc mà cấp dưới phải có trách nhiệm thực hiện.Tính bắt buộc thể hiện ở việc ai vi phạm hoặc không hoàn thành tốt nhiệm vụ sẽ bị xử lý nghiêm khắc.Tuy nhiên cũng cần phải động viên họ để họ làm việc hăng say hơn sáng tạo hơn và đạt hiệu quả cao hơn do nhiều khi sự cưỡng bức làm việc sẽ lam triệt tiêu sáng tạo của họ. 2.2.5.Chức năng bảo mật: Các quyết định quản lý quan trọng cần được đảm bảo bí mật trong một phạm vi nhất định như chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp , chiến lược sản phẩm mới …Khi các thông tin quyết định bị rò rỉ hay bị đối thủ cạnh tranh nắm được thì doanh nhgiệp sẽ đánh mất cơ hội của thị trường và thất bại.Khi đó quyết định cần có chức năng bảo mật,nhờ đó ý đồ quản lý của hệ thống được thực hiện một cách vững chắc. 3.Mối quan hệ giữa thông tin và ra quyết định trong quản lý 3.1.Thông tin là nguyên liệu đầu vào ,quyết định quản lý là sản phẩm đầu ra Quản lý nối chung và thông tin là hai lĩnh vực có liên hệ mật thiết với nhau . Nếu không có thông tin quản lý sẽ không tồn tại với tư cách là quản lý.Thông tin ban đầu được thu thập lại dưới dạng các số liệu dữ liệu cụ thể (nguyên liệu đầu vào) được xử lý và tổng hợp lại bằng một hệ thống xử lý thông tin ( quá trình sản xuất ).Sau khi đã được xử lý và tông hợp một cách đầy đủ các nhà quản lý dựa trên nhũng thông tin ràng buộc này như thông tin về môi trường bên trong (điểm mạnh điêm yếu của doanh nghiệp) ,thông tin về môi trường bên ngoài (cơ hội và thách thức từ ngoài) để cho ra nhũng quyết định (đầu ra ) phù hợp với những thông tin thu nhận được hay phù hợp với môi trường của tổ chức 3.2.Chất lượng thông tin ảnh hưởng đến chất lượng ra quyết định Một quyết định nào đó cũng như một sản phẩm sản xuất ra ,chất lượng của mỗi sản phẩm chịu ảnh hưóng chủ yếu của chất lượng các yếu tố đầu vào.Đối với loại sản phẩm là quyết định đưa ra thì một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của nó là thông tin phục vụ cho việc ra quyết định .Vi vậy chất lượng của thông tin sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của quyết định được đưa ra.Do đó không thể dựa vào nhũng thông tin thiếu chính xác hoặc không đầy đủ để đưa ra các quyết định trong quản lý vì mỗi quyết định sai sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến cả hệ thông của tổ chức. 3.3.Thu thập thông tin để làm rõ mục tiêu mà quyết định hướng tới. Mục tiêu của mỗi doanh nghiệp được đề ra dựa trên những điều kiện nhất định của doanh nghiệp hay điều kiện về môi trường như tiềm lực của doanh nghiệp , tiềm lực của đối thủ cạnh tranh hay thị trường sản phẩm cùng loại với sản phẩm của doanh nghiệp.Để nắm bắt được các điều kiện trên thì doanh nghiệp phải thu thập các thông tin có liên quan.Vì mục tiêu luôn gắn vói nhũng điều kiện cụ thể và mục tiêu có thể thay đổi theo thời gian khi mà điều kiện thay đổi. II/ VAI TRÒ CỦA THÔNG TIN 1.Vai trò của thông tin nói chung. Con người biết được môi trường xung quanh , đi sâu vào thế giới vật chất và hiện tượng ,nắm bắt kiến thức … là nhờ có thông tin.Thông tin đóng vai trò tổ chức và phát triển xã hội. 1.1.Thông tin có vai trò quan trọng trong việc hình thành nhận thức xã hội và lập trường chính trị. Thông tin là phương thức quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng quản lý xã hội . Xã hội thông tin là xu thế phát triển của thời đại hiện nay.Xu thế sử dụng thông tin như một ngồn lực quan trọng ngày càng được khẳng định.Trong đời sống chính trị , thông tin chính trị - xã hội phục vụ trực tiếp cho công tác chính trị tư tưởng mọi cấp mọi ngành . Thông tin chính trị là công cụ hàng đầu của một đảng cầm quyền . Đó chính là việc thực hiện mục đích chính trị tư tưởng và tuyên truyền chính sáng của đảng cầm quyền . 1.2.Thông tin giữ vai trò quan trọng trong công tác lãnh đạo và quản lý. Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào chất lượng các quyết định mà chất lượng các quyết định lại phụ thuộc vào sự đầy đủ và chất lượng của thông tin .Cho nên không có thông tin đúng đắn thì không thể có quá trình quản lý nào hiệu quả được.Chỉ có nhũng tin tức được chủ thể quản lý nhận thức như là kiến thức có ích cho chủ thể quản lý mới là thông tin quản lý. 1.3.Thông tin giữ vai trò quan trọng trong công tác giáo dục và đào tạo. Các hoạt động đào tạo giảng dạy học tập , nghiên cứu … luôn luôn cần đến sự hỗ trợ đắc lực của công tác thông tin ,thông qua hàng loạt các loại hình thu thập ,xử lý ,lưu trữ và phổ biến thông tin.Con người có thể tiếp thu được những tinh hoa của nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác , từ nơi này đến nơi khác là nhờ có thông tin ,dù ở bất cứ hình thức nào. 1.4.Thông tin thúc đẩy sự phát triển của khoa học Thông tin là một nhu cầu khách quan để phát triển khoa học .Một trong những quy luật phát triên của khoa học và nghiên cứu khoa học là thế hệ sau chon lọc hệ thống hoá, kế thừa nhũng thành quả của thế hệ đi trước ,đồng thời phát hiện , tìm tòi bổ xung những cái mới hơn. Như vậy hoạt động khoa học là một quá trình khai thác tiếp nhận thông tin , lưu trữ thông tin và tạo ra những thông tin mới khác với thông tin ban đầu. 1.5.Thông tin với sự phát triển của mỗi quốc gia . Do sự phát triển không đồng đều ở các nước trên thế giới cho nên các nước chậm phát triển muốn đuổi kịp các nước tiên tiến về kinh tế ,xã hội cần chú ý đến lĩnh vực thông tin.Trước hết cần nâng cao khả năng sẵn có về tiếp nhận thông tin từ các nước phát triển.Tiếp thu có chon lọc sáng tạo thông tin khoa học , kỹ thuật của thế giới.Tăng cường giao lưu thông tin trong hoàn cảnh các nèn kinh tế trên thế giới có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau.Việc nâng cao năng cao chất lượng hiệu quả trong lĩnh vực thông tin sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế văn hoá khoa học và giáo dục ở các nước chậm phát triển và đang phát triển. 