Đề tài Tư tưởng triết học của R. Descartes và sự ảnh hưởng của nó đến nền văn minh Phương Tây hiện đại

Xuất phát từ triết học Descartes về sự hiểu biết thế giới, hiểu biết về nguồn gốc sự việc và chủ nghĩa hoài nghĩ đã giúp con người chúng ta nói chung và xãhội Phương Tây nói riêng xâydựng đượcmột thế giới hiện đại, vớinềnvăn minhrựcrỡ như ngày nay. Để làm được điều đó triếthọc Descartes đã nhắc ta nhất thiết phải biếtnềntảngcủasự việc, phải xuất pháttừ nhữngdữ liệu chắc chắn để suy luận ra một loạt nhữngvấn đề. Chúng ta phảidựa vào chủ nghĩa duy lý tronghướng xây dựng.

pdf27 trang | Chia sẻ: lylyngoc | Ngày: 26/08/2014 | Lượt xem: 3294 | Lượt tải: 6download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Tư tưởng triết học của R. Descartes và sự ảnh hưởng của nó đến nền văn minh Phương Tây hiện đại, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
chứng minh sự hiện hữu của Ngài....................... 14 V. Sự hiện hữu của các vật thể: .................................................................................... 15 1. Chứng minh sự hiện hữu của vật thể :............................................................... 16 2. Tương quan giữa hồn và xác :........................................................................... 16 VI. Về khoa học : ........................................................................................................ 18 1. Trong lĩnh vực vật lý học :.................................................................................. 18 2. Trong lĩnh vực sinh học :.................................................................................... 22 3. Trong lĩnh vực toán học : ................................................................................... 23 C. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC DESCARTES ĐẾN NỀN VĂN MINH PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI : ............................................................................................................... 23 1. Trong lĩnh vực vật lý: ......................................................................................... 24 2. Về toán học........................................................................................................ 24 3. Lĩnh vực triết học nói chung:.............................................................................. 25 TÀI LIỆU THAM KHẢO: ................................................................................................... 27 Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 2 LỜI NÓI ĐẦU: Em chân thành cảm ơn thầy đã giúp em có được những kiến thức rộng hơn về triết học cũng như những hiểu biết sâu hơn về thế giới quan và phương pháp luận qua những bài học của thầy. Với những hiểu biết khiêm tốn của em về Triết Học nói chung và Triết Học Descartes nói riềng, rất mong được thầy hướng dẫn thêm trong đề tài “Tư tưởng triết học của R. Descartes và sự ảnh hưởng của nó đến nền văn minh Phương Tây hiện đại”. Khi nói đến triết học của Descartes chúng ta không thể không nói đến câu nói rất nổi tiếng của ông “Tôi suy nghĩ, vậy tôi tồn tại”. Câu nói đã thể hiện khá rõ về tư tưởng Triết Học của Descartes - chủ nghĩa duy lý hiện đại. Descartes đã khơi dậy chủ nghĩa duy lý và ông cũng là người sáng lập ra khoa học lý thuyết, gợi mở cho nền văn minh Phương Tây hiện đại rực rỡ về sau và có thể nhận thấy nền văn minh Phương Tây hiện đại ngày nay đã chịu ảnh hưởng lớn từ Triết học Descartes. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 3 A. SƠ LƯỢC VỀ CUỘC ĐỜI CỦA DESCARTES: Descartes Descartes là một trong những người sáng lập triết học cận đại, chiếm lĩnh một trong những đỉnh cao của lịch sử triết học thế giới, được ghi vào biên niên sử khoa học như một trong những tên tuổi kiệt xuất, cha đỡ đầu của tri thức khoa học thế kỷ XVII. Descartes sinh ngày 31 tháng 3 năm 1596 tại một thị trấn nhỏ tỉnh Tourin. Năm 1615, lúc 19 tuổi, sau khi kết thúc phổ thông trung học Descartes theo học ngành luật và y tại trường đại học của thành phố Puatie. Ba năm sau Descartes chuyển sang Hà Lan học tiếp. Cũng năm đó Descartes viết tác phẩm đầu tiên “Luận về âm nhạc”. Trong khoảng thời gian từ 1619 đến 1621 Descartes làm sĩ quan tình nguyện, nhờ đó mà được đi nhiều nơi như Đức, Ao, Hung. Từ 1622 đến 1628 Descartes sống chủ yếu tại Paris, song dành nhiều thời gian cho việc chu du, từ Thụy Sỹ đến Italia. Đó là thời kỳ để lại dấu ấn sâu đậm và tốt đẹp đến sáng tạo khoa học và triết học của Descartes. Từ mùa thu năm 1628 Descartes quyết định sinh Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 4 sống tại Hà Lan, vì nhận thấy nơi đây có điều kiện nghiên cứu khoa học hơn ở Pháp. Descartes sống tại Hà Lan hơn 20 năm, trong đó có 3 lần trở về nước. Suốt đời mình Descartes chuyên tâm nghiên cứu khoa học, quên cả lập gia đình. Ông từng tuyên bố: "niềm vui cuộc sống lớn nhất của tôi là niềm vui tư tưởng trong những tìm tòi chân lý". Trong hai năm ròng (1627 – 1629) Descartes viết tác phẩm lớn “Các quy tắc hướng dẫn lý trí”. Năm 1629 Descartes ghi danh học triết. Năm 1630 ông lại ghi danh học ngành toán, và ngay lập tức bị cuốn hút vào đó. Thực ra những năm đại học ảnh hưởng không lớn đến tư tưởng triết học của Descartes, do các bài giảng triết học tỏ ra nhàm chán, xa rời thực tiễn, mang nặng tính giáo huấn thuần tuý. Từ ác cảm đối với các tư tưởng vô bổ, Descartes chuyển sang nghiên cứu vấn đề phương pháp và đầu tư cho khoa học. Ngay khi đến Hà Lan, Descartes bắt tay vào viết một công trình khoa học cụ thể, với tên gọi “Thế giới”. Công trình đang đến chỗ kết thúc thì Descartes nghe tin Galileio bị toà án giáo hội kết án nặng nề và trừng phạt do đã xuất bản một tác phẩm mang tính thách thức đối với thần quyền vào năm 1632 – quyển “Đối thoại về hai hệ thống cơ bản nhất của thế giới – hệ thống Ptolemei và hệ thống Copernic”. Là một tín đồ Thiên Chúa giáo, Descartes quyết định hoãn công bố tác phẩm của mình, khi xét thấy ở đó có một số nội dung gần với tư tưởng Galileio, mặc dù Hà Lan không phải là nước chịu ảnh hưởng của Vatican. Vào năm 1637 Descrtes viết bằng tiếng Pháp tác phẩm “Luận về phương pháp”, là tài liệu có tính cương lĩnh, trong đó trình bày những vấn đề cơ bản của