Đề tài Triển khai quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam

MỞ ĐẦU SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ T ÀI --------------------------- Việt Nam là thành viên thứ 150 của Tổ chức Th ương mại Thế giới WTO (World Trade Orgnization) Sau 20 năm thực hiện đường lối đổi mới kinh tế v à chủ trương tăng cường mở rộng kinh tế đối ngoại, hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng v à hơn 11 năm kiên trì đàm phán đa phương , song phương - ngày 07/11/2006 đã đến: Việt Nam chính thức được kết nạp vào WTO và là thành viên thứ 150 của tổ chức này. Bằng cột mốc lịch sử thời gian này, nước ta bước vào “sân chơi mới” trong bối cảnh thế giới đầy biến động v à bất ổn khó có thể dự báo chính xác trước được. Những bất ổn trong giá cả hàng hoá (Ví dụ như Dầu mỏ hiện giờ - ngày 3/3/2008 đ ã tăng đến 102USD/thùng; vàng hơn 19 tri ệu VND / lượng) và các biến số tài chính khác tác động đến các thị trường: tiền tệ, chứng khoán, hàng hoá, đến nền kinh tế quốc gia, đến đời sống của người dân Kết thúc năm tài chính 2007 kinh t ế Việt Nam không khả quan lắm : Chỉ sau hơn một năm chính thức đứng v ào WTO, kết thúc năm tài chính 2007 mặc dù GDP tăng 8,5% cao nh ất từ trước đến giờ, nền kinh tế nước ta có nhiều dấu hiệu đứng trước khó khăn v à bất lợi. Tính đến cuối tháng 3/2008 lạm phát gia tăng hơn 16% so với cùng kỳ năm 2007 và chưa có dấu hiệu chựng lại . Công cụ tài chính phái sinh góp phần phòng ngừa rủi ro cho các chủ thể của nền kinh tế: Quá trình phát triển nền kinh tế thị trường, đã từ lâu Mỹ và Châu Âu đã phát minh ra và sử dụng công cụ tài chính phái sinh để phòng ngừa rủi ro cho các chủ thể của nền kinh tế vì có thể thấy rằng các hoạt động trong nền kinh tế l à không thể né tránh hết được mọi rủi ro.Tuy vậy, các sản phẩm tài chính phái sinh phổ biến như: quyền chọn (option), kỳ hạn (Forward), giao sau (Future), hoán đổi (swap) hiện nay cho phép chuyển giao trực tiếp rủi ro tài chính cho bên thứ ba sẵn sàng chấp nhận rủi ro đó. Thực tế cho thấy rằng sản phẩm tài chính phái sinh đã được triển khai tại Việt Nam từ năm 2003 đến nay nhưng còn mờ nhạt chưa được các chủ thể kinh tế mặn mà cho lắm; đặc biệt quyền chọn cổ phiếu chưa được quan tâm đúng mức nên chưa có mặt giao dịch trên thị trường. Như vậy từ nhận thức được rằng Việt Nam đang từng bước hội nhập vào nền kinh tế thế giới; cơ hội mở ra nhưng trên bước đường đi tới còn rất cam go và đầy thách thức. Kết thúc năm tài chính 2007 sau hơn một năm là thành viên WTO kinh tế Việt Nam đứng trước khó khăn do lạm phát tăng cao, thị trường chứng khoán sa sút , chỉ số VN-index giảm mạnh. Các nền kinh tế các nước phát triển đã từng và đang tiếp tục sử dụng sản phẩm tài chính phái sinh để bảo hiểm và phòng ngừa rủi ro; trong đó có quyền chọn cổ phiếu phát triển mạnh mẽ và đây chính là điều Việt Nam cần phải học tập, kế thừa để phòng vệ cho mình, phát huy công năng của nó nhằm góp phần hỗ trợ cho các thị trường khác vận hành trôi chảy, mang đến hiệu quả cao nhất cho nền kinh tế; thực hiện ba ti êu chí: hội nhập với nền kinh tế thế giới, phát triển ổn định bền vững, dân giàu nước mạnh xã hội dân chủ văn minh. Với những lý do v à sự cần thiết như trên tôi xin chọn lựa đề tài: “Triển khai quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ cho mình. Sản phẩm quyền chọn cổ phiếu khi được triển khai sẽ tạo dựng niềm tin cho nhà đầu tư vì có công cụ phòng vệ cho mình, không phải lâm vào trạng thái tâm lý hoảng loạn trước sự thăng trầm bởi giá cổ phiếu trồi sụt bất thường trên TTCK, làm cho TTCK giao dịch sôi động hơn nữa. Luận Văn bao gồm: 1/ Mục tiêu- Nội dung nghiên cứu: ã Nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về thị trường quyền chọn (option) để làm nền tảng khảo sát thực trạng triển khai công cụ này trên thị trường chứng khoán Việt Nam. ã Trọng tâm của đề tài là nghiên cứu, thu thập thông tin để tìm hiểu và phân tích những thuận lợi khó khăn gặp phải cũng như tổng kết những kết quả đạt được ban đầu cùng các triển vọng sắp tới từ việc thực hiện các loại quyền chọn hiện có tại Việt Nam và qua đó giúp đưa ra các gi ải pháp thiết thực v à hiệu quả cho phát triển và làm sôi động hơn nữa các giao dịch quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt nam 2/ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Về cơ sở lý luận, giới thiệu chung các loại sản phẩm tài chính phái sinh được giao dịch phổ biến trên thế giới, phân tích giao dịch quyền chọn các loại , đặc biệt là quyền chọn cổ phiếu . 3/ Phương pháp nghiên cứu: ã Phương pháp lý luận cơ sở là phương pháp Duy vật biện chứng ã Phương pháp nghiên cứu là phương pháp thống kê. ã Nguồn dữ liệu thứ cấp (nguồn thông tin từ sách báo, tạp chí chuyên ngành, các website trên internet ) 4/ Kết cấu luận văn: ã Lời cam đoan ã Danh mục chữ viết tắt, bảng biểu, hình vẽ đồ thị. ã Mục lục. ã Mở đầu: Sự cần thiết của đề tài. ã Chương 1: Tổng quan về quyền chọn và quyền chọn cổ phiếu. ã Chương 2: Thực trạng thị trường Chứng khoán Việt Nam v à điều kiện hình thành thị trường quyền chọn cổ phiếu. ã Chương 3: Giải pháp triển khai giao dịch quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam. ã Phụ lục ã Tài liệu tham khảo

pdf85 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/04/2013 | Lượt xem: 1763 | Lượt tải: 2download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Triển khai quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
thế hội nhập với nền tài chính thế giới. Luận Văn Thạc sĩ - 59 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TRIỂN KHAI GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRÊN THỊ TRUỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM. -------------------------- 3.1. Quy trình xây dựng đưa quyền chọn cổ phiếu từng bước vận hành vào thực tiễn thị trường chứng khoán Việt Nam: Thị trường quyền chọn cổ phiếu là một bộ phận của thị trường chứng khoán, vì thế thị trường này chỉ có thể phát triển khi TTCK phát triển và ổn định. Do đó để có thể đưa quyền chọn cổ phiếu vào vận hành trong nền kinh tế cần giải quyết hai vấn đề: (i) phải hoàn thiện và thúc đẩy TTCK Việt Nam phát triển trong bối cảnh hội nhập với thị trường tài chính thế giới và (ii) hình thành những điều kiện cần thiết tạo c ơ sở cho sự ra đời quyền chọn cổ phiếu trong t ương lai. 3.1.1. Xây dựng điều kiện tiền đề cho thị trường quyền chọn cổ phiếu:  Trên thế giới, quyền chọn đã xuất hiện từ rất lâu nhưng mãi đến năm 1973 thì thị trường quyền chọn mới chính thức đ ược giao dịch tập trung tại Mỹ.  Về mặt nguyên lý TTCK thực sự sôi động, đầu tư chứng khoán trở thành một nhu cầu tất yếu của mọi người thì thị trường quyền chọn mới có thể phát triển đ ược.Vì thế để có thể ứng dụng quyền chọn cổ phiếu v ào thị trường chứng khoán Việt Nam một cách suôn sẻ thì cần có một sự chuẩn bị thật chu đáo các điều kiện cần thiết cho sự ra đời của một công cụ tài chính mới này.  