2.Vai trò của thông tin trong việc ra quyết định quản lý 2.1.Thông tin là cơ sở tiền đề của các quyết định Thông tin là đối tượng lao động của nhà quản lý nói chung và người lãnh đạo nói riêng.Một trong những hoạt động quan trọng của nhà quản lý hay người lãnh đạo là việc ra quyết định.Như đã nghiên cứu ở trên ta biết được là thông tin chính là các yếu tố đầu vào còn quyết định đóng vai trò là sản phẩm đầu ra.Như vậy đã tạo tiền đề để cho ra các đầu ra là các quyết định. chủ thể quản lý Thông tin từ bên ngoài Thông tin quyết định đối tượng quản lý Đầu vào (V) Thông tin về nhiễu(N) Đầu ra(R) 2.2.Thông tin là công cụ của các quyết định Thông tin là căn cứ để tiến hành xây dựng chiến lược của hệ thống. Trong quá trình xác định các chỉ tiêu chiến lược, cần thiết tiến hành các tính toán dựa trên những thông tin xác thực về cơ sở vật chất , vật tư , tiền vốn,.. và sự kêt hợp tôi ưu giữa các nguồn lực từ đó đưa ra được quyết định phù hợp. Thông tin là công cụ để kiểm tra tính đúng đắn của quyết định.Mỗi quyết định sẽ cho ra những kết quả và những kết quả đó lại đựơc đưa đến chủ thể quản lý dưới dạng thông tin phản hồi. Vai trò công cụ cho các quyết định của thông tin đựợc thể hiện ở chỗ bản thân các quyết định được đưa ra chính là những thông tin thể hiện ở việc phân phát các quyết định cho cấp dưới đồng thời kiểm tra hoạt động của họ. Một quyết định sẽ không được thực thi nếu như nó không được thông tin đến các cấp dưới để họ thực hiện quyết định. 2.3. Đánh giá quyết định khi nó đã được thực thi nhờ hệ thống thông tin phản hồi. Chủ thể quản lý muốn tác động lên đối tượng bị quản lý thì phải đưa ra các thông tin ( mệnh lệnh , chỉ thị ,nghị quyết ,quyết định…),đó chính là thông tin điều khiển.Tuy nhiên nhà quản lý không phải là người chỉ phát tin là các quyết định đi cho các cấp dưới mà họ còn phải tiếp nhận thông tin phản hồi lại từ hệ thống nhằm đánh giá không phải chỉ hoạt động của tổ chức mà còn để đánh giá hoạt động ra quyết định của chính nhà quản lý.Nếu quyết định đó không con phù hợp hoặc không phải là phương án tối ưu nhất nhà quản lý phải điều chỉnh quyết định đó sao cho phù hợp với tinh hình hiện tại.Vì Thông tin có thể thay đổi rất nhanh chóng theo thời gian việc sử dụng những thông tin cũ để ra nhũng quyết định mới trong thời điểm hiện tại sẽ không còn phù hợp nữa. Tuy nhiên hệ thống thông tin phản hồi có thể cung cấp nhũng thông tin sai lệch cho nhà quản lý xuất phát từ động cơ của đối tượng bị quản lý như bệnh thành tích ,hay muốn vừa lòng cấp trên.Vì vậy khi dùng người cần xem xét kỹ các cán bộ quản lý cấp dưới. III/THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ PHỤC VỤ CHO QUÁ TRÌNH RA QUYẾT ĐỊNH 1.Một số nét về hệ thống thông tin kinh tế của nước ta hiện nay. Cũng như nhiều nước trên thế giới Việt Nam dang bước vào một công cuộc đổi mới kinh tế sao cho phù hợp với xu thế của thế giới và khu vực.Nhờ công cuộc này đã đem lại những thay đổi to lớn trong nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực thông tin.Biểu hiện ở những bước phát triển vượt bậc của hệ thống thông tin về phương tiện thông tin đại chúng cho đến các tổ chức cung cấp thông tin chuyên ngành.Hệ thống thông tin kinh tế đã giúp cung cấp được những thông tin trung thực kịp thời và có xử lý ở mức độ nhất định.Tạo điều kiện cho việc hoạch định các kế hoạch chiến lược cho nhà nước cho các tổ chức doanh nghiệp. Hệ thống thông tin kinh tế nước ta hiện nay gồm ba bộ phận phục vụ cho hệ thống quản lý kinh tế ở các đơn vị kinh tế cơ sở và chính phủ.Bao gồm các hệ thông sau: Hệ thống thông tin kinh tế nội bộ của các đơn vị kinh tế Hệ thống thông tin thị trường Hệ thống thông tin kinh tế của chính phủ 1.1.Hệ thống thông tin kinh tế nội bộ của các đơn vị kinh tế. Là hệ thống mà về cơ cấu tổ chức được tạo thành từ các hệ thống nhỏ như hệ thống thông tin kế hoạch , hệ thống thông tin kế toán thống kê,hệ thống thông tin tác nghiệp quản lý.Hệ thống thông tin tác nghiệp quản lý ,hệ thống thông tin marketing.Các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ ,dù thuộc loại hình hoạt động khác nhau đều được vận hành và có quan hệ với bên ngoài nhờ vào bộ máy và cơ chế quản lý kinh tế riêng của nó.Hệ thống thông tin của các doanh nghiệp không chỉ giúp cho những người quản lý doanh nghiệp kiểm soát được các hoạt động kinh tế bên trong cũng như tác động bên ngoài trong quá trình đề ra và tổ chức thực hiện các quyết định kinh tế để đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Trong nên kinh tế thị trường nước ta hiện nay nhà nước không còn làm thay cho doanh nghiệp trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản của nó.Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp phụ thuộc vào quyết định ,khả năng tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất của nó.Vì vậy đòi hỏi doanh nghiệp phải tự tìm kiếm thông tin tự ra quyết định và tự chịu trách nhiệm về quyết định của mình.Đòi hỏi doanh nghiệp phải có một hệ thống thông tin riêng của mình.Hệ thống thông tin này phải đáp ứng được nhu cầu thông tin mới của doanh nghiệp do thị trường thường tồn tại nhiều bất ổn. 1.2.Hệ thống thông tin thị trưòng. Hệ thống thông tin thị trường hình thành và phát triển do nhu cầu thông tin của xã hội ngày càng gia tăng.Hệ thống thông tin thị trường liên quan đến các tổ chức thực hiện các quá trình tổ chức thực hiện các quá trình thu thập ,xử lý cung cấp các thông tin kinh tế phục vụ cho nhu cầu thông tin của nền kinh tế.Sự hình thành và phát triển của hệ thống thông tin thị trường đã tạo ra các mối quan hệ thông tin mới trong nền kinh tế.Đó là các quan hệ thị truờng về thông tin(cung-cầu ,giá cả ,cạnh tranh…) Hệ thống thông tin thị trưòng cũng có mối liên hệ chặt chẽ với các hệ thống thông tin của chính phủ của doanh nghiệp.Nó bổ xung hỗ trợ cho khả năng thông tin của các hệ thông đó và tạo thành một mạng lưới thống nhất trong nền kinh tế.hệ thống thông tin thị trưòng còn có mối quan hệ mật thiết với các hệ thông thị trưòng khác và tham gia vào các hoạt động kinh tế thị trường. 