Đề tài Thực trạng và Giải pháp thu hút đầu tư trưc tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Việt Nam

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM. 3 I.NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 3 1.Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài. 3 2. Đặc điểm. 3 3. Các hình thức FDI 4 4. Vai trò của FDI 5 4.1.Đối với nước chủ đầu tư 5 4.2.Đối với nước nhận đầu tư 6 II.QUAN ĐIỂM VÀ CHÍNH SÁCH THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM. 8 1.Quan điểm của Việt Nam trong thu hút FDI 8 2.Chính sách thu hút FDI của Việt Nam. 10 III. FDI VÀO VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 1988-2003. 12 1.Tình hình thu hút FDI vào Việt Nam giai đoạn 1988-2003. 12 1.1.Tình hình cấp giấy phép đầu tư 12 1.2.Chủ đầu tư 15 1.3. Cơ cấu đầu tư theo ngành. 15 1.4. Cơ cấu đầu tư theo vùng lãnh thổ. 16 2.5. Hình thức đầu tư 16 2.Tình hình triển khai hoạt động các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn 1988-2003. 17 2.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư 17 2.2. Tình hình điều chỉnh giấy phép đầu tư 18 2.3 Tình hình rút giấy phép đầu tư , giải thể trước thời hạn. 19 3.Đánh giá về FDI tại Việt Nam giai đoạn 1988-2003 19 3.1. Kết quả đạt được. 19 3.2. Tồn tại. 22 CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI TRONG NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM. 26 I. TÍNH TẤT YẾU KHÁCH QUAN CỦA VIỆC THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM. 26 1.Thực trạng cơ sở vật chất kỹ thuật ngành du lịch Việt Nam. 26 1.1. Cơ sở lưu trú: 26 1.2. Các cơ sở ăn uống: 27 1.3.Hệ thống giao thông vận tải: 27 1.4. Hệ thống thông tin liên lạc: 27 1.5.Hệ thống cung cấp điện nước: 28 1.6.Các cơ sở vui chơi giải trí: 28 2. Tính tất yếu khách quan của việc thu hút FDI vào ngành du lịch Việt Nam. 29 II.THUẬN LỢI TRONG THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM. 31 1.Bối cảnh quốc tế. 31 1.1.Xu thế hoà bình hoá và toàn cầu hoá. 31 1.2.Sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ 31 2.Bối cảnh trong nước. 32 2.1.Chính trị xã hội ổn định. 32 2.2. Tiêm năng du lịch phong phú. 32 2.2.1.Tài nguyên thiên nhiên 32 2.2.2.Tài nguyên nhân văn. 33 2.3. Nguồn lao động dồi dào có tri thức. 35 II.THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI TRONG NGÀNH DU LỊCH (1988-2003) 35 1.Tình hình thu hút FDI vào ngành du lịch (1988-2003) 35 1.1. Nhịp độ thu hút vốn đăng ký. 35 1.2.Quy mô bình quân một dự án. 38 1.3. Phân bổ vốn đăng ký theo chủ đầu tư 40 1.4.Phân bổ vốn đăng ký theo hình thức đầu tư 41 1.5.Phân bổ vốn đăng ký theo vùng lãnh thổ. 43 1.5. Phân bổ vốn đăng ký theo loại hình kinh doanh. 44 2.Tình hình thực hiện vốn đầu tư đăng ký. 46 2.1. Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện và vốn đầu tư đăng ký. 46 2.2. Cơ cấu phân bổ vốn thực hiện. 47 2.3. Tình hình rút giấy phép đầu tư 49 3.Đánh giá về FDI vào ngành du lịch Việt Nam giai đoạn 1988-2003 52 3.1. Thành tựu. 52 3.1.1.Bù đắp sự thiếu hụt về vốn cho phát triển du lịch. 52 3.1.2.Góp phần tăng doanh thu của ngành du lịch. 53 3.1.3. Chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến. 54 3.1.4.Tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực 55 3.1.5.Thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước. 56 3.1.6.Đẩy mạnh xuất khẩu tại chỗ tăng thu ngoại tệ. 58 3.2.Tồn tại 59 3.2.1.Lượng vốn thu hút nhỏ so với nhu cầu. 59 3.2.2.Sử dụng vốn đầu tư mất cân đối 60 3.2.3.Cơ cấu đầu tư giữa các vùng chưa hợp lý. 60 3.2.4.Phụ thuộc quá nhiều vào các đối tác chủ yếu. 61 3.2.5.Hình thức đầu tư chưa phong phú, khả năng góp vốn của Việt Nam còn hạn chế. 62 3.2.6. Trình độ công nghệ còn yếu kém và lạc hậu. 62 3.3.Nguyên nhân 63 3.3.1.Nguyên nhân khách quan 63 3.3.2.Nguyên nhân chủ quan 65 CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM. 70 I.MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH (2001-2010) 70 1.Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. 70 1.1.Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam nói chung. 70 1.2.Mục tiêu thu hút FDI của ngành du lịch. 70 2.Định hướng thu hút FDI của ngành du lịch Việt Nam. 71 2.1.Về lĩnh vực đầu tư 71 2.2.Về địa điểm đầu tư 72 2.3.Về chủ đầu tư 73 2.4.Về hình thức đầu tư 73 II.CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI TRONG NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM. 74 1.Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư nói chung. 74 1.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về FDI 74 1.1.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật. 74 1.1.2. Tiếp tục đổi mới chính sách thu hút FDI 76 1.2.Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước 78 1.3.Cải tiến thủ tục hành chính 80 1.4.Công tác cán bộ đào tạo. 80 2.Giải pháp cụ thể cho ngành du lịch. 81 2.1.Xây dựng quy hoạch phát triển du lịch. 81 2.2.Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách khuyến khích đầu tư vào du lịch. 82 2.3.Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư 83 2.4. Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài vào ngành du lịch. 84 2.5.Trợ giúp về mặt tài chính cho các doanh nghiệp 85 2.6.Tăng cường đào tạo lực lượng lao động trong ngành du lịch. 85 KẾT LUẬN 88

doc99 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 03/04/2013 | Lượt xem: 2214 | Lượt tải: 9download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Thực trạng và Giải pháp thu hút đầu tư trưc tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tế của Việt Nam, tuy nhiên do nguồn vốn FDI trong lĩnh vực du lịch Việt Nam chủ yếu là từ các nước Châu Á nên ngành du lịch là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng. Tác động của cuộc khủng hoảng thể hiện ở những khía cạnh sau: Cuộc khủng hoảng tài chính tác động mạnh tới nền kinh tế các nước trong khu vực làm cho các công ty mẹ ở các nước Châu Á gặp khó khăn, không có khả năng tìm nguồn tài chính để tiếp tục thực hiện đầu tư thậm chí có nhiều công ty phải phá sản dẫn tới việc thu hẹp hoạt động kinh doanh trên toàn cầu trong đó có Việt Nam. Mặt khác, do phải đối phó với những khó khăn của cuộc khủng hoảng nên một số nước Châu Á đã ban hành những quy định nghiêm ngặt nhằm hạn chế chuyển vốn ra nước ngoài, điều này đã cản trở những tập đoàn công ty mẹ dù vẫn mạnh và muốn tiếp tục đầu tư ra nước ngoài. Đây là một nguyên nhân quan trọng khiến cho không chỉ giảm sút hoạt động FDI trong lĩnh vực du lịch mà còn làm cho số dự án phải giải thể trước thời hạn tăng lên. Bản thân Việt Nam là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á nên cũng phần nào chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng (dù không quá mạnh như một số nước khác), do đó nền kinh tế trong nước có sự biến động, không còn giữ được sự ổn định cho phát triển kinh tế như những năm trước. Cùng với xu hướng chuyển hướng của luồng vốn FDI từ các nước Châu Á sang các khu vực khác trên thế giới, nguồn vốn đầu tư từ các châu lục khác vào Việt nam cũng giảm sút rõ rệt. Cuộc khủng hoảng còn là một nguyên nhân làm giảm sút lượng khách quốc tế vào Việt Nam gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của ngành du lịch Việt Nam nói chung và khu vực có vốn FDI nói riêng. Do hoạt động đầu tư nước ngoài của các nước Châu Á bị giảm sút nên lượng khách đầu tư quốc tế đặc biệt là khách tìm kiếm cơ hội đầu tư mới đến Việt Nam giảm hẳn. Và cũng do tác động của cuộc khủng hoảng, nền kinh tế nhiều nước Châu Á lâm vào tình trạng suy thoái nên nhu cầu về du lịch của người dân cũng giảm hẳn so tới những năm trước. Lượng khách quốc tế giảm dẫn tới tình trạng công suất sử dụng phòng của các khách sạn ở mức quá thấp (trung bình là dưới 50%) do cung đã vượt quá cầu. Đồng thời, các loại hình kinh doanh khác như sân golf, khu vui chơi giải trí....cũng đang thưa vắng khách, vì vậy các doanh nghiệp có vốn FDI trong ngành du lịch khách sạn hầu hết đang ở trong tình trạng thua lỗ. Do tình trạng kinh doanh khó khăn như vậy nên các dự án xây dựng khách sạn, sân golf...cũng dãn tiến độ thi công để giảm bớt lượng vốn bị ứ đọng và các chủ đầu tư cũng e ngại trong những quyết định đầu tư mới. Cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút FDI vào du lịch giữa các nước trong khu vực. Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997 đã bao trùm lên toàn bộ nền kinh tế các nước trong khu vực. Để vực dậy nền kinh tế nước mình, các nước đều tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài để phát triển những lĩnh vực có tiềm năng trong đó có du lịch – một ngành rủi ro ít, quay vòng vốn nhanh. Biết tâm lý các nhà đầu tư nước ngoài là thích đầu tư vào nơi thu được lợi nhuận cao và môi trường đầu tư thuận lợi nên mỗi quốc gia đều tìm mọi cách làm cho môi trường đầu tư nước mình hấp dẫn hơn như điều chỉnh chính sách thuế, giảm tiền thuê đất, đơn giản hoá các thủ tục đầu tư, thực hiện chính sách “một cửa”...Do đó, sự thu hút vốn nước ngoài vào ngành du lịch trong thời gian qua thực sự là một cuộc cạnh tranh gay gắt giữa nước ta với các nước nhất là các nước trong khu vực. Trong cuộc cạnh tranh này, tuy có tiềm năng du lịch phong phú nhưng môi trường đầu tư của Việt Nam còn hạn chế nên dòng vốn FDI đổ vào lĩnh vực du lịch còn rất ít so với nhiều nước trong khu vực và liên tục giảm sút. 3.3.2.Nguyên nhân chủ quan Công tác quy hoạch và xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư còn chậm. Mốc đánh dấu sự ra đời của ngành du lịch Việt Nam là Nghị quyết số 26/CP của Chính phủ ra ngày 9/7/1960 về việc “Thành lập công ty du lịch Việt Nam”. Tuy nhiên mãi đến giữa những năm 1990, chúng ta mới xây dựng được quy hoạch phát triển ngành. Tuy nhiên quy hoạch này cũng chưa đầy đủ và thiếu cụ thể. Việc xây dựng danh mục dự án kêu gọi đầu tư vào lĩnh vực du lịch còn chậm. Các công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển tổng thể của ngành và lãnh thổ chậm được tiến hành dẫn tới việc kêu gọi đầu tư cũng như việc thẩm định dự án gặp nhiều lúng túng, ý kiến các cơ quan Nhà nước khó thống nhất, thời gian xem xét cấp giấy phép kéo dài gây cản trở cho các nhà đầu tư. Đồng thời, do chưa có quy hoạch cụ thể của ngành nên các địa phương chưa có sự phối hợp chặt chẽ trong công tác vận động đầu tư, trong một số trường hợp, dẫn đến việc triển khai cùng một lúc quá nhiều dự án, không có nhu cầu về số lượng... Ví dụ như việc phát triển hàng loạt các dự án xây dựng khách sạn, cao ốc văn phòng trong những thời điểm mà đáng lẽ ra không nên xây dựng nữa, dẫn đến tình trạng thị trường này trở nên cạnh tranh gay gắt đi đến giai đoạn bão hoà. Môi trường pháp luật không ổn định và chưa công bằng. Một trong những nguyên nhân cơ bản mà các nhà đầu tư nước ngoài vẫn còn đang than phiền là hệ thống các quy phạm pháp luật, chính sách kinh tế của Việt Nam còn chưa thật rõ ràng, vẫn còn chồng chéo, thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ và việc thay đổi còn chưa có lộ trình rõ ràng, khó dự đoán. Bên cạnh đó, các văn bản hướng dẫn thường ban hành chậm, nhiều khi đưa ra rất sát với thời điểm thực hiện, thậm chí có những văn bản khó hiểu; văn bản còn tham chiếu quá nhiều gây nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp khi vận dụng. Đồng thời, một số cơ quan địa phương đã tự ý đề ra những quy định riêng về thẩm định dự án, về tiền thuê đất, giá bán điện, nước... trái với quy định chung của Nhà nước, làm cho nhà đầu tư nước ngoài hoài nghi về chính sách và luật pháp Việt Nam. Bên cạnh đó, một điều làm cho các nhà đầu tư chưa hài lòng là pháp luật Việt Nam vẫn có sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế như: chính sách hai giá đối với một số sản phẩm, dịch vụ Nhà nước độc quyền. Chúng ta có một số ưu đãi về thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài so với đầu tư trong nước nhưng lại áp dụng mức giá cao đối với một số sản phẩm, dịch vụ cung cấp cho họ nên đã gây ra tâm lý e ngại và có nhìn nhận không tốt về sự phân biệt đối xử này. - Cơ sở hạ tầng còn lạc hậu và yếu kém: Cơ sở hạ tầng của một nền kinh tế là nền tảng phục vụ cho sản xuất và đời sống xã hội. Do xuất phát điểm còn thấp nên cơ sở hạ tầng yếu kém của Việt Nam đã tồn tại qua nhiều thập kỷ, gây ra những ấn tượng không tốt cho các nhà đầu tư nước ngoài. Sự quá tải và lạc hậu của hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, cung cấp điện, nước là những đặc điểm nổi bật của cơ sở hạ tầng Việt Nam. Bên cạnh đó, các dịch vụ cơ sở như tư vấn pháp lý, dịch vụ cung cấp thông tin về các cơ hội đầu tư, môi giới đầu tư, soạn thảo hồ sơ dự án... còn thiếu hoặc hoạt động kém hiệu quả. Ngoài ra, việc cơ sở hạ tầng thuận lợi thường chỉ tập trung ở những thành phố lớn, ở các trung tâm đô thị chính là nguyên nhân dẫn tới sự phân bố không đồng đều của các các dự án đầu tư vào du lịch Việt Nam. Môi trường kinh doanh du lịch ở Việt Nam chưa thuận lợi, chi phí đầu tư còn cao. Lương lao động ở Việt Nam tuy được đánh giá là rẻ nhưng vẫn cao hơn 1,6 lần so với ở Inđônêsia. Giá cước điện thoại cao gấp 2-3 lần so với các nước trong khu vực. Giá bán điện cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cao gấp 2 lần so với thành phố Thượng Hải và 2,5 lần so với Băngkok. Việc giải phóng mặt bằng ỏ Việt Nam thường rất chậm và khá tốn kém. Bên cạnh đó các nhà đầu tư còn phải mất một khoản chi phí cho “xử lý hành chính”, thường chiếm tới 5-7% kinh phí đầu tư. Về chính sách thuế, thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam mức thuế cao nhất 50%, trong khi ở Thượng Hải là 45% và ở Băngkok là 37%. Hiện nay, thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong du lịch là cao hơn so với khả năng thực hiện: thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 25% là mức thuế cao nhất; thuế tiêu thụ đặc biệt đang được áp dụng cho loại hình kinh doanh sân golf là nguyên nhân hạn chế sự phát triển lĩnh vưc này. Hệ thống quản lý đầu tư nước ngoài còn nhiền bất cập. Thủ tục hành chính đối với đầu tư có ý nghĩa quyết định đối với việc thu hút đầu tư nước ngoài, nhưng nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã phàn nàn nhiều về vấn đề này của Việt Nam. Nhiều thủ tục không rõ ràng, không thích hợp và hay thay đổi. Chúng bao gồm các thủ tục liên quan đến việc cấp giấy phép xuất nhập khẩu, thời gian cần thiết cho việc cấp giấy phép và đánh giá dự án...Kinh nghiệm quốc tế cho thấy mặc dù mức độ thông thoáng của luật đầu tư như nhau nhưng nước nào có thủ tục đầu tư đơn giản, gọn nhẹ thì nước đó thu hút vốn đầu tư được nhiều hơn. Ví dụ trong số các nước ở khu vực