Đề tài Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép ở giai đoạn cá hương và cá giống tại khu vực trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội

MỤC LỤC PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ. 1 1. Mục tiêu đề tài: 2 2. Nội dung nghiên cứu: 2 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 1. Một số đặc điểm sinh học của cá chép. 3 1.1. Phân loại 3 1.2. Đặc điểm hình thái và phân bố. 3 1.3. Tập tính sống và dinh dưỡng. 5 1.4. Đặc điểm sinh trưởng. 5 1.5. Đặc điểm sinh sản. 6 2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới và Việt Nam 7 2.1. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng cá trên thế giới 7 2.2. Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá tại Việt Nam 11 3. Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá chép trên thế giới và Việt Nam 14 3.1. Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng ở cá chép trên thế giới 14 3.2. Tình hình nghiên cứu bệnh ký sinh trùng trên cá Chép ở Việt Nam 17 4. Tình hình sử dụng thuốc và hóa chất trong nuôi trồng thủy sản. 20 4.1. Một số thuốc và hóa chất điều trị ngoại ký sinh trùng và cách sử dụng trong nuôi trồng thủy sản. 22 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc. 24 4.3. Quá trình chuyển hóa của thuốc trong cơ thể (TLTK) 25 4.4. Một số đặc điểm của hóa chất thử nghiệm 26 PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29 1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. 29 2. Vật liệu nghiên cứu. 29 3. Nội dung nghiên cứu. 29 4. Phương pháp nghiên cứu. 30 4.1. Phương pháp thu mẫu. 30 4.2. Phương pháp quan sát mẫu tươi 31 4.3. Cố định, bảo quản và làm tiêu bản ký sinh trùng. 31 4.4. Phân loại ký sinh trùng. 32 4.5. Phương pháp xử lý hóa chất với ngoại ký sinh trùng trên cá Chép. 33 4.6. Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá. 34 PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36 1. Thành phần giống, loài và CĐN, TLN ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép giai đoạn cá hương và cá giống. 36 1.1. Loài Trichodina nobilis Chen, 1963. 37 1.2. Ấu trùng Centrocestus formosanus Nishigori, 1924. 39 1.3. Dactylogyrus 42 2. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng hóa chất 44 2.1. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng muối NaCl 44 2.2. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng KMnO4 46 2.3. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng CuSO4 49 2.4. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng Formalin. 52 PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT. 54 1. Kết luận. 54 2. Đề xuất 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

doc66 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 25/01/2013 | Lượt xem: 3588 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép ở giai đoạn cá hương và cá giống tại khu vực trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
vi khuẩn. Đây là bước tiến nhảy vọt của khoa học trong việc làm hạn chế các dịch bệnh xảy ra đối với động vật thủy sản. Đến nay vaccine được coi như biện pháp ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh trên cạn cũng như động vật thủy sản (Alderman, 1988). Trong những năm trước đây, Chloramphenicol là một loại kháng sinh có hiệu lực cao đối với cả hai loại vi khuẩn gram âm và gram dương, nó có tác dụng chống lại sự gây bệnh của vi khuẩn Aeromonas và Pseudomonas được công bố vào năm 1951 do Smith (Alderman, 1988). Loại kháng sinh này từ khi xuất hiện được sử dụng phổ biến và lan rộng sang các nước Đông Âu và Châu Á (Tuan, 1992). Hiện nay do hàm lượng thuốc tồn dư trong sản phẩm thủy sản ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường nên Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đã ra quyết định cấm sử dụng loại thuốc kháng sinh này trong nuôi trồng, đánh bắt, chế biến và bảo quản sản phẩm thủy sản. Khuynh hướng sử dụng thuốc kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản hiện nay là sử dụng các thuốc kháng sinh tổng hợp có tác dụng tốt đối với động vật thủy sản nhưng không ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Từ những năm 1950, CuSO4 được coi là một loại hóa chất sử dụng có hiệu quả trong điều trị nấm, đồng thời CuSO4 cũng là một trong những hóa chất được sử dụng rộng rãi và lâu đời nhất trong nuôi trồng thủy sản. Đầu tiên người ta biết đến CuSO4 như một loại hóa chất diệt tảo. Tuy nhiên, chúng vẫn được coi như một loại hóa chất để trị bệnh vi khuẩn, nấm, KST đơn bào, sán lá đơn chủ, giáp xác ký sinh…(Davis, 1953; Brakev, 1961; Herman, 1972; Hoffman, 1972; Mayer, 1974…). Hiệu quả điều trị KST của CuSO4 thì thấy rõ, còn hiệu quả điều trị vi khuẩn còn nghi ngờ. Bên cạnh CuSO4, Xanh malachite cũng là một loại hóa chất có hiệu quả trị nấm và KST trên động vật thủy sản. Là loại hóa chất có ảnh hưởng tới quá trình sinh tổng hợp Protein từ các axit amin, ảnh hưởng tới quá trình tạo năng lượng, do vậy chúng có hiệu quả cao trong điều trị bệnh. Xanh malachite là loại hóa chất có khả năng diệt trùng mạnh nên hiệu quả phòng trị bệnh do KST gây ra rất tốt. Tuy nhiên, Xanh malachite là loại hóa chất có thời gian phân hủy dài, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người (gây ung thư da). Vì vậy hiện nay Xanh malachite đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam và các nước khác ( 4.1. Một số thuốc và hóa chất điều trị ngoại ký sinh trùng và cách sử dụng trong nuôi trồng thủy sản Hiện nay, với sự phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành như nông nghiệp, công nghiệp, thực phẩm… đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết như ô nhiễm môi trường kéo theo dịch bệnh lan tràn, xuất hiện nhiều bệnh nguy hiểm cho con người và vật nuôi. Trong nuôi trồng thủy sản hiện nay cũng vậy, việc phát triển, cải tiến các mô hình nuôi từ quảng canh đến thâm canh mật độ cao đã kéo theo nhiều vấn đề bệnh tật cho đối tượng nuôi, gây thành đại dịch làm giảm sút đáng kể về kinh tế và năng suất trong nuôi trồng thủy sản, kéo theo việc chữa trị gặp nhiều khó khăn. Vì vậy việc sử dụng thuốc và hóa chất trong chữa trị bệnh đã trở thành phổ biến và cần thiết trong kiểm soát dịch bệnh trong nuôi trồng thủy sản. Trong quá trình phòng trị bệnh cho động vật thủy sản, có nhiều phương pháp để thuốc tiếp cận với cơ thể vật chủ tùy thuộc vào từng loại thuốc, điều kiện hoàn cảnh của từng trang trại mà áp dụng một phương pháp nào đó phù hợp và hiệu quả nhất. Theo Đỗ Thị Hòa và ctv (2004) chúng ta có các biện pháp dùng thuốc sau: Phun thuốc vào bể ương với nồng độ thấp: Nồng độ ppm hay ppt, thời gian 6 – 24h hoặc không tính thời gian. Phương pháp dùng thuốc này thường dễ thao tác và có hiệu quả tiêu diệt mầm bệnh khá tốt. Tắm cho động vật thủy sản: Thường dùng thuốc