triết học và định hướng nghiên cứu khoa học. Đây là một tác phẩm ngắn, cô đọng, nhưng lại đươc Descartes chia ra thành 6 phần, với những vấn đề rành mạch, chẳng hạn, phần 1 – nhận thức khoa học, phần 2 – các quy tắc cơ bản của phương pháp, phần 3 – các quy tắc đạo đức, được rút ra từ phương pháp chung, phần 4 – các vấn đề của Siêu hình học, trước hết là vấn đề tồn tại của Thượng đế và vấn đề linh hồn con người, phần 5 – các khoa học triết học khác như vật lý, sinh học, y học, phần 6 – vấn đề làm thế nào để thâm nhập sâu hơn vào cõi bí hiểm của tự nhiên, giải thích Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 5 đúng nó, từ đó nâng cao vị thế con người (R. Descartes, Tác phẩm gồm 2 tập; t.1, Nxb Mysl, Moscou, 1989, tr. 250). Để làm sâu sắc hơn thế giới quan của mình, năm 1641 Descartes xuất bản tại Paris cuốn “Luận về triết học thứ nhất”, viết bằng tiếng Latinh. Năm 1642 tác phẩm được tái bản tại Amsterdam. Đến năm 1647 bản tiếng Pháp ra mắt tại Paris với tên gọi khác – "Những suy tư siêu hình học”. Uy tín khoa học ngày càng tăng của Descartes đã gây lo ngại cho nhà thờ. Một chiến dịch bôi nhọ Descartes được dàn dựng, quy tụ các nhà hoạt động tôn giáo, các giáo sư thần học, và cả một số nhà khoa học. Trong những năm tháng khó khăn ấy Descartes xuất bản tại Amsterdam tác phẩm “Nguyên lý triết học” bằng tiếng La Tinh(1644), sau đó dịch sang tiếng Pháp (1647). Đây là tác phẩm có tính chất hệ thống hoá toàn bộ tư tưởng triết học của ông, trong đó nổi bật các vấn đề siêu hình học, phương pháp luận, vật lý học (học thuuyết về vật thể, về thế giới, về Trái đất, cùng những vấn đề được đưa vào cái gọi là “ triết học thứ hai” này). Trong khoảng thời gian từ năm 1645 đến 1648 bên cạnh hoạt động khoa học và tiếp tục nghiên cứu triết học, Descartes bắt đầu chuyển hướng quan tâm sang vấn đề con người, vận dụng các nguyên lý cơ học và vật lý học vào việc giải thích cơ thể người và động vật. Tuy nhiên công trình “Mô tả cơ thể người. Sự hình thành động vật” không được ra mắt độc giả. Tháng 12 năm 1649 Descartes công bố “Những xung động của tâm hồn”, một tác phẩm mang tính chất nhân học. Chính trong thời gian này ông có mặt tại thủ đô Thụy Điển theo lời mời của nữ hoàng Christina. Nhờ sự giúp đỡ của Descartes, Viện hàn lâm khoa học Thụy Điển đã ra đời. Đây cũng là chuyến đi cuối cùng của Descartes; ông bị cảm lạnh và mất vào ngày 11 tháng 2 năm 1650. Sau một thời gian di hài của Descartes được chuyển về tổ quốc. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 6 Mộ của Descartes Descartes, khác với F. Bacon, hầu như không tham gia trực tiếp vào các biến cố chính trị tại quê hương, thậm chí phải sang sinh sống tại Hà Lan chỉ để chuyên tâm làm khoa học. Tuy nhiên các vấn đề thế giới quan và phương pháp luận do ông nêu ra mang đậm dấu ấn của thời đại khám phá và phát minh, của tinh thần hoài nghi và sáng tạo, của xu hướng tái thiết lại đời sống xã hội trên cơ sở lý tính, để vượt qua trật tự xã hội phi lý. Nội dung các tác phẩm của Descartes, cũng như sự nghiệp của ông, có ý nghĩa đặc biệt đối với sự hình thành những điều kiện cho cách mạng Pháp trong tương lai. Quan điểm cách tân trong khoa học và chủ nghĩa nhân văn qua thái độ phê phán đối với thần quyền, đề cao quyền bình đẳng tự nhiên giữa người với người, đòi hỏi mở rộng không gian văn hoá cho tất cả mọi người, loại trừ thói trưởng giả trong sinh hoạt, đã giới thiệu hình ảnh Descartes như một trong những người mở đường cho phong cách tư duy mới, trong truyền thống duy lý cổ điển phương Tây. Nói cách khác, cần xem xét Descartes ở hai hình ảnh – nhà triết học và nhà bác học. Trước khi bàn đến thế giới quan và phương pháp luận của Descartes, các nhà nghiên cứu lịch sử triết học nhấn mạnh tính nhân văn trong tư tưởng của ông. Song, đó là thứ chủ nghĩa nhân văn nào? Chủ nghĩa nhân văn Descartes thể hiện ở sự quan tâm đến tự nhiên, qua đó đề cao khả năng và sức mạnh của con người. Copernics, Galileio, Paraselsus, Telesio, Patrizi, Bruno, Campanella, Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 7 Kepler… là những nhà khoa học và triết học tự nhiên Phục hưng, nhưng họ đã vượt qua uy quyền tư tưởng, chủ nghĩa giáo điều Kytô giáo để nêu ra quan niệm phi tạo hoá về tự nhiên, tính tự chủ của tự nhiên dưới hình thức phiếm thần và vật hoạt luận, nhấn mạnh mối liên hệ và sự tác động lẫn nhau giữa vũ trụ và con người. Thứ triết học tự nhiên kiểu đó, mặc dù còn chịu ảnh hưởng của ma thuật và thuật giả kim, đã kích thích Descartes. Chủ nghĩa hoài nghi xã hội và chủ nghĩa nhân văn Kytô giáo Phục hưng, nhất là chủ nghĩa hoài nghi Montaigne, cũng là cội nguồn sâu xa của tư tưởng nhân văn Descartes Chủ nghĩa hoài nghi ôn hoà với câu hỏi nổi tiếng “Que sais-je?” (Ta biết được gì?) và chủ nghĩa tự nhiên (nhấn mạnh bản tính tự nhiên của con người, của xã hội, của Tạo hoá nói chung) tác động phần nào đến tư tưởng Descartes với tính cách nhà khoa học và một tín đồ Thiên Chúa giáo. Có thể hình dung một sự kết nối tư tưởng từ Erasmus (chủ nghĩa nhân văn Kytô giáo), xuyên qua Rabelais, Montaigne đến Descartes. Nhưng Descartes là nhà triết học – nhà bác học. Ở bình diện này một lần nữa thời Phục Hưng lại thể hiện vai trò gợi mở của mình đối với thời cận đại bằng cách làm sống lại hình ảnh Euclide và Archimedes. Vào thế kỷ XVII nếu không có khoa học tự nhiên toán học hóa thì khoa học thật khó đạt được hiệu quả thực tiễn, nghĩa là từng bước trở thành lực lượng sản xuất. Về phần mình toán học hoá khoa học tự nhiên thật khó thực hiện mà không cần đến tiến bộ trong chính toán học. Descartes là người đi tiên phong trong việc xác lập toán học hiện đại, với những ký hiệu x, y, z mà hiện nay chúng ta không hề xa lạ. Khái niệm đại lượng biến thiên cho thấy mối quan hệ giữa con số và đại lượng trong toán học mới. Descartes – một trong những tác giả môn hình học giải tích, với sự thống nhất các đại lượng hình học và số học. Mặc dù là một tín đồ Thiên Chúa giáo, song hoạt động khoa học của Descartes khiến cho nhà thờ đưa các công trình của Descartes vào danh mục sách cấm đối với những người theo đạo Thiên Chúa, sáu năm sau vua Louis XIV ra lệnh cấm giảng Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 8 chủ nghĩa Descartes tại khắp các