Như đã trình bày ở chương 2, TTCK Việt Nam trong thời gian qua biến động dữ dội, nhiều nhà đầu tư thua lỗ nặng dẫn đến tâm trạng hoảng loạn mất l òng tin vào thị trường chứng khoán. Với những biến động bất th ường trên thị trường chứng khoán như vậy, sự ra đời của quyền chọn cổ phiếu thực sự l à một giải pháp tốt cho Luận Văn Thạc sĩ - 60 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú TTCK Việt nam, đồng thời đó cũng là một bước nhảy để đưa TTCK Việt Nam lên một tầm cao mới phát triển cùng TTCK khu vực.  Nhìn chung các điều kiện về cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, công nghệ thông tin tích dồn được trong quá trình hơn 7 năm qua cũng có nhiều tiến bộ; nhiều công ty chứng khoán đã ra đời và đã tự mình trang bị kỹ thuật hiện đại hoặc thông qua việc liên kết hợp tác với nước ngoài để tìm hiểu và học hỏi về khoa học kỹ thuật ti ên tiến nhằm trang bị cho sàn giao dịch của mình.  Luật chứng khoán đã ra đời và có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007 đây là cơ sở pháp lý cho TTCK cũng như thị trường quyền chọn vận hành tự giác và có giám sát.  Về mặt nhân sự, đội ngủ nhân vi ên phục vụ cho thị trường cũng khá đầy đủ về số lượng và từng bước được cải thiện và nâng cao về chất lượng. Thông qua sự ra đời và phát triển các quyền chọn vàng, quyền chọn ngoại tệ nhà đầu tư cũng nắm khá rõ về các công cụ quyền chọn và đây là yếu tố tiền đề rất quan trọng để bắt đầu h ình thành thị trường quyền chọn cổ phiếu.  Có thể nói rằng Việt Nam hiện giờ đ ã có khá đầy đủ và chín muồi các điều kiện cần thiết để bước vào giai đoạn chuẩn bị hình thành thị trường quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Các giai đoạn phát triển thị tr ường quyền chọn cổ phiếu có thể chia thành: (i) Giai đoạn chuẩn bị và thực hiện thí điểm và (ii) giai đoạn hoàn thiện và phát triển thị trường quyền chọn.  Lộ trình xây dựng thị trường quyền chọn cổ phiếu Việt Nam: Trên cơ sở thực tế, nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn khó khăn do lạm phát tăng cao và Chính phủ đang nỗ lực tập trung ổn định kinh tế vĩ mô. Các dấu hiệu khách quan cho thấy chính sách thắt chặt tiền tệ cứu lạm phát của Chính phủ đ ã dần dần phát huy tác dụng và theo sự nhận định và đánh giá chung của các cấp có thẩm quyền trong và ngoài nước, hy vọng cuối năm 2008 nền kinh tế Việt Nam sẽ v ượt Luận Văn Thạc sĩ - 61 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú qua cú sốc suy thoái hiện nay, giữ mức tăng trưởng GDP ở mức 7% năm, TTCK sẽ phục hồi sức khoẻ, trở lại hoạt động b ình thường tiếp tục thu hút vốn đầu t ư trong và ngoài nước. Và cũng căn cứ vào kế hoạch xây dựng TTCK phái sinh giai đoạn 2009-2010 trong chiến lược phát triển TTCK của Chính phủ đến năm 2010 tạo thuận lợi cho quyền chọn cổ phiếu đ ược đưa vào giao dịch trên thị trường, xin được đề nghị lộ trình triển khai giao dịch quyền chọn cổ phiếu nh ư sau:  Giai đoạn chuẩn bị và thực hiện thí điểm sẽ tập trung hoàn tất trong 2 năm 2009-2010 nhằm tạo nền tảng cho thị trường phi tập trung (OTC) giao dịch quyền chọn cổ phiếu.  Giai đoạn hoàn thiện và phát triển thị trường quyền chọn cổ phiếu thực hiện trong 3 năm 2011 - 2013, nhằm xây dựng xong sàn tập trung giao dịch quyền chọn cổ phiếu và từ đây có thể hội nhập vào các thị trường khu vực, thế giới. Tiến trình các bước thực hiện được trình bày cụ thể theo mục 3.1.2 và 3.1.3 dưới đây: 3.1.2. Giai đoạn chuẩn bị và thực hiện thí điểm: Công tác chuẩn bị trước khi thị trường quyền chọn được hình thành có vai trò rất quan trọng cho sự điều hành thị trường thuận lợi sau này. Công tác chuẩn bị phải được thực hiện từ khâu đơn giản nhất đến khâu phức tạp nhất. Nhiệm vụ của giai đoạn này là xây dựng các nền tảng cho thị tr ường quyền chọn. Cần phải có sự chuẩn bị về cơ sở luật điều chỉnh thị trường, xây dựng nền tảng nhận thức cho người dân, hình thành đội ngủ cán bộ phục vụ thị tr ường, chuẩn bị kế hoạch cho việc tạo dựng danh mục h àng hoá cho thị trường quyền chọn, cơ sở vật chất kỹ thuật, phần mềm… Giai đoạn này đề nghị hoàn tất trong năm 2009, theo sơ đồ thực hiện dưới đây: Luận Văn Thạc sĩ - 62 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú Việc đưa giao dịch quyền chọn cổ phiếu vào thị trường phải lựa chọn thời điểm ph ù hợp khi mọi điều kiện đã được chuẩn bị chu đáo. Trong giai đoạn n ày cần hội đủ các điều kiện sau: - TTCK trở nên sội động, nhiều nhà đầu tư tham gia giao dịch trên thị trường. - Không còn sự khống chế của biên độ dao động giá. - Chỉ số chứng khoán phản ánh đúng t ình trạng “sức khoẻ” của nền kinh tế . - Nhu cầu bảo hiểm rủi ro thị trường biến động cũng như nhu cầu dùng quyền chọn làm công cụ kiếm lời đã hình thành trong tư tưởng của các nhà đầu tư tài chính. - Nghiệp vụ bán khống đã được nhận thức đầy đủ và trở thành quen thuộc đối với các nhà đầu tư trên thị trường. Lúc này mới xúc tiến công việc đưa quyền chọn cổ phiếu vào giao dịch. Uỷ ban chứng khoán Nhà nước bầu ra tổ chức phát hành quyền chọn, tổ chức này phải có Pháp luật cho TT quyền chọn Danh mục hàng hoá cho TT quyền chọn Cơ sở vật chất, phần mềm Hoàn thành giai đoạn chuẩn bị Đội ngũ nhân viên phục vụ thị trường Trang bị kiến thức cho nhà đầu tư Các yếu tố khác Cơ quan quản lý và điều hành thị trường Giai đoạn thực hiện thí điểm Luận Văn Thạc sĩ - 63 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định. Sơ đồ thể hiện vai trò của tổ chức phát hành quyền chọn như sau: + Tổ chức phát hành quyền chọn sẽ là một đơn vị được lựa chọn, có uy tín, có tr ình độ chuyên môn và đủ tiềm lực về vốn và cổ phiếu cơ sở để thanh toán khi hợp đồng được yêu cầu thực hiện. + Tổ chức này sẽ phải có đầy đủ nguồn nhân lực và các chuyên gia để có thể định được giá quyền chọn, đưa ra quy mô hợp đồng, giá thực hiện phù hợp với tình hình thị trường Việt Nam hiện tại. Trong giai đoạn đầu, tổ chức phát hành quyền chọn sẽ được giám sát chặt chẽ bởi UBCKNN nhằm mục đích ổn định thị trường. Tổ chức này ngoài việc phát hành quyền chọn nên thêm dịch vụ mua lại các hợp đồng quyền chọn đ ã bán ra khi nhà đầu tư có yêu cầu để tăng thêm tính thanh khoản cho các hợp đồng đã được phát hành. Thời gian này, tổ chức phát hành nên chú trọng phổ biến về quyền chọn l à chính và chưa nên chú trọng mục tiêu lợi nhuận. Hợp đồng quyền chọn Tổ chức phát hành quyền chọn Uỷ Ban chứng khoán Nhà nước Quy mô hợp đồng Định giá (phí) quyền chọn Giá thực hiện Thị trường quyền chọn sơ khai Luận Văn Thạc sĩ - 64 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú Nhà đầu tư muốn mua quyền chọn của công ty phát h ành thì phải thông qua công ty chứng khoán theo mô h ình sau: Công ty chứng khoán chỉ đóng vai trò là trung gian giữa nhà đầu tư và công ty phát hành quyền chọn. Nhà đầu tư muốn tham gia giao dịch phải thực hiện ký quỹ để đảm bảo việc thanh toán tiền phí hợp đồng khi lệnh mua quyền đ ược thực hiện. Giai đoạn này có thể kéo dài trong vài năm (cố gắng hoàn tất cuối 2010) cho đến khi nhà đầu tư bắt đầu quen với công cụ tài chính mới mẻ này, họ có một vài kinh nghiệm trong việc sử dụng các công cụ t ài chính phái sịnh, đồng thời các cơ quan quản lý cũng đúc kết được những kinh nghiệm trong việc điều h ành thị trường. Trong giai