thì Thái Lan là nước thực hiện các thủ tục hành chính về đầu tư khá đơn giản, cơ quan hợp tác đầu tư là cửa duy nhất tiếp nhận hồ sơ và giải quyết các công việc tiếp theo, đồng thời thay mặt nhà đầu tư đi liên hệ với các cơ quan chức năng rồi trả lời lại cho chủ đầu tư biết. Đối với Việt Nam, thủ tục đầu tư đang là vấn đề trở ngại lớn cho việc thu hút vốn FDI. Cung cách làm ăn quan liêu giấy tờ, thủ tục xin đầu tư còn rườm rà phức tạp. Nhiều khi để có được giấy phép, chủ đầu tư phải làm nhiều thủ tục, đi qua nhiều cấp, chịu đựng không ít tiêu cực. Có những dự án từ khi đàm phán đến khi cấp giấy phép đầu tư phải mất hàng năm. Có thể nói, so với nhiều nước trong khu vực, khả năng xử lý hành chính của Việt Nam là chậm và chưa tốt. Năm 2002, theo điều tra của tổ chức JETRO, có tới 42% các doanh nghiệp Nhật Bản được điều tra cho rằng khó khăn lớn nhất của họ khi hoạt động tại Việt Nam là thủ tục hành chính, trong khi các con số này ở Thái Lan chỉ có 13%, Philippine là 18%, và Inđônêsia là 22%. Chính sự chậm trễ này đã làm nản lòng các nhà đầu tư, làm chậm tiến trình kinh doanh, thậm chí lỡ mất cơ hội tìm kiếm lợi nhuận của họ. Hoạt động xúc tiến đầu tư còn thụ động. Công tác vận động đầu tư là một trong những công việc khá mới mẻ trong hoạt động FDI ở Việt Nam nói chung và trong hoạt động FDI vào ngành du lịch nói riêng. Trong thực tế tuy có tham khảo kinh nghiệm của các nước khác song hoạt động vận động đầu tư của Việt Nam vẫn còn nhiều bỡ ngỡ: thụ động trong việc hợp tác đầu tư, chưa chủ động tạo ra cơ hội đầu tư bằng cách xây dựng các danh mục dự án hoàn chỉnh. Danh mục dự án nếu được xây dựng thì còn thiếu mô tả chi tiết nên không tạo ấn tượng cho các nhà đầu tư. Lao động trong ngành du lịch còn nhiều bất cập. Đội ngũ lao động của ta trong ngành du lịch tuy dồi dào về số lượng nhưng còn yếu về ngoại ngữ, kiến thức kinh nghiệm nghiệp vụ cơ bản chưa được đào tạo một cách hệ thống, tâm lý tác phong làm việc còn trì trệ, chưa chủ động sáng tạo (do ảnh hưởng của tư tưởng sản xuất nhỏ và chế độ bao cấp trước đây). Điều này gây cản trở cho thu hút vốn đầu tư, làm các chủ đầu tư nước ngoài ngần ngại. Đây cũng là một trong những lí do các chủ đầu tư nước ngoài tập trung đầu tư ở các tỉnh phía Nam vì con người ở đây phần nào đã quen với môi trường kinh doanh trong cơ chế thị trường nên năng động và nhanh nhậy hơn trước cái mới. Vấn đề quản lý các dự án FDI vẫn còn chưa đạt yêu cầu. Công tác kiểm tra giám sát hoạt động FDI chưa đạt yêu cầu. Về quản lý xây dựng cơ bản: Nhiều công trình xây dựng đã làm trái với các thủ tục thẩm định theo quy định của pháp luật hoặc thiết kế không đúng theo tiêu chuẩn của nước ngoài, và chưa có sự chấp thuận của Bộ Xây dựng. Các chủ đầu tư bên phía Việt Nam ít am hiểu những quy định về xây dựng cơ bản, ở một số xí nghiệp liên doanh bên Việt Nam hầu như không tham gia quản lý các khâu thiết kế, thi công mà khoán trắng cho bên nước ngoài do đó việc cấp giấy phép thường bị kéo dài làm nản lòng các nhà đầu tư. Về quản lý thị trường: Sự lỏng lẻo trong quản lý các dự án FDI đã làm thất thu cho ngân sách Nhà nước. Các doanh nghiệp có vốn FDI thường lợi dụng góp vốn liên doanh để trốn thuế nhập khẩu. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài lợi dụng sự chuyển giao giữa công ty mẹ và công ty con ở Việt Nam để trốn thuế lợi tức, bằng cách nâng giá đầu vào, hạ giá đầu ra hoặc nâng giá chyển giao công nghệ và phí quản lý giữa công ty mẹ và công ty con. CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM. I.MỤC TIÊU VÀ ĐỊNH HƯỚNG THU HÚT FDI VÀO NGÀNH DU LỊCH (2001-2010) 1.Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. 1.1.Mục tiêu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Việt Nam nói chung. Theo Nghị quyết số 09/2001/NQ – CP của Chính phủ ra ngày 28/08/2001 về việc tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả FDI thời kỳ 2001-2005 thì: Để thực hiện chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 và phương hướng nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 2001-2005, khu vực FDI phải phát triển ổn định hơn, đạt kết quả cao hơn, đặc biệt là về chất lượng so với thời kỳ trước để đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Cụ thể hơn, đầu tư nước ngoài trong thời kỳ 2001-2005 phải đạt được các mục tiêu sau: Thứ nhất: Vốn đăng ký của các dự án cấp giấy phép mới đạt khoảng 12 tỷ USD. Thứ hai: Vốn thực hiện đạt khoảng 11 tỷ USD. Thứ ba: Đến năm 2005, FDI phải đóng góp khoảng 15% GDP, 25% tổng kim ngạch xuất khẩu và khoảng 10% tổng thu ngân sách của Nhà nước (không kể dầu khí). 1.2.Mục tiêu thu hút FDI của ngành du lịch. Để sự phát triển của ngành du lịch có thể góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Tổng cục du lịch đã đặt ra các mục tiêu ngắn, trung và dài hạn cho tới năm 2010, cụ thể là đón được khoảng 6,7 triệu lượt khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch quốc tế (không bao gồm vận chuyển) đạt khoảng 3,5 tỷ USD vào năm 2010. Nhằm đạt được những mục tiêu đề ra, nhu cầu vốn đầu tư của ngành du lịch được dự báo là khoảng 250.000 tỷ đồng. Để thu hút được khối lượng vốn đầu tư lớn như vậy, dự kiến của ngành về các nguồn vốn có thể thu hút được như sau: Bảng 15 : Dự báo các nguồn vốn đầu tư cho ngành giai đoạn 2001-2010 STT Chỉ tiêu Nhu cầu vốn (tỷ đồng) Tỷ trọng (%) 1 Tổng nhu cầu vốn đầu tư 250.000 100,00 2 Vốn tích luỹ đầu tư từ GDP của ngành 149.500 59,80 3 Vay ngân hàng và các nguồn khác 20.100 8,04 4 Vay ODA và các nguồn nước ngoài khác 25.125 10,05 5 Vốn đầu tư của tư nhân 30.150 12,60 6 Vốn FDI 25.125 10,05 Nguồn: Viện nghiên cứu phát triển du lịch Số liệu dự báo trên cho thấy nguồn vốn FDI vẫn được đánh giá cao và chiếm tỷ trọng đáng kể so với các nguồn vốn đầu tư khác. Ngành du lịch hy vọng rằng, nguồn vốn FDI này sẽ góp phần cải thiện những mặt yếu kém của ngành trong giai đoạn hiện nay, đó là: bù đắp sự thiếu hụt về vốn; chuyển giao công nghệ tiên tiến, sử dụng trong ngành khách sạn, vui chơi giải trí; góp phần tạo công ăn việc làm, cải thiện trình độ lao động và phát triển kinh tế vùng. Để đạt mục tiêu thu hút lượng FDI là 25.125 tỷ VND (tương đương 1,675 tỷ USD) vào ngành du lịch Việt Nam, việc xây dựng một định hướng đúng đắn có tính khả thi để thu hút FDI mang ý nghĩa rất quan trọng. Nội dung của định hướng chiến lược này sẽ được trình bày ở phần tiếp theo sau đây. 2.Định hướng thu hút FDI của ngành du lịch Việt Nam. 2.1.Về lĩnh vực đầu tư. Thứ nhất, khuyến khích và ưu tiên những dự án đầu tư phát triển các khu du lịch tổng hợp có ý nghĩa quốc gia, các khu, điểm du lịch văn hoá, du lịch sinh thái đạt tiêu chuẩn quốc tế, có sức cạnh tranh, sử dụng nhiều lao động. Thứ hai, khuyến khích đầu tư vào các khu vui chơi giải trí, tạo các sản phẩm du lịch đặc sắc có chất lượng cao. Thứ ba, khuyến khích và ưu tiên các dự án phát triển cơ sở hạ tầng ở các khu du lịch hoặc ở những vùng có tiềm năng du lịch. Thứ tư, tạo điều kiện thuận lợi thu hút các dự án FDI sử dụng công nghệ du lịch tiên tiến, nâng cao chất lượng dịch vụ và hạn chế tác động tới môi trường. 