vùng lãnh thổ nước Pháp. (Đinh Ngọc Thạch, Tập bài giảng triết học Tây Âu cận đại, ĐH KHXHNV TP HCM) B. TRIẾT HỌC CỦA R. DESCARTES : Học thuyết Triết Học của R. Descartes toát lên tinh thần duy lý, tìm kiếm và sử dụng một cách có ý thức phương pháp chỉ đạo lý trí để nhận thức đúng đắn thế giới. Có thể chia triết học của ông thành hai bộ phận là siêu hình học và khoa học. Trong siêu hình học Descartes là nhà nhị nguyên luận ngã về phía duy tâm nhưng trong khoa học ông lại là nhà duy vật siêu hình máy móc nổi tiếng. (Giáo Trình Đại Cương Lịch Sử Triết Học, 2003, Trang) I. Con Đường Triết học của Descaster : 1. Con đường học vấn: Ông công nhận học viện mà ông theo học là một trong những trường thời danh giá nhất của Châu Âu nhưng lợi ích của những năm tháng ăn học là gì thì Descartes đã mang những môn học của mình ra mà luận bàn. Đối với Thần Học, ông giữ thái độ kính trọng vì cho rằng “các chân lý được mạc khải để dẫn lên trời thì vượt quá tầm mức trí năng ta nên tôi không dám đặt các chân lý đó dưới sự lý luận yếu đuối của tôi.”. Nhưng đối với Triết Học ông lại lên án vì cho rằng khoa học này đã được những bộ óc xuất sắc nhất từ bao thế kỹ nghiên cứu nhưng trong khoa đó không có điều gì là không tranh luận, không có điều gì là không đán hoài nghi. Về các khoa học khác thì ông đánh giá rất cao về toán học vì lý luận chắc chắn, hiển nhiên. (Triết Học Descartes, 2005, Trang) 2. Nẻo đường đời: Với Descartes đường đời là “cuốn sách vĩ đại của đời”, tuy nhiên khi quan sát thói tục của những người khác ông cảm thấy không vững dạ vì ông thấy sự khác biệt nơi đây như thấy nơi các triết gia. Ông nhận thấy những điều rất kỳ cục và đáng Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 9 buồn cười. Descartes đã thất vọng với nhà trường thế nào thì nay ông cũng thất vọng với “trường đời” thế ấy. (Triết Học Descartes, 2005, Trang) 3. Con đường mới: con đường do chính Descartes tự vạch ra mà đi: Sau khi nhận thấy hai nẻo đường trên đều là những con đường cụt Descartes đã dùng tất cả sức lực và tâm tri để chọn con đường cho riêng mình, đây là con đường “Cagito”. (Triết Học Descartes, 2005, Trang) II. Siêu hình học : Siêu hình học của Descartes nổi bật bởi những tư tưởng : 1. Nghi ngờ phổ biến : Ông đã hoài nghi về khả năng nhận thức của tâm trí con người, khi tâm trí đó phán quyết vế các đối tượng ở ngoài tâm linh ta. Nhưng ngược lại, ông tuyệt đối tin vào khả năng nhận thức của tâm trí con người khi tâm trí này tự nhận thức về mình cùng là những ý tưởng bẩm sinh tức những ý tưởng mà ông cho rằng Thượng đế đã đặt sẵn trong tâm trí ta khi tác tạo nên ta. Descartes đòi hỏi phải xây dựng lại cơ sở cho triết học mới. Theo ông triết học có hai nghĩa : theo nghĩa rộng, triết học là tổng thể tri thức của con người về tự nhiên và xã hội ; theo nghĩa hẹp, triết học chính là siêu hình học, cơ sở thế giới quan của con người. Descartes chủ trương triết học của ông giống như một cây cổ thụ mà trong đó, gốc rễ là siêu hình học, thân là vật lý học, cành nhánh là ngành khoa học khác. Ông luôn đề cao triết học, theo ông triết học là cách thức tốt nhất để bộc lộ sự thông thái của con người trong mọi hoạt động, mức độ phát triển của triết học thể hiện trình độ văn minh của dân tộc. (Trình Đại Cương Lịch Sử Triết Học, 2003, Trang) Theo Descartes, triết học phải bàn về khả năng và phương pháp đạt được tri thức đúng đắn vì vậy nhiệm vụ của nó trước tiên phải khắc phục chủ nghĩa hoài nghi và sau đó là xây dựng các nguyên tắc, phương pháp nền tảng để giúp cho các ngành Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 10 khoa học khám phá ra các quy luật của giới tự nhiên, xây dựng các chân lý khoa học nhằm chinh phục giới tự nhiên, phục vụ lợi ích con người. Descartes chủ trương rằng, cơ sở của chân lý là lý tính, và để nhận thức đúng thì phải nghi ngờ phổ biến, tức nghi ngờ manh tính phương pháp luận để không mắc sai lầm và có được niềm tin chắc chắn trong nhận thức. Ông cho rằng, để đạt chân lý chúng ta cần phải biết nghi ngờ mọi thứ kể cả những điều đã được coi là chân lý. Với tư tưởng nghi ngờ trên Descartes đề cao tư duy, lý tính và coi thường kinh nghiệm, cảm tính trong hoạt động nhận thức vì vậy ông đã đặt nền móng cho chủ nghĩa duy lý thời cận đại. Theo ông mọi cái tồn tại chỉ trở thành chân lý khi chúng được đưa ra phán xét dưới « tòa án » của lý tính nhằm tự bào chữa cho sự tồn tại của chính mình. Nghi ngờ phổ biến, vì vậy là cơ sở phương pháp luận của triết học Descartes. (Triết Học Descartes, 2005) Quan điểm duy lý này của Descartes có ý nghĩa tích cực trong quá trình đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều, chống lại lòng tin vô căn cứ. Tuy nhiên ông chỉ thấy một mặt của quá trình nhận thức, mặt lý tính, do đó cơ sở phương pháp luận này cũng mang tinh siêu hình, phiến diện. Câu nói rất nổi tiếng của Descartes « tôi suy nghĩ vậy tôi tồn tại » đã cho thấy dù đứng trên nguyên tăc nghi ngờ phổ biến nhưng Descartes không đi đến chủ nghĩa hoài nghi mà là bác bỏ nó và xây dựng nguyên lý cơ bản của toàn bộ hệ thống siêu hình học duy lý của mình- nguyên lý « tôi suy nghĩ vậy tôi tồn tại ». Đối với Descartes sự tồn tại của suy nghĩ là một chân lý, nhưng sự tồn tại của cơ thể thì chưa phải là chân lý được bởi vì nó còn có thể bị nghi ngờ. Để chứng minh sự tồn tại thật sự của thể xác thì cần phải dựa vào sự tồn tại của thượng đế. Đối với ông siêu hình học phải là học thuyết chặt chẽ về Thượng Đế, về giới tự nhiên và con người để từ đó rút ra các nguyên tắc giúp chỉ đạo hoạt động bản chất của con người -hoạt động nhận thức của linh hồn lý tính. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 11 Descartes nói đến 3 loại hoài nghi-kể từ đó ông đưa ra phương pháp lấy hoài nghi làm phương pháp thử lửa hòng đi tới một cái bất khả nghi, tức là cái hiển nhiên. 