đoạn này các điều kiện để phát triển thị trường như hoàn thiện TTCK, hình thành các chế tài nhằm đảm bảo việc thực hiện quyền v à nghĩa vụ của các thành viên có liên quan, phổ cập kiến thức quyền chọn, tạo h àng hoá cho thị trường quyền chọn, đào tạo nguồn nhân lực… cũng cần được tiếp tục thực hiện ngày càng sâu rộng hơn. Giải pháp cho giai đoạn này được đề cập trong nhóm “Giải pháp tổng thể nhằm hoàn thiện và phát triển TTCK Việt Nam” ở mục 3.2 dưới đây. 3.1.3. Giai đoạn hoàn thiện và phát triển thị trường quyền chọn - Mô hình vận hành quyền chọn cổ phiếu trên thị trường tập trung Khi đã xây dựng được một số nền tảng, đúc kết đ ược những kinh nghiệm nhất định cho công tác quản lý và điều hành và người dân đã quen với công cụ quyền chọn cổ phiếu, chúng ta tiến hành giai đoạn hoàn thiện thị trường. Nhà đầu tư ( Người mua quyền chọn) Công ty chứng khoán Công ty phát hành quyền chọn Luận Văn Thạc sĩ - 65 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú Trong giai đoạn này hệ thống luật cho cho thị trường quyền chọn tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện, hoàn chỉnh hệ thống giao dịch, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và công nghệ đảm bảo cho giao dịch trên thị trường được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi ( Lộ trình 2011- 2013 ):  Bắt đầu cho phép một số tổ chức khác nhau có năng lực tham gia phát h ành quyền chọn, kể cả nhà đầu tư cá nhân. Các tổ chức này phải đáp ứng một số tiêu chuẩn về trình độ của đội ngủ nhân lực, khả năn g tài chính, uy tín cũng như kinh nghiệm tham gia TTCK và được sự chấp thuận của UBCKNN.  Chú trọng đưa ra các tiêu chuẩn hoạt động của các thành viên tham gia, đặc biệt là các tổ chức phát hành quyền chọn và công ty chứng khoán, có những chế tài nghiêm khắc cho những hành động làm ảnh hưởng xấu đến quyền lợi của các nh à đầu tư.  Cơ quan thanh toán hợp đồng quyền chọn được hình thành và là trung gian giao dịch giữa các bên tham gia thị trường, nghĩa là trở thành đối tác giao dịch của hai bên tham gia mua và bán quyền chọn cổ phiếu. Đây cũng l à cơ hội đưa ra các quy tắc về giao dịch, ngày đến hạn của hợp đồng…Tổ chức n ày sẽ thực hiện thu phí đối với thành viên tham gia tổ chức. Thành viên của tổ chức sẽ là các công ty chứng khoán đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu của cơ quan quản lý quyền chọn. Giải pháp cho giai đoạn hoàn thiện và phát triển thị trường quyền chọn được đề cập trong nhóm “Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn cổ phiếu” ở mục 3.3 dưới đây. Luận Văn Thạc sĩ - 66 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú  MÔ HÌNH THỊ TRƯỜNG GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN CỔ P HIẾU TẬP TRUNG: Trên cơ sở tham chiếu mô hình thị trường quyền chọn trên thế giới như CBOE chúng ta có thể xây dựng một mô h ình giao dịch quyền chọn cổ phiếu ban đầu cho Việt Nam như sơ đồ dưới đây: SƠ ĐỒ GIAO DỊCH QUYỀN CHỌN CỔ PHIẾU TRÊN SÀN TẬP TRUNG Trên mô hình trong giai đoạn hoàn thiện và phát triển thị trường quyền chọn này cần xây dựng những tiêu chí có liên quan đến sự vận hành giao dịch quyền chọn cổ phiếu trên thị trường tập trung như đã đề nghị ở mục 1.3.4. chương 1. Thông tin thị trường Nhà đầu tư (Bên mua) Nhà đầu tư (Bên bán) SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Trung tâm lưu ký- thanh toán bù trừ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN Luận Văn Thạc sĩ - 67 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú 3.2. Giải pháp tổng thể nhằm hoàn thiện và phát triển thị trường chứng khoán: 3.2.1. Từng bước vận hành Luật chứng khoán vào TTCK Việt nam: Luật là một trong những yếu tố quan trọng trong việc giúp thị tr ường hoạt động ổn định, an toàn, đảm bảo quyền lợi cho mọi thành viên tham gia giao d ịch. Hệ thống pháp luật càng rõ ràng và cụ thể thì khả năng thị trường hoạt động hiệu quả càng cao, góp phần củng cố lòng tin của nhà đầu tư; đặc biệt là nhà đầu tư nước ngoài. Bộ tài chính và UBCKNN nên kết hợp với các Bộ, Ban ngành khác như NHNN, Tổng cục thuế… trong việc ban h ành các văn bản pháp lý rõ ràng về các vấn đề như cổ phần hoá ngân hàng thương mại nhà nước, đưa cổ phiếu ngân hàng lên sàn; các vấn đề về thuế, phí, lệ phí trong lĩnh vực đầ u tư chứng khoán… nhằm tránh sự chồng chéo và không đồng bộ giữa các văn bản riêng rẽ do từng cơ quan ban hành. Luật chứng khoán đã có hiệu lực từ 01/01/2007 đáp ứng yêu cầu phát triển thị trường và là giải pháp hết sức quan trọng v ì:  Luật chứng khoán ra đời góp phần hoàn chỉnh thể chế về kinh tế thị trường ở nước ta, quán triệt tinh thần đổi mới của Đảng v à Nhà nước thể hiện trong Nghị quyết Trung Ương khoá IX cũng như Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng S ản Việt Nam lần thứ X.  Luật chứng khoán ra đời khắc phục những khuyết điểm bất cập trong khuôn khổ pháp lệnh chứng khoán và TTCK ở Nghị định 144, đồng bộ hoá với Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư mà Quốc hội đã thông qua. Điều này hết sức quan trọng vì tạo ra môi trường pháp lý ổn định cho các nh à đầu tư.  Luật chứng khoán ra đời tạo điều kiện h ình thành khuôn khổ pháp luật trong việc quản lý , giám sát thị trường, đảm bảo nguyên tắc hoạt động thị trường: công khai, công bằng, minh bạch và bảo vệ lợi ích hợp pháp của các nh à đầu tư. Luận Văn Thạc sĩ - 68 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú  Luật chứng khoán ra đờ i tạo điều kiện cho TTCK phát triển nhanh v à bền vững, tăng cường khả năng huy động vốn của Chính phủ, các doanh nghiệp tr ên TTCK cho đầu tư và phát triển kinh tế, tạo cơ hội đầu tư cho công chúng nhằm tăng nhanh luồng vốn luân chuyển.  Luật chứng khoán tạo điều kiện cho TTCK Việt Nam hội nhập với TTCK khu vực và quốc tế. Thông qua hoạt động đầu t ư gián tiếp có khả năng khơi thông nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam cũng như tạo cơ hội để các nhà đầu tư Việt Nam đầu tư ra nước ngoài. Một số Văn bản nhằm sửa đổi và hoàn thiện hệ thống Luật cho TTCK:  Quyết định số 13/2007/QĐ -BTC ban hành kèm theo quyết định này là mẫu bản cáo bạch trong hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng và hồ sơ đăng ký niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán, tr ung tâm giao dịch chứng khoán .  Thông tư số 17/2007/TT-BTC quy định cụ thể về hồ sơ đăng ký chào bán chứng khoán ra công chúng, hồ sơ chào bán chứng khoán ra nước ngoài và các trường hợp cụ thể khác.  Hướng dẫn sửa đổi thông tư số 60/2004/TT-BTC ngày 18/6/2004 của Bộ tài chính, hướng dẫn việc phát hành cổ phiếu nhằm tháo gỡ những v ướng mắc trong việc phát hành cổ phiếu ra công chúng.  Quyết định số 15/2007/QĐ -BTC ngày 24/12/2007 về việc ban hành điều lệ mẫu áp dụng cho các công ty niêm yết trên Sở/ Trung tâm giao dịch chứng khoán.  