2.2.Về địa điểm đầu tư. Tiếp tục thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các địa bàn có nhiều tiềm năng du lịch. Khuyến khích và dành ưu tiên tối đa cho FDI vào những vùng và địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn và đẩy mạnh đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế ở các địa bàn này bằng các nguồn vốn khác để tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút FDI vào ngành du lịch tại những địa bàn này. Ưu tiên đầu tư vào 4 khu du lịch tổng hợp quốc gia, 16 khu du lịch chuyên đề gắn với 3 địa bàn kinh tế trọng điểm: địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, địa bàn kinh tế động lực miền Trung, địa bàn kinh tế trọng điểm Nam Bộ với những quy mô và mức độ đầu tư khác nhau phù hợp với điều kiện thực tế. Các khu du lịch tổng hợp gồm có: Khu du lịch tổng hợp biển, đảo Hạ Long - Cát Bà (Quảng Ninh - Hải Phòng) gắn với địa bàn kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Khu du lịch tổng hợp giải trí thể thao biển Cảnh Dương-Hải Vân-Non Nước (Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng) gắn với địa bàn kinh tế động lực miền Trung, Khu du lịch biển tổng hợp Văn Phong - Đại Lãnh (Khánh Hoà), Khu du lịch tổng hợp sinh thái nghỉ dưỡng núi Dankia-Suối Vàng (Lâm Đồng-Đà Lạt), Các khu du lịch chuyên đề gồm có: Khu du lịch nghỉ dưỡng núi Sapa (Lào Cai), Khu du lịch sinh thái hồ Ba Bể (Bắc Kạn), Khu du lịch văn hoá - lịch sử Cổ Loa (Hà Nội), Khu du lịch văn hoá, môi trường Hương Sơn (Hà Tây), Khu du lịch văn hoá - lịch sử - sinh thái Tam Cốc-Bích Động (Ninh Bình), Khu du lịch văn hoá-lịch sử Kim Liên - Nam Đàn (Nghệ An), Khu du lịch sinh thái hang động Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), Khu du lịch lịch sử cách mạng đoạn đường mòn Hồ Chí Minh (Quảng Trị) Khu du lịch văn hoá Hội An gắn với di tích Mỹ Sơn (Quảng Nam), Khu du lịch biển Phan Thiết - Mũi Né (Bình Thuận), Khu du lịch sinh thái Hồ Tuyền Lâm (Lâm Đồng), Khu du lịch sinh thái Rừng Sác Cần Giờ (Tp. HCM), Khu du lịch biển Long Hải - Phước Hải (Bà Rịa - Vũng Tàu), Khu du lịch lịch sử - sinh thái Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Khu du lịch biển đảo Phú Quốc (Kiên Giang). Khu du lịch sinh thái rừng ngập mặn Đất Mũi (Cà Mau) 2.3.Về chủ đầu tư. Khuyến khích các nhà FDI từ tất cả các nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài có tiềm năng lớn về tài chính và nắm công nghệ nguồn từ các nước công nghiệp phát triển; tiếp tục thu hút các nhà FDI ở trong khu vực.Đông Nam Á. Có kế hoạch vận động các tập đoàn, công ty lớn đầu tư vào Việt Nam, đồng thời chú ý đến các công ty có quy mô vừa và nhỏ nhưng công nghệ hiện đại; khuyến khích tạo điều kiện cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư về nước. 2.4.Về hình thức đầu tư. Du lịch là ngành có tính chất đặc thù riêng liên quan đến vấn đề an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội nên bên Việt Nam tham gia trực tiếp quản lý hàng ngày sẽ giúp các cơ quan Nhà nước quản lý tốt hơn. Chính vì vậy, trong lĩnh vực du lịch nhà nước ta đặc biệt khuyến khích hình thức doanh nghiệp liên doanh. Thu hút vốn đầu tư nước ngoài dưới hình thức này vừa tạo điều kiện cho đối tác Việt nam tiếp cận công nghệ quản lý hiện đại mà vẫn kiểm soát được các hoạt động liên quan tới an ninh, trật tự an toàn xã hội. II.CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG FDI TRONG NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM. 1.Giải pháp cải thiện môi trường đầu tư nói chung. 1.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế chính sách về FDI. 1.1.1. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật. Việt Nam cần phải tiếp tục xây dựng, điều chỉnh, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến FDI, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này phát triển theo đúng định hướng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và phù hợp với yêu cầu chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Các điểm cần hoàn thiện của môi trường pháp lý về thu hút FDI: Đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, nhất quán và dự đoán trước được của luật pháp chính sách. Giải pháp này đòi hỏi trước hết phải rà soát lại hệ thống các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động đầu tư nước ngoài để đánh giá tính khả thi, tính trùng lặp, tính bất hợp lý của hệ thống. Trên cơ sở đó cắt bỏ, sửa đổi những văn bản, quy định không còn phù hợp, đồng thời có thể bổ sung thêm các văn bản hoặc quy định mới phù hợp hơn nhưng cần tuân thủ nguyên tắc đảm bảo về sự ổn định và tính dự đoán trước được của pháp luật chính sách để các nhà đầu tư nước ngoài có thể tính toán được lợi ích và rủi ro của đầu tư theo sự vận động khách quan của quy luật thị trường. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện nay. Trong tiến trình đi đến một Luật chung cho FDI và đầu tư trong nước, trước mắt để bảo đảm môi trường đầu tư có sức hấp dẫn và tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực, cần sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật đầu tư nước ngoài hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan, với các yêu cầu: Bảo đảm một khung khổ pháp luật hấp dẫn, thông thoáng, rõ ràng ổn định, một hệ thống ưu đãi và khuyến khích mang tính cạnh tranh cao so với các nước trong khu vực. Luật hoá, nâng lên mức các quy định của Luật các chính sách, quyết định của Chính phủ đã được kiểm nghiệm qua thực tế. Chủ động xử lý các vần đề pháp lý liên quan đến việc thực hiện các cam kết của nước ta trong lộ trình hội nhập quốc tế. Một số vấn đề cần sửa đổi: Qui định về hình thức thu hút vốn FDI Về hình thức công ty cổ phần: Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996 sửa đổi, bổ sung năm 2000 qui định 3 hình thức đầu tư chủ yếu là hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Ba hình thức này chỉ được tổ chức dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Đây cũng chính là một hạn chế của luật pháp Việt Nam. So với hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có lợi thế hơn trong việc huy động nguồn vốn rộng rãi bằng cách phát hành cổ phiếu ra công chúng và giảm rủi ro do không tập trung vốn ngay từ đầu vào doanh nghiệp. Vì vậy, chúng ta cần bổ sung vào luật hiện hành qui định cho phép các nhà đầu tư nước ngoài được thành lập công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Về hình thức công ty đa mục tiêu: Để thuận tiện cho hoạt động kinh doanh của các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam nên cho phép các nhà đầu tư nước ngoài thành lập các công ty đa mục tiêu hoặc đa dự án. Các công ty này phải khai báo với Bộ Kế hoạch và Đầu tư mỗi khi thực hiện một dự án mới để đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước. Qui định về hình thức góp vốn. Theo qui định tại điều 7 của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, (sửa đổi năm 2000), đối với các khoản vốn góp bằng tiền mặt, ngoài tiền nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được góp vốn bằng tiền Việt Nam có nguồn gốc từ đầu tư tại Việt Nam. Qui định này tuy có mở rộng quyền góp vốn bằng tiền Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài hơn so với qui định của Luật năm 1992, nhưng cũng chỉ giới hạn trong phạm vi các khoản tiền Việt Nam có nguồn gốc từ dự án đầu tư đang hoạt động tại Việt Nam (bao gồm lợi nhuận, các khoản thu nhập từ thanh lý, chuyển nhượng vốn đầu tư). Việc giới hạn