với nồng độ cao, trong một thể tích nhỏ và thời gian ngắn (10 – 20 phút) nên tốn ít thuốc, không ảnh hưởng đến môi trường. Hiệu quả của phương pháp này chỉ tiêu diệt tác nhân ký sinh bên ngoài cơ thể. Thao tác không đơn giản vì dễ gây sốc và yếu vật nuôi. Ngâm động vật thủy sản trong môi trường có thuốc: Phương pháp này thường dùng nồng độ cao hơn phun xuống ao, nhưng nồng độ thấp hơn và thời gian kéo dài hơn phương pháp tắm. Phương pháp này có thể gây sốc cho tôm cá do nhốt giữ ở mật độ cao, trong thể tích nhỏ và thời gian kéo dài. Phương pháp treo túi thuốc: Dùng với các loại thuốc sát trùng có khả năng hòa tan trong nước. Thao tác tiến hành đơn giản, động vật thủy sản ít bị ảnh hưởng bởi thuốc. Phương pháp trộn thuốc vào thức ăn: Đây là phương pháp dùng thuốc phổ biến, dễ là và mang lại hiệu quả kinh tế. Dùng với các loại thuốc như kháng sinh, vaccine, vitamin, khoáng, chế phẩm sinh học, thuốc điều trị nội KST, không dùng với các loại thuốc là hóa chất sát trùng. Lượng thuốc tính bằng mg, g/kg thức ăn hoặc µg, mg, g/kg khối lượng cơ thể vật nuôi/ngày. Phương pháp này thao tác đơn giản, dễ làm và có thể tiêu diệt được tác nhân gây bệnh đã nhiễm vào trong cơ thể vật nuôi. Tuy nhiên, khi cho thức ăn có thuốc xuống ao, một phần thuốc sẽ bị phân tán ra ngoài môi trường nước, những con bệnh nặng, yếu đã bỏ ăn thì không sử dụng được thuốc, ngược lại những con còn khỏe ăn một lượng thuốc nhiều hơn yêu cầu cần thiết, gây độc cho cơ thể. Vì vậy khi sử dụng phương pháp trộn thuốc vào thức ăn cần chú ý: cần bao thức ăn có thuốc bằng một số vật liệu ít tan trong nước như dầu mực, dầu đậu nành, agar…, trộn thuốc vào loại thức ăn ưa thích nhất và vào lượng thức ăn ít hơn khẩu phần bình thường để tôm cá nhanh chóng ăn hết thức ăn có thuốc. Quan trọng nhất là cần phát hiện bệnh ở thời kỳ sớm để khi dùng thuốc tôm cá vẫn còn khả năng bắt mồi thì mới có thể đưa thuốc vào cơ thể động vật thủy sản. Phương pháp tiêm thuốc: Phương pháp này rất khó thực hiện nếu chỉ bắt những con bị bệnh để tiêm và càng khó khi muốn tiêm hết toàn bộ cá trong ao. Vì vậy phương pháp này chỉ dùng trong một số trường hợp với tôm cá bố mẹ, hoặc trong điều kiện nghiên cứu. Một số phương pháp khác: Dùng thuốc sát trùng nồng độ cao bôi trực tiếp lên các vết thương trên cơ thể vật nuôi để tiêu diệt tác nhân gây bệnh. Ngoài ra khi sử dụng vaccine hay chất kích thích miễn dịch, sử dụng phương pháp phun sương để tạo ra các hạt nhỏ lên dụng cụ chứa cá, tôm để chúng hấp thu qua da, mang, đường bên… 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc Tác dụng của thuốc mạnh hay yếu do nhiều nguyên nhân ảnh hưởng nhưng yếu tố chính là mối quan hệ tương hỗ giữa thuốc và cơ thể sinh vật. Tính chất vật lý của thuốc: Thuốc có độ hòa tan lớn hay dạng lỏng thì cơ thể dễ hấp thu nên tác dụng sẽ nhanh hơn. Khi các tính chất vật lý và hóa học của thuốc thay đổi sẽ làm mất tác dụng của thuốc. Liều lượng dùng thuốc: Liều lượng thuốc nhiều hay ít đều có ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc. Dùng liều quá ít sẽ không phát sinh được tác dụng. Liều lượng thuốc lớn nhất mà cơ thể sinh vật chịu được không có biểu hiện ngộ độc là liều lượng chịu đựng cao nhất. Nếu vượt qua ngưỡng này thì động vật thủy sản sẽ bị ngộ độc, gọi là liều lượng ngộ độc. Vượt quá liều lượng này sẽ làm động vật thủy sản bị chết gọi là liều lượng tử vong. Phương pháp dùng thuốc: Các phương pháp dùng thuốc khác nhau, tốc độ hấp thu thuốc khác nhau nên nồng độ thuốc trong cơ thể cũng sẽ khác nhau. Để phòng trị cho động vật thủy sản thường dùng các phương pháp như: Tắm, phun thuốc xuống ao, tiêm, ngâm, trộn vào thức ăn… Mỗi phương pháp dùng thì tác dụng của thuốc lại khác nhau. Trạng thái hoạt động của ký chủ: Loài cá nào có tính mẫn cảm cao, sức chịu đựng yếu thì không thể dùng thuốc với liều lượng cao nên tác dụng của thuốc giảm và ngược lại. Ngoài ra cá đực, cá cái và tuổi của cá cũng chi phối đến tác dụng của thuốc chữa bệnh. Con đực thường sức chịu đựng cao hơn con cái, con nhỏ có tính mẫn cảm với thuốc cũng mạnh hơn con lớn. Con khỏe mạnh có thể dùng thuốc nồng độ cao, thời gian dùng thuốc kéo dài hơn con bị yếu. Điều kiện môi trường động vật thủy sản sống: Động vật thủy sản là động vật máu lạnh nên chịu sự chi phối rất lớn của các yếu tố môi trường. Điều kiện môi trường tác động đến cơ thể ký chủ từ đó ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc. Trong phạm vi nhất định, khi nhiệt độ cao tác dụng của thuốc sẽ mạnh hơn. Chất hữu cơ trong môi trường sẽ làm cho tác dụng của thuốc giảm nên phạm vi an toàn cao. Trong nước nếu hàm lượng Oxy hòa tan cao thì sức chịu đựng với thuốc của động vật thủy sản càng cao, nếu có nhiều chất độc sức chịu đựng của cơ thể động vật thủy sản với thuốc giảm. Ngoài ra độ trong, độ cứng, độ muối, độ sâu của thủy vực đều có ảnh hưởng đến tác dụng của thuốc. 4.3. Quá trình chuyển hóa của thuốc trong cơ thể (TLTK) Theo Bùi Quang Tề, 2002, thuốc sau khi vào cơ thể phát sinh ra các loại tác dụng nhưng đồng thời cơ thể cũng làm cho thuốc có những biến đổi. Quá trình thuốc ở trong cơ thể qua sự biến đổi tương đối phức tạp như sau: Thuốc được hấp thụ: Tốc độ hấp thu thuốc của cơ thể là nhân tố quyết định sự hiệu nghiệm của thuốc nhanh hay chậm, và phụ thuộc vào các yếu tố: phương pháp dùng thuốc, tính chất lý hóa của thuốc, điều kiện môi trường… Phân bố của thuốc trong cơ thể: Thuốc sau khi hấp thu vào trong máu một thời gian ngắn, sau đó qua các vách mạch máu nhỏ đến các tổ chức. Thuốc phân bố đến các tổ chức không đều là do sự kết hợp của các chất trong tế bào tổ chức của các cơ quan có sự khác nhau. Ví dụ như các loại Sulphamid thường tập trung ở thận. Sự biến đổi của thuốc trong cơ thể: Thuốc sau khi vào cơ thể phát sinh những biến đổi hóa học làm thay đổi tác dụng dược lý, trong đó có rất ít trường hợp sau biến đổi khả năng hoạt động của thuốc mạnh lên. Nhưng tuyệt đại đa số sau biến đổi hóa học hiệu nghiệm và độc lực của thuốc giảm, thậm chí hoàn toàn mất tác dụng. Thuốc sau khi vào cơ thể được phân giải dưới tác dụng của một số men. Bài tiết của thuốc trong cơ thể: Tác dụng của thuốc mạnh hay yếu, thời gian dài hay ngắn quyết định ở liều lượng và tốc độ hấp thu vào cơ thể sinh vật, đồng thời còn quyết định bởi tốc độ bài tiết của thuốc trong cơ thể. Thuốc vào cơ thể, sau khi phân giải, một số dự trữ lại, còn một số bài tiết thải ra ngoài. Tích trữ của thuốc trong cơ thể sinh vật: Cùng một loại thuốc nhưng dùng nhiều lần lặp đi lặp lại, do khả năng giải độc hoặc khả năng bài tiết của cơ thể bị trở ngại, thuốc bị tích trữ trong cơ thể quá nhiều mà phát sinh ra trúng độc thì gọi là ngộ độc do tích thuốc. Thuốc tồn đọng lại trong cơ thể thì gọi là sự tích trữ của thuốc. Khi sử dụng thuốc