1. Hoài nghi đối với các giác quan : Hầu như tất cả các trang sách của ông đều nhắc nhở con người phải hoài nghi về khả năng nhận thức của các giác quan. Descartes đã đúc kết rằng ta không nên tin những ai đã có lần lừa dối ta, vậy mà giác quan đã lừa dối ta nhiều lần. Theo ông có ba loại ý tưởng : mạo tác, ngoại đán và bẩm sinh. Và ta biết ông theo ông thì chỉ những ý tưởng bẩm sinh là đúng, còn những ý tưởng do giác quan thì không hơn gì những ý tưởng mạo tác. (Triết Học Descartes, 2005) 2. Hoài nghi đối với các khoa học khác : Các khoa học được coi là hê thống những tri thức chắc chắ, vì khoa họcđồng nghicx với tri thức đích thực, thế nhưng ông cho các tri thức đó là điều hồ đồ vì xây dựng trên nền tảng lỏng lẻo là triết học. Descartes đã nói « Vì thế không phải là không có lý nếu chúng ta kết luân rằng vật lý học, thiên văn hoc, Y học và các khoa học dựa vào việc quan sát những vật phiền tạp đều là những khoa học không chắc chắn và đáng nghi ngò. Còn toán học, hình học và những khoa học loại này, vì nghiên cứu về các vật đơn sơ và phỏ quát, không set đến các vật đó có hiện hữu trong thiên nhiên không nên đó là những khoa học có tính cách chắc chắn và bất khả nghi » (Triết Học Descartes, 2005) 3. Hoài nghi về khả năng của con người : Descarté đã viết rằng « tuy vậy từ lâu tôi có ý nghĩ rằng Thượng đế có thể làm tất cả mọi sự…Hơn nữa đôi khi tôi thấy người khác sai lầm cả trong những điều mà họ tin là biết một cách đích thực nhất. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 12 III. Chân lý và sai lầm : Mục tiêu của Descarté luôn là chân lý, trau dồi lý trí. Ông không nhắm đưa ra những phương sách giúp ta tìm chân lý cho bằng nghiên cứu xem tại sao ta thường hay sai lầm, cả trong những sự quan trọng. Người ta cứ nghĩ rằng ông dùng suy niệm « lý trí và sai lầm » để chứng minh thêm về khả năng tri thức của con người., không ngờ ông lại nhờ suy niệm này để khám phá ra chỗ giới hạn của trí năng con người. Người ta có cảm tưởng như đây là một trang sách lạc lõng, không ăn khớp với toàn bộ hệ thống tư tưởng trên niềm tin đối với tâm trí con người. 1. Những chân lý đã sở đắc : Đây chúng ta có thể thấy Descartes làm việc phần nào theo phương pháp đã được trương xứng từ đầu : ông kiểm điểm xem những gì là chân lý sơ đắc, nghĩa là những gì được coi là bất khả nghi, rồi sau đó ông lần lượt nghiệm xem những điểm còn có thể là hoài nghi. Ông khởi đầu bằng câu : « trong mấy ngày qua tôi đã quen gỡ tâm linh ra khỏi giác quan, và nhận định rõ là có rất ít điều ta có thể tri thức cách chắc chắn về các sự vật chất, có nhiều sự ta biết chắc về tâm linh con người, và nhiều hơn về thượng đế. Descartes để lộ lập trường duy tâm của ông : ông cho rằng ta dễ biết về Thượng đế và biết về Ngài nhiều nhất, kế đó là những điều ta biết về tâm linh ta, sau cùng mới đến những điều ta biết về các sự vật vật chất. Hai chân lý đầu tiên của Descartes vẫn là sự hiện hữu của tâm linh như một sự vật suy tưởng, và sự hiện hữu của Thượng đế xét như là nguyên nhân của sự hiện hữu tôi. Từ hai chân lý này, ông đi tới việc khám phá ra những chân lý liên hệ rằng Thượng đế tuyệt đối chân thật. (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) 2. Descartes đã phá bỏ quan niệm thần thánh về thế giới: Đối với ông cũng như đối với con người sau này, thế giơi hết là thế giới của Chân Thiện Mỹ, thế giới hết là thế giới của tuyệt đối. Thế giới từ nay mất bản chất thần linh và thần diệu và chỉ còn là lĩnh vực thí nghiệm khoa học của con người. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 13 Descartes lưu ý chúng ta rằng, Đấng Sáng Tạo đã không phải dùng đến đường lối cuả thuyết duy cơ khi sáng tạo nên thế giới. Như vậy ông tránh hẳn được những khuynh hướng của thuyết Duy Hồn và thuyết Duy Sinh. Đối với Descaster không thể có triết học về thiên nhiên nhưng chỉ có khoa học về thiên nhiên và triết học về tinh thần. 3. Descaster đã làm cho thế giới mất tính chất Duy thực : Từ ngàn xưa, và nhất là từ thời Platon và Aristote, người ta tin rằng vạn vật có bản tính vĩnh cửu và bất biến, và đó là cái thực nhất, thực duy nhất. Với chủ trương vạn vật là kết tinh của trường độ và chuyển động. Descartes bác bỏ quan niệm thế giới vĩnh cửu và bác bỏ luôn quan niệm về bản tính vĩnh cửu và tuyệt đối của vạn vật. (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) IV. Quan niệm về bản tính vạn vật : Descartes không đề cập nhiều về vạn vật vì mục tiêu của ông khi xây dựng khoa triết học mới là chứng minh có thượng đế và chứng minh linh hồn biệt lập với thân thể. Tuy nhiên ông cũng là người chủ trương xây dựng một khoa vật lý mới nhằm đưa tới ba khoa học chuyên môn rất hữu ích cho cuộc sống : Cơ học, Y học và Đạo đức học. Descartes cho rằng còn nhiều điều cần suy niệm về thượng đế và linh hồn, nhưng hãy tạm để một dịp khác, vì ông thấy khẩn cấp phải gỡ mình ra khỏi những hoài nghi liên can đến các sự vật vật chất. 1. Descartes nghĩ gì về các ý tưởng ? Descartes quan niệm về các ý tưởng như những thực tại tự thân, có thực tại tính khách quan. Descartes viết « trước khi những sự vật vật chất như thế có hiện hữu ở ngoài tôi chăng, tôi phả xét các ý tưởng của chúng ở trong tôi. Để xem đâu là những y tưởng thông minh và đâu là những ý tưởng hàm hồ. ». Descartes đã bắt đầu với tư duy thì luôn luôn sông đi từ tư duy đến vạn vật. Tư duy này đi ngược lại với chúng ta ngày nay đó là chúng ta thấy con người là hiện hữu tại thế, con người sống Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 14 nơi thế gian, có kinh nghiệm trực tiếp về thế giới trước khi có kinh nhiệm về tư duy của mình. Theo khẳng định của Descartes, các ý tưởng không phải là tác phẩm của trí năng ta. Ta không có khả năng tạo ra chúng, ngược lại chúng sẽ cưỡng bách ta phải truy nhận chúng. « tôi thấy một điều rất quan trọng, đó là tôi nhìn thấy trong tôi vô số những ý tưởng về các sự vât, ta không thể coi chúng là hư vô, mặc dù chúng không hiện hữu cách nào hết ngoài tư duy tôi. Những ý tưởng này không do tôi bày đặt ra, mặc dù tôi được tự do suy tưởng hay không suy tưởng chúng. Vậy chúng có bản tính đích thực và bất biến của chúng » Có đặc điểm được Descartes nêu lên về các ý tưởng : một là chúng chỉ hiện hữu trong tâm trí ông thôi chư không hiện hữu trong thiên nhiên, hai là chúng không do tâm trí ông tạo nên bởi vì tâm trí ông không có quyền gì với việc quan niệm chúng, cho nên phải coi chúng là bản tính vĩnh cửu và bất biến do Thượng đế sáng tạo nên. Sau khi đã khẳng định rằng các ý tưởng là những bản tính vĩnh cửu và bất biến, và đưa chúng lên hàng những thực tại gần như hoàn toàn tự thân, Descartes mới đưa ra nguyên tắc phổ quát này : « tất cả những gì chân thật, đều là một cái gì». (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005). 