quyền góp vốn bằng tiền Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài đã làm hạn chế khả năng thu hút đầu tư của ta, không phù hợp với tinh thần khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài tái đầu tư bằng nguồn thu nhập hợp pháp tại Việt Nam. Vì vậy, cần sửa lại điều 7 của Luật năm 1996 theo hướng cho phép nhà đầu tư nước ngoài góp vốn bằng tiền Việt Nam có nguồn gốc hợp pháp tại Việt Nam thay vì chỉ được góp vốn bằng tiền Việt Nam có nguồn gốc từ đầu tư tại Việt Nam như hiện nay. Tiến tới hệ thống pháp luật đầu tư thống nhất cho đầu tư trong nước và FDI, phù hợp với thông lệ quốc tế. Trong điều kiện của nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế, hội nhập vào kinh tế khu vực và quốc tế thì việc ban hành luật riêng về đầu tư nước ngoài là cần thiết. Tuy nhiên, thành tựu của hơn 15 năm đổi mới và tình hình thực tế đòi hỏi và cho phép tính tới một hệ thống pháp luật thống nhất. Hơn nữa, nước ta đã trở thành thành viên chính thức của ASEAN, do vậy trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật chính sách về đầu tư cần phải tính đến những định chế của các tổ chức này. Để thực hiện giải pháp này, đòi hỏi cần phải chuẩn bị các điều kiện cần thiết để rút ngắn dần khoảng cách giữa Luật đầu tư nưóc ngoài và đầu tư trong nước, từng bước tiến tới việc xây dựng bộ luật đầu tư chung trong cả nước. 1.1.2. Tiếp tục đổi mới chính sách thu hút FDI. Về chính sách tín dụng, quản lý ngoại hối. Giảm dần tỷ lệ kết hối ngoại tệ để tiến tới xoá bỏ việc kết hối bắt buộc khi có điều kiện; từng bước thực hiện mục tiêu tự do hoá chuyển đổi ngoại tệ đối với các giao dịch vãng lai. Phát triển mạnh hệ thống đồng bộ các thị trường nhất là thị trường vốn. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được tiếp cận rộng rãi thị trường vốn; được vay tín dụng, kể cả trung và dài hạn tại các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam, tuỳ thuộc vào hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ của dự án và có thể bảo đảm bằng tài sản của các công ty mẹ ở nước ngoài. Về chính sách thuế, và ưu đãi tài chính. Việt Nam đã có chính sách thuế ưu đãi, song chưa ổn định và còn thiếu hấp dẫn. Phương hướng tới cần phải nới lỏng chế độ ưu đãi hơn nữa, loại bỏ những hạn chế do chính sách thuế và những ưu đãi tài chính khác đối với các nhà đầu tư. Cụ thể cần: Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của các biện pháp ưu đãi tài chính như giải quyết nhanh vấn đề hoàn thuế cho các nhà đầu tư nước ngoài, tạo thuận tiện cho việc chuyển lợi nhuận về nước và cho việc góp vốn được dễ dàng, đặc biệt là không nên hạn chế hoặc đưa ra quyết định bắt buộc các nhà đầu tư phải góp vốn bằng tiền mặt khi họ cũng đang gặp những khó khăn. Cho các dự án đã được cấp giấy phép đầu tư được hưởng những ưu đãi của các quy định mới về thuế lợi tức, giá thuế đất mới; xem xét để miễn giảm thuế doanh thu đối với những doanh nghiệp thực sự lỗ vốn. Ngoài ra, cần tiếp tục đề ra và thực hiện các cam kết về ưu đãi thuế trong khuôn khổ AFTA. Đồng thời, cần phải tăng cường công tác kiểm tra, kiểm toán để xử lý nghiêm theo luật định những hành vi trốn thuế, ẩn lậu thuế. Kịp thời xem xét, điều chỉnh các chính sách còn chưa phù hợp với thông lệ quốc tế để đảm bảo cho môi trường đầu tư nói chung ngày càng được thêm cải thiện. Về chính sách lao động và tiền lương Hoàn thiện các loại văn bản quy định áp dụng đối với người lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Các văn bản đặc biệt chú trọng đến quy định về tuyển dụng, lựa chọn lao động, chức năng của các cơ quan quản lý lao động, vấn đề đào tạo, đề bạt và sa thải lao động, các văn bản xử lý tranh chấp về lao động, tiền lương thu nhập. Cho phép các nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp tuyển chọn lao động không thông qua trung gian. Hoàn thiện bộ máy hành pháp về quản lý lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tăng cường hiệu lực của các quy định nhà nước về lao động đặc biệt là về ký kết hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể, xử lý nghiêm minh những trường hợp làm sai quy định về trả công lao động, tính thuế thu nhập cho người nước ngoài. Về chính sách đất đai. Để hoàn thiện chính sách đất đai đối với FDI cần chú trọng các nội dung sau đây: Ngoài vấn đề thế chấp quyền sử dụng đất, cần soát xét lại giá cho thuê đất, giải quyết dứt điểm vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng đang gây ách tắc đối với việc triển khai dự án. Cần sớm chấm dứt cơ chế các doanh nghiệp Việt Nam góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất; chuyển sang thực hiện chế độ Nhà nước cho thuê đất. Tham khảo kinh nghiệm của các nước về việc áp dụng chính sách đất đai đối với các nhà đầu tư nước ngoài như Trung Quốc, Thái Lan, Malaixia, Mianma... để xây dựng cơ chế cho thuê đất dài hạn (khoảng 70-90 năm), thu tiền một lần và các nhà đầu tư có toàn quyền sử dụng, định đoạt, cho thuê, thế chấp... trong thời hạn thuê đất. Từng bước thực hiện thống nhất tiền cho thuê đất đối với các doanh nghiệp (không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay doanh nghiệp có vốn FDI). Rà soát và xem xét giảm mức tiền thuê đất cho phù hợp với định hướng thu hút đầu tư ở các địa phương, các tỉnh đảm bảo mức tiền thuê đất không cao hơn các nước trong khu vực. Đơn giản hoá các thủ tục giao đất, cho thuê đất. 1.2.Nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước Để nâng cao năng lực điều hành, quản lý của Nhà nước đối với hoạt động FDI ở Việt Nam trong thời gian tới cần xúc tiến các giải pháp cơ bản sau: Cần nâng cao trách nhiệm của các Bộ, các ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong việc quản lý các doanh nghiệp FDI theo luật định, bảo đảm hiệu quả hoạt động của các trung tâm xử lý “nóng”, định kỳ tiếp xúc với các doanh nghiệp, đối thoại với các nhà FDI để tìm kiếm những vướng mắc của họ. Cần mạnh dạn hơn nữa trong việc phân cấp, uỷ quyền cho các địa phương trong việc quản lý hoạt động của các doanh nghiệp có vốn FDI trên điạ bàn để đơn giản hơn nữa các thủ tục, xử lý kịp thời các vấn đề phát sinh. Việc phân cấp này phải dựa trên cơ sở đảm bảo được nguyên tắc tập trung, thống nhất quản lý về quy hoạch, cơ cấu, chính sách và cơ chế trong đó chú trọng phân cấp quản lý Nhà nước đối với hoạt động sau khi cấp giấy phép của các dự án FDI. Tăng cường sự hướng dẫn, kiểm tra của các Bộ, Ngành, trung ương. Có cơ chế xử lý nghiêm khắc các trường hợp vi phạm luật pháp, chính sách, quy hoạch trong việc thực hiện chủ trương phân cấp quản lý Nhà nước về FDI, kể cả việc phải thực hiện chấm dứt hiệu lực của các giấy phép đầu tư cấp sai quy định. Các cơ quan cấp giấy phép đầu tư phải thường xuyên rà soát, phân loại các dự án FDI đã được cấp giấy phép để có những biện pháp thích hợp, kịp thời tháo gỡ các khó khăn cho doanh nghiệp FDI. Đối với các doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh, các Bộ, Ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền của mình cần động viên khen thưởng kịp thời để khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động tốt và tiếp tục phát triển, đồng thời cần có những biện pháp thích hợp để tháo gỡ các khó khăn cho các doanh nghiệp, nhất là vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm, các