phải khống chế sao cho lượng thuốc vào không lớn hơn lượng thuốc bài tiết ra khỏi cơ thể. 4.4. Một số đặc điểm của hóa chất thử nghiệm Formalin: có tên gọi khác là Formandehyd hay Formol, đây là một chất khí mạnh, khi kết hợp với Oxi tạo ra axit formic: HCHO + O2  HCOOH Loại hóa chất này được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng thủy sản. Đặc biệt đây là loại hóa chất có hiệu lực cao trong việc phòng trị các bệnh KST đơn bào, nấm, giáp xác…(Bùi Quang Tề, 1997). Tuy nhiên khi dùng cần lưu ý đến hàm lượng O2 hòa tan vì nó lấy O2 của nước. Nguyên tắc khi dùng loại hóa chất này là dùng với liều cao điều trị trong thời gian ngắn hoặc dùng với liều thấp điều trị trong thời gian dài. Tùy theo phương pháp sử dụng mà liều dùng của Formalin khác nhau: phun vào nước ao, bể nồng độ 15 – 20 ppm, tắm 200 – 250 ppm trong thời gian 30 – 60 phút (Bùi Quang Tề, 1997). Tuy nhiên trong điều kiện nhiệt độ nước cao ta có thể dùng nồng độ thấp hơn để tránh gây ngộ độc cho động vật thủy sản (Bùi Quang Tề, 1997). Vì ở điều kiện nhiệt độ nước cao loại hóa chất này có thể gây ảnh hưởng nguy hiểm cho động vật thủy sản, nó làm giảm hàm lượng Oxy hòa tan trong nước ao vì thế gây tác hại cho cá bột, hương và cá giống (Tonguthai và Chenratchakool, 1992). Pungkachonboon (1997) cho rằng Formalin ở nồng độ 75ppm có thể làm giảm Oxy hòa tan trong nước xuống 0 ppm trong 48 giờ. Vì vậy khi sử dụng Formalin cần phải sục khí liên tục. Ngoài ra Formalin có thể hạn chế hiện tượng nở hoa do thực vật phù du trong ao ở liều lượng 15ppm (Allison, 1962) Formalin ở nồng độ 25, 50, 75 ppm không gây ảnh hưởng đến độ kiềm, độ cứng nhưng Tasakool (1987) lại cho rằng hợp chất này làm giảm pH trong nước. Sulphat đồng (CuSO4. 5H2O): là tinh thể màu xanh lam đậm ngậm 5 phân tử nước, dễ tan trong nước và có tính axit yếu. CuSO4 có tác dụng kìm hãm và có khả năng tiêu diệt các sinh vật gây bệnh tương đối mạnh. CuSO4 có khả năng kết hợp với protein tạo thành phức chất, làm vón cục tế bào tổ chức dẫn đến tiêu diệt được nhiều nguyên sinh động vật ký sinh trên cá. Ngoài ra CuSO4 phòng và trị bệnh rất có hiệu quả đối với các bệnh ký sinh trùng đơn bào như: trùng bánh xe, trùng loa kèn, trùng miệng lệch… hạn chế được sự phát triển của hiện tượng tảo nở hoa, khử trùng đáy ao và diệt các ký chủ trung gian như ốc, nhuyễn thể khác. Khả năng diệt trùng của CuSO4 bị các yếu tố môi trường chi phối rất lớn. Thường trong môi trường nước có nhiều mùn bã hữu cơ, pH cao, môi trường nước cứng, đặc biệt môi trường nước lợ, mặn độc lực của CuSO4 giảm, do vậy phạm vi an toàn lớn. Ngược lại trong môi trường nhiệt độ nước cao tác dụng của chúng tăng lên nên phạm vi an toàn đối với động vật thủy sản nhỏ. Do đó khi sử dụng CuSO4 điều trị cho động vật thủy sản cần lưu ý nhiệt độ nước. Phương pháp sử dụng: Tắm nồng độ 3 – 5 ppm trong 5 – 15 phút hoặc phun xuống ao nồng độ 0,5 – 0,7 ppm; treo túi thuốc trong lồng nuôi cá 50g thuốc/10m3 lồng (Bùi Quang Tề, 1997). Thuốc tím ( KMnO4): Thuốc tím dạng tinh thể nhỏ dài, 3 cạnh, màu tím, không có mùi vị, dễ tan trong nước. 2KMnO4 + H2O = 2KOH + 2MnO2 + 3O KMnO4 là dung dịch oxy hóa mạnh. Khi gặp chất hữu cơ, oxy nguyên tử vừa giải phóng lập tức kết hợp với chất hữu cơ nên không xuất hiện bọt khí. MnO2 kết hợp với abbumin cơ thể tạo thành hợp chất muối albuminat. Ở nồng độ cao nó kích thích ăn mòn tổ chức cơ thể. Trong môi trường nước KMnO4 có khả năng tạo ra Oxy nguyên tử mà chính nó tham gia vào quá trình Oxy hóa các Protein của tác nhân gây bệnh để tiêu diệt tác nhân gây bệnh. Trong thủy sản KMnO4 dùng để: Sát trùng dụng cụ, tẩy ao, phòng và trị một số bệnh như: nguyên sinh động vật, nấm. Phương pháp sử dụng: Nồng độ dùng 10 - 20 ppm để tắm cho cá trong thời gian 30 - 40 phút ở nhiệt độ 20 – 300C. Nếu nhiệt độ thấp thì tăng nồng độ lên. Khi tắm cần chú ý sức chịu đựng của cá (Bùi Quang Tề, 2003). Muối ăn (NaCl): Dạng tinh thể màu trắng, có vị mặn, dễ tan trong nước.     NaCl = Na+ + Cl- NaCl tạo áp suất thẩm thấu và làm biến tính protein tế bào vi sinh vật, làm chết một số sinh vật ký sinh bên ngoài cơ thể động vật thủy sản. Đặc biệt ký sinh trùng thuộc ngành nguyên sinh động vật và một số vi khuẩn trong nước ngọt. Thường dùng nồng độ từ 1 – 3% tắm cho động vật thủy sản. Thời gian tắm và nồng độ tắm thích hợp phải tùy từng tình hình cụ thể nhất là trạng thái cơ thể của động vật thủy sản. Muối NaCl thường dùng đối với động vật thủy sản nước ngọt PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Thời gian và địa điểm nghiên cứu - Thời gian thực hiện: Từ tháng 01 năm 2010 đến tháng 05 năm 2010 - Địa điểm: + Thu mẫu tại các hộ gia đình, cơ sở sản xuất cá Chép hương, chép giống ở khu vực Gia Lâm - Hà Nội và khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh + Tiến hành thí nghiệm, xử lý và phân tích mẫu tại Trại cá – Bộ môn NTTS, khoa CN & NTTS, trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội 2. Vật liệu nghiên cứu - Đối tượng: Cá Chép từ 5 – 70 ngày tuổi - Số lượng mẫu kiểm tra: + Số cá kiểm tra CĐN, TLN: 30 x 8 = 240 con + Số cá điều trị thử nghiệm Formalin: 30 x 3 x 3 x 2 = 540 con + Số cá điều trị thử nghiệm CuSO4: 30 x 3 x 3 x 2 = 540 con + Số cá điều trị thử nghiệm KMnO4: 30 x 3 x 3 x 2 = 540 con + Số cá điều trị thử nghiệm NaCl: 30 x 3 x 3 x 2 = 540 con - Các loại thuốc và hóa chất dùng để điều trị thử nghiệm bệnh ngoại ký sinh trùng: Formalin, CuSO4, KMnO4, muối ăn NaCl - Một số vật liệu và trang thiết bị khác phục vụ cho quá trình ương nuôi và kiểm tra ngoại ký sinh trùng: Thùng xốp, bộ sục khí, vợt, cân điện tử, thước đo, kính hiển vi, lam kính, lamen, bộ dao kéo… 3. Nội dung nghiên cứu - Xác định thành phần giống loài ngoại ký sinh trùng trên cá Chép giai đoạn từ cá hương lên cá giống - Xác định thời điểm nhiễm ngoại ký sinh trùng - Thử nghiệm thuốc và hóa chất xử lý ngoại ký sinh trùng 4. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu ký sinh trùng dựa theo phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng của Viện sỹ V.A. Dogiel (1929), có sự bổ sung của TS. Hà Ký và TS. Bùi Quang Tề, 2007 cho phù hợp với điều kiện khí hậu Việt Nam. Sơ đồ nghiên cứu ký sinh trùng Thu mẫu Quan sát mẫu Làm tiêu bản Phân loại Xác định giống loài Soi tươi * Công thức tính cường độ nhiễm, tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng: Tổng số cá bị nhiễm Tổng số cá kiểm tra Tỷ lệ nhiễm (%) = x 100 Tổng số lượng ấu trùng đếm được trên cá Tổng số cá bị nhiễm Cường độ nhiễm = 4.1. Phương pháp thu mẫu Kiểm tra ngẫu nhiên cá Chép hương, giống ở khu vực Gia Lâm - Hà Nội và khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh. Đặc biệt chú ý đến các vùng thường xuyên xuất hiện bệnh. Nếu mẫu kiểm tra bị nhiễm ngoại ký sinh trùng thì tiến hành thu mẫu cá để làm thí nghiệm. Đối với mẫu đối chứng, lấy mẫu cá không bị bệnh ở cùng lứa tuổi. Phương pháp thu mẫu cá, kiểm tra ngoại ký sinh trùng của Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007) và phương pháp đo, cân trọng lượng cá, tính tỷ lệ nhiễm, cường độ nhiễm. 