Quyết định số 15/2008/QĐ -BTC ban hành quy chế hành nghề chứng khoán. Quy chế mới này buộc những người hành nghề chứng khoán hiện nay phải tham gia thi sát hạch để cấp lại chứng chỉ hành nghề trước ngày 31/12/2009. Luận Văn Thạc sĩ - 69 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú Theo quy chế này, người hành nghề chứng khoán là người được UBCK cấp chứng chỉ hành nghề chứng khoán và đang làm việc tại các vị trí nghiệp vụ chuy ên môn trong công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu t ư chứng khoán. Chứng chỉ hành nghề chứng khoán bao gồm các loại: chứng chỉ hành nghề môi giới chứng khoán, chứng chỉ hành nghề phân tích tài chính và chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ. 3.2.2. Hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật: Đây là giải pháp không thể thiếu được vì nó không chỉ tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển các giao dịch trong nước, đặc biệt giao dịch các loại sản phẩm cao cấp như quyền chọn cổ phiếu, đảm bảo được việc niêm yết và giao dịch chéo với các Sở giao dịch trong khu vực và trên thế giới, phù hợp với quá trình hội nhập quốc tế. 3.2.3. Tăng cung nhằm kích cầu và kích cầu tạo hàng hoá cho TTCK: Muốn có một thị trường chứng khoán sôi động th ì quan trọng nhất là làm sao đưa vào thật nhiều hàng hoá với chất lượng cao, vì vậy cần: 3.2.3.1. Khuyến khích phát triển các công ty cổ phần đại chú ng và khuyến khích các doanh nghiệp có đủ điều kiện lên niêm yết tại thị trường chứng khoán tập trung: Như ta biết về nguyên lý, các công ty cổ phần nói chung là một trong những thành phần chủ lực tham gia vào quá trình cung ứng hàng hoá cho thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, xét về mức độ cung có thể phân biệt th ành hai loại đó là công ty cổ phần nội bộ và công ty cổ phần đại chúng. Đối với công ty cổ phần nội bộ, cổ phiếu chỉ phát h ành ở mức độ giới hạn và chủ yếu trong phạm vi những thành viên sáng lập; số lượng ít nhưng mệnh giá rất cao.Trái lại, đối với công ty cổ phần đại chúng, cổ phiếu đ ược phát hành rộng rãi trong công chúng với số lượng lớn và mệnh giá thấp. Do đó, nếu số lượng công ty cổ phần đại chúng càng nhiều thì số lượng và chủng loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán sẽ càng tăng và đa dạng hơn nữa.Trong điều kiện đó, nhà đầu Luận Văn Thạc sĩ - 70 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú tư sẽ có thêm nhiều cơ hội lựa chọn và phân tán rủi ro trong đầu tư, thiết lập danh mục đầu tư hợp lý cho mình hơn. Việc gia tăng số lượng công ty cổ phần đại chúng có thể được tiến hành theo hai hướng: thành lập mới công ty cổ phần đại chúng hoặc công chúng hoá các công ty cổ phần nội bộ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc khuyến khích các doanh nghiệp có đủ điều kiện niêm yết lên niêm yết tại thị trường tập trung. Để làm được điều này cần thiết chính phủ nên có những chính sách khuyến dụ li ên quan đến thuế như kéo dài thời hạn ưu đãi thuế và giảm thuế suất cho các tổ chức ni êm yết chẳng hạn. Cũng trong tiêu chí này, việc tiếp tục gia tăng cổ phần hoá các doanh ngh iệp Nhà nước ở cấp độ mạnh hơn nữa và hiệu quả hơn nữa. 3.2.3.2. Đẩy mạnh việc thành lập các quỹ đầu tư cổ phiếu tạo hàng hoá phong phú cho thị trường: Để nâng cao hơn nữa tính cạnh tranh của thị trường chứng khoán, tạo điều kiện để quyền chọn đ ược nhanh chóng đưa vào thị trường này thì hiện nay Chính phủ nên cải thiện mội trường pháp lý, đẩy mạnh việc thành lập các quỹ đầu tư trong đó có quỹ đầu tư cổ phiếu; là dạng quỹ đầu tư chuyên đầu tư vào một loại cổ phiếu thường là những công ty có uy tín trên thị trường. Hoặc chuyên đầu tư vào một ngành kỹ nghệ nhất định như: cổ phiếu ngành điện tử tin học, cổ phiếu ngành địa ốc, ngành xăng dầu… Muốn thế, ngay bây giờ phải có các định hướng cụ thể của Chính phủ để phát h ành các cổ phiếu của từng ngành, thúc đẩy các ngành này trở thành những ngành kinh tế mũi nhọn trọng điểm. 3.2.3.3. Tạo nhận thức về sản phẩm quyền chọn cổ phiếu: Đây là biện pháp kích cầu trên thị trường chứng khoán. Như ta biết sản phẩm quyền chọn cổ phiếu đã được triển khai từ lâu trên thị trường chứng khoán thế giới nhưng với Việt Nam ta thì nó còn mới mẻ chưa được triển khai. Sản phẩm này không chỉ liên quan đến nhà đầu tư, nhà phát hành mà còn liên quan đến nhà quản lý thị trường giao dịch sản phẩm đó. Do vậy, việc tạo ra nhận thức phải đồng b ộ ở cả ba đối tượng nói trên bằng các biện pháp thiết thực nh ư: hội thảo, giáo dục học đường, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng. Một khi đ ã có nhận thức đầy đủ về sản phẩm th ì các nhà đầu tư sẽ tự nguyện tham gia thị trường. Luận Văn Thạc sĩ - 71 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú 3.2.4. Có chính sách hấp dẫn hơn nữa nhằm tăng cường thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào TTCK Việt Nam: Nhà đầu tư nước ngoài, cá nhân cũng như tổ chức thông thường đầu tư vào TTCK với mục đích lâu dài. Vì thế, họ đánh giá một thị trường hấp dẫn hay không thể hiện ở các yếu tố: pháp lý, tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp và tính minh bạch của thị trường là chính. Nhà đầu tư nước ngoài chỉ tham gia thị trường khi họ đánh giá thị trường đó thực sự có lợi cho hoạt động đầu t ư của họ và họ được đối xử công bằng so với các nhà đầu tư khác. Do đó cần thiết phải:  Xây dựng các danh mục hàng hoá có chất lượng, tiềm năng phát triển tốt để thu hút sự quan tâm và đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài.  Tạo sự công bằng hơn đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc mở tài khoản giao dịch, kiểm soát hay trong việc mua lại cổ phần của doanh nghiệp phát h ành, tăng tính minh bạch của thị trường bằng việc cải thiện quyền tiếp nhận thông tin thông qua các chế độ báo cáo hoàn chỉnh, công bố các thông tin thông qua các chế độ bá o cáo hoàn chỉnh, công bố các thông tin quan trọng của các công ty ni êm yết.  Khuyến khích các tổ chức đầu tư nước ngoài mở chi nhánh hoạt động ở Việt Nam, đẩy mạnh việc thành lập các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư chứng khoán có vốn nước ngoài bằng các ưu đãi theo luật đầu tư nước ngoài đối với các tổ chức trên. Mở rộng tỷ lệ sở hữu cổ phần của nh à đầu tư nước ngoài: Vấn đề này hiện nay có ý kiến đề nghị nâng tỷ lệ n ày lên 49% , ý kiến khác thì cho rằng cần phải nâng lên 51% thì mới có thể thu hút được sự quan tâm của giới đầu t ư nước ngoài vì tỷ lệ 49% chưa thật sự hấp dẫn, trong khi các c ơ quan quản lý thì lo ngại khi nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ tỷ lệ sở hữu quá cao sẽ l àm ảnh hưởng đến vai trò chủ đạo trong nền kinh tế của Nh à nước và gia tăng khả năng thao túng thị trường của nhà đầu tư nước ngoài. Luận Văn Thạc sĩ - 72 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú Để giải quyết vấn đề này, Bộ tài chính nên xem xét thực hiện phân loại các cổ phiếu của tổ chức phát hành ( cả niêm yết lẫn chưa niêm yết ) thành 3 loại: Cổ phiếu loại A, cổ phiếu loại B, cổ phiếu loại C: + Cổ phiếu loại A: Bao gồm cổ phiếu của các công ty thuộc ng ành trọng yếu mà Nhà nước cần thiết phải nắm quyền chi phối nh ư: Bưu chính viễn thông, Ngân hàng, Điện, Xăng dầu…Đối với loại cổ phiếu n ày tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài nên quy định ở mức tối đa 30% vốn cổ phần. + Cổ phiếu loại B: Bao gồm cổ phiếu của những ngành mà Nhà nước không cần nắm quyền chi phối nhưng thuộc những ngành quan trọng có ảnh hưởng nhiều đến những ngành khác như: xi măng, phân bón, xây d ựng…thì tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tối đa 49% vốn cổ phần. + Cổ phiếu loại C: Bao gồm cổ phiếu của các công ty thuộc những ng ành mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối v à cần nhiều vốn đầu tư cũng như kinh nghiệm quản lý, hợp tác quốc tế nh ư các ngành chế biến để xuất khẩu, du lịch, may mặc…thì không cần khống chế tỷ lệ sở hữu của nh à đầu tư nước ngoài. 