nghĩa vụ thuế. Đối với các dự án đang trong quá trình triển khai thì các Bộ, Ngành và Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cần tích cực hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ các khó khăn như vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng để nhanh chóng hoàn thành xây dựng cơ bản, đưa doanh nghiệp vào sản xuất kinh doanh. Đối với các dự án chưa triển khai, song xét thấy có khả năng thực hiện thì cần phải thúc đẩy việc triển khai trong một thời gian và giải quyết các vướng mắc, kể cả việc điều chỉnh mục tiêu và quy mô của các dự án. Đối với các dự án chưa triển khai và không có triển vọng thực hiện thì cần phải kiên quyết thu hồi giấy phép đầu tư để dành địa điểm cho các nhà đầu tư khác có triển vọng hơn. 1.3.Cải tiến thủ tục hành chính Việc cải cách hành chính liên quan đến hoạt động FDI do đó cần nghiên cứu xây dựng cơ chế quản lý và tổ chức theo hướng một cửa, một đầu mối trung ương và địa phương để tạo điều kiện cho hoạt động FDI. Để tạo được bước căn bản về thủ tục hành chính, cần thực hiện các giải pháp sau: Tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý Nhà nước ở trung ương và địa phương trong quản lý hoạt động FDI, phân định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan trong việc giải quyết các vấn đề phát sinh, duy trì thường xuyên việc tiếp xúc của cơ quan quản lý Nhà nước với các nhà FDI. Cải tiến các thủ tục hành chính liên quan đến các hoạt động FDI theo hướng tiếp tục đơn giản hóa các thủ tục cấp giấy phép đầu tư, mở rộng các dự án thuộc diện đăng ký cấp giấy phép đầu tư, rà soát có hệ thống tất cả các loại giấy phép, các qui định liên quan đến hoạt động FDI, trên cơ sở đó bãi bỏ những loại giấy phép, qui định không cần thiết đối với hoạt động FDI. Các Bộ, Ngành và các địa phương phải qui định rõ ràng, công khai các thủ tục hành chính, đơn giản hoá và giảm bớt các thủ tục không cần thiết, kiên quyết xử lý nghiêm khắc các trường hợp sách nhiễu, cửa quyền, tiêu cực và vô trách nhiệm của các cán bộ công quyền. 1.4.Công tác cán bộ đào tạo. Trong thời gian tới chúng ta cần chú trọng tăng cường công tác cán bộ và đào tạo công nhân kỹ thuật làm việc trong khu vực kinh tế có vốn FDI theo các hướng sau đây: Tổ chức bồi dưỡng, nâng cao tầm hiểu biết về luật pháp, chính sách, chuyên môn, ngoại ngữ đối với đội ngũ các cán bộ làm việc với nước ngoài. Thí điểm hình thức thi tuyển hoặc có cơ chế bổ nhiệm hợp lý các chức vụ quan trọng trong liên doanh. Rà soát, sàng lọc để nâng cao chất lượng cán bộ, chấm dứt tình trạng hễ có đất góp vốn thì mặc nhiên được cử người của mình tham gia vào hội đồng quản trị và ban giám đốc. Đồng thời phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và xã hội và các doanh nghiệp nước ngoài tổ chức tốt việc nâng cao tay nghề cho người lao động. 2.Giải pháp cụ thể cho ngành du lịch. 2.1.Xây dựng quy hoạch phát triển du lịch. Trong giai đoạn phát triển du lịch hiện nay của nước ta, cùng với nhu cầu thu hút vốn đầu tư vào ngành du lịch, quy hoạch các khu điểm du lịch là một trong những yêu cầu cấp bách đối với các địa phương trên toàn quốc. Có thể hiểu quy hoạch du lịch là quá trình lập kế hoạch khai thác các tài nguyên du lịch để tạo thành các sản phẩm phù hợp. Quy hoạch du lịch có những khác biệt nhất định so với quy hoạch kinh tế – xã hội và các quy hoạch chuyên ngành khác. Quy hoạch du lịch có tính linh hoạt hơn, không mang tính áp đặt mà dựa trên một số nguyên tắc, một trong những nguyên tắc quan trọng nhất là nguyên tắc thị trường. Thị trường quyết định ai sẽ là người tiêu thụ các sản phẩm du lịch được tạo ra, các sản phẩm này sẽ bao gồm những cấu thành gì, được bán với giá bao nhiêu, được thiết kế như thế nào... Do vậy, khi xây dựng quy hoạch chi tiết các khu điểm du lịch cần phải tiến hành nghiên cứu thị trường tỉ mỉ. Từ đó xây dựng chiến lược quy hoạch phát triển ngành đối với tổng thể cả nước gắn với quy hoạch kinh tế xã hội của cả nước. Quy hoạch ngành du lịch phải đảm bảo phát triển 3 vùng du lịch trọng điểm gắn với 3 vùng động lực phát triển kinh tế, hướng cho các địa phương, các doanh nghiệp khai thác có kế hoạch các tiềm năng du lịch, điều kiện cơ sở hạ tầng cho phép đến đâu tổ chức khai thác đến đó. Quy hoạch phải dựa trên đặc điểm về tự nhiên và văn hoá từng vùng sinh thái khác nhau và phải có sự nhất trí của các ban ngành cùng người dân địa phương có gắn bó với du lịch. Có như thế mới phát huy hết thế mạnh từng địa phương đầu tư sẽ hiệu quả hơn (không trùng lắp) và sản phẩm mới đa dạng hấp dẫn. Một quy hoạch phát triển du lịch cụ thể, rõ ràng chắc chắn sẽ tạo điều kiện và hướng các nhà đầu tư vào những lĩnh vực đầu tư đúng đắn. Ngoài ra bên cạnh việc xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển ngành du lịch nói chung, chúng ta phải tiến hành quy hoạch các dự án đầu tư nước ngoài. Đây là một nội dung vô cùng quan trọng. Việc thiếu hoặc chậm đưa ra một kế hoạch quốc gia về đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực du lịch chắc chắn sẽ là nguyên nhân gây bất lợi cho hoạt động quản lý Nhà nước và môi trường đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực du lịch. Điểm cần quan tâm trong quy hoạch đầu tư là phải tạo cho được môi trường thu hút đầu tư, đầu tư cân đối, hài hoà giữa các lĩnh vực và các vùng trong cả nước. Hơn nữa, phải phù hợp với Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, với chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước thể hiện qua việc đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại. Ngoài việc duy trì các nhà đầu tư “truyền thống” như Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, British Virgin Island, Hàn Quốc... cần tập trung nghiên cứu khả năng thu hút hơn nữa các nhà đầu tư tiềm năng từ các nước liên minh Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản. Đây là những nhà đầu tư có tiềm lực về vốn, công nghệ, có thị trường lớn. 2.2.Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách khuyến khích đầu tư vào du lịch. Tổng cục Du lịch, cục xúc tiến du lịch và các bộ ngành có liên quan cần tăng cường công tác nghiên cứu tình hình kinh tế, thị trường đầu tư, chính sách đầu tư nước ngoài của các nước, các tập đoàn và các công ty lớn để có chính sách thu hút vốn FDI cho phù hợp. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu luật pháp, chính sách và các biện pháp thu hút đầu tư của các nước trong khu vực là cần thiết để kịp thời có những đối sách hợp lý. Hệ thống pháp luật chuyên ngành du lịch cần đảm bảo tính cụ thể, rõ ràng, nhất quán và dự đoán trước được. Để khuyến khích đầu tư vào du lịch các chính sách thu hút đầu tư vào du lịch cần được hoàn thiện theo hướng: Về chính sách thuế: Giảm mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong du lịch. Hiện nay, mức thuế này ở mức 25% là mức thuế cao nhất, cao hơn so với khả năng thực hiện. Giảm dần và tiến tới loại bỏ việc áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt đối với loại hình kinh doanh sân golf bởi vì golf là một hình thức thể thao như bóng đá, bóng chuyền, bơi lội...nên được khuyến khích phát triển chứ không nên xếp chung vào nhóm kinh doanh bị hạn chế phát triển như vàng mã, thuốc lá, rượu bia. Về chính sách đất đai: Từng bước thực hiện thống nhất tiền cho thuê đất đối với các doanh nghiệp. Miễn giảm tiền thuê đất đối với các dự án đang trong thời kỳ xây dựng cơ bản, dự án thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn. Ban hành chế độ đền bù, giải toả đất theo nguyên tắc: Giá đất tính đền bù phải sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất Tổ chức giao đất, thuê đất có trách nhiệm chi trả tiền đền bù cho người có đất bị thu, nhưng phía Việt Nam phải chịu trách nhiệm giải toả mặt bằng và chỉ giao đất cho chủ dự án FDI khi đã giải phóng xong mặt bằng. 2.3.Đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư. Việt Nam bắt đầu tiếp nhận đầu tư nước ngoài trong hoàn cảnh thế giới có sự cạnh tranh gay gắt về thị trường đầu tư. Nhiều nước xung quanh ta như Thái Lan, Singapore, Trung Quốc, Malaixia...đã có nhiều kinh nghiệm và không ngừng cải thiện môi trường đầu tư để tạo sự hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Do vậy, muốn thu hút nhiều vốn đầu tư hơn, chúng ta cần đẩy mạnh công tác xúc tiến vận động đầu tư nước ngoài một cách liên tục, tổ chức tuyên truyền quảng cáo để gây sự chú ý và quan tâm của các nhà kinh doanh nước ngoài làm cho họ thấy lợi thế khi quyết định đầu tư ở Việt Nam. Để thực hiện tốt công tác vận động xúc tiến đầu tư chúng ta cần phải thực hiện các biện pháp sau đây: Phối hợp chặt chẽ giữa Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Thương mại, Tổng cục Du lịch, Cục xúc tiến Du lịch trong việc nghiên cứu thị trường đầu tư thế giới và khu vực, trên cơ sở đó, xác định các đối tác tiềm năng và xây dựng chiến lược xúc tiến đầu tư cụ thể đối với từng đối tác. Tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức xúc tiến đầu tư quốc tế, trước hết là trong khuôn khổ các nước ASEAN, APEC...để giới thiệu quảng cáo về môi trường đầu tư ở Việt Nam. Tổ chức thường xuyên việc cung cấp và tiếp nhận thông tin từ các sứ quán Việt Nam ở các nước, có kế hoạch cụ thể để các sứ quán có thể tham gia một cách tích cực và có hiệu quả vào công tác vận động đầu tư. Thiết lập mối quan hệ với các cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư ở một số nước để trao đổi thông tin và kinh nghiệm đồng thời đẩy mạnh quan hệ với các công ty tư vấn quản lý dịch vụ đầu tư quốc tế để thu thập thông tin và tiếp nhận sự giúp đỡ trong xây dựng pháp luật, vận động đầu tư. Tăng cường tổ chức các diễn đàn đầu tư ở Việt Nam và nước ngoài, nội dung của từng diễn đàn phải thích hợp với tính chất và mục đích từng nơi và từng thời điểm. Tăng cường phối hợp chặt chẽ với các cơ quan xúc tiến thương mại của các nước ở Việt Nam để tổ chức các cuộc hội thảo giới thiệu luật pháp, chính sách, quảng bá các chương trình, dự án đầu tư nhằm mục đích vận động đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Tổ chức định kỳ các cuộc gặp các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vào ngành du lịch Việt Nam để tìm hiểu tình hình, tháo gỡ khó khăn và hỗ trợ cho các doanh nghiệp này. Công bố danh mục các dự án kêu gọi vốn FDI vào ngành du lịch, soạn thảo, in tài liệu, sách nhằm phổ biến luật pháp, chính sách về FDI bằng các thứ tiếng thông dụng như Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc… Đồng thời các Bộ, Ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố phải chủ động và có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo đàm phán, ký kết hợp đồng các dự án FDI. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin về FDI vào ngành du lịch làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, quản lý hoạt động FDI vào du lịch. Việc xây dựng các trang Web về FDI vào lĩnh vực du lịch là cần thiết để phục vụ việc cung cấp thông tin cập nhật về chủ chương, chính sách pháp luật về đầu tư vào du lịch, giới thiệu các dự án kêu gọi vốn FDI, biểu dương những dự án thành công. 2.4. Xây dựng cơ chế phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan quản lý Nhà nước về đầu tư nước ngoài vào ngành du lịch. Trong bối cảnh các địa phương được phân cấp, uỷ quyền cấp phép đầu tư và được phép giải quyết một số công việc liên quan đến việc triển khai các dự án đầu tư thì việc tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quan lý Nhà nước càng trở nên quan trọng. Cần lưu ý rằng việc phân cấp, uỷ quyền không có nghĩa là Chính phủ Trung ương, ngành du lịch không còn quan tâm tới những dự án không còn thẩm quyền của mình nữa. Ngược lại, Chính phủ cần chỉ đạo cùng ngành du lịch và các ngành chức năng khác tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức hướng dẫn các địa phương việc thực hiện các hoạt động có liên quan đến đầu tư nưóc ngoài thuộc thẩm quyền của họ trên cơ sở quy hoạch thống nhất và chiến lược được thông qua. Việc làm này thể hiện tính hiệu lực của việc Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước trong quá trình thu hút và triển khai các dự án đầu tư nước ngoài để phát triển du lịch nói riêng và các ngành kinh tế khác nói chung tại Việt Nam. 2.5.Trợ giúp về mặt tài chính cho các doanh nghiệp. Nhiệm vụ quan trọng nhất mà ngành du lịch Việt Nam cần ưu tiên thực hiện đó là thành lập quỹ tài chính nhằm cung cấp các khoản tín dụng với lãi suất thấp và dài hạn cho những dự án đầu tư vào các tiểu ngành ưu tiên như xây dựng khu vui chơi giải trí, nghỉ mát, vận chuyển khách... Điều này có thể thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài cho dù thời gian thu hồi vốn lâu hơn. Bằng cách làm này, sự phân bổ không đồng đều hiện tại của FDI giữa các tiểu ngành có thể được cải thiện một cách đáng kể và đó cũng là cách tốt nhất để hạn chế những tác động tiêu cực của FDI và góp phần củng cố, nâng cao tính cạnh tranh của du lịch Việt Nam về lâu dài. 2.6.Tăng cường đào tạo lực lượng lao động trong ngành du lịch. Lực lượng lao động dồi dào và chi phí thấp là những nhân tố có ảnh hưởng mạnh mẽ trong việc thu hút FDI trong ngành du lịch Việt Nam. Tuy nhiên, tỉ lệ lao động lành nghề và được đào tạo tốt trong ngành lại khá nhỏ. Tình trạng vừa thừa vừa thiếu, thừa lao động chưa được đào tạo, tay nghề thấp nhưng lại thiếu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật đang là tình trạng phổ biến ở nước ta. Hầu hết lao động người Việt Nam phải qua đào tạo lại trước khi làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này có nghĩa là chất lượng nguồn nhân lực không đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài cho dù số lượng lao động khá đông. Do đó, việc đầu tư tập trung vào phát triển nguồn nhân lực có thể là một lựa chọn khôn ngoan cho ngành du lịch Việt Nam trong việc thu hút thêm FDI. Trong thời gian tới để việc đào tạo cán bộ cho ngành du lịch ngày càng tốt hơn chúng ta cần làm tốt những việc sau đây: Thứ nhất, ngành du lịch cần xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực và có kế hoạch triển khai cụ thể chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng các yêu cầu mà ngành đang đặt ra. Xác định rõ phạm vi và lĩnh vực đào tạo vì đây là yếu tố quyết định để đầu tư vào đào tạo. Thứ hai, về cơ cấu đào tạo, cần phải chú trọng đào tạo đồng bộ từ nhân viên phục vụ đến cán bộ quản lý kinh doanh, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học công nghệ theo một tỷ lệ thích hợp, tránh tình trạng chỉ tập trung đào tạo ở bậc đại học. Ngoài cơ cấu đào tạo hiện tại, nên xây dựng một số trường cao đẳng chuyên ngành ở ba miền, tăng tỷ lệ giờ thực hành, bài tập tình huống, tham quan nhận thức... chiếm từ 30 đến 50% số giờ của các môn học để đào tạo một số lĩnh vực còn khá thiếu như marketing, nghiệp vụ khách sạn... Thứ ba, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên cùng Tổng cục du lịch đánh giá đúng thực trạng đào tạo, xác định những lĩnh vực cần ưu tiên đào tạo để đầu tư tập trung và sớm hình thành nên những trung tâm đào tạo chất lượng cao. Việc đào tạo có thể do các trường đảm nhiệm nhưng việc hoạch định kế hoạch đào tạo và kiểm tra đánh giá chất lượng phải được quản lý trong một hệ thống tiêu chuẩn thống nhất về chuyên môn chung cho toàn quốc. Chỉ những trường có đầy đủ các điều kiện mới được cấp giấy phép đào tạo. Thứ tư, các cơ sở đào tạo trong cả nước một mặt cần thống nhất nội dung, chương trình đào tạo dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tổng cục du lịch, mặt khác cần hợp tác với nhau biên soạn các giáo trình trọng điểm. Thứ năm, sự liên kết giữa doanh nghiệp và các cơ sở đào tạo ngày càng phải được chú trọng hơn. Phát triển mô hình đào tạo tại các doanh nghiệp theo đơn đặt hàng là rất tiết kiệm và hiệu quả, nó đáp ứng đúng nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp. Đồng thời, tổng cục du lịch cần chỉ đạo các doanh nghiệp nâng cao trách nhiệm hơn đối với công tác đào tạo, trong việc tài trợ công tác biên soạn giáo trình, cấp học bổng cho sinh viên, tiếp nhận, hướng dẫn tạo điều kiện cho sinh viên thực tập. Với chiến lược đào tạo thích hợp, chất lượng lực lượng lao động ngành du lịch sẽ được nâng cao trong một thời gian không xa. KẾT LUẬN Trong thời gian qua, FDI đã thổi một nguồn sinh lực mới vào ngành du lịch Việt Nam thông qua chuyển giao công nghệ và đào tạo FDI đã góp phần làm phong phú cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, tạo việc làm cho hàng ngàn lao động, tăng thu ngoại tệ và đóng góp vào ngân sách Nhà nước... Các khách sạn, trung tâm thương mại, tổ hợp văn phòng căn hộ to lớn, lộng lẫy đã thực sự mang lại bộ mặt mới cho các thành phố trên cả nước, sánh vai cùng các thành phố hiện đại trên thế giới. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực kể trên thì FDI vào ngành du lịch còn nhiều hạn chế lượng vốn đầu tư có xu hướng giảm, cơ cấu đầu tư mất hợp lý, hiệu quả các dự án đầu tư chưa cao nhiều dự án phải rút giấp phép đầu tư hoặc tạm ngừng triển khai hoạt động. Nguyên nhân sâu xa của hiện tượng trên là môi trường đầu tư ở Việt Nam trong lĩnh vực du lịch còn chưa thuận lợi. Vì vậy, trong thời gian tới chúng ta phải hoàn thiện môi trường đầu tư hơn nữa, tạo ra một môi trường đầu tư thuận lợi có tính cạnh tranh so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong một khuôn khổ hạn chế, khoá luận đã tập trung vào những giải pháp cải thiện môi trường đầu tư nói chung và một số giải pháp cụ thể cho ngành du lịch như xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư, tăng cường đào tạo lực lượng lao động trong ngành du lịch... Với những cải thiện về môi trường đầu tư của Việt Nam cùng với sự phục hồi khách quan của các nền kinh tế trong khu vực, chúng ta hoàn toàn có thể hy vọng là FDI vào ngành du lịch sẽ lại tăng trưởng mạnh mẽ góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển ngành du lịch nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung. TÀI LIỆU THAM KHẢO TS. Vũ Chí Lộc, Giáo trình đầu tư nước ngoài, NXB Giáo dục, 1997 Tiềm năng Việt Nam thế kỷ XXI, NXB Thế giới, 2001 Hoàn thiện chính sách và tổ chức thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, 2000 Việt Nam với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, NXB Thống kê, 2001 Quản trị Doanh nghiệp Khách sạn-Du lịch. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000. Quy hoạch du lịch, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000 Tài nguyên và môi trường du lịch, Nhà xuất bản giáo dục-2000. Niên giám thống kê 2001, NXB Thống kê, 2002 Tổng cục du lịch Việt Nam, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010. Tổng cục du lịch Việt Nam, Chương trình hành động quốc gia về du lịch 2001-2010. Viện nghiên cứu phát triển du lịch, Đầu tư du lịch ở Việt Nam: Những cơ hội và thách thức, 1996 Viện nghiên cứu phát triển du lịch, Báo cáo quy hoạch phát triển du lịch Việt Nam 2001-2010. Viện nghiên cứu phát triển du lịch, Báo cáo về hiện trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào lĩnh vực du lịch Việt Nam đến cuối năm 2001. Phương Lâm Ngọc, Đầu tư trực tiếp nước ngoài: chuyển từ giảm sút sang tăng trưởng, Thời báo tài chính Việt Nam 9/2003. Phạm Văn Hiến, Chủ động, tích cực góp phần khơi thông các nguồn ngoại lực, Tạp chí Tài chính 9/2003. TS. Vũ Trọng Lâm, Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam, Tạp chí Thương mại, số 35/2003. Phạm Minh, Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam ngày càng thuận lợi, Tạp chí Công nghiệp Việt Nam số 1/2002. TS. Nguyễn Thị Hường, Triển khai các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Tạp chí kinh tế và phát triển 12/2001, Số 54. Phan Thế Vinh, Rút giấy phép của các dự án FDI: Diễn biến nguyên nhân và giải pháp, Tạp chí Kinh tế và dự báo Số 5/2003. Trần Văn Ngợi, Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 5/2002. Tổng cục trưởng tổng cục du lịch, Du lịch Việt Nam thời cơ và vận hội phát triển, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 2/2002. Thứ trưởng Bộ Kế hoạch-Đầu tư Lại Quang Thực, Những bài học kinh nghiệm từ đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khách sạn- du lịch, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 7/2001. TS. Phạm Hồng Chương, TS. Nguyễn Phi Lân, Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong ngành du lịch Việt Nam, Tạp chí du lịch Việt Nam, Số 8/2003. Thanh Bình, Du lịch vẫn còn là miền đất hứa đối với các nhà đầu tư, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 8/2003. Minh Anh, Để du lịch Việt Nam thực sự phát triển, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 4/2003. TS. Bùi Xuân Nhàn, Đào tạo nguồn nhân lực thực hiện thắng lợi chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001-2010, Tạp chí Du lịch Việt Nam, Số 1/2003. TS. Hoàng Văn Huân, Đầu tư trực tiếp nước ngoài: một kênh quan trọng của ngành du lịch Việt Nam, Tạp chí Du lịch Việt Nam số 1+2 năm 2000. ThS Chu Văn Yêm “ Có bột chưa gột nên hồ” Làm gì để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành du lịch?, Tạp chí Tài chính Số 7/2002. ThS Trần Xuân Cảnh, Vấn đề thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài trong ngành du lịch. Tạp chí Phát triển kinh tế, Số 113/2000 Trung Đức, Bước nhảy của “ngành công nghiệp không khói”, Con số&sự kiện, Số 10/2002. Các số liệu của Bộ Kế hoạch-Đầu tư, Viện nghiên cứu phát triển du lịch, Vụ Kế hoạch đầu tư-Tổng cục Du lịch Việt Nam Các Web site của: Tổng cục du lịch Việt Nam: www.vietnamtourism.com www.vietnam-tourism.com www.vietnamtourism-info.com www.vietnamtourism.gov.vn Bộ Kế hoạch và Đầu tư: www.mpi.gov.com Tổng cục thống kê: www.gso.gov.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docThực trạng và Giải pháp thu hút đầu tư trưc tiếp nước ngoài vào ngành du lịch Việt Nam.doc