2. Quan niệm về Thượng đế và chứng minh sự hiện hữu của Ngài Để chứng minh về sự tồn tại của Thượng Đế thì Descartes đã lập luận như sau : hoài nghi phổ quát đã dẫn tôi đến chỗ gặp tới hiện hữu của tôi, chủ thể suy tưởng. Tại vì mọi phủ định là những khẳng định, chối bao giờ cũng là quyết. chối giả thuyết đã thấy quyết. Chối là chối « cái gì », không thể chối không ? Như vậy nghĩa là tư tưởng luôn giả thuyết hữu thế. Nhưng xét về bản thân tôi, tôi thấy tôi là một hữu thể lửng lơ giữa hữu thể và hư vô. Cho nên tôi phải công nhận sự hiện hữu của Hữu thể vô cùng, tức Thượng đế. Tóm lại Descartes đi từ chỗ chối bỏ vũ trụ toàn diệ đến chỗ nhận ra sự kiện hiển nhiên là tư tưởng. Rồi từ sự kiện tư tưởng đi Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 15 tới chỗ nhận ra sự hiện hữu của tôi, hữu thể bất tất và bất toàn, Descartes đi tỡi chỗ công nhận Hữu thể tât yếu va toàn hảo. Như vậy Descartes rất thật với chính mình ông. Ông đã giải quyết vấn đề mộ cách đúng như ông đã đặt ra vấn đề. Ông đáng được người cùng thời như những người mấy thế kỹ sau khâm phục và tin theo, bởi vì Descartes là con người tôn giáo và ông viêt cho những người thấm nhuần niềm tin tôn giáo. Ngày nay sau bao đổi thay và đoc vỡ tinh thần, sau bao hoài nghi mới, những hoài nghi còn sắc bén hơn cả những hoài nghi lý thuyết của Descartes, con người không dẽ dàng chấp nhận cách lập luân của Descartes. Luận chứng của Descartes chứng minh có Thượng đế trở thành quá xa lạ với con người thời hiện đại. Với Descartes bản tính của vạn vật không là gì khác ngoài sự kết tinh của trường độ và chuyển động. Nói cách khác, vạn vật không có hồn làm cho sống động (như thuyết Duy hồn chủ trương), cũng không có mãnh lực thần bí nào, nhưng vạn vật chỉ là mớ vật chất được kích động do những động cơ. Tuy nhiên Descartes đã đi quá xa theo quan điểm này, Ông chủ trương chính thân xác ta cũng chỉ là một cái máy hoàn toàn chuyển động như một động cơ thường, và chỗ phát sinh ra chuyển động là quả tim. (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005). V. Sự hiện hữu của các vật thể: Tuy nói đến các sự vật vật chất, nhưng thực ra Descartes chỉ mong chứng minh sự hiên hữu của thân thể con người thôi vậy mà cũng vô cùng vất và kết quả cũng chưa hoàn toàn chăc chắn có thân thể. Descartes dùng khá nhiều thời gian để chứng minh sự hiện hữu của thân thể con người và sue hiện hữu của vật thể nói chung. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 16 1. Chứng minh sự hiện hữu của vật thể : Người ta thường nói Descartes phải đi bốn vòng mà không tìm ra thân thể ông vì ông khởi đầu triết học bằng việc hoài nghi hết thẩy mọi việc và chối bỏ thế giới, chối bỏ thân xác. Ta thấy Descartes theo một phương pháp khá chặt chẽ : ông đi từ chỗ chưng sminh có thể có thân thể đến trí năng, trí tưởng tượng, cảm giác về sự kiện di chuyển của con người để chứng minh sự hiện hữu của thân thể. Nếu chỉ có dùng trí năng, theo Descartes tôi chỉ có thể quyết rằng : vì tôi quan niệm các sự việc đó rõ ràng và phân minh, đông thời tôi biết Thượng đế toàn năng có thể tác thành mọi sự, cho nên tôi phải quyết định rằng Ngài có thể sáng tạo nên những sự vật mà tôi quan niệm rõ ràng và phân minh như thế. Với trí năng : Descartes mới chỉ quyết được rằng Thượng đế có thể sáng tác nên những sự vật mà ta quan niệm một cách rõ ràng và phân minh. Descartes đi đến hai kết luận : trước hết « trí tưởng tượng ở trong tôi, nhưng khác với khả năng quan niệm, tức khác với bản tính của tôi là một vật suy tưởng, cho nên nếu không có khả năng tưởng tượng thì tôi vẫn là tôi, thành thử phải kết luận rằng trí tưởng tượng tùy thuộc vào một sự vật khác hẳn tâm linh tôi ». Thứ hai : vì khả năng tưởng tượng chỉ cho phép tôi hình dung những sự vậ này, va không cho phép tôi hình dung những sự vật khác, cho nên tôi phải kết luận rằng « có lẽ », và chỉ có lẻ thôi, có những sự vật vật chất, tức những sự vật mà tôi hình dung được kia.[Triết Hoc Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005] 2. Tương quan giữa hồn và xác : Trước hết Descartes công nhận mối liên kết giữa hồn và xác có tính cách mật thiết. Tuy nói hồn độc lập và biệt lập với thân thể, ông vẫn không nghĩ như phái Platon rằng : « Tôi cưẹ ngụ trong cơ thể như thể người thuyền trưởng cư ngụ trong chiếc tàu của mình, nhưng tôi liên kết chặt chẽ với thân thể đó và hoàn toàn pha trộn với nó để trở thành một cái gì nhất thể » Thực ra Descartes vẫn chỉ xem thân thể gần Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 17 như một căn nhà của linh hồn ở, hoặc gần như một chiêcs thuyền để linh hồn cư ngụ. Giữa hồn và xác, Descartes đặt một cơ quan trung gian, gồm những tinh vật và nhất là bộ chỉ huy các tinh vật, tức cái tiểu hạch nằm giữa não bộ. Khác hẳn quan niệm của chúng ta ngày nay, coi thân thể là chính bản thân ta. Và với định nghĩa con người là hiên hữu tại thế, chúng ta không đặt một trung gian, hoặc một ngăn cách nào giữa linh hồn và thể xác. Tuy nói linh hồn và thân thể hiệp nhất với nhau gần như pha trộn với nhau để đúc thành một nhất thể, nhưng Descartes lại vội vẫng xác định vai trò của cái ông gọi là « hợp thể con người », tức hồn và xác. Theo ông hợp thể này có nhiệm vụ nhận xét về các sự vật hiện hữu quanh ta để « để theo đuổi những cái này, xa tránh những cái kia… vì con người tôi, xét như tôi được kết thành bởi tâm linh và thân thể, thì có khả năng nhận định về những điều tiện và bất tiện do vật bao quanh ta gây nên ». Với Descartes « thiên nhiên dạy tôi tránh những sự sinh ra đau khổ cho tôi, và đón nhận những cái mang lại cho tôi khoái lạc; ngoài ra thiên nhiên không dạy ta điều gì khác liên quan đến các sự vật ở quanh ta, bởi vì tri thức bản tính đích thực của sự vậtlà chức vụ riêng của mình tâm linh thôi, chứ không phải việc của hợp thể tâm linh và thân thể ». Nhưng hình như trong cái nhiệm vụ rất đơn giản của nó, cái hợp thể hồn xác vẫn vấp phải những sai lầm đáng sợ, những sai lầm khó mà thoát được. Descartes đưa ra hai trường hợp điển hình : ta thích ăn miếng thịt có pha trộn thuốc độc hơn vì xem ra có hương vị ngon hơn, nhưng trường hợp khó giải nghĩa nhất vẫn là