4.2. Phương pháp quan sát mẫu tươi Các bước tiến hành: Cân khối lượng, đo kích thước từng cá thể cá và ghi chép Quan sát bằng mắt thường toàn bộ cơ thể bên ngoài của cá nhằm phát hiện các biểu hiện khác thường của cá như: sự biến đổi mầu sắc, lở loét, những đốm của trùng quả dưa, thích bào tử trùng… Đối với cá có kích thước nhỏ (≤ 3 cm) đặt cả con lên lam kính, sau đó nhỏ một giọt nước lên, đậy lamen và quan sát dưới kính hiển vi với độ phóng đại từ nhỏ đến lớn (4 x 10; 10 x 10) Đối với cá có kích thước > 3 cm trở lên, cạo nhớt ở các phần khác nhau trên cơ thể cá (da, mang, các vây, đuôi). Sau đó đưa nhớt lên lam kính, nhỏ 1 giọt nước sinh lý, đậy lamen và quan sát dưới kính hiển vi với độ phóng đại từ nhỏ đến lớn (4 x 10; 10 x 10; 10 x 40) 4.3. Cố định, bảo quản và làm tiêu bản ký sinh trùng Do điều kiện về thời gian, hóa chất cũng như phương pháp kỹ thuật có hạn, chúng tôi chỉ tiến hành cố định, bảo quản và làm tiêu bản đối với trùng bánh xe. 4.3.1. Cố định và bảo quản mẫu Cố định mẫu bằng cách phết kính: dùng lamen đặt lên trên lam kính ở vị trí có mẫu, kéo ngược lamen về phía sau sao cho nhớt có thể dàn đều một lớp mỏng rồi để khô tự nhiên trong không khí. Xếp mẫu trong các hộp có lót lớp giấy để bảo quản. 4.3.2. Nhuộm và làm tiêu bản ký sinh trùng Đối với trùng bánh xe, chúng tôi sử dụng phương pháp nhuộm bằng AgNO3 2% : Các lamen có mẫu đã giữ khô, xếp vào đĩa peptri có mặt trùng ngửa lên trên. Dùng pipet nhỏ dung dịch AgNO3 2% lên chỗ phết mẫu, đậy nắp đĩa peptri để tất cả vào buồng tối trong thời gian từ 10 – 15 phút, lấy ra rửa qua nước cất 3 – 4 lần. Tất cả các kính sau khi rửa chuyển sang đĩa nước cất khác để mặt có trùng hướng lên trên, đem phơi dưới ánh sáng mạnh của mặt trời trong thời gian từ 15 – 30 phút hoặc hơn phụ thuộc vào cường độ ánh sáng. Trong quá trình nhuộm phải kiểm tra sự bắt màu của tiêu bản nhuộm. Nếu quan sát thấy rõ các cơ quan của trùng thì ngừng phơi. Rửa lại mẫu trong nước cất, để khô tự nhiên trong không khí, gắn tiêu bản bằng nhựa canada và ghi nhãn cho mỗi mẫu. 4.4. Phân loại ký sinh trùng Dựa vào hình thái, cấu tạo ký sinh trùng, quan sát trùng sống và trùng đã cố định, nhuộm màu, vẽ và chụp ảnh. Từ đó so sánh, phân loại theo các tài liệu phân loại ký sinh trùng đã có. Tài liệu phân loại: Ký sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam của Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007; Sán lá đơn chủ (Monogenea) ở cá của Bukhopski, 1957; Ký sinh trùng đơn bào của Lom và Dykova, 1992; Monogenea, Trematoda, Nematoda, Crustacea ký sinh ở cá của Yamaguti, 1958, 1960, 1963, 1971. 4.5. Phương pháp xử lý hóa chất với ngoại ký sinh trùng trên cá Chép Bảng 3.1. Các nồng độ thuốc và hoá chất dùng để điều trị thử nghiệm ký sinh trùng trên cá Chép hương và Chép giống Thuốc, hóa chất và phương pháp dùngSố mẫu kiểm tra (con)Nồng độ thuốc hoá chất xử lýGhi chúCuSO4Tắm303 ppm- Khi xử lý bằng phải bật sục khí liên tục, tránh làm cá bị ngạt do thiếu khí. - Phương pháp tắm: tắm cho cá trong thời gian 15–30 phút. - Phương pháp ngâm: ngâm cho cá trong thời gian 24 giờ.304 ppm305 ppmNgâm300,3 ppm300,4 ppm300,5 ppmFormalinTắm30200 ppm30250 ppm30300 ppmNgâm3020 ppm3025 ppm3030 ppmKMnO4Tắm3010 ppm3015 ppm3020 ppmNgâm301 ppm301,5 ppm302 ppmMuối NaCl: Tắm302% 303%304%Ngâm300,2%300,3%300,4% Mỗi bể thí nghiệm nuôi 30 con cá Chép trong bể có thể tích 40x50x80 cm, các bể này được cung cấp nước giếng khoan và sục khí liên tục. Lô 1: Cá nhiễm ký sinh trùng nuôi trong nước giếng khoan không có hóa chất Lô 2: Cá nhiễm ký sinh trùng nuôi trong môi nước có pha hóa chất           Cá ở hai lô được nuôi và chăm sóc trong điều kiện giống nhau. Sau thời gian thí nghiệm, dùng vợt bắt cá ra tiến hành làm tiêu bản kiểm tra dưới kính hiển vi. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Lô xử lý hóa chất và lô đối chứng đều được chăm sóc như nhau trong cùng một điều kiện nhiệt độ 25 – 300C, sục khí liên tục. Nước sử dụng để thay hoàn toàn là nước giếng khoan, không dùng nước ao để tránh lây nhiễm các bệnh khác cho cá.           So sánh hiệu quả xử  lý của các loại hóa chất thử nghiệm ở các nồng độ khác nhau và phương pháp dùng thuốc khác nhau: tắm, ngâm. Các lô thí nghiệm đều là cá nhiễm bệnh được nuôi ở các bể khác nhau (mỗi loại thuốc sẽ được thử nghiệm từ 3 loại nồng độ, tương ứng với 3 bể), sử dụng các loại thuốc, hóa chất khác nhau: Formalin, CuSO4, NaCl, KMnO4 trong cùng một điều kiện để tìm ra loại thuốc, hóa chất và phương pháp xử lý có hiệu quả. 4.6. Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá - Cường độ nhiễm và tỉ lệ nhiễm từng loại ký sinh trùng trên cá Chép. - Khối lượng và chiều dài của cá Chép trong các lần kiểm tra. - Kết quả kiểm tra ngoại ký sinh trùng trên cá Chép sau mỗi lần điều trị thử nghiệm. * Các công thức tính toán Các số liệu được tính trung bình bằng các công thức thống kê sau: Tính giá trị trung bình: Tính độ lệch chuẩn: Trong đó: : Giá trị trung bình : Số liệu thu lần thứ i n: Số mẫu kiểm tra Số liệu được xử lý phần mềm Excel PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. Thành phần giống, loài và CĐN, TLN ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép giai đoạn cá hương và cá giống. Chúng tôi đã tiến hành thu mẫu cá Chép hương và Chép giống tại khu vực Gia Lâm - Hà Nội và khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh. Qua phân tích mẫu cá thu được, chúng tôi đã xác định được các loại ký sinh trùng sau: Trùng bánh xe (Trichodina nobilis Chen, 1963), ấu trùng sán lá song chủ (metacercaria Centrocestus formosanus Nishigori, 1924), sán lá đơn chủ 16 móc (Dactylogyrus). Trong đó trùng bánh xe Trichodina nobilis được tìm thấy chủ yếu trên da và vây, cường độ nhiễm trên mang xuất hiện ít hơn. Còn ấu trùng sán lá song chủ metacercaria Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus chủ yếu xuất hiện trên mang. Bên cạnh đó, khi thu mẫu cá Chép hương và Chép giống tại khu vực Gia Lâm - Hà Nội và khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh về kiểm tra, chúng tôi nhận thấy ấu trùng sán lá song chủ metacercaria Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus chủ yếu tìm thấy ở khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh. Đó là do khu vực này có tỷ lệ nhiễm cao từ những năm trước. Các hộ gia đình tại đây dùng phân bắc bón trực tiếp, ngoài ra một số phân hữu cơ khác như phân chuồng cũng được bổ sung, hầu hết phân không qua ủ. Còn khu vực Gia Lâm - Hà Nội, trước