1.3.Hệ thống thông tin kinh tế của chính phủ. Trong ba bộ phận của hệ thống thông tin thì hệ thống thông tin của chính phủ có vị trí quan trọng nhất ,giúp nhà nước nhà nước thực hiện vai trò quản lý vĩ mô nền kinh tế thị trường .hệ thống thông tin của chính phủ có tầm quan trọng như vậy là do những vai trò to lớn của nó sau: tổng hợp thông tin phục vụ cho hoạch định chiến lược ,kế hoạch phát triển kinh tế ,giúp nhà nước thực hiện đựơc vai trò định hướng của mình cho nền kinh tế thông qua các hệ thông như:hệ thống thông tin thống kê ,hệ thống thông tin kế hoạch… Giúp nhà nước quản lý vĩ mô các ngành kinh tế các lĩnh vực nhờ hệ thống thông tin chuyên ngành về tài chính ,khoa học công nghệ ,thị trường… Từ việc nắm bắt được thông tin thực tế giúp nhà nước đua ra các quyết định về chính sách ,chương trình.Nhà nước cũng phải tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế phát triển và giám sát việc thực hiện pháp luật về kinh tế. Ngoài ra hệ thống thông tin chính phủ còn hỗ trợ ,kết nối với hệ thống thông tin thị trường và hệ thống thông tin doanh nghiệp. 2.Thực trạng của thông tin kinh tế ở Việt Nam Hệ thống thông tin kinh tế của nước ta trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung trước đây được tổ chức theo một hệ thống nhất trong cả nước.Nó phục vụ trong công tác kế hoạch hoá của đất nước đảm bảo cho công tác quản lý kinh tế tập trung , kế hoạch hoá cao độ.Trong giai đoạn này nhà nước đã áp dụng một cách máy móc mô hình kinh tế của Liên Xô mà không nắm được thông tin thực tế về điều kiện hoàn cảnh của nước ta giai đoạn đó để định hướng cho nền kinh tế vì vậy đã dẫn đến thất bại.Công cuộc đổi mới kinh tế hiện nay đã đem lại những thay đổi to lớn trong hệ thống kinh tế cũng như cơ chế vận hành nền kinh tế của nước ta.Hệ thống thông tin kinh tế trong những năm gần đây cũng có những bước phất triển vượt bậc,kể từ phương tiện thông tin đại chúng đến các tổ chức cung cấp thông tin chuyên ngành. Một sự kiện lớn đối với Việt Nam vừa qua đó là việc trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới WTO.Khi ra nhập WTO thì một trong những điều lệ cơ bản của nó là thông tin, được thể hiện ở một số điểm như WTO đề ra các điều luật và nhiệm vụ của các thành viên là phải nắm vững các điều lệ khi ra nhập(quá trình nắm bắt thông tin).Nếu xét WTO là một chủ thể quản lý còn Việt Nam là đối tượng bị quản lý thì WTO quy định cho các thành viên của mình phải làm một số nhiệm vụ gì(thông tin quyết định) và Việt Nam phải có các báo cáo định kỳ về từng lĩnh vực(thông tin phản hồi).Đây chính là một quá trình thông tin.Như vậy thông tin là điều kiện tất yếu trong nội bộ một nước.Không chỉ có chính phủ là người phải hiểu biết các luật lệ của WTO mà các doanh nghiệp cũng phải nắm rõ thông tin khi doang nghiệp làm ăn với các đối tác nứơc ngoài.Thực tế cho thấy thời gian vừa qua chính vì không có thông tin về các nền kinh tế trên thế giới mà nền kinh tế Việt Nam phải chịu nhiều tổn thất như : Chúng ta không tìm hiểu kỹ về giá cả thị trưòng gạo,do đó không có nhũng dự báo về giá cả và chúng ta đã bán gạo cho trung quốc với giá rẻ nhưng ngay sau đó thì giá gạo trên thế giới tăng cao và chúng ta bị tổn thất nặng.Hay việc chung ta bị mỹ kiện về bán phá giá một số mặt hàng(thuỷ sản ,may măc..) do không nắm được luật chống bán phá giá của Mỹ.Đây chỉ là một trong những bất cập về hệ thống thông tin của nước ta.Để đánh giá đúng được thực trạng hệ thống thông tin kinh tế của nước ta hiện nay cần xem xét cả nhũng ưu điểm và nhược điểm trong hệ thống thông tin kinh tế. 2.1.Những ưu điểm trong hệ thống thông tin kinh tế Trước hết,ta xem xét nhũng ưu điểm của hệ thống thông tin kinh tế có những ưu điểm sau: Thứ nhất:Thông tin được cung cấp đầy đủ kịp thời và chính xác hơn nhờ việc có thêm nhiều công cụ để thu thập hay xử lý …thông tin nhờ đó chất lượng thông tin được nâng lên một phần ,đã giúp cho các các cấp quản lý kinh tế ra được những quyết định kịp thời với nhũng bất ổn của nền kinh tế,góp phần ổn định sản xuất kinh doanh.Ngoài ra ,các hoạt động thông tin đa dạng ,phong phú đáp ứng được nhu cầu về số lượng thông tin.Đối với các doanh nghiệp nó làm cho nguồn cung cấp thông tin đa dạng ,dễ tiếp cận như hệ thống thông tin marketing từ các phương tiện thông tin đại chúng , mạng internet, mạng liên ngành.Mặc dù tồn tại nhiều hệ thống thông tin kinh tế khác nhau nhưng giữa các hệ thống này lại có mối quan hệ với nhau ,do đó đảm bảo sự lưu thông thông tin giữa chúng ở một mức độ nhất định.Điều này được thể hiện như : trong các doanh nghiệp , tổ chức cũng như ở tầm vĩ mô là đất nước thì hệ thống thông tin không chỉ khép kín trong phạm vi nội bộ mà đã mở rộng đầu mối quan hệ thực hiện trao đổi thông tin với các hệ thông bên ngoài.Nhờ đó việc lưu chuyển của thông tin cũng trôi chảy hơn. Thứ hai :Trinh độ của đội ngũ cán bộ làm việc trong các bộ phận của hệ thống thông tin có xu hướng được nâng cao , một số khâu của quá trình thông tin đã được chuyên môn hoá cao.Không chỉ có trình độ của những người làm việc trong hệ thống thông tin được nâng cao mà trình độ của các cán bộ quản lý về thông tin cũng được nâng cao theo các cấp quản lý.Đây là một đòi hỏi tất yếu đối với nhà quản lý trong sự phát triển của hệ thống thông tin hiện nay cũng như sự phát triển của xã hội.Các doanh nghiệp , tổ chức hiện nay cũng quan tâm nhiều đến việc đào tạo thêm cho nhân viên của mình nâng coa trình độ về công nghệ thông tin.Trình độ thông tin của các cán bộ trong bộ máy quản lý của nhà nước ngày càng nâng lên một trình độ mới cao hơn trong điều kiện nền kinh tế thị trường với luồng thông tin khổng lồ và rất phức tạp.