người mắc bênh thủy thũng. Sao ta lại bị kích thích mạnh bởi miếng thịt có pha độc mà không biết cái lợi, cái hại. Phải chăng cái hợp thể hồn xác đã bất lực ngay trong cái chức vụ tầm thường dành cho nó. Nhất là những người mắc bệnh thủy thũng : họ khát nước, khổ vì khát khô cả họng, vậy mà họ uống nước vào thì sẽ làm tăng bệnh thêm vì thực ra cơ thể họ đã thừa nước rồi ». (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 18 Kết luận cho vấn đề tương quan giữa hồn và xác Descartes đã nói : « Từ nay tôi không còn sợ sai lầm trong những sự mà giác quan tôi giới thiệu với tôi nữa, và tôi phải vứt bỏ tất cả những hoài nghi của những ngày vừa qua, coi chúng quá trớn và đáng buồn cười ». Nhưng ông vẫn không thoát ra khỏi cái tính hay nghi ngờ của ông, cho nên sau khi quyết tâm xua đuổi những hoài nghi liwwn can đến giác quan và giấc ngủ, Descartes đã viết « Tuy nhiên thường khi công việc khẩn cấp bắt ta phải quyết đình không đủ thời gian xem xét kỹ càng, sinh hoạt con người dẽ vướng vào nhưng sai lầm trong các sự việc cụ thể, bởi thế ta phải nhận thức sự yếu đuối của bản tính ta ». (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) VI. Về khoa học : Nếu trong lĩnh cực siêu hình học thì Descartes là nhà khoa học ngã sang hướng duy tâm thì trong lịnh vực khoa học ông bộc lộ thế giới qua duy vật siêu hình, máy móc. Tuy nhiên có những điểm ông bộc lộ nhiều quan điểm biện chứng vượt trước thời đại. 1. Trong lĩnh vực vật lý học : Trước hết Descartes nói ông đã xây dựng khoa vật lý của ông trên nền tảng những nguyên lý siêu hình học mà ông đã tìm ra trước đó, tức trên Cagito và trên sự tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế toàn hảo. Descaster đã rút những nguyên lý của khoa vật lý từ những nguyên lý siêu hình. Như vậy Vật lý của Descartes vẫn nằm gọn trong khuôn khổ của khoa Vật lý chiêm ngưỡng, Vật lý suy niệm chứ không phải vật lý thực nghiệm như Galilee và Newton. a. Phương pháp của Descartes trong lĩnh vực Vật Lý : Ông quan niệm răng ông đã dùng và chỉ dùng những nguyên tắc đã giúp ông thành công trong lĩnh vực siêu hình. Trong Vật lý, Descartes đã dùng phương pháp toán học để tìm ra những căn bản. Một Vật lý không dựa trên thực nghiệm mà chỉ dựa vào những suy luận nên Vật lý của ông không thoát khỏi lý thuyết, trừu tượng và giả tưởng. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 19 b. Đối tượng được ông trình bày trong Vật lý của ông là : ánh sáng, mặt trời, các định tinh, các tầng trời, các hành tinh, các vì sao, các vật trên trái đất và sau cùng là con người. Có thể thấy khoa vật lý của ông quá sức tưởng tượng của chúng ta, nó quá đồ sộ. Nó bao gồm phần quang học của khoa vật lý ngày nay và gồm cả khoa thiên văn học, khoa vạn vật học, khoa sinh lý học...Tuy nhiên có thể thấy khoa học của Descartes không tránh khỏi lối suy diễn để bàn về bản tính các sự vật thiếu yếu tố thực nghiệm. Descartes xây dựng lý luận về vật chất và vận động. Vật chất bao gồm các hạt nhỏ, mịn có thể được phân chia đến vô cùng tận. Bản chất của vật chất là quãng tính. Không gian, thời gian và vận động là những thuộc tính gắn liền với những vật thể của vật chất. Không có không gian trống rỗng. Vận động của vật thể có nguồn gốc sâu xa từ cái hích ban đầu của Thượng Đế, sau đó vận động của các vật thể không thể được sinh ra, không thể bị tiêu diệt. Vận động của vật thể là vận động cơ giới, nghĩa là sự thay đổi vị trí của vật thể trong không gian, the thời gian dưới sự chi phối bởi các định luật cơ học. Dựa trên quan niệm này Descartes đã xây dựng mô hình vũ trụ. Nhờ vào cái hích đầu tiên của thượng đế, thế giới có được một xung lượng ba đầu. Xung lượng này đưa vật chất thành đồng nhất nguyên thủy – ete vào chuyển động xoáy, dẫn tới hình thành các hạt vật chất lớn dần. Đó là những hạt lửa bao trùm vũ trụ, những hạt không khí...rồi những hạt đất to nhất tạo thành các hành tinh và các cật cứng khác. Xung lượng nầy luôn luôn được bảo toàn trong quá trình chuyển động của vũ trụ. Trong vật lý ông đã vạch ra những định luật của thiên nhiên là những định luật nào, và không đặt những lý luận của ông trên nền một nguyên lý nào khác ngoài những sự toàn hảo của Thượng đế, ông đã chứng minh tất cả những định luật mà người ta có thể nghi ngờ, và cho thấy chúng như thế bởi vì dầu Thượng đế có sáng tạo nên bao nhiêu vũ trụ đi nữa, thì không nơi một vũ trụ nào mà các định luật đó được tuân theo. Sau đó ông đã cho thấy, theo các định luật đó, phần lớn vật chất của khối hỗn mang kia đã tự sắp xếp một cách nào đó để trở nên giống như các tầng trời Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 20 của ta ; một phần của khối vật chất tạo nên trái đất, một phần của khối vật chất tạo nên trái đất, một phần khác cấu thành các hành tinh và các sao chổi, một phần khác cấu tạo nên mặt trời và các định tinh. Và ở đây, bàm rộng về vấn đề đến ánh sáng, ông đã giải thích đầy đủ về ánh sáng nơi mặt trời và các định tinh là các ánh sáng nào, và từ đó nó tức khắc băng qua những không gian bao la của các tầng trời thế nào, nó phản ánh từ các hành tinh và các sao chổi thế nào để tới trái đất. Trong đó, ông cũng nói thêm nhiều điều liên can đến bản thể, vị trí, sự vận hành và các phẩm tính khác của các tầng trời đó và các tinh tú đó, thành thử ông nghĩ đã nói khá đầy đủ để người ta biết rằng không có gì nơi các tầng trời của các vũ trụ đó là không giống hoặc ít ra không có vẻ giống như các tâng trời của vũ trụ mà ông mô tả. (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) Sau đó ông đặc biệt nói về trái đất: mặc dù ông giả thiết rõ ràng Thượng đế không đặt một trọng lực nào trong chất thể làm nên nó, ông sẽ vạch cho thấy làm sao các phần của nó vẫn quy về đúng trung tâm của nó, vì có nước và khí trời trên mặt đất, nên vị trí của các tầng trời và các tinh tú, nhất là của mặt trăng, đã tạo nên thủy triều lên xuống giống từng li từng tí với thủy triều nơi các biển của chúng ta, ngoài ra còn có một luồng nước và khí từ đông sang tây hệt như ta thấy các vùng nhiệt đới ; các trái núi, các biển, các suối và sông ngòi, có thể tự nhiên hình thành nơi đó, và những kim khí đến tròng các mỏ, và cây cối mọc lên từ những cánh đồng, và nói chung các vật mà người ta gọi là hỗn hợp hay hợp thể