khi thả cá, các hộ gia đình ở đây có áp dụng các biện pháp xử lý ao kỹ càng. 1.1. Loài Trichodina nobilis Chen, 1963 Hình 3: Trichodina nobilis tại Bắc NinhHình 4: Trichodina nobilis Theo Bùi Quang Tề Vị trí phân loại Phân lớp: Peritrichia Stein, 1859 Bộ: Mobilina Kahl, 1933 Họ: Trichodinidae Clau, 1874 Giống: Trichodina Ehrenberg, 1830 Loài: Trichodina nobilis Chen, 1963 Vật chủ: Cá Chép Nơi ký sinh: Da, mang Nơi tìm thấy: Hà Nội, Bắc Ninh Hình thái: Đường kính thân 70,0 – 80,0µ, vòng đĩa bám 68,0 – 78,0µ, vòng móc bám 60,8 – 64,6µ. Số lượng móc trong vòng móc bám 22 – 26. Chiều dài nhánh ngoài của móc 9,5µ, nhánh trong 13,3µ. Số lượng sọc giữa hai nhánh ngoài của móc là 12. Ngày kiểm traSố lượng mẫu (con)CĐN TLN (%)(X SE) (trùng/1cá)Rất cao (con)Cao (con)Trung Bình (con)Thấp (con)27/2/20103022,875,37138631006/3/20103045,166,892820010013/3/20103074,478,622400010020/3/20103094,564,483000010027/3/20103061,623,11300001003/4/20103091,876,742901010010/4/20103099,363,493000010017/4/20103086,322,4730000100Tổng2402161083Bảng 4.1: Kết quả kiểm tra CĐN, TLN trùng bánh xe Trichodina nobilis trên cá Chép bệnh *Ghi chú: CĐN rất cao: > 20 trùng/mẫu CĐN cao: 10 – 20 trùng/mẫu CĐN trung bình: 5 – 10 trùng/ mẫu CĐN thấp: 20 ấu trùng/mẫu CĐN cao: 10 – 20 ấu trùng/mẫu CĐN trung bình: 5 – 10 ấu trùng/ mẫu CĐN thấp: 20 sán/mẫu CĐN cao: 10 – 20 sán/mẫu CĐN trung bình: 5 – 10 sán/ mẫu CĐN thấp: < 5 sán/mẫu Theo bảng 4.3, khi kiểm tra 240 mẫu cá, chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nhiễm sán lá đơn chủ 16 móc gần như tăng dần trong các lần kiểm tra, từ 13,3% lên 67,7%. Cường độ nhiễm trung bình dao động từ 0.13 ấu trùng/1 cá đến 1,47 ấu trùng/1 cá. Số lượng mẫu cá bị nhiễm với cường độ rất cao chiếm tỷ lệ: 0 mẫu / 240 mẫu kiểm tra. Còn số lượng mẫu cá bị nhiễm với cường độ thấp chiếm rất cao: 392 mẫu /240 mẫu kiểm tra. Trong quá trình điều tra, chúng tôi thấy cũng như ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus thì sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus cũng đến cuối giai đoạn cá Chép hương mới xuất hiện và tỷ lệ nhiễm tăng dần theo thời gian sinh trưởng của cá. Sán lá đơn chủ đã nhiễm ở cá Chép giống với tỷ lệ cao (67,7%) nhưng cường độ nhiễm thấp (1,47) nên chưa đủ gây thành bệnh cho cá. Tuy nhiên, khi sự chăm sóc, quản lý của người nuôi không đảm bảo, điều kiện môi trường không thuận lợi cho sự phát triển của cá, thì khả năng bùng phát dịch bệnh do loài ký sinh trùng này gây ra là rất lớn. 2. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng hóa chất 2.1. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng muối NaCl Dung dịch NaCl có tác dụng diệt khuẩn vì nó tạo tạo áp suất thẩm thấu và làm biến tính protein tế bào vi sinh vật, gây nên các tổn thương, làm tăng nhanh quá trình hô hấp và mất nước. NaCl là loại hóa chất rẻ tiền, dễ mua, và nó được dùng nhiều trong sát trùng vết thương hoặc trị các bệnh ngoài da ở người và động vật trên cạn, trị các bệnh do ký sinh trùng trên động vật thủy sản ở nước ngọt. Vì vậy chúng tôi quyết định thử nghiệm NaCl trị ngoại ký sinh trùng trên cá Chép nhằm tìm ra nồng độ an toàn và hiệu quả. Trong thí nghiệm này chúng tôi áp dụng cả hai phương pháp ngâm và tắm, mỗi phương pháp thử nghiệm với 3 nồng độ khác nhau. Phương pháp tắm với 3 nồng độ 2%, 3%, 4%, sau 5-10 phút, cho cá vào nước sạch. Phương pháp ngâm với 3 nồng độ 0,2%, 0,3%, 0,4%, sau 20 - 24 giờ vớt cá ra nước sạch. Sau đó, chúng tôi tiến hành kiểm tra da và mang cá để đánh giá hiệu quả của việc xử lý bằng NaCl. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, kết quả được thể hiện ở bảng 4.4. Đợt thí nghiệmTên ký sinh trùngTỉ lệ nhiễm bệnh (%)Tỷ lệ nhiễm bệnh (%)Phương pháp tắmĐối chứngPhương pháp ngâmĐối chứng4%3%2%0,4%0,3%0,2%1Trichodina nobilis003,3310003,3320100Centrocestus formosanus5053,3356,6756,6753,3366,6763,3370Dactylogyrus33,3343,3346,67503036,674046,672Trichodina nobilis006,6710006,6720100Centrocestus formosanus66,678076,6786,6773,3366,6786,6780Dactylogyrus4053,33607053,3356,6766,6766,673Trichodina nobilis00010003,3316100Centrocestus formosanus66,6773,338083,3366,6766,678076,67Dactylogyrus36,6743,3353,336046,6753,3353,3360Bảng 4.4: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng NaCl Qua bảng 4.4 cho thấy đối với trùng bánh xe Trichodina nobilis ở phương pháp tắm NaCl, trong 3 lần tiến hành làm thí nghiệm, việc sử dụng NaCl có hiệu quả cao ở cả 3 nồng độ: 2%, 3%, 4%. Khi kiểm tra tổng số 270 mẫu cá bệnh đã qua xử lý tắm NaCl của 3 lần thí nghiệm chúng tôi thấy ở nồng độ 3% và 4% tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe là 0%, còn ở 2% thì tỷ lệ nhiễm trung bình là 3,33%, cường độ nhiễm 1-2 trùng/1 mẫu, lô đối chứng tỷ lệ nhiễm là 100%. Trong quá trình tắm, cá bơi chậm chạp, còn hay nổi đầu mặc dù đã có sục khí liên tục, cá mất nhớt, mất màu bình thường. Ở nồng độ 4%, tắm trong thời gian 2-4 phút, sau đó cá có hiện tượng nổ mắt và chết, ở 2% cá hoạt động bình thường. Nguyên nhân do môi trường nước có nồng độ NaCl cao, lúc đó môi trường nước là môi trường ưu trương so với môi trường bên trong cơ thể cá và bên trong cơ thể trùng bánh xe. Sự chênh lệch nồng độ giữa hai môi trường làm rối loạn áp suất thẩm thấu, dẫn đến cá và trùng bánh xe bị mất nước. Da cá sẽ bị mất nhớt. Trùng bánh xe bị chết hoặc nhả ký chủ ra. Đối với phương tắm, ở cả 3 lần tiến hành làm thí nghiệm, việc sử dụng NaCl có hiệu quả khá cao. Trong tổng số 270 mẫu cá kiểm tra, có 90 mẫu cá bệnh đã qua xử lý của 3 lần thí nghiệm ở nồng độ 0,4% thì tỷ lệ nhiễm là 0%. Còn ở 0,3% thì tỷ lệ nhiễm trung bình 6,67%, cường độ nhiễm 1- 6 trùng/1 mẫu. Ở nồng độ 0,2% tỷ lệ nhiễm trung bình 18,67%, cường độ nhiễm 1- 9 trùng/1 mẫu. Lô đối chứng tỷ lệ nhiễm là 100%, cường độ nhiễm 90-115 trùng/ 1 mẫu. Trong quá trình ngâm, có sục khí liên tục, cá vẫn bơi lội bình thường, không bị mất nhớt. Lúc này nồng độ giữa hai môi trường chênh lệch nhau không lớn nên cá không bị mất nhớt, cá khỏe mạnh. Tuy nhiên, sự chênh lệch này làm rối loạn áp suất thẩm thấu của trùng bánh xe làm cho trùng chết hoặc nhả ra khỏi cá. Đối với ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus, cả 2 phương pháp ngâm và tắm NaCl đều không có hiệu quả. Kiểm tra tổng số 540 mẫu cá bệnh đã qua xử lý, tỷ lệ nhiễm 2 loài ký sinh trùng trên vẫn cao, thậm chí không thuyên giảm kể cả ở nồng độ cao nhất là 4%. 2.2. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng KMnO4 Thuốc tím KMnO4 có dạng tinh thể nhỏ dài, 3 cạnh, màu tím, không có mùi vị, dễ tan trong nước, có khả năng oxy hóa mạnh. Nó được dùng nhiều trong tẩy trùng. Trên động vật thủy sản, người ta cũng đã dùng để trị các bệnh về ngoại ký sinh trùng. Vì vậy chúng tôi quyết định thử nghiệm KMnO4 trị ngoại ký sinh trùng trên cá Chép nhằm tìm ra nồng độ an toàn và hiệu quả. Điều kiện làm thí nghiệm được đảm bảo ở mức thích hợp: pH là 7 – 7,5; nhiệt độ 21 – 230C, sục khí liên tục, sử dụng nước giếng khoan. Trong thí nghiệm này chúng tôi áp dụng cả hai phương pháp ngâm và tắm, mỗi phương pháp 3 nồng độ khác nhau. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần, kết quả được thể hiện ở bảng 4.5. Đợt thí nghiệmTên ký sinh trùngTỉ lệ nhiễm bệnh (%)Tỷ lệ nhiễm bệnh (%)Phương pháp tắm (ppm)Đối chứngPhương pháp ngâm (ppm)Đối chứng20151021,511Trichodina nobilis001010046,6766,6793,33100Centrocestus formosanus3033,3336,6736,6753,356,6753,3350Dactylogyrus43,3343,3346,67503036,674036,672Trichodina nobilis006,6710043.336083,33100Centrocestus formosanus4036,675053,3343,3346,675050Dactylogyrus36,675046,6753,334043,3346,6746,673Trichodina nobilis03,336,67100507086.67100Centrocestus formosanus47,753,3506056,6766,676066,67Dactylogyrus36,6743,3353,336047,753,353,356,67Bảng 4.5: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng KMnO4 Đối với trùng bánh xe Trichodina nobilis, phương pháp tắm KMnO4 ở 3 nồng độ 20 ppm, 15ppm, 10 ppm trong 30-60 phút, sau đó chuyển cá sang nước sạch. Trong quá trình thí nghiệm chúng tôi thấy cá bơi lội bình thường, cá khỏe, nhanh nhẹn. Cả 3 nồng độ có khả năng trị trùng bánh xe khá tốt. Ở nồng độ 20ppm tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe chỉ còn 0%. Ở nồng độ 15ppm và 10ppm tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe cao nhất là 10%, cường độ nhiễm 1-3 trùng/1 mẫu. Lô đối chứng có tỷ lệ cảm nhiễm 100%. Phương pháp ngâm thử nghiệm với 3 nồng độ 2 ppm, 1,5ppm, 1 ppm ngâm trong 20h -24h, sau đó chuyển cá sang nước sạch. Trong quá trình thí nghiệm cá bơi lội bình thường, cá có hiện tượng mòn cụt các vây, cá khỏe. Cả 3 nồng độ khả năng trị trùng bánh xe thấp. Ở nồng độ 2ppm tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe dao động từ 43,33% đến 50% % với cường độ nhiễm 2-25 trùng/1 mẫu cá. Ở nồng độ 1,5ppm có tỷ lệ nhiễm cao dao động từ 60%-70%. 1ppm tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe rất cao 83.33%-93,33%, cường độ nhiễm 1-32 trùng/1 mẫu. Tuy tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe sau khi xử lý ngâm KMnO4 vẫn cao nhưng cường độ nhiễm có giảm so với lô đối chứng là 90-115 trùng/1 cá. Cơ chế diệt khuẩn của KMnO4 như sau: 2KMnO4 + H2O = 2KOH + 2 MnO2 +3O Dung dịch oxy hóa mạnh, gặp chất hữu cơ oxy nguyên tử [O] vừa giải phóng lập tức kết hợp chất hữu cơ nên không xuất hiện bọt khí và làm giảm tác tác dụng diệt khuẩn. MnO2 kết hợp với abbumin cơ thể tạo thành hợp chất muối albminat. Lúc nồng độ thấp tác dụng kìm hãm, ở nồng độ cao có tác dụng kích thích và ăn mòn tổ chức. Điều này giải thích tại sao khi xử lý bằng KMnO4 thì vây cá có hiện tượng cụt mòn, mỏng đi so với bình thường. KMnO4 có khả năng ôxy hóa các hợp chất hữu cơ nên có khả năng khử độc. Trùng bánh xe là một hợp chất hữu sẽ bị [O] kết hợp, dẫn đến tiêu diệt trùng bánh xe. Tuy nhiên ở phương pháp tắm nồng độ lớn nên [O] giải phóng ra đủ để kết hợp với chất hữu cơ trong trùng bánh xe nên có khả năng diệt trùng bánh xe tốt hơn phương pháp ngâm. Ở nồng độ thấp của phương pháp ngâm chỉ có tác dụng kìm hãm. Đối với ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus, cả 2 phương pháp ngâm và tắm KMnO4 đều không cho hiệu quả cao. Mặc dù tỷ lệ nhiễm 2 loại ký sinh trùng này có giảm sau khi đã qua xử lý nhưng tỷ lệ nhiễm vẫn còn cao. Thậm chí sau khi đã qua xử lý, chúng tôi vẫn còn tìm thấy mẫu kiểm tra có 8 ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus trên 1 mẫu cá và 6 sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus trên 1 mẫu cá. Vì vậy việc xử lý KMnO4 đối với ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus không cho hiệu quả cao khi áp dụng vào thực tế. 2.3. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng CuSO4 CuSO4 là tinh thể dễ tan trong nước, có tác dụng kìm hãm và có khả năng tiêu diệt các sinh vật gây bệnh tương đối mạnh, được sử dụng rất phổ biến trong nuôi thuỷ sản nước ngọt, thường để phòng trị bệnh do kí sinh trùng. Do đó chúng tôi đã sử dụng CuSO4 để điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép giai đoạn cá hương và cá giống. Chúng tôi tiến hành thí nghiệm với 2 phương pháp ngâm và tắm. Thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện pH 7- 7,5, sử dụng nước giếng khoan, có sục khí liên tục. Kết quả được thể hiện ở bảng 4.6. Đợt thí nghiệmTên ký sinh trùngTỉ lệ nhiễm bệnh (%)Tỷ lệ nhiễm bệnh (%)Phương pháp tắm (ppm)Đối chứngPhương pháp ngâm (ppm)Đối chứng3450,30,40,51Trichodina nobilis26,6713,333,331001000100Centrocestus formosanus3033,333036,6753,356,6753,3350Dactylogyrus26,6723,3323,33303026,672036,672Trichodina nobilis20 6,67010013.336,670100Centrocestus formosanus5046,6743.3353,3343,3346,6746,6750Dactylogyrus26,672016,6723,332023,3316,6726,673Trichodina nobilis13,336,673,33100103,330100Centrocestus formosanus5053,353,336066,6756,676063,33Dactylogyrus26,6723,3323,33302013,3313,3326,67Bảng 4.6: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng CuSO4 Đối với trùng bánh xe Trichodina nobilis khi áp dụng phương pháp ngâm CuSO4 ở 3 nồng độ 0,3; 0,4 và 0,5 ppm, sau 20 - 24 giờ ngâm chúng tôi tiến hành kiểm tra mẫu để đánh giá hiệu quả của việc sử dụng CuSO4 trong việc điều trị bệnh. Thí nghiệm được lặp lại 3 lần. Kết quả kiểm tra 270 mẫu cá cho thấy ở cả 3 lần thí nghiệm lặp lại và cả 3 nồng độ 0,3; 0,4 và 0,5 ppm với phương pháp ngâm này thấy hiệu quả điều trị bệnh trùng bánh xe tương đối cao. Ở nồng độ 0,5ppm tỷ nhiễm trùng bánh xe là 0%. Ở nồng độ 0,4ppm có tỷ lệ nhiễm khoảng 3,33%, cường độ nhiễm thấp 1 trùng/1 mẫu. Ở nồng độ 0,3ppm tỷ lệ nhiễm trung bình khoảng 11,11% với mật độ nhiễm 1-2 trùng/1 mẫu. Tuy nhiên trong quá trình ngâm, mặc dù cá không nổi đầu nhiều nhưng cá yếu và chậm chạp đi so với bình thường. Còn đối với phương pháp tắm, hiệu quả điều trị trùng bánh xe có cao nhưng không bằng phương pháp ngâm. Tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe sau khi xử lý CuSO4 5ppm rất thấp, trung bình sau 3 lần kiểm tra là 2,22%. Còn tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe trung bình ở nồng độ 4ppm là 12,22% và nồng độ 3ppm là 20%, mật độ nhiễm là 1-2 trùng/1 mẫu. Vì vậy trên thực tế sử dụng CuSO4 để trị bệnh trùng bánh xe, chúng ta nên áp dụng ở nồng độ CuSO4 5%. Qua bảng 4.6 cho chúng ta thấy cả 2 phương pháp tắm và ngâm CuSO4 đều không cho hiệu quả điều trị cao đối với ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus. Trong cả 540 mẫu cá kiểm tra, số lượng sán lá đơn chủ và ấu trùng sán lá song chủ hầu như không hề giảm đi. Cá Chép thử nghiệm CuSO4 còn có hiện tượng vận động kém, khó hô hấp, yếu dần và dễ chết. Vì khi sử dụng CuSO4 có thể gây một số phản ứng phụ cho cá, làm nở ống nhỏ của thận, làm hoại tử các ống nhỏ quanh thận, phá hoại các tổ chức tạo máu, làm gan tích mỡ. Các ion Cu++ bám lên tổ chức mang cá và tích tụ trong cơ, gan làm cản trở men tiêu hoá hoạt động, làm ảnh hưởng đến khả năng bắt mồi và tiêu thụ thức ăn của cá, dẫn đến cá sinh trưởng chậm. Vì vậy cần thận trọng khi dùng với liều lượng thích hợp và không lặp lại nhiều lần trong thời gian nuôi ngắn (Đỗ Thị Hoà và ctv, 2004). 2.4. Kết quả điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng bằng Formalin Formalin là loại hoá chất có hiệu lực cao trong việc phòng trị các bệnh do ký sinh trùng nên chúng tôi quyết định sử dụng để điều trị thử nghiệm ngoại ký sinh trùng trên cá Chép nhằm tìm ra nồng độ an toàn và hiệu quả. Điều kiện làm thí nghiệm được đảm bảo ở mức thích hợp: pH là 7 – 7,5; nhiệt độ 25 – 300C, sục khí liên tục. Trong thí nghiệm này chúng tôi áp dụng cả hai phương pháp ngâm và tắm, mỗi phương pháp 3 nồng độ khác nhau. Kết quả được trình bày trong bảng 4.7. Bảng 4.7: Kết quả trị bệnh ngoại ký sinh trùng bằng Formalin Đợt thí nghiệmTên ký sinh trùngTỉ lệ nhiễm bệnh (%)Tỷ lệ nhiễm bệnh (%)Phương pháp tắm (ppm)Đối chứngPhương pháp ngâm (ppm)Đối chứng2002503002025301Trichodina nobilis3,3300100103,330100Centrocestus formosanus3023,332036,6723,316,6713,3330Dactylogyrus46,674043,33505046,675046,672Trichodina nobilis3,33 0010013.336,670100Centrocestus formosanus5046,6743.3353,3343,3346,6746,6750Dactylogyrus46,674036,6743,335043,3336,6756,673Trichodina nobilis3,333,330100103,330100Centrocestus formosanus5053,3506046,6746,674043,33Dactylogyrus33,333023,33403023,3313,3336,67 Qua bảng 4.7 cho thấy ở cả 3 lần tiến hành làm thí nghiệm tắm Formalin có hiệu quả cao đối với trùng bánh xe Trichodina nobilis ở cả 3 nồng độ: 200, 250 và 300 ppm. Kiểm tra tổng số 270 mẫu cá bệnh đã qua xử lý của 3 lần thí nghiệm trên ta thấy ở nồng độ 300ppm tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe là 0%, còn ở nồng độ 200ppm và 250ppm tỷ lệ nhiễm rất thấp 3,33%, cường độ nhiễm chỉ có 1 trùng/ 1 mẫu. Phương pháp ngâm Formalin để trị trùng bánh xe cũng cho hiệu quả cao. Ở nồng độ ngâm 30ppm sau 24 giờ, tỷ lệ nhiễm trùng bánh xe là 0%. Còn tỷ lệ nhiễm trung bình ở nồng độ 25ppm là 4,33% và nồng độ 20ppm là 11,11%, mật độ nhiễm 1 trùng/1 mẫu. Cũng như các phương pháp và hóa chất đã sử dụng ở trên, cả Formalin ở cả 2 phương pháp tắm và ngâm cũng không cho hiệu quả điều trị cao đối với ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus. Bên cạnh đó, trong quá trình tiến hành thí nghiệm cá có biểu hiện bơi chậm chạp và hay nổi đầu mặc dù vẫn sục khí liên tục. Nguyên nhân là do Formalin là hợp chất hữu cơ khi phân huỷ trong nước tiêu hao nhiều O2, làm giảm lượng O2 hoà tan trong nước khiến cá bình thường hô hấp khó, bây giờ còn khó khăn hơn. Do đây là một chất khí mạnh, khi kết hợp với Oxi tạo ra axit formic: HCHO + O2  HCOOH Nói tóm lại, việc sử dụng các loại hóa chất: muối ăn NaCl, KMnO4, CuSO4 và Formalin ở cả 2 phương pháp tắm và ngâm để điều trị trùng bánh xe đều cho kết quả điều trị cao. Tuy nhiên không nên sử dụng phương pháp tắm NaCl ở nồng độ 4% cho cá vì dễ gây hiện tượng cá mất chất nhờn, màu sắc thay đổi và nổ mắt. Còn đối với ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus thì tất cả cá hóa chất trên dù phương pháp tắm hay phương pháp ngâm đều không mang hiệu quả cao. Vì vậy trong các đề tài nghiên cứu tiếp theo, việc tìm ra hóa chất với nồng độ an toàn cho cá để điều trị 2 loại ký sinh trùng này là điều cần thiết. PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 1. Kết luận 1.1. Qua kiểm tra 3440 cá thể cá Chép ở giai đoạn cá hương và cá giống tại 2 khu vực Gia Lâm - Hà Nội và khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh, chúng tôi đã phát hiện 3 loài ngoại ký sinh trùng: trùng bánh xe Trichodina nobilis, ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus. 1.2. Trùng bánh xe Trichodina nobilis xuất hiện nhiều ở cả giai đoạn cá hương và cá giống, tỷ lệ nhiễm đạt 100%, cường độ nhiễm đạt 95-115 trùng/ 1 mẫu. Tuy nhiên ở giai đoạn có giống, mật độ nhiễm có xu hướng giảm. Còn ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus đến cuối giai đoạn cá hương, đầu giai đoạn cá giống mới xuất hiện. 1.3. Trùng bánh xe Trichodina nobilis được tìm thấy chủ yếu trên da và vây, cường độ nhiễm trên mang xuất hiện ít hơn. Còn ấu trùng sán lá song chủ metacercaria Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus chủ yếu xuất hiện trên mang cá, mật độ nhiễm tăng theo thời gian sinh trưởng của cá. 1.4. Bệnh xuất hiện nhiều ở những ao bón trực tiếp phân hữu cơ tươi, không qua ủ kỹ hoặc ở các mô hình nuôi kết hợp cá – lợn, cá – vịt, chất thải của chúng trực tiếp thải xuống ao. Nguồn nước bị ô nhiễm hay sự xuất hiện các loài chim ăn cá, các động vật hoang như chuột, rắn, ếch xung quanh bờ ao, nguồn nước thải sinh hoạt cũng là nguồn lây nhiễm bệnh từ vùng này sang vùng khác. 1.5. Ấu trùng sán lá song chủ metacercaria Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus chủ yếu tìm thấy ở khu vực Từ Sơn – Bắc Ninh. Đó là do khu vực này có tỷ lệ nhiễm cao từ những năm trước. Các hộ gia đình tại đây dùng phân bắc bón trực tiếp, ngoài ra một số phân hữu cơ khác như phân chuồng cũng được bổ sung, hầu hết phân không qua ủ. Còn khu vực Gia Lâm - Hà Nội, trước khi thả cá, các hộ gia đình ở đây có áp dụng các biện pháp xử lý ao kỹ càng. 1.6. Theo kết quả điều tra ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus tại khu vực Đình Bảng – Bắc Ninh của Nguyễn Thị Mai Phương, 2009 cho thấy TLN tại đây rất cao, lên đến 100% ở tất cả các đợt kiểm tra. Ở đợt kiểm tra lần thứ nhất CĐN trung bình cao, đạt 12,06 ấu trùng/mẫu, số lượng ấu trùng sán trên một mẫu từ 1 – 32 ấu trùng/mẫu. Số cá có CĐN ở mức độ cao là nhiều nhất: 14 mẫu/30 mẫu kiểm tra. Số mẫu có CĐN ở mức độ thấp là ít nhất: 2 mẫu/30 mẫu kiểm tra. So với kết quả trên thì kết quả điều tra của chúng tôi về CĐN và TLN ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus năm 2010 giảm rất nhiều, tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 87,7% nhưng số lượng ấu trùng trên một mẫu chỉ đạt 0,7 ấu trùng/mẫu. Có thể các hộ gia đình ở đây đã áp dụng các biện pháp xử lý và phòng bệnh chặt chẽ hơn nên CĐN và TLN ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus đã giảm. 1.7. Việc sử dụng các loại hóa chất: muối ăn NaCl, KMnO4, CuSO4 và Formalin ở cả 2 phương pháp tắm và ngâm để điều trị trùng bánh xe đều cho kết quả điều trị cao. Tuy nhiên không nên sử dụng phương pháp tắm NaCl ở nồng độ 4% cho cá vì dễ gây hiện tượng cá mất chất nhờn, màu sắc thay đổi và nổ mắt. Còn đối với ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus thì tất cả cá hóa chất trên dù phương pháp tắm hay phương pháp ngâm đều không mang hiệu quả cao. 2. Đề xuất Qua quá trình làm đề tài, chúng tôi đề xuất một số vấn đề sau: 2.1. Sự gia tăng nhanh về diện tích ương quá mức đã dẫn tới khó khăn về nguồn nước cấp. Nhất là các ao khu vực trong làng luôn có tình trạng khó thay nước, chất lượng kém. Để giải quyết vấn đề này nhằm chiến lược lâu dài, địa phương nên có một hệ thống cấp và thoát nước cho các ao ương. 2.2. Nên trú trọng hơn vào các biện pháp kỹ thuật ương giống: Phân bắc hay các phân hữu cơ khác nên được ủ kỹ với 1% vôi trước khi bón xuống ao ương, mật độ thả bột trung bình chỉ từ 250 – 300 cá bột/m2. Sau mỗi chu kỳ ương cần được tẩy dọn kỹ: Ao phải được máy cạn, vét bùn, bón vôi, phơi đáy trước khi thả cá bột…Các mô hình nuôi kết hợp phải có hệ thống xử lý chất thải trước khi thải xuống ao. Nguồn nước lấy vào cũng cần xử lý kỹ để hạn chế các tác nhân gây bệnh. Tiêu diệt các loại chim ăn cá, phát quang bụi rậm xung quanh bờ, hạn chế các động vật hoang: chuột, rắn, ếch… qua lại. 2.3. Nên áp dụng các biện pháp xử lý con giống trước khi thả xuống ao ương để cá không mang mầm bệnh từ nơi khác đến. 2.4. Giai đoạn từ cuối mùa xuân, đầu mùa hè, thời tiết lúc này ấm áp là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ký sinh trùng đơn bào nhất là trùng bánh xe. Vào giữa giai đoạn ương từ cá bột lên hương (khoảng 15 ngày sau khi thả cá bột) nên được xử lý bằng thuốc hóa học như CuSO4 0,5ppm. 2.5. Do thời gian và kinh phí hạn chế nên việc thử nghiệm điều trị ấu trùng sán lá song chủ Centrocestus formosanus và sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus chưa được hoàn thiện. Đề nghị nên có nghiên cứu rộng hơn về vấn đề này để tìm ra hóa chất cũng như nồng độ xử lý an toàn cho động vật thủy sản nói chung và cá Chép nói riêng. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tài liệu tiếng Việt Bùi Quang Tề, đề tài “Nghiên cứu ký sinh trùng nước ngọt và phương pháp phòng trị bệnh do chung gây ra”, năm 1981-1985. Bùi Quang Tề (1997), Bệnh của động vật thuỷ sản – Tài liệu bộ môn bệnh cá, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Bùi Quang Tề (2001), Ký sinh trùng của một số loài cá nước ngọt ở Đồng bằng sông Cửu Long và giải pháp phòng trị chúng, luận văn tiến sỹ sinh học, 226 trang. Bùi Quang Tề (1998), Bệnh của động vật thuỷ sản, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, 180 trang. Bùi Quang Tề (1999), “Kết quả nghiên cứu KST cá nước ngọt Việt Nam”, Tạp chí sinh học, 21 (2), 1999. Bùi Quang Tề 2008, Danh mục ký sinh trùng cá Việt Nam, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng thủy sản I. Bùi Quang Tề _ Vũ Thị Tám (1999), Những bệnh thường gặp ở tôm cá và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp - Thành phố HCM. Trần Thị Hà (1999), Nghiên cứu ký sinh trùng ở nhóm cá chép Ấn Độ (Labeo rohita) và (Cirrhina mrigala) giai đoạn cá con nuôi tại Đình Bảng (Bắc Ninh), Đông Anh (Hà Nội) và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, 1999. Nguyễn Thị Hà (2007), Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng (metacercaria) sán lá song chủ (Trematoda) ký sinh trên một số cá nuôi tại Nghĩa Hưng – Nam Định, Luận văn thạc sỹ Nông nghiệp, 2007. Đỗ Thị Hoà, Bùi Quang Tề, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Muội (2004), Giáo trình Bệnh học thủy sản – Trường Đại học Thủy sản Nha Trang, 2004, NXB Nông nghiệp, Thành phố HCM, trang 342 – 343. Hà Ký – Bùi Quang Tề (2007), Kí sinh trùng cá nước ngọt Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, trang 212 – 213. Lê Ngọc Quân (2005), Đánh giá mức độ nhiễm ấu trùng Metacercaria trên cá Rohu, mè trắng nuôi tại xã Nghĩa Lạc- huyện Nghĩa Hưng - tỉnh Nam Định, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp. Ngô Sỹ Vân (2007), Giáo trình ngư loại học, Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I. Bài Giảng bệnh cá , tôm. Trung tâm nghiên cứu thủy sản III, 1991. Lớp tập huấn quốc gia về bệnh cá tôm với sự bảo trợ của dự án FAO,GCP/INT/526/JPN. Cá nước ngọt Việt Nam – tập 1, 2006. Trần Thị Hà (1999), Nghiên cứu ký sinh trùng ở nhóm cá chép Ấn Độ (Labeo rohita) và (Cirrhina mrigala) giai đoạn cá con nuôi tại Đình Bảng (Bắc Ninh), Đông Anh (Hà Nội) và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra, Luận văn Thạc sỹ Nông nghiệp, 1999. Đỗ Thị Hoà, Bùi Quang Tề, Nguyễn Hữu Dũng, Nguyễn Thị Muội (2004), Giáo trình Bệnh học thủy sản – Trường Đại học Thủy sản Nha Trang, 2004, NXB Nông nghiệp, Thành phố HCM, trang 342 – 343. Nguyễn ngọc Phước, Bệnh và Phương pháp chẩn đoán bệnh, Đại học Nông Lâm Huế, 2008. Trương Thị Hoa, 2008, “Nghiên cứu thành phần loài ký sinh trên cá Dầy Cyprinus centralus tại Thừa Thiên Huế”, Luận văn thạc sỹ nông nghiệp. B. Tài liệu nước ngoài Richard Arthur J History of fisheris parasitology in southeast Asia. In “perspective in Asia Fisheries”. Edited by sena S.De. Silva. Asia fisheries society, Manila, Philippine, 1996. Arthur J.R. and S. Lumanlan-Mayo 1997, checklist of the parasites of fishes of the Philippines, FAO fisheries technical paper, No 369, Rame. Chen chin leu – chủ biên – sở thủy sản Hồ Bắc. Khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt Hồ Bắc, nhà xuất bản khoa học Trung Quốc (tiếng Trung), 1973. Lom J. And G.Grupcheva 1976, “Protozoa Parasites of Carp (Cyprynus carpio L): A Comparative study of occurrence in Bulgaria and Czechoslovakia, with the description of Trichodina perforata sp. n” Folia Parasitologica, Praha, 23, pp. 289-300. Andrew Mitchell (2005), “Centrocestiasis: a serious gill trematode problem in cultured and wild fishes” TropocalMedicine and Health, 33(2), pp11-14. Laboratorio (1999), “The Introduction and Dispersal of Centrocestus fomosanus (Nishigori, 1924) (Digenea: Heterophyidae) in Mexico”, Iournal of wildlife diseases, 25(2), 23-25. Tonguthai and Chanratchakool. P (1992), The use of chemothepeutic agentsin aquaculture in ThaiLand. In: Diseases in Asian aquaculture I.M Shariff, R.P.Subasinghe& J.richard Arthur (eds), P 555, 565, Fish health section Asian fisheries socienty, Manila, Philipines. Kim Van Van & Dinh Thi Thuy (2008), Comparison of Diagnostic Methods for the Detection of Parasites in Fish, Journal of Science and Development, Hanoi University of Agriculture, Special Issue April 2008. Agricultural Publishing House, Pages 136 – 144. Journal of Agriculture & Rural Development, Vol 5, No 1&2 2007.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docTìm hiểu tình hình nhiễm và biện pháp xử lý ngoại ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép ở giai đoạn cá hương và cá giống tại khu vực trường Đại học Nông .doc
Luận văn liên quan