Đội ngũ cán bộ kế hoạch từ cấp cơ sở trở lên nhìn chung có trình độ văn hoá và chuyên môn coa ,có khả năng tiếp cận và sử dụng được kỹ thuật thông tin mới. Vì vậy các nhà quản lý vĩ mô đã đưa ra những chính sách về kinh tế xã hội đúng đắn. Thứ ba: Trình độ trang bị công nghệ thông tin phần nào đã được tiếp cận với công nghệ hiện đại , tiên tiến. Cơ cấu của hệ thông đã và đang được hoàn thiện thể hiện ở chỗ một số ngành có hạ tầng cơ sở khá hiện đại , thực hiện vi tính hoá và nối mạng giữa các đầu mối thông tin quan trọng hoặc ở hầu hết các cấp, các bộ phận như hệ thống thông tin kinh tế của ngành ngân hàng , hàng không , ngành bưu chính viễn thông …. Thứ tư: Về phía các doanh nghiệp thì nhìn chung hệ thống thông tin kinh tế nội bộ của doanh nghiệp đã có nhiều đổi mới và tiến bộ.Các thông tin có tính định hướng kinh tế theo các chương trình , mục tiêu của nhà nước hoặc cấp trên giúp cho các cán bộ quản lý hoạch định chiến lược ,các kế hoạch phát triển kinh tế trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp.Nhờ tính định hướng kinh tế của các thông tin mà khi đề ra mục tiêu của doanh nghiệp mình các doanh nghiệp phải căn cứ vào mục tiêu chung của đất nước , mục tiêu đó của doanh nghiệp phải nhằm góp phần thực hiện mục tiêu của đất nước hay ít nhất mục tiêu đó không làm tổn hại đến mục tiêu chung của đất nước.Như vậy tránh tình trạng doanh nghiệp quá chạy theo mục tiêu , mục đích của minh mà bất chấp mọi quy định của nhà nước. Thứ năm : Về phía nhà nước thì nhà nước đã ban hành và cải cách một số quy chế ,luật lệ hoạt động của các bộ phận trong hệ thống thông tin để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, nhất là trong hệ thống thông tin của chính phủ và doanh nghiệp.Để nâng cao khả năng thông tin của đất nước thì nhà nước đã đầu tư hoặc khuyến khích đầu tư vào những ngành về công nghệ thông tin.Trong xu thế hội nhập và mở cửa hiện nay không chỉ có các doanh nghiệp mới sử dụng thông tin như một công cụ để nâng cao khả năng của doanh nhgiệp mà các nhà nước các chính phủ cũng sử dụng thông tin nhằm năng cao năng lực cạnh tranh quốc gia khi quan hệ thương mại với các nước trên thế giới .Hệ thống thông tin của chính phủ ngày càng được nâng cấp nó không chỉ phục vụ cho công tác quản lý vĩ mô của nhà nước mà còn hỗ trợ , kết nối với thông tin thị trưòng và hệ thống thông tin doanh nghiệp , tạo ra mối quan hệ chặt chẽ giữa các hệ thống thông tin này. 2.2. Những nhược điểm của hệ thống thông tin kinh tế của nước ta Tuy hệ thống thông tin kinh tế của nước ta đã đạt được nhiều tiến bộ so với thời kỳ trước .Song nó vẫn tồn tại nhiều hạn chế gây ảnh hưởng khá lớn đến quá trình quản lý kinh tế của Việt Nam đặc biệt là quá trình ra quyết định.Dưới đây là một số hạn chế chủ yếu của thống thông tin kinh tế : Hệ thống thị trường thông tin kinh tế không phát triển , hoạt động của nó không mang lại hiệu quả vì vậy chưa đáp ứng đòi hỏi của sự phát triển.Đối với bât cứ doanh nghiệp , tổ chức nào thì yếu tố thông tin cũng tồn tại như một nguồn lực của họ . Để có được nguồn lực này ngoài cách các doanh nghiệp , tổ chức tự tìm kiếm khai thác thông tin mà doanh nghiệp có thể mua thông tin từ thị trường thông tin thông qua các công ty tư vấn hay các công ty mà sản phẩm dịch vụ chính của nó là cung cấp thông tin.Có nhiều nguyên nhân để thị trường thông tin này không phát triển như : Doanh nghiệp không quan tâm đến yếu tố thông tin và cho rằng không cần phải bỏ ra một khoản chi phí để có được thông tin , hay trình độ của các công ty chuyên về thông tin này thấp chưa cung cấp được những thông tin thực sự cần thiết cho doanh nghiệp. Một trong những nguyên tắc quan trọng của thông tin nói chung cũng như thông tin kinh tế nói riêng đó là tính kịp thời do sự biến động liên tục của thị trường của xã hội khi đó quyết định đưa ra trong thời điểm này chỉ phù hợp với thời điểm trước và dễ dân đến sai lầm trong việc ra quyết định.Mặc dù đây là một nguyên tắc rất quan trọng của thông tin song trong hầu hết các trường hợp thì nguyên tắc này lại không được đảm bảo.Cụ thể đó là việc phát hiện ra các vấn đề còn chưa nhanh và không nhạy bén mang tính bị động.Nhiều khi vấn đề đã xảy ra chung ta mới có thông tin về hoặc mới được những người làm công tác thông tin chú ý đến.Khi đó hậu quả gây ra có thể rất lớn không cứu vãn được hoặc có cứu vãn được thì tổn thất cũng là rất lớn .Một trong những cách thức để đảm bảo tính kịp thời trên là sử dụng thông tin dự báo.Khi tìm kiếm thông tin chng ta không chỉ nhằm nắm bắt được sự vật hiện tượng nào đó mà còn nhằm nắm bắt được xu hướng vận động của nó để đưa ra những dự báo.Vì vậy một trong những bộ phận của thông tin kinh tế là thông tin dự báo về thị trường.Tuy nhiên đối với Việt Nam khâu dự báo này cũng rất yếu kém.Một trong những ví dụ điển hình về sự yếu kém này đó là việc Việt Nam bán gạo cho Trung Quốc trong năm 2006.Do không nắm bắt được , không tìm hiểu kỹ lưỡng về xu hướng vận động của giá cả mà Việt Nam đã ký hợp đồng bán gạo rất lớn cho Trung Quốc với một mức giá hiện tại là thấp nhưng đến lúc giao hàng cho bên bạn giá gạo lúc đó đã tăng rất nhanh và cao.Vì vậy Việt Nam đã chịu một tổn thất rất lớn do đầu vào của sản xuất gạo thì cao mà giá bán gạo ra lại thấp.Về phía Trung Quốc do có được thông tin về giá cả này mà đã ký một hợp đồng rất lớn ,và lợi nhuận rất cao. Hạn chế tiếp theo của hệ thống thông tin kinh tế của nước ta là thuộc về yếu tố con người.Phương tiện, thiết bị để thông tin và nắm bắt thông tin mặc dù đã đa dạng hơn so với thời kỳ trước và còn được tiếp cận với công nghệ hiện đại (mặc dù vẫn đi sau các nước trong khu vực và thế giới ) nhưng nguồn nhân lực làm nhiệm vụ thu thập, đánh giá, xử lý thông tin lại chưa tận dụng đựơc những trang thiết bị này.Hạn chế của con ngưòi về mặt thông tin chủ yếu do các nguyên nhân sau : Trình độ của con người trong việc thu thập và xử lý thông tin, nguyên nhân thuộc về đạo đức ,khả năng tiếp nhận thông tin.Ta có thể xem xét từng nguyên nhân để thấy rõ thực trạng về nguồn nhân lực của vấn đề thông tin: Trong các nguyên nhân thì nguyên nhân chủ yếu là do trình độ chuyên môn về những lĩnh vực cần thông tin của đội ngũ nhân lực này còn thấp.Vì vậy thông tin thường tồn tại ở dạng thông tin thô chưa được xử lý hay xử lý nhưng không đáp ứng được so với yêu cầu.Ngay cả việc phát hiện ra thông tin thô có lúc cũng là một khó khăn vì thông tin tồn tại một cách vô hình nó chỉ được biểu hiện thông qua các phương tiện của nó.Tuy nhiên đôi khi thông tin không được thể hiện rõ ràng cụ thể nó có thể ẩn đi hoặc biểu hiện dưới một hình thái thông tin của sự việc hiện tượng khác.Vì vậy đòi hỏi người thu thập cũng phải có một trình độ nhất định mới phát hiện được ra thông tin đó có liên quan đến sự việc hiện tượng mình nghiên cứu nếu không sẽ bỏ xót thông tin.