3.2.5.Tăng cường công tác nghiên cứu phát triển thị trường và hợp tác quốc tế: Trong xu thế hội nhập kinh tế hiện nay, Việt Nam là thành viên thứ 150 của WTO không thể không đề cập đến giải pháp n ày: 3.2.5.1. Tăng cường công tác nghiên cứu phát triển thị trường: Thị trường chứng khoán Việt Nam mới bắt đầu khởi động n ên hàng hoá hiện nay còn đơn điệu về chủng loại nhưng một nguyên nhân muốn nhắc đến nữa đó là sự chưa tự tin từ cấp quản lý do hạn chế về mặt tr ình độ. Việc nghiên cứu phát triển của người quản lý phải đi trước một bước so với sự phát triển của thị tr ường. Tuy nhiên công tác này chưa được xem trọng ở Việt Nam. V ì thế , chính phủ cần dành ngân sách cho công tác chiến lược này. Luận Văn Thạc sĩ - 73 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú Việc nghiên cứu phát triển thị trường bao gồm cả hai thị trường: tập trung và OTC. Trước giờ, đa phần các văn bản pháp quy của Chính phủ ban h ành đều nhấn trọng tâm vào thị trường tập trung nên thị trường OTC cần được quan tâm hơn nữa. Hiện nay, Internet đóng vai trò quan trong trong đời sống và hoạt động xã hội. Trên thế giới, ở nhiều nước Internet là công cụ giúp người ta kinh doanh sinh lợi hữu hiệu như bán hàng qua mạng, kinh doanh chứng khoán, ngoại tệ, quảng cáo sản phẩm… Chúng ta cần phát huy lợi ích của mạng to àn cầu này. Xây dựng thị trường OTC sẽ giúp cho các nhà đầu tư không chỉ trong nước mà cả nước ngoài có thể tiếp cận với thị trường chứng khoán Việt Nam nhanh h ơn, thu hút được nhiều hơn nữa vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. 3.2.5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế: Giải pháp này nhằm tận dụng thuận lợi sẵn có của nền kinh tế nước ta là đang ở trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới. Các hình thức thực hiện phải bao quát ở tầm vĩ mô nh ư có chính sách hợp tác phát triển kinh tế với nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế…Ở tầm vi mô cần tổ chức các buổi hội thảo học tập kinh nghiệm của các tổ chức n ước ngoài; tổ chức khảo sát thị trường nước ngoài; tìm kiếm nguồn tài trợ cho từng dự án khả thi… Tuy nhiên, trong quá trình tiếp cận hội nhập này cần phải lưu ý giữ gìn đặc trưng vốn có của nền kinh tế cũng như bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam. 3.2.6. Nâng cao trình độ quản lý và hiểu biết chuyên môn về chứng khoán và TTCK cho các thành phần tham gia thị trường: 3.2.6.1. Nhân lực quản lý thị trường: Để có thể đảm đương được vai trò quản lý của mình, nhân lực này cần được Nhà nước đầu tư thích đáng, cụ thể như:  Một là duyệt chỉ tiêu biên chế cho các cơ quan quản lý ( Sở giao dịch, Trung tâm giao dịch ) trên cơ sở xem xét tính hợp lý các yêu cầu của các đơn vị.  Hai là quan tâm hơn nữa đến tuyển dụng nhân sự. Nhân sự tại các ph òng ban chuyên môn nhất định phải qua thi tuyển và quan trọng là chất lượng các cuộc thi sát hạch.Thông báo tuyển dụng phải đ ược công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua nhiều vòng thi khó để thực sự tìm được người tài. Luận Văn Thạc sĩ - 74 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú  Ba là có chính sách tiền lương thoả đáng để chiêu mộ và nắm giữ nhân tài. Việc tuyển dụng chỉ được thực sự thành công khi hậu tuyển dụng thật hấp dẫn, trước tiên là ở vấn đề lương bổng. Tiền lương phải dư sống thì mới không có tiêu cực xảy ra. Việc này Nhà nước cần khoán thu chi hoàn toàn cho Sở / Trung tâm chứng khoán.  Bốn là có chương trình, kế hoạch đào tạo lâu dài cho nhân viên Sở/ Trung tâm chứng khoán, có thể cử nhân viên luân phiên đi học trung và dài hạn (từ hai năm trở lên) ở các nước có thị trường chứng khoán phát triển nh ư: Anh, Mỹ, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật,…  Năm là mở rộng quan hệ hợp tác với các tổ chức quốc tế, Sở giao dịch các n ước để tranh thủ và học tập kinh nghiệm của họ nhằm vận dụng v ào thực tế nước mình. 3.2.6.2. Nhân lực quản trị công ty: Các tổ chức phát hành phải chuẩn bị chu đáo và tích cực các điều kiện để nâng cao hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh thông qua chiến l ược đổi mới công nghệ, chiến lược đầu tư và hơn cả là cách thức quản trị công ty, nền kinh tế thị tr ường sẽ dần dà đào thải những cá nhân kém năng lực. Tuy nhi ên, trong giai đoạn hiện nay khi đa số các công ty cổ phần lớn đều do Nhà nước nắm cổ phần chi phối, việc nâng cao tr ình độ quản lý cho đối tượng này là điều rất cần thiết, bởi v ì đa số người điều hành công ty cổ phần (vốn là người điều hành doanh nghiệp Nhà nước trước đây) là những người có năng lực quản lý kém. 3.2.6.3. Nhân lực môi giới: Việc nâng cao chất lượng hoạt động của bộ phận này không chỉ đòi hỏi sự nỗ lực của bản thân các công ty, mà còn có sự quan tâm của các cấp quản lý ở các mặt sau:  Nâng cao chất lượng các cuộc thi sát hạch cấp giấy phép h ành nghề.  Nghiêm khắc hơn trong xử lý các vi phạm của các công ty quản lý quỹ, công ty chứng khoán để đảm bảo pháp luật đ ược tuân thủ.  Củng cố hoạt động của Hiệp hội các nh à kinh doanh chứng khoán, tăng cường quan hệ hợp tác giữa các tổ chức trung gian để trao đổi kinh nghiệm v à kỹ năng tác nghiệp. Luận Văn Thạc sĩ - 75 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú 3.2.6.4. Nhà đầu tư: Về vấn đề nâng cao hiểu biết của dân chúng về thị tr ường chứng khoán; ngoài khía cạnh tuyên truyền, giáo dục cũng là khía cạnh quan trọng. Các trường đại học nên nghiên cứu thành lập thêm khoa Thị trường chứng khoán. Sự ra đời của khoa n ày sẽ giúp đào tạo lớp người đầu tư mới có kiến thức căn bản hơn về lĩnh vực mới mẻ này. Đã có kiến thức căn bản về thị trường, hơn ai hết người đầu tư rất cần một môi trường để thực hành. Môi trường này phải thực sự an toàn vì họ thực hành bằng đồng tiền thật của mình. Trung tâm giao dịch chứng khoán hoặc Sở giao dịch chứng khoán là nơi an toàn nhất cho họ. Nếu chúng ta muốn thu hút nhiều nh à đầu tư đến với thị trường tập trung thì chất lượng hàng hoá phải thực sự cao với một số lượng đủ lớn, đủ sức hấp dẫn số đông. C húng ta không thể trông chờ một khối lượng giao dịch thật lớn khi mà có ít người có hàng để bán và cũng có ít người muốn mua nó. 3.2.7. Triển khai nghiệp vụ bán khống tr ên TTCK: Theo khoản 9, điều 71 Luật chứng khoán quy định về nghĩa vụ của công ty chứng khoán (CTCK) như sau: “Thực hiện việc bán hoặc cho khách h àng bán chứng khoán khi không sở hữu chứng khoán và cho khách hàng vay chứng khoán để bán theo quy định của Bộ Tài chính”. Như vậy