đã sinh ra trong đó thế nào. Trong số các vật khác, sau các tinh tú, ông không thấy có gì trong cũ trú sinh ra ánh sáng như lửa, nên ông chăm lo giải nghĩa rất rõ ràng tất cả những gì thuộc về bản tính nó, nó được cấu tạo làm sao, nó được duy trì như thế nào, làm sao chỉ ít khi có lửa mà không có sức nóng và ánh sáng, và đôi khi có ánh sáng mà không có sức nóng ; làm sao nó đưa các màu sắc vào các vật thể, và các phẩm tính khác; làm sao nó làm chảy một số vật thẻ và làm cứng một số vật thể khác, sao nó có thể thiêu huy tất cả các vật thể mà có thể biến chúng thành tro và thành khói ; sau hết làm sao từ các tro này, nó dùng nguyên sức mạnh của hành động mình để làm nên thủy tinh, vì Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 21 sự biến đổi từ tro sang thủy tinh được ông coi là lạ lùng ngang hàng với bất cứ sự biến đổi nào khác trong thiên nhiên. Tuy nhiên ông không muốn từ những điều này đi tới kết luận rằng vũ trụ này đã được sáng tạo theo cách ông đề ra đó, vì xem ra có lý hơn để tin rằng, ngay từ khởi thủy, nó đã được Thượng đế làm nó trở thành như vậy. Nhưng chắc là, và đó là ý kiến được các nhà thần học chấp nhận, hành động của Ngài để bảo tồn nó thì cũng hệt như hành động ngài sáng tạo nó; thành thử mặc dù lúc khởi thủy Ngài không ban cho nó mô hình nào hết ngoài mô hình một hỗn mang, miễn là sau khi thiết lập các định luạt của thiên nhiên, Ngài giúp cho thiên nhiên hoạt động theo thói quen của nó, thì người ta có thể tin rằng nhờ đó các sự vật thuần túy vật chất có thể, cùng với thời gian, hình thành như ta thấy chúng hiện nay, mà không làm hại đến phép lạ của công việc sáng tạo; và bản tính của vạn vật sẽ dễ hiểu hơn khi ta nhìn chúng phát sinh dần dần theo cách đó, hơn là khi ta coi chúng như hoàn thành ngay từ đầu. (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) c. Xét về ưu điểm, khoa vật lý của Descartes có hai ưu điển lớn : · Ưu điểm quan trọng nhất chính là cái nhìn của ông, tức lập trường Vật Lý của ông, ta biết nhiều lần ông đã lên án khoa vâtk lý của Aristote và kinh viện là thứ vật lý suông, vật lý chiêm ngưỡng, một thứ triết học đội lốt khoa học. Thay vì thứ triết lý về thiên nhiên, thứ triết lý vật lý của Kinh Viện, Descartes đã gắng đưa ra một lý thuyết vật lý duy cơ, vật lý kỹ thuật, nhằm biến chế thiên nhiên để phục vụ cho những tiện nghi của con người, chứ không phải chỉ nhằm kiếm ra một lối giải thích suông như trước. · Ưu điểm thứ hai là đã khử trừ những cái mà triết lý của Aristote kêu là « mô thể » và « phẩm tính ». Với chủ trương coi mọi vật chỉ là trương độ cộng với chuyển động, Dsescartes đã mạnh dạn đưa ra lập trường kỹ thuật, nhắm đi tới một khoa Vật lý mới với « những tri thức rất có lợi ích cho sự sống con người » hòng dẫn tới một khoa Y học có khả năng tránh cho con con người Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 22 vô số những khả năng bệnh tật và tránh luôn sự già yếu. (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) d. Xét về những khuyết điểm trong khoa Vật Lý của Descartes có thể nói đến những khuyết điểm như sau : · Thứ nhất : Descartes đã mắc một lỗi lầm trầm trọng khi chủ trương xây dựng khoa vật lý dựa trên nền tảng những nguyên lý siêu hình. Với Descartes, điều ông tin tưởng nhất là điều mà ngày nay không ai có thể chấp nhận được nữa là ông chủ trương quy tất cả các khoa học về một mối duy nhất là Siêu Hình Học. · Thứ hai : là ông dùng một phương pháp không thích ứng đó là phương pháp suy diễn, tức phương pháp của siêu hình học. Chỉ phương pháp quy nạp mới dẫn con người từ những sự kiện nhỏ tới chỗ tìm ra những quy luật chi phối các sự kiện đó. (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) 2. Trong lĩnh vực sinh học : Descartes phát triển tư tưởng duy vật máy móc về sự phụ thuộc của tinh thần vào cơ cấu vật chất, vào trạng thái của các cơ quan trong cơ thể. Từ đó, ông khẳng định sự hình thành và phát triển của giới thực vật và giới động vật là quá trình hoàn toàn tự nhiên không có sự can thiệp của thượng đế. Ông là người khám phá ra cơ chế phản xạ, và coi mọi cơ thể sinh vật đều là các cổ máy có lắp đặt một cơ chế phản xạ. Sự hoạt động của cổ máy này sinh ra linh hồn thực vật và linh hồn động vật khả tử (Giáo Trình Đại Cương Lịch Sử Triết Học, 2003, Trang). Tuy nhiên theo Descartes, con người là một cổ máy - hệ thống có gắn liền với linh hồn lý tính bât tử. Theo ông cơ thể con người có cấu trúc rất phức tạp và hoàn thiện hơn so với cơ thể động vật thông thường. Mặc dù trong siêu hình học Descertes chỉ coi cơ thể là nơi trú ngụ của linh hồn để linh hồn thực hiện hoạt động bản chất của mình là nhận thức, nhưng trong lĩnh vực khoa học do tiếp cận được quan điểm duy vật nên ông đã coi cơ thể con người là khí quan vật chất, còn linh hồn là chức năng hoạt động của Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 23 cơ thể con người. Với quan điểm duy vật về khoa học này, Descartes rất kỳ vọng vào y học trong việc cải tạo thể xác và đời sống tinh thần của con người. Ngoài ra trong lĩnh vực sinh học, Descartes giữ quan điểm rằng máu là một chất lỏng tinh tế mà ông gọi là hồn của động vật. Ông tin rằng hồn động vật tiếp xúc với chất suy nghĩ ở trong não và chảy dọc theo các dây thần kinh để điều khiển cơ bắp và các phần khác của cơ thể (Nhập Môn Descartes, Robinson & Chris Garratt) 3. Trong lĩnh vực toán học : Descatres có những tư tưởng biện chứng vượt trước thời đại. Ông đã sửa đổi lại đại số, dùng hình chỉ số và dùng số chỉ hình, dùng chữ để chỉ các đại lượng biến thiên và đưa các đại lượng biến thiên vào trong toán học bên cạnh những đại lượng không đổi từ đó xuất hiện hình học giải tích, hàm số và phương pháp đồ thị. Với ý tưởng biện chứng này, Descartes đã đặt nền móng cho toán học hiện đại. Đối với ông, toán học là khoa học chính xác, rõ ràng, rành mạch nhất. Phương pháp diễn dịch toán học là phương pháp chung để thu được tri thức đúng đắn, bởi vì nó là phương pháp thể hiện bốn nguyên tắc phương pháp luận nhận thức mà trí tuệ phải tuân theo để đạt chân lý. (Giáo Trình Đại Cương Lịch Sử Triết Học, 2003, Trang) C. SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA TRIẾT HỌC DESCARTES ĐẾN NỀN VĂN MINH PHƯƠNG TÂY HIỆN ĐẠI : Triết học của Descartes đã