Đối với nhà nước ta khi đầu tư vào trang thiết bị phương tiện thông tin đã không chú ý đến việc đào tạo con người để có trình độ tương xứng với trình độ công nghệ tăng lên. Trong những nguyên nhân thuộc về nguồn nhân lực không chỉ có nguyên nhân về trình độ chuyên môn của họ mà còn có nguyên nhân thuộc về đạo đức.Đó là tình trạng bưng bít , hạn chế thông tin vì lợi ích cá nhân.Chẳng hạn như việc không muốn báo cáo cho cấp trên những thông tin xấu do kết của hoạt động của mình.Như vậy thông tin đã không được đưa đến đối tượng cần sử dụng tin để họ xem xét đánh giá .Ngoài các nhân thì ngay cả một tổ chức cũng có hiện bưng bít , lợi dụng thông tin nhằm phục vụ cho lợi ích cục bộ của mình.Như ta đã biết thì một trong những điều làm nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thông tin kinh tế .Khi doanh nghiệp độc quyền về thông tin , doanh nghiệp có thể dựa vào thông tin đó để mắn bắt ,tận dụng cơ hội từ thị trường để tạo ra lợi nhuận lớn.Chính vì lợi ích này mà có nhiều trường hợp doanh nghiệp ,tổ chức cố tình giữ kín thông tin mặc dù việc găm giữ thông tin đó sẽ làm cho xã hội bị thiệt hại trong khi chỉ có doanh nghiệp là người được lợi.Một số các nhân ,tổ chức còn tung ra những thông tin sai lệch gây tổn hại đến cá nhân tổ chức khác .Mặc dù những thông tin đó có thể được chứng thực sau này tuy nhiêm nó cũng gây những tổn hại nhất định cho cá nhân tổ chức trong một thời gian ngắn. Về khả năng của con người trong việc tiếp nhận thông tin.Như đã nói ở trên thông tin sai lệch do một số tổ chức cá nhân tung ra có thể gây ra những hậu quả ngiêm trọng.Tuy nhiên ý đồ của việc tung những thông tin sai lệch có thực hiện được hay không còn phụ thuộc khá lớn vào trình độ của người tiếp nhận thông tin.Nếu người tiếp nhận thông tin có một trình độ nhất định thì khi thông tin được truyền đến họ trước khi đưa ra quyết định họ có thể xác minh lại độ trân thực của thông tin.Khả năng tiếp nhận thông tin lại phụ thuộc vào những yếu tố như : trình độ học vấn, tâm lý, cảm xúc, thái độ… của người nhận khi thông tin đến với người đó.Đặc biệt đối với nhiều nhà quản lý ở nước ta khi tiếp khi tiếp nhận thông tin để ra quyết định chưa tiếp nhận nó một cách khách quan ,còn bị tác động bởi một trong những yếu tố trên. Hạn chế tiếp là thông tin thiếu chính xác không đảm bảo độ tin cậy và tính hữu ích.Thông tin được lấy hoặc được cung cấp từ những nguồn thiếu tin cậy.Ngay cả báo chí một trong những kênh thông tin quan trọng nhất ,một nguồn thông tin đáng tin cậy tuy nhiên ở Việt Nam lại tồn tại một thực trạng đó là việc báo chí đưa những thông tin sai ,chưa chính xác về một số hiện tượng sự kiện.Một nghịch lý nữa là mặc dù thông tin lúc đầu là sai và có thể được đính chính lại nhưng uy tín của những tờ báo này vẫn không chịu chút thiệt hại nào.Sở dĩ như vậy là vì dư luận xã hội đối với việc tờ báo đó đã từng đưa thông tin sai là hầu như không có phản ứng, ngưòi đọc đã quá rễ rãi trong việc tiếp nhận thông tin.Vì vậy hiện tượng này vẫn có thể lặp đi lặp lại vài lần mà ít có sự sửa chữa khuyết điểm của một số tờ báo.Nguyên nhân của việc đưa thông tin sai thì có nguyên nhân chủ yếu như: do đạo đức của người viết báo.Vì một số lợi ích vật chất nhất định mà họ đựoc hưởng khi đưa ra những thông tin có lợi về một số đối tượng nào đó mặc dù thông tin đó không đúng sự thật. hoặc có nguyên nhân khác như khi có thông tin báo chí không xác minh tính chính xác của nó đã cho đăng bài và khi có những thông tin thể hiện rõ rthông tin trước là sai thì mới đính chính.Ngoài ra thông tin không đảm bảo chất lượng cũng có thể bắt nguồn từ sự yếu kém của phương tiện được trang bị :những hình ảnh không rõ nét ,những âm thanh bị nhiễu khó nghe …làm cho người tiếp nhận thông tin khó khăn trong việc tiếp nhận và xử lý.Để xử lý được những thông tin này đòi hỏi một lượng chi phí tăng lên về thời gian , kinh phí ,nhân lực cho việc lọc thông tin nhiễu.Về tính hữu ích của thông tin quá có nhiều thông tin phụ trong điều kiện hiện nay làm cho số lưọng thông tin quá lớn ,mà những thông tin phụ này không có nhiều hữu ích trong các hoạt động.Bên cạnh đó các doang nghiệp ,tổ chức cũng chưa biết tận dụng , khai thác được triệt để lợi ích mà thông tin đem lại nhằm làm tăng tính hữu ích của nó. Với số lượng thông tin ngày một tăng thêm thì có sự do gia tăng mạnh mẽ theo nó là về số lượng các tổ chức cung ứng thông tin và các dịch vụ thông tin nhờ vậy mà có thể làm giảm bớt tính độc quyền ở thị trường này.Tuy nhiên chất lượng của những tổ chức này như ta đã biết ở trên là chưa được tốt them vào đó giữa các tổ chức này lại thiếu sự phối hợp chặt chẽ các hoạt động thông tin ở các hệ thống thông tin khác nhau .Chẳng hạn như ở trong một doanh nghiệp thường tồn tại nhiều hệ thống thông tin khác nhau ,mỗi hệ thống thông tin lại phục vụ những hoạt động riêng nhằm đạt được mục tiêu nhất định của mỗi bộ phận trong tổ chức để từ đó đạt dược mục tiêu tổng thể.Tuy nhiên hệ thống thông tin của từng bộ phận trong tổ chức lại không phối hợp được với nhau như bộ phận nghiên cứu phản ứng của khách hàng khi khách hàng có ý kiến đóng góp về một khuyết tật nhỏ của sản phẩm mà bộ phận này lại không thông báo cho bộ phận sản xuất để cải thiện sản phẩm hoặc bộ phận này không chú ý đến góp ý đó của khách hàng từ đó không có thông tin đến bộ phận sản xuất khi đó doanh nghiệp sẽ phải chịu một tổn thất nhất định nếu như sản xuất ra một lượng sản phẩm khuyết tật lớn.Ngoài ra sự thiếu phói hợp trong việc cung cấp thông tin cũng đẫn đến tình trạng cung cấp chông chéo vừa thừa vừa thiếu.Thị truờng thông tin tuy có giảm được tính độc quyền nhờ số lượng tổ chức cung ứng thông tin lớn nhưng sự cạnh tranh ở đay lại quá coa có thể