Luật chứng khoán Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế không có điều khoản cấm triển khai nghiệp vụ bán khống tr ên TTCK. Vì thế các CTCK hoặc các tổ chức nh ư các quỹ đầu tư chứng khoán đang nắm giữ cổ phiếu cần kiến nghị với UBCKNN nghi ên cứu sớm đưa ra quy chế cho vay chứng khoán phù hợp với pháp luật, tạo điều kiện c ho nghiệp vụ bán khống chứng khoán được triển khai, nhằm thu hút th êm nhiều nhà đầu tư tham gia vào thị trường, tạo thêm nhiều hàng hoá cho thị trường; tăng hiệu quả hoạt động của TTCK . Và đây cũng là bước chuẩn bị môi trường kinh doanh sau này cho nghiệp vụ bán khống quyền chọn cổ phiếu khi thị trường quyền chọn đã đi vào giai đoạn phát triển và ổn Luận Văn Thạc sĩ - 76 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú định; thời điểm đó nhà đầu tư cá nhân cũng có thể đứng vị thế nhà phát hành quyền chọn thực hiện bán khống tham gia giao dịch trên thị trường này. Được biết theo lộ trình phát triển CTCK của UBCKNN th ì đến năm 2009 nghiệp vụ bán khống mới có quy chế hướng dẫn thực hiện. Dẫu sao, nghiệp vụ bán khống muốn đ ược triển khai trên thị trường thì điều kiện tiên quyết phải có, được xem như là các giải pháp cần được nhanh chóng thực hiện :  Hoàn thiện TTCK trên cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ thông tin hiện đại, hàng hoá thật phong phú, luật pháp điều hành và giám sát thị trường thật nghiêm minh.  Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức của nh à đầu tư về thị trường cũng như về nghiệp vụ bán khống một cách thích đáng v à khi họ tham gia vào thị trường không phải bị bở ngở cũng nh ư không gây ra hiệu ứng bầy đàn làm rối loạn và thất bại thị trường. 3.3. Giải pháp phát triển thị trường quyền chọn cổ phiếu: Ở giai đoạn mà TTCK vận hành ổn định có nền nếp , thị trường quyền chọn cổ phiếu sơ khai (phi tập trung) đã được hình thành và đi vào hoạt động thì cần thiết tiếp tục hướng về phát triển thị trường quyền chọn cổ phiếu trên nguyên tắc giao dịch tập trung, các giải pháp đề nghị nên tiến hành là: 3.3.1. Hoàn thiện hệ thống luật pháp cho thị trường quyền chọn: Cũng như TTCK, thị trường quyền chọn cũng chỉ có thể tồn tại và phát triển khi quyền lợi của nhà đầu tư được đảm bảo, mọi thành viên tham gia thị trường đều được đối xử công bằng. Chính vì vậy, hoàn thiện hệ thống luật pháp cho thị trường quyền chọn là điều thực sự cần thiết. Luật cho thị trường quyền chọn dựa trên nền tảng của Luật chứng khoán, các hoạt động trên thị trường quyền chọn cũng tuân theo những quy định chung trên TTCK và những quy định trên thị trường quyền chọn nói riêng. Luật này sẽ điều chỉnh các vấn đề về quản lý thị trường, quy định thành viên giao dịch, giới hạn thực hiện đối với các thành viên Luận Văn Thạc sĩ - 77 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú tham gia, các hành vi cấm, chế tài cho các trường hợp vi phạm… Nhìn chung, nếu các quy định càng rõ ràng và chặt chẻ thì việc điều hành càng dễ dàng. 3.3.2. Thiết lập cơ quan quản lý và điều hành thị trường quyền chọn: Cơ quan điều hành quyền chọn là đơn vị có trách nhiệm quản lý và đảm bảo thị trường quyền chọn hoạt động ổn định v à công bằng đối với mọi nhà đầu tư. Cơ quan quản lý quyền chọn sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:  Đặt ra các tiêu chuẩn về chứng khoán cơ sở, lựa chọn những chứng khoán có tính thanh khoản cao, chất lượng tốt để làm cổ phiếu cơ sở cho các quyền chọn được phát hành.  Đưa ra các tiêu chuẩn về hợp đồng quyền chọn cổ phiếu nh ư quy mô hợp đồng, cổ phiếu cơ sở, giá thực hiện, tổ chức được phát hành quyền chọn…  Thiết lập công ty thanh toán hợp đồng quyền chọn trực thuộc với nhiệm vụ làm trung gian giao dịch và thanh toán giữa các thành viên trên thị trường quyền chọn. Công ty này sẽ là nơi giúp nhu cầu của người mua và người bán gặp nhau và cũng là tổ chức đảm bảo hợp đồng được thực hiện nếu có yêu cầu.  Giám sát hoạt động, việc cung cấp thông tin của các tổ chức có li ên quan và việc thực hiện hợp đồng, với mục đích đảm bảo thị tr ường hoạt động hiệu quả, ổn định, bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư, đặc biệt là người mua quyền.  Xử lý các trường hợp vi phạm, đảm bảo việc thực hi ện giao dịch và thanh toán giữa các bên tham gia được thuận lợi và nhanh chóng.  Củng cố bộ máy, nâng cao năng lực quản lý, giám sát của Nh à nước đối với thị trường vốn, từng bước tách bạch chức năng quản lý với chức năng giám sát các hoạt động của thị trường, sớm nghiên cứu thành lập cơ quan giám sát tài chính quốc gia, giúp Thủ tướng Chính phủ điều phối chính sách v à công cụ cảnh báo, điều hành, giám sát hoạt động tài chính tiền tệ ở tầm vĩ mô. 3.3.3. Tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho thị trường quyền chọn: Thị trường quyền chọn là một thị trường cao cấp và chuyên nghiệp được hình thành khi TTCK đã có một nền tảng nhất định trong nền kinh tế. Quyền chọn thông thường được giao dịch thông qua hệ thống máy tính v à phương tiện thông tin hiện Luận Văn Thạc sĩ - 78 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú đại. Do vậy, việc xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật v à nâng cấp hệ thống thông tin phục vụ cho thị trường quyền chọn là hết sức cần thiết. Trước hết TTCK cần được trang bị đầy đủ các điều kiện vật chất kỹ thuật để phục vụ tốt cho nhu cầu phát triển cho thị tr ường trong tương lai, từng bước ứng dụng các thông tin phần mềm hiện đại để phục vụ thị tr ường. Hiện nay, hệ thống thông tin của n ước ta vẫn chưa đáp ứng kịp với nhu cầu phát triển của TTCK nói chung và thị trường quyền chọn nói riêng, trong khi đó thị trường quyền chọn sẽ được hình thành trong tương lai là một nhu cầu tất yếu. Để có thể đáp ứng những yêu cầu về thông tin thì cần thiết nên áp dụng các giải pháp sau:  Từng bước xây dựng cơ sở vật chất riêng cho thị trường quyền chọn dựa trên cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có của TTCK, đặc biệt là hệ thống xử lý giao dịch và các phần mềm để hoạt động cho thị tr ường quyền chọn.  Trong ngắn hạn cần đẩy mạnh việc thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ cho thị tr ường. Thực tiển trong học tập và trao đổi kinh nghiệm về lĩnh vực này với bạn bè quốc tế là điều rất hữu ích.  Xây dựng và hướng dẫn thực hiện các chuẩn mực công nghệ thông tin áp dụng cho các tổ chức kinh doanh và dịch vụ chứng khoán đảm bảo cung cấp dịch vụ v à thông tin trên TTCK được minh bạch và công bằng cho mọi đối tượng đầu tư. Có chuẩn mực công nghệ thông tin cho TTCK, ngay sau đó xây dựng chuẩn mực thông tin cho thị trường quyền chọn.  Quan trọng nhất là về lâu về dài chúng ta cần có một đội ngũ nhân lực chuy ên về công nghệ thông tin phục vụ cho TTCK v à thị trường quyền chọn. Muốn thế, chúng ta cần chú trọng vấn đề đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin, có kế hoạch thuê các chuyên gia nước ngoài về đào tạo cán bộ trong lĩnh vực công nghệ thông tin phục vụ TTCK và đưa cán bộ có năng lực về công nghệ thông tin ra n ước ngoài để đào tạo thông qua các chương trình hợp tác quốc tế nhằm đào tạo nguồn nhân lực có khả năng đáp ứng về công nghệ thông tin cho TTCK.  