đánh dấu một khúc quẹo của tư tưởng con người đối với vũ trụ, với trời và với chính ông. Descartes không chỉ là người khôi phục mà còn đưa truyền thống duy lý Phương Tây lên đỉnh cao. Ông đã đặt nền móng vững chắc cho khoa học lý thuyết. Lịch sử triết học, khoa học và văn minh tinh thần phương Tây chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi các tư tưởng của ông cho đến ngày nay. Nhìn tổng quát sự nghiệp tư tưởng của Descartes, ai cũng thấy ông là con người sống cho lý tưởng, suốt đời cặm cụi với những suy niệm triết học, những giả Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 24 thuyết khoa học và những định lý toán học. Sự đóng góp của ông vào công trình nhân loại thực lớn lao. 1. Trong lĩnh vực vật lý: Tuy ông không thành công, không góp được cái gì cụ thể vào lĩnh vực khoa học thực nghiệm, nhất là khoa Vật lý mà ông đã đặc biệt chú ý, nhưng không thể vì thế mà công nghiệp của ông không đáng kể. Chính nhờ những quan niệm cách mạng của ông về vũ trụ vạn vật, con người mới thoát ly lập trường cổ xưa về thiên nhiên thần thánh, rồi nhân đó mới xây dựng được khoa Vật Lý « kỹ thuật và hữu dụng, nhờ đó con người có thể tự coi là chủ nhân và sở hữu của thiên nhiên », mở ra một giai đoạn mới cho sự phát triển rực rỡ của nền khoa học Phương Tây hiện đại ngày nay. (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) Về quang học: Descartes đã khám phá ra định luật cơ bản của sự phản xạ: góc tới bằng góc phản xạ. Tiểu luận của ông là văn bản đầu tiên trình bày đề cập đến định luật này. Việc Descartes xem ánh sáng như một thứ áp lực trên môi trường chất rắn đã dẫn đường cho lý thuyết sóng của ánh sáng. 2. Về toán học Nói đến toán học Descartes chúng ta không thể nào không nhắc đến hệ trục tọa độ vuông góc mang tên ông là “hệ trục tọa độ Descartes vuông góc”. Việc tìm ra hệ trục tọa độ này là đóng góp quan trọng nhất của Descartes với nền toán học, nó đã hệ thống hóa hình học giải tích và ý tưởng vĩ đại này đã sản sinh ra môn hình học giải tích. Từ khi có hình học giải tích, việc nghiên cứu hình học đã qua đựơc một chặng đường dài phát triển, mở đường cho toán học hiện đại về sau (Trương Quang Đệ). Ông là nhà toán học đầu tiên phân loại các đường cong dựa theo tính chất của các phương trình tạo nên chúng. Ông cũng có những đóng góp vào lý thuyết về các đẳng thức. Descartes cũng là người đầu tiên dùng các chữ cái cuối cùng của bảng chữ cái để chỉ các ẩn số và dùng các chữ cái đầu tiên của bảng chữ cái để chỉ các giá trị đã biết. Ông cũng đã sáng tạo ra hệ thống ký hiệu để mô tả lũy thừa của các số. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 25 Mặc khác, chính ông đã thiết lập ra phương pháp, gọi là phương pháp dấu hiệu Descartes, để tìm số nghiệm âm, dương của bất cứ phương trình đại số nào. Nhờ những sáng tạo của ông đã giúp nhân loại tìm được hướng giải quyết những bài toán khó khăn của thời hiện đại, đưa nền văn minh Phương Tây tiến một bước xa hơn. 3. Lĩnh vực triết học nói chung: Với ông, triết học đã trút bỏ được cả một truyền thống nặng nề của triết học thiên nhiên, một thứ triết học không biết gì đến tư cách nhân vị tự do của con người. Triết truyền thống đặt cho con người ở bậc thang cao nhất trong hàng vạn vật của thế giới. Triết học Descartes đặt tất cả vụ trụ vạn vật dưới quyền sử dụng và biến chế của con người : con người không đứng trong vũ trụ nữa nhưng siêu việt trên vũ trụ. Vũ trụ vạn vật là thế giới vật lý, thế giới của luật tất định, còn con người thuộc thế giới tinh thần, tức thế giới của tự do và tự nhiệm. Descartes là chỗ đứt quãng của lịch sử tư tưởng Triết học. Sau ông nhiều triết gia như Kant, Hegel, Marx, Heidegger…làm nên những chỗ dứt quãng mới, nhưng tất cả sự khởi đầu do công tình của Descartes. Từ đó ta thấy vai trò to lớn của triết học Descartes trong nền văn minh Phương Tây phát triển rực rỡ về sau. Ta có thể thấy rõ điều này qua lời nhận xét cảu Husserl «những suy niệm của Descartes không phải chỉ là công việc tư nhân của nhà triết học Descartes, cũng không phải chỉ là hình thức văn học được ông dùng để trình bày những quan điểm triết lý của ông thôi. Những suy niệm đó thực sự phác họa ra cái hình thức tối thượng của những suy niệm cần thiết cho bất cứ triết gia nào muốn bắt tay vào công cuộc của mình, chỉ những suy niệm đó mới có thể phát sinh ra triết lý”. (Triết Học Descartes, Trần Thái Đỉnh, 2005) Theo nhà triết học Martin Heidegger cho rằng không có Descartes, “thì sẽ không thể nào có thế giới hiện đại”. Chủ nghĩa Duy Lý của Descartes đã giúp xã hội Phương Tây thoát ra khỏi những suy nghĩ cuồng tín, niềm tin mù quán, kinh nghiệm chủ quan, duy ý chí và cả sự phiêu lưu trong suy nghĩ và hành động, những tật xấu đã tồn tại khá lâu trong xã hội Phương Tây lúc bầy giờ. Chính nhờ Descartes đã giúp Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 26 cong người có khả năng phân biệt cái đúng với cái sai, có khả năng đấu tranh chống lại sự cuồng tín dưới mọi hình thức tôn giáo, chính trị, học thuật và từ bỏ mọi định kiến. Xây dựng một xã hội Phương Tây hiện đaị theo đúng nghĩa được mọi người chấp nhận là một thế giới duy lý. (Trương Quang Đệ) Xuất phát từ triết học Descartes về sự hiểu biết thế giới, hiểu biết về nguồn gốc sự việc và chủ nghĩa hoài nghĩ đã giúp con người chúng ta nói chung và xã hội Phương Tây nói riêng xây dựng được một thế giới hiện đại, với nền văn minh rực rỡ như ngày nay. Để làm được điều đó triết học Descartes đã nhắc ta nhất thiết phải biết nền tảng của sự việc, phải xuất phát từ những dữ liệu chắc chắn để suy luận ra một loạt những vấn đề. Chúng ta phải dựa vào chủ nghĩa duy lý trong hướng xây dựng. Tiểu luận Triết học GVHD: TS. Bùi Văn Mưa Lớp cao học Đêm 1-Khóa 19 Trang 27 TÀI LIỆU THAM KHẢO: 1. TS. Bùi Văn Mưa, Giáo trình Lịch Sử Triết Học, 2009 2. Nguyễn Ngọc Thu, Bùi Văn Mưa, Giáo Trình Đại Cương Lịch Sử Triết Học, NXB Tổng Hợp TP HCM, 2003. 3. TS. Trần Thái Đỉnh, Triết Học Descartes, NXB Văn Học, 2005 4. Dave Robinson & Chris Garratt, Nhập Môn Descartes, NXB Trẻ, 5. Đinh Ngọc Thạch, Tập bài giảng triết học Tây Âu cận đại, ĐH KHXH&NV TP HCM 6. Nguồn Internet: a. b. és_Descartes c.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfdetai13_buithidiemnga_d1_k19_9981.pdf