dẫn đến việc cạnh tranh không lành mạnh , trong đó việc ăn cắp thông tin là một ví dụ điểm hình ,hay việc xâm phạm bản quyền về sản phẩm thông tin.Hiện nay nhà nước ta còn kiểm soát được tình trạng xâm phạm quyền sở hữu thông tin của các chủ thể tham gia vào thị trường.Vì hiện tượng này xảy ra quá phổ biến quá nhiều hơn nữa việc sao chép chuyển đổi thông tin từ vật mang tin này sang vật mang tin khác là rất dễ dàng.Nổi cộm nên trong việc xâm phạm quyền sở hữu là sách in lậu và đĩa lậu. Mâu thuẫn giữa nhu cầu tự do công khai hoá trao đổi thông tin trong nền kinh tế thị truờng với nhu cầu bảo vệ bí mật ,quyền sở hữu riêng các thông tin chưa được giải quyết thoả đáng.Các doanh nghiệp đều muốn độc quyền thông tin từ đó cạnh tranh nhau quyết liệt để chỉ doanh nghiệp mình có thông tin vì vậy có thể đội giá cả của thông tin nên rất cao so với lợi ích mà nó mang lại và cuối cùng doanh nghiệp đó vẫn chịu thiệt hại không đáng có gây nên lãng phí.Với sự cạnh tranh khá căn thẳng làm cho khả năng tham gia của các chủ thể vào thị trường thông tin khó khăn hơn ,nhất là các cơ quan của hệ thống thông tin chính phủ. Công nghệ thông tin phát triển hơn làm cho hệ thống thông tin cũng phát triển hơn vì việc truyền tin ,thu thập ,xử lý ,nhận tin được thực hiện dễ dàng.Nhưng sự phát triển cảu công nghệ thông tin lại không đông đều giữa các khu vực các ngành nghề ,các loại chủ thể.Nơi thì đuợc đầu tư công nghệ thông tin nhiều nhưng chưa biết tận dụng hết ,nơi thì được đầu tư quá ít.Một số ngành nghề được nhà nước khuyến khích thì lại chưa có hệ thống thông tin phát triển đáp ứng yêu cầu của ngành nghề đó.Về phía các cá nhân thì chủ yếu là người dân ở một số tỉnh thành phố lớn mới được tiếp cận với công nghệ hiện đại ,còn ở các vùng nông thôn ,vùng cao thì sự tiếp cận của họ với công nghệ thông tin lại quá ít. Như vậy ,hệ thống thông tin ở nước ta còn tồn tại quá nhiều hạn chế chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý dẫn việc ra quyết định là rất khó khăn và có thể dẫn đến sai lầm gây tổn hại đến cả nền kinh tế cả ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường và cả ở tầm vi mô là hệ thông quản lý của các doanh nghiệp ,tổ chức.Từ những tác động to lớn đó của hệ thống thông tin đòi hỏi nhà nước ,các daonh nghiệp các tổ chức cùng với hệ thống thông tin của mình phải nhanh chóng vạch ra những phương hướng ,tìm ra các giải pháp để đổi mới hoàn thiện và phát triển hệ thống thông tin kinh tế ở nước ta trong giai đoạn tới. 3.Một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống thông tin kinh tế ở nước ta: Hệ thống thông tin kinh tế nằm trong hệ thông kinh tế quốc dân ,phục vụ trước hết cho các hệ thống quản lý kinh tế của chính phủ và các đơn vị kinh tế cơ sở.Hoàn thiện và phát triển hệ thống thông tin kinh tế phải dựa trên tinh thần đổi mới quản lý kinh tế và là một phần của quá trình đổi mới đó.Để đề ra giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kinh tế truớc hết ta đưa ra một số phương hướng cụ thể đối với các chủ thể chu yếu của nền kinh tế là nhà nước và doanh nghiệp,tổ chức(một trong những đơn vị kinh tế cơ sở). * Đối với nhà nước cần xác định một số phưong hưóng như: Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin quốc gia: Phát triển đồng bộ và xác định các mối quan hệ cơ bản của các bộ phận trong hệ thống thông tin quốc gia gồm :hệ thống thông tin của các đơn vị kinh tế ,hệ thống thông tin của chính phủ ,hệ thống thông tin thị trường. Đổi mới hoàn thiện cơ chế hoạt động thông tin kinh tế :Nhà nước cần hoàn thiện hệ thông các văn bản pháp luật thông nhất và phù hợp với đặc thù của các hệ thống thông tin kinh tế. ,tạo môi trường pháp lý cho các hoạt động thông tin. Phát triển hệ thống thông tin của chính phủ : đảm bảo phục vụ công tác quản lý kinh tế vĩ mô của nhà nước và hỗ trợ kết nối hệ thống thông tin thị trường và hệ thống thông tin doanh nghiệp.Giữ được vai trò chủ đạo trong ba hệ thống thông tin của quốc gia. Hiện đại hoá hệ thống thông tin kinh tế trong cả nước với việc áp dụng những thành tựu về công nghệ thông tin.Nhà nước cần áp dụng công nghệ thông tin để phát triển hệ thống thông tin kinh tế ở tất cả các vùng trong cả nước.Chú ý đến nhũng vùng đặc biệt khó khăn không có điều kiện phát triển hệ thống thông tin như vậy nhà nước phải có sự hỗ trợ đối với những vùng này. Nhà nước góp phần vào phát triển hệ thống thông tin thị trường với việc tạo lập môi trường pháp luật thông nhất thông suốt tạo sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia vào thị trường thông tin.chông hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh hay độc quyền quá mức trên thị trường thông tin. * Đối với các doanh nghiệp Các doanh nghiệp ,tổ chức đổi mới và hoàn thiện hệ thống thông tin của mình gồm :đổi mới cơ cấu tổ chức hệ thống thông tin của doanh nghiệp ,mở rộng hệ thống thông tin kế toán của doanh nghiệp ,kết hợp được các hệ thống thông tin (kế toán ,tác nghiệp ,kế hoạch ,marketing…)thành một hệ thống thông tin chung đồng thời để phối hợp các bộ phận chức năng trong một tổ chức tiếtkiệm được chi phí cho hoạt động thông tin. Một hệ thống thông tin hiện đại cũng là một yêu cầu quan trọng của doanh nghiệp tổ chức.doanh nghiệp cần quan tâm đến việc đầu tư vào trang thiết bị về thông tin hiện đại hơn vì thông tin kinh tế là nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp ,nó tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiêp trên thị trường.Công nghệ thông tin hiện đại giúp doanh nghiệp nắm được thông tin thị trường nhanh hơn đảm bảo sự kết nối của hệ thống thông tin doanh nghiệp và hệ thống thông tin thị trường. Với những phương hướng đặt ra cho nhà nước và các doanh nghiệp ,các tổ chức ,những phương hướng này có tác dụng định hướng cho sự tác động của các biện pháp công cụ.Vì vậy cần có những biện pháp cụ thể để thực hiện được những phương hướng đó.Sau đây là một số biện pháp chủ yếu: 3.1.Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin góp phần tăng cường chất lượng của quá trình quản lý kinh tế. Vì thông tin chính là đầu vào của quá trình ra quyết định ,vì vậy chất lượng của các quyết định đưa ra phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng thông tin.mà chất lượng của các quyết định lại ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của quá trình quản lý kinh tế.Do đó nâng cao chất lượng hoạt động thông tin là một đòi hỏi cấp bách hiện nay.Để phát huy vai trò của thông tin trong quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay ,khâu khó khăn nhất không phải là phát hiện hoặc truyền tải mà là khâu xử lý thông tin và đảm bảo thông tin đến được với đúng người cần thông tin. Để thực hiện yêu cầu đảm bảo cung cấp thông tin chất lượng cao ,phát huy vai trò của thông tin trong quản lý kinh tế cần đảm bảo các nguyên tắc sau: Thông tin phải đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy cao.Thông tin kinh tế phải thật khách quan ,không bị sai lệch phản ánh đầy đủ các quá trình kinh tế ,các nguồn lực có thể huy động các cơ hội .Từ những hiện thực khách quan do thông tin đem lại sẽ giúp cho các chủ thể quản lý tránh được những sai lầm ,chủ quan duy ý chí ,ảnh hưởng tới việc ra quyết định.Để đảm bảo độ chính xác của thông tin thì bất kỳ một thông tin nào cũng cần có sự kiểm chứng nhất định.Nhờ việc kiểm chứng lại thông tin tình trạng bưng bít phóng đại ,bóp méo … thông tin làm cho thông tin bị sai lệch đi được hạn chế.Bên canh đó cung phải có những chế tài nghiêm khắc đối với các đối tượng có hành vi làm sai lệch thông tin. Thông tin được cung cấp một cách kịp thời đúng địa chỉ của chủ thể quản lý .Tính kịp thời của thông tin được coi như là thời cơ có thể mang lại nhiều lợi ích vật chất cho chủ thể tham gia vào nền kinh tế .Vì vậy, nó đòi hỏi phải cung cấp cho nhà quản lý những thông tin một cách nhanh chóng để ra những quyết định kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường.Việc xác định đối tượng cần được cung cấp thông tin cung rất quan trọng cần trả lời câu hỏi ai cần? ai có thể xử lý những thông tin đó?.Trước hết nó được quyết định bởi nội dung của thông tin hiện có.Nội dung của thông tin này có phục vụ mục đích của đối tượng đó không. Thông tin phải đảm bảo tính hữu ích ,tính dễ hiểu ngắn gọn ,rõ ràng các số liệu phải được xử lý bổ xung nhằm giảm bớt độ bất định ,tăng khả năng dự đoán.Chú trọng đảm bảo tính hợp lý đối với các chủ thể quản lý trong việc xây dựng các quyết định quản lý nói chung và các quyết định quản lý các biệt .Nhu cầu thông tin của các hệ thông kinh tế không giống nhau nó phụ thuộc vào mục tiêu mà mỗi hệ thông theo đuổi ,đòi hỏi phải tổ chức thu thập ,xử lý và sàng lọc các thông tin theo nhu cầu của từng hệ thống .Do đó hoạt động đảm bảo thông tin kinh tế được triển khai đến tất cả các chủ thể quản lý trong bộ máy quản lý của nhà nước hay của doanh nghiệp ,tổ chức.Thoả mãn nhu cầu thông tin của hệ thống kinh tế mà nó phục vụ ,đó là những thông tin cần thiết để hệ thống kinh tế thực hiện được các chức năng kinh tế . Cần có hoạt động thu thập các thông tin phản hồi từ phía đối tượng bị quản lý để chủ thể quan lý có thể điều chỉnh bổ xung các quyết định quản lý.Như vậy phải đảm bảo sự thông xuốt liên tục của các dòng thông tin:từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý và ngược lại thông tin phản hồi từ khách thể quảm lý đến chủ thể quản lý ,trong đó dòng thông tin từ chủ thể đến khách thể giữ vai trò chủ đạo ,vì nó quyết định hiệu lực hiệu quả của hoạt động quản lý.Quá trình tuyền tin giữa các dòng tin này phải đảm bảo truyền đạt một cách chính xác ,đầy đủ. 3.2.Thực hiện phân cấp đúng đắn trong quản lý ,sử dụng thông tin kinh tế. Trong mỗi tổ chức của nhà nước hay của các doanh nghiệp đều tồn tại nhiều cấp quản lý khác nhau.Mỗi cấp quản lý cần sử dụng những thông tin riêng theo mục tiêu riêng đề ra cho từng cấp.Vì vậy việc phân cấp thông tin theo từng cấp quản lý cũng là một yếu tố góp phần đưa thông tin đến đúng với đối tuợng cần sử dụng chúng.Đó là sự phân cấp sử dụng thông tin và quản lý trong nội bộ một tổ chức.Còn đối với các tổ chức trên thị trưòng việc phân cấp quản lý ,sử dụng thông tin nhằm đảm bảo quyền bình đẳng và khả năng sử dụng rộng rãi cho các đối tượng dùng tin.Cần phải thực hiện phân cấp đúng đắn trên cơ sở các nguyên tắc: Hạn chế sự độc quyền thông tin ,và tình trạng thông tin kinh tế trở thành tài sản riêng ,phục vụ lợi ích riêng của một tổ chức. Ở tầm giữa các quốc gia ,phải đảm bảo bí mật quốc gia trong công tác thông tin kinh tế. Đảm bảo khả năng có được thông tin của các tổ chức là như nhau trong quá trình thu thập thông tin.Như vậy điều khác biệt của mỗi tổ chức trong vấn đề chỉ là trình độ thu thập và xử lý thông tin. 3.3.Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục. Ở nước ta ,nhiều nhà quản lý ,nhiều tầng lớp nhân dân còn coi nhẹ tầm quan trọng của thông tin trong giai đoạn đổi mới hiện nay có thể rơi rớt lại những tư tuởng lạc hậu của cơ chế cũ ,vì vậy nhiều khi họ có thông tin trong tay nhưng không tận dụng khai thác nó.Hoặc nhiều đối tượng chưa biết cách tìm kiếm thông tin.Như vậy đòi hỏi phải có sự tuyên truyền giáo dục về vấn đề thông tin nhằm làm tăng thêm trách nhiệm của các cấp các nghành và mọi người trong việc sử dụng thông tin .