Khi đã hình thành được thị trường quyền chọn cần hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung phục vụ quản lý v à điều hành thị trường quyền chọn, tin học Luận Văn Thạc sĩ - 79 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú hoá việc trao đổi, cập nhật dữ liệu thị tr ường. Tăng cường ứng dụng công nghệ tin học trong công tác quản lý, điều h ành và giám sát thị trường quyền chọn. 3.3.4. Phát triển nguồn nhân lực phục vụ trực tiếp cho thị trường quyền chọn: Nhân lực phục vụ thị trường luôn đóng vai trò là một yếu tố quan trọng nhất trong việc giúp cho thị trường hoạt động hiệu quả và thông suốt. Nhân lực phục vụ cho thị trường quyền chọn không chỉ có kiến thức vững v àng về TTCK và thị trường quyền chọn, các nguyên tắc hoạt động trên thị trường mà còn phải có những kỹ năng phân tích, đánh giá và dự đoán xu thế của thị trường trong tương lai, kèm theo đó là những kiến thức nhất định về kinh tế, tài chính, xã hội và luật pháp. Để có được những con người có trình độ chuyên môn cao đáp ứng được nhu cầu của thị trường quyền chọn trong tương lai có thể thực hiện các giải pháp sau:  UBCKNN tổ chức các lớp học căn bản v à chuyên sâu về thị trường quyền chọn cho tất cả các nhân viên trong ngành chứng khoán, mời các chuyên gia có kinh nghiệm trong và ngoài nước về dạy và huấn luyện.  Có kế hoạch đào tạo đặc biệt và bài bản cho cán bộ quản lý và giám sát thị trường quyền chọn vì họ cần có kỹ năng chuyên môn vững vàng và khả năng xử lý tốt các tình huống bất thường. Tổ chức các chuyến đi thực tế ở các TTCK phát triển ngo ài nước để học hỏi kinh nghiệm của bạn b è quốc tế.  Các công ty chứng khoán nên chủ động đưa các nhân viên của mình tham gia các lớp học về quyền chọn, khuyến khích khả năng tự nghi ên cứu của nhân viên về thị trường đầy tiềm năng này, đưa các nhân viên có năng l ực đi tham khảo và học hỏi thị trường quyền chọn ở một số nước phát triển. 3.3.5. Xây dựng danh mục hàng hoá có chất lượng và phong phú cho thị trường quyền chọn: Hàng hoá cho thị trường quyền chọn phải là hàng hoá có chất lượng cao và đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư tài chính. Những việc làm cần thiết để xây dựng hàng hoá cho thị trường quyền chọn có thể là: Luận Văn Thạc sĩ - 80 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú  Xây dựng các danh mục chứng khoán làm cổ phiếu cơ sở cho các hợp đồng quyền chọn. Các cổ phiếu được lựa chọn phải là những cổ phiếu có tính thanh khoản cao, được công chúng đầu tư đánh giá tốt về tiềm năng phát triển. Các cổ phiếu c ơ sở có chất lượng sẽ thu hút các nhà đầu tư tham gia thị trường quyền chọn.  Về việc phát hành các hợp đồng quyền chọn: Trước mắt khi thị trường quyền chọn sơ khai mới được hình thành thì người phát hành các hợp đồng quyền chọn sẽ là một bộ phận chuyên biệt thuộc cơ quan điều hành quyền chọn hoặc các công ty chứng khoán được phép thực hiện các hoạt động tự doanh v à đang nắm giữ cổ phiếu trên cơ sở đó, bởi vì việc phát hành quyền chọn đòi hỏi phải có những kiến thức chuyên môn vững vàng về chứng khoán, TTCK và thị trường quyền chọn, kèm theo đó là uy tín của người phát hành, đảm bảo hợp đồng sẽ thực hiện nếu có y êu cầu, nhằm tạo lòng tin cho giới đầu tư.  Sau khi thị trường đã đi vào ổn định, nhà đầu tư quen với việc sử dụng quyền chọn thì mới cho phép các cá nhân, tổ chức tham gia ph át hành quyền chọn. 3.3.6. Phổ biến, tuyên truyền và giáo dục kiến thức về quyền chọn cho công chúng: Hiểu biết của công chúng luôn đóng vai tr ò quan trọng trong việc đưa một công cụ tài chính mới vào thị trường và trường hợp ứng dụng quyền chọn cổ phiếu cũng vậy. Công chúng đầu tư không chỉ thông hiểu về TTCK nói chung m à còn phải biết quyền chọn là gì, cách thức sử dụng như thế nào, lợi ích ra sau…Vì vậy, ngoài các công tác nâng cao hiểu biết về TTCK th ì việc phổ biến kiến thức về quyền chọn cũng rất cần thiết. Công tác này có thể thực hiện thông qua các giải pháp sau:  Tổ chức các cuộc hội thảo về quyền chọn nói chung v à quyền chọn cổ phiếu nói riêng. Những cuộc hội thảo này cần thiết phải tổ chức sinh động, lôi cuốn bởi đa phần trình độ của các nhà đầu tư chênh lệch nhau khá nhiều. UBCKNN có thể kết hợp với các câu lạc bộ chứng khoán của các tr ường đại học tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề về quyền chọn nhằm trang bị kiến thức cho lớp trẻ. Sau những cuộc hội thảo như thế có thể tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về quyền chọn, các cuộc Luận Văn Thạc sĩ - 81 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú thi “quyền chọn ảo”… với quy mô từ nhỏ đến lớn. Có thể bắt đầu tổ chức các cuộc thi tại các câu lạc bộ chứng khoán, trong nội bộ ng ành chứng khoán để tạo nền tảng kiến thức cơ bản và đúc kết kinh nghiệm sau đó th ì mở rộng ra cho tất cả mọi người tham gia.  Tại trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo chứng khoán nên có những lớp học chuyên đề về quyền chọn để những ng ười quan tâm đến công cụ tài chính mới này có nơi mà học tập và nghiên cứu . Khi các lớp này được tổ chức thì các công ty chứng khoán nên khuyến khích nhân viên của mình đăng ký theo học Hiện nay, những tài liệu có giá trị phục vụ cho công tác nghi ên cứu và vận hành TTCK, đặc biệt là những tài liệu về thị trường quyền chọn rất ít, gây khó khăn rất nhiều cho hoạt động tự nghiên cứu của những người quan tâm đến chứng khoán. Do đó, Trung tâm Đào tạo chứng khoán nên quan tâm nhiều hơn nữa trong công tác tìm nguồn tài liệu phục vụ cho nhu cầu của nh à đầu tư. UBCKNN nên chăng hỗ trợ cho Trung tâm đào tạo xây dựng một phòng ban với nhiệm vụ tìm kiếm những nguồn tài liệu nước ngoài có giá trị về TTCK và thị trường quyền chọn, tổ chức dịch thuật hay xuất bản sách chuyên về lĩnh vực chứng khoán nói chung v à quyền chọn nói riêng.  Trên các trang web về chứng khoán cần bổ sung thêm chuyên mục về quyền chọn với những thông tin cơ bản và đầy đủ, giải đáp thắc mắc về quyền chọn cho những ai quan tâm. Trên những chuyên mục này, ngoài việc cung cấp những kiến thức căn bản, dễ hiểu có thể minh hoạ bằng những giao dịch ở các thị tr ường quyền chọn lớn trên thế giới.  Có những bài giảng về quyền chọn dễ hiểu, sinh động ph ù hợp với mặt bằng kiến thức chung của các tầng lớp dân c ư khác nhau trên các chương tr ình phổ cập kiến thức chứng khoán trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sau các ch ương trình phổ cập kiến thức này nên tổ chức những cuộc thi nhằm tổng kết v à đánh giá hiệu quả của hoạt động này. Luận Văn Thạc sĩ - 82 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú 3.3.7. Tăng cường phát triển các loại quyền chọn khác hiện có tr ên thị trường: Hiện nay trên thị trường Việt Nam đã có thị trường quyền chọn tiền tệ và vàng sơ khai. Hàng hoá trên th ị trường này còn khá ít, số lượng ngân hàng được phép thực hiện không nhiều, trong khi nhu cầu bảo hiểm rủi ro của doanh nghiệp v à người dân trong tình hình giá vàng và ngo ại tệ, đặc biệt là đồng USD biến động không thể lường trước được hết là rất lớn. Do đó, để có thể phát triển đ ược thị trường quyền chọn nói chung và đúc kết kinh nghiệm cho việc h ình thành thị trường quyền chọn cổ phiếu nói riêng thì cần thiết nên:  Cho phép thêm nhiều ngân hàng lớn và các tổ chức có tiềm lực, uy tín được tham gia thị trường quyền chọn tiền tệ và quyền chọn vàng.  Thực hiện tốt công tác marketing cho các sản phẩm mới n ày, tổ chức các buổi hội thảo nhằm cung cấp kiến thức về sản phẩm, tiếp thu ý kiến của khách h àng trong quá trình sử dụng sản phẩm, dần dần đưa sản phẩm quyền chọn đến với công chúng và từng bước hoàn thiện sản phẩm.  Giảm quy mô hợp đồng quyền chọn v àng xuống ở mức có thể khuyến khích các nhà đầu tư nhỏ lẻ có thể tham gia. Hiện nay quy mô mỗi hợp đồng quyền chọn vàng tối thiểu là 50 lượng, một con số khá lớn so với thu nhập của công chúng Việt Nam, làm giới hạn khả năng tham gia thị tr ường quyền chọn vàng của khá nhiều nhà đầu tư. Để việc điều hành và thực hiện các hợp đồng được diễn ra thông suốt, đồng thời tạo lòng tin về khả năng hợp đồng sẽ được thực hiện khi có yêu cầu, đưa thị trường quyền chọn Việt Nam ngày càng gần với thị trường quyền chọn thế giới th ì cần thiết nên thực hiện mô hình quyền chọn vàng và ngoại tệ trong đó cơ quan đảm bảo thanh toán cho các hợp đồng sẽ là một cơ quan trực thuộc NHNN; có nhiệm vụ vừa thanh toán các giao d ịch quyền chọn vừa giám sát việc thực hiện các nguy ên tắc đảm bảo an toàn cho hoạt động giao dịch quyền chọn c òn mới mẻ này. Hiện nay pháp luật cho thị trường quyền chọn tiền tệ và quyền chọn vàng vẫn chưa có. Do đó, NHNN nên ban hành các văn b ản pháp luật điều chỉnh cho các hoạt động giao dịch quyền chọn này nhằm bảo vệ lợi ích của các bên tham gia, ban đầu tạo sự Luận Văn Thạc sĩ - 83 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú ổn định cho thị trường non trẻ này và từ đó đúc kết những kinh nghiệm, bài học quý báu cho thị trường quyền chọn cổ phiếu sau này. Mô hình quyền chọn vàng và quyền chọn tiền tệ ở nước ta khi loại hình đầu tư này trở nên phổ biến và có nhiều tổ chức được phép tham gia phát hành quyền chọn có thể biểu diễn như sau: Trong đó các NHTM được phép giao dịch quyền chọn vừa l à nơi khách hàng mở tài khoản giao dịch, tiếp nhận các y êu cầu mua bán quyền chọn và là trung gian giữa các công ty thanh toán quyền chọn và các bên mua bán quyền chọn. Kết luận chương 3 Muốn xây dựng thành công một thị trường quyền chọn cổ phiếu dựa v ào điều kiện hiện nay của Việt Nam, bên cạnh công tác nghiên cứu và ứng dụng các mô hình của nước ngoài, điều kiện tiên quyết là cần phải có sự quyết tâm của Chính phủ thông qua các hành động thiết thực cho các công tác chuẩn bị, đầu t ư và đào tạo; hoàn thiện dần hệ thống pháp luật chứng khoán, quyền chọn. Trong đó, nguồn nhân lực về kiến thức chứng khoán, bán khống và quyền chọn sẽ được ưu tiên hàng đầu để đáp ứng nhu cầu phát triển trong tương lai. Người mua quyền chọn tiền tệ (vàng) Người bán quyền chọn:các NH hoặc các tổ chức được phép Thành viên công ty thanh toán hợp đồng (Các NHTM) Thành viên công ty thanh toán hợp đồng (Các NHTM) Công ty thanh toán Hợp đồng (trực thuộc NHNN) Luận Văn Thạc sĩ - 84 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú KẾT LUẬN --------------------- Như ta đã từng nghe nói đến thuật ngữ kinh tế nó vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật cả trong tư duy và cả trong vận dụng thực tiễn. Quả không là đơn giản. Mọi hoạt động sống của con ng ười đều là hoạt động kinh tế ngay cả khi con người còn ở trong thời đại mông muội săn bắn v à hái lượm. Xã hội phát triển đi lên và hoạt động kinh tế cũng phát triển v à bộ phận của nó là ngành tài chính cũng phát triển và ngày càng hoàn thiện hơn theo từng cơ chế vận hành ở từng thời kỳ. Thực tế nhiều năm nay cho thấy rằng, bằng chính sách đổi mới, Việt Nam đ ã và đang có những bước tiến mạnh mẽ trên con đường hội nhập quốc tế và dĩ nhiên là phải đi qua nhiều trăn trở, thử thách, cam go… Trong đó, một trong nhữ ng lĩnh vực được đánh giá nhậy cảm nhất là là hội nhập về tài chính – ngân hàng. Cũng giống như tự do mậu dịch, ngày nay hội nhập tài chính đã mang lại nhiều lợi ích lớn lao cho các nước nói riêng và nền kinh tế toàn cầu nói chung. Việc này bao gồm: giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cho phép cá nhân có thể tự bảo vệ m ình, xử lý mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư, kích thích sự phát triển của thị trường vốn, thúc đẩy cải cách kinh tế vĩ mô tốt h ơn, hay chi tiêu cao hơn và ít có nh ững biến động hơn…Hoà cùng xu thế trên, việc xây dựng và phát triển thị trường tài chính phái sinh, thị trường chứng khoán và nhất là thị trường quyền chọn cổ phiếu ở Việt Nam là việc làm hết sức thiết thực và cần kíp không thể chần chừ mãi. Sự kiện thị trường chứng khoán Việt Nam biến động dữ dội cuối năm 2007, v à cho đến nay đã sang cuối quý 2/2008 đã nói lên điều đó. Các sản phẩm phái sinh khác đ ã triển khai trên thị trường tiền tệ, ngoại hối và hàng hoá nhưng hãy còn quá mờ nhạt, niềm tin từ các chủ thể kinh tế về nó chưa cao và hãy còn quá thờ-ơ như quan điểm “ tới đâu hay tới đó” hoặc là “nước lên thuyền lên” không việc gì phải lo; theo kiểu làm ăn nhỏ, lẻ tẻ đã thành tập quán từ lâu trong tư duy người Việt Nam. Luận Văn Thạc sĩ - 85 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt HVTH: Huỳnh Thiên Phú Thực tế, dù đã rất cố gắng nhưng tôi đánh giá luận văn của mình còn nhiều mặt hạn chế do thời gian nghiên cứu có hạn cũng như kiến thức và kinh nghiệm của mình về thị trường tài chính nói chung, th ị trường chứng khoán, quyền chọn v à thị trường quyền chọn cổ phiếu nói riêng không có nhiều. Vì vậy luận văn này chắc hẳn có nhiều khiếm khuyết cũng như thiếu sót, tôi mong nhận được sự thông cảm của quý thầy cô cũng như người đọc và sự góp ý xây dựng chân t ình của tất cả quý vị. Tuy nhiên, tôi cũng hy vọng rằng tất cả những g ì mình trình bày trong luận văn này sẽ là một phần đóng góp nhỏ, xem như là một tiếng nói của một thành viên trong xã hội; có ích cho việc phát triển thị trường chứng khoán cũng như thị trường quyền chọn cổ phiếu tại Việt Nam trong t ương lai, phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế tr ên lĩnh vực tài chính- ngân hàng của nước ta và tạo thêm nguồn hàng chất lượng cao cho TTCK Việt Nam trong giai đoạn tới. Cuối cùng điều tôi thực lòng mong mỏi là đất nước mình sẽ có những bước tiến mạnh hơn nữa, chắc chắn hơn nữa, ít rủi ro hơn nữa trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, phát triển và phát triển bền vững trong công cuộc xây dựng Chủ nghĩa x ã hội mang đến phồn vinh, dân gi àu nước mạnh, xã hội dân chủ và văn minh; đến năm 2020 là một quốc gia có nền kinh tế phát triển theo nh ư tinh thần nghị quyết của đại hội Đảng. Xin chân thành cảm ơn và trân trọng kính chào. TP.Hồ Chí Minh Tháng 8/2008 Huỳnh Thiên Phú ------------------

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfTriển khai quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam.pdf
Luận văn liên quan