Đồng thời các cấp các ngành cũng phải có nhiệm vụ xây dựng và thực hiện chiến lược thông tin quốc gia làm cho mọi người nhận thực rõ vai trò của thông tin ,đặc biệt là htông tin trong công cuộc hiện địa hoá công nghiệp hoá đất nước.,từ đó tự giác tham gia vào hệ thống hoạt động thông tin. 3.4.Cụ thể hoá hướng phát triển thông tin ở các vùng khác nhau. Tồn tại rất sự chêch lệch rất lớn giữa các vùng khác nhau ở nước ta.Sự chênh lệch đó không chỉ ở điều kiện sống ,trình độ của người dân …và cả sự phát triển của thông tin ở các vùng này cũng rất khác nhau.Cần phải cung cấp một cách đầy đủ và tiện lợi nhất những thông tin và dịch vụ thông tin nhằm phục vụ nhu cầu kinh doanh và quản lý kinh tế phù hợp với điều kiện kinh tế ,văn hoá xã hội của từng vùng từng địa phương.Kế hoạch cụ thể là Đối với các vùng công nghiệp ,các thành phố lớn cần chú trọng phát triển các hoạt động thông tin mang tính chất chuyên môn hoá cao ,chú trọng đa dạng hoá thông tin :thông tin công nghệ ,thông tin thương mại, tư vấn thông tin … phục vụ nhu cầu về thông tin của các doanh nghiệp, các cơ quan quản lý kinh tế. Đối với vùng đồng bằng chú trọng phát triển thông tin hướng vào việc hỗ trợ cho việc thay đổi cơ cấu kinh tế trên cơ sở khai thác thế mạnh và tiềm năng của từng vùng. Đối với vùng núi vùng sâu vùng xa sự tiếp cận đối với thông tin của hộ là rất hiếm hoi vì vậy cần tuyên truyền ,phổ biến kiến thức ,tiến bộ khoa học kỹ thuật dưới những hình thức thông tin phù hợp với trình độ tập quán ,tâm lý của họ. 3.5.Phải tạo được sự cân đối về thị trường thông tin ,sự bình đẳng về thông tin trên thị trường thông tin. Trong điều kiện hội nhập hiện nay thị trường thông tin không chỉ thông thoáng trong phạm vi quốc gia mà còn phải tích cực ,chủ động tham gia vào thị trường thông tin khu vực và thế giới ,vì trong giai đoạn này chúng ta đang mở rộng buôn bán và quan hệ với các nước ở khu vực và thế giới.Như vậy nắm được thông tin về tình hình thế giới và các nước là một đòi hỏi tất yếu trong quan hệ ngoại giao và thương mại.Trong phạm vi quốc gia thì đòi hỏi thông tin kinh tế phải đa dạng có khả năng hỗ trợ phối hợp bổ xung cho nhau và kết nối thành một hệ thống thông tin thống nhất trong nền kinh tế quốc dân.Đảm bảo tạo lập được mối quan hệ chặt chẽ ,bảo đẩmhì hoà về lợi ích trong quá trình phát triển hệ thống thông tin kinh tế nước ta trước xu thế toàn cầu hoá mạnh mẽ . Để tạo ra sự bình đẳng trên thị trường thông tin nhằm hạn chế tình trạng độc quyền thông tin và cạnh tranh không lành mạnh để có được thông tin.Phải từng bước hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật trên lĩnh vực thông tin.Ngoài ra nhà nước cung phải kiểm tra sự thực hiện của các tổ chức đối với các quy định trên thị trường thông tin. 3.6.Đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin. Như đã nghiên cứu ở trên một trong những hạn chế rất lớn của thông tin kinh tế ở nước bắt nguồn từ nguyên nhân thuộc về nguồn nhân lực của đất nước.Do đó cần xây dựng quy hoạch kế hoạch nâng cao chất lượng đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ thông tin.Việc đào tạo cán bộ thông tin phải căn cứ vào yêu cầu về kỹ năng chuyên môn trình độ về thông tin ...Bên cạnh việc đào tạo cũng cần phải giáo dục đạo đức của người làm công tác thông tin ,phát hiện xử lý những hành vi cố tình làm sai lệch thông tin. Để thực hiện được những biện pháp trên đòi hỏi sự nỗ lực rất lớn của nhà nước, của các doanh nghiệp ,các tổ chức.Đồng thời để đưa các biện pháp vào áp dụng cũng đòi hỏi các chủ thể tập trung nhũng nguồn lực ,vật lực ,nhân lực khá lớn nhưng cần thiết vì quản lý là một trong những hoạt động yếu nhất của nước ta, cụ thể ta có thể thấy rất rõ sự khác biệt giữa phong cách quản lý của nước ta với các nước phát triển trên thế giới.Vì việc quản lý không tốt đồng nghĩa với việc lãng phí nguồn lực trong phát triển kinh tế làm cho nền kinh tế không hoạt động với hiệu quả cao nhất.Chính đó là một phần nguyên nhân đã tạo nên khoảng cách giữa nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế thế giới. C/KẾT LUẬN Với sự bùng nổ về công nghệ thông tin ngày nay làm cho hệ thống thông tin ngày càng đa dạng , xuất hiện nhiều thông tin mới với nhũng giá trị mới mà chúng mang lại.Những thông tin mới này cũng góp phần làm cho quá trình ra quyết định được chính xác hơn.Tuy nhiên mức độ phức tạp của việc ra quyết định thì lại cao hơn trước do sự đa dạng của thông tin, mặt khác cũng có nhiều phương án để lựa chọn hơn trong việc ra quyết định đòi hỏi nhà quản lý phải có trình độ cao để lựa chọn phương án phù hợp với mục tiêu nhất. Đối vói các doanh nghiệp thì nắm bắt thông tin mới là điều cốt yếu quan trọng .Để kinh doanh thành công ,thì các doanh nghiệp phải làm cho hoạt động kinh doanh của họ thích úng kịp thời với thị trưòng ,với thực tế mới để đón bắt nhũng xu huớng mới trong tương lai.Và điều kiện then chốt đảm bảo cho thành công đó là nguồn thông tin mới có giá trị. Đối với nhà nước , hiện nay nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới do đó khi quan hệ thương mại giữa các nứơc trên thế giới nhà nước phải nắm bắt đựơc thông tin về nước bạn như thông tin về giá cả thị trường ,thông tin về các quy định trong buôn bán thương mại.Khi nhà nước nắm được thông tin về thị truờng thế giới cần phổ biến nhũng thông tin này cho các doanh nghiệp và hỗ trợ cho các doanh nghiệp khi làm ăn vói các công ty nước ngoài. Bản thân nhà nước cũng là một chủ thể quản lý với đối tượng quản lý của mình là các doanh nghiệp các tổ chức các cá nhân ,mỗi quyết định quản lý của nhà nước có ảnh hưởng với một quy mô rất lớn.Vì vậy trước khi đề ra các chính sách , chương trình…nhà nước phải có những thông tin chính xác đầy đủ về tổng thể nền kinh tế để ra được những chính sách kịp thời phù hợp với tình hình đất nước D/TÀI LIỆUTHAM KHẢO 1.Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế - NXB lao động xã hội 2005 – GS.TS Đỗ Hoàng Toàn , PGS.TS Mai Văn Bưu 2.Về quản lý kinh tế (tập 2) - NXB Chính Trị Quốc Gia - Học Viện Hành Chính Quốc Gia Hồ Chí Minh 3.Quản Trị Thông Tin Tinh Giản – NXB Thống Kê -1995 4.Giáo trình lý thuyết quản lý kinh tế - NXB Giáo Dục 1997 -GS.TS Đỗ Hoàng Toàn 5.Quản trị học những vấn đề cơ bản –NXB Bưu Điện 2007– TS Hà Văn Hội 6.Khoa học tổ chức và quản lý một số vấn đề lý luận và thực tiễn - NXB Thống Kê - HN 1997 7.Nghệ thuật quản lý kiểu Nhật Bản – NXB Sự Thật 1993 8.Thông tin kinh tế với việc quản lý nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay – NXB Thông Kê – TS Đường Vinh Sường 9.Internet

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docxThực trạng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống thông tin phục vụ cho việc ra quyết định trong quá trình quản lý kinh tế ở nước ta hiện nay.docx
Luận văn liên quan