Đề tài Xây dựng giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc tây bắc nhằm phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn Từ 2012 - 2015

Tự bà con đồng bào đã không nhận thức được rằng giữ gìn trang phục truyền thống là góp phần quan trọng trong việc giữ gìn nền văn hóa dân tộc. Từ nhận thức chưa đúng nên có nhiều người, nhất là thế hệ trẻ hiểu sai lệch về giá trị của bộ trang phục truyền thống. Bên cạnh việc không tự ý thức được tầm quan trọng của việc giữ gìn, bảo lưu sắc phục truyền thống là sự tác động mạnh mẽ, ồ ạt của văn hóa nước ngoài, trong đó dễ nhận thấy, dễ bắt chước nhất là trang phục. Hơn nữa, sự tiện lợi của quần áo may sẵn ngập tràn thị trường đã thu hút, hấp dẫn đối với nhiều cô gái Mường vì để có một bộ trang phục dân tộc phải mất rất nhiều thời gian để dệt một tấm cạp và may áo, yếm, tênh. Thực tế đó cho thấy, các bậc cha mẹ ngày nay rất thờ ơ với việc giáo dục lớp trẻ dùng trang phục truyền thống, một yếu tố quan trọng giữ gìn, lưu giữ giá trị văn hóa dân tộc. Một số người cho rằng, mặc quần áo truyền thống không tiện lợi cho việc đồng áng và sinh hoạt. Lý do đó chưa hẳn đúng, vì cách thức sản xuất nông nghiệp ở đây nay chưa có gì khác xưa lắm, vẫn cày, cuốc, bừa, cấy bằng tay, trong khi đó các cụ ngày xưa còn mặc cả áo chùng đi làm ruộng mà hiệu quả công việc cũng không kém ngày nay.

pdf129 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 19/06/2014 | Lượt xem: 4112 | Lượt tải: 25download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đề tài Xây dựng giải pháp bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc tây bắc nhằm phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn Từ 2012 - 2015, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ếng mẹ đẻ của mình. Các em sẽ sáng tạo những tác phẩm bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình, làm cho kho tàng văn học thành văn của dân tộc phong phú thêm. Nhờ đó, tiếng dân tộc ngày càng đảm đương có hiệu quả các chức năng xã hội của mình. Việc dạy tiếng dân tộc chỉ trở nên thiết thực khi tiếng dân tộc được sử dụng trong in ấn tài liệu. Nghĩa là người học có tài liệu, sách đọc thêm để đọc. Do đó, bên cạnh việc xuất bản sách giáo khoa, dạy dỗ ở trường thì cần có những bài viết bằng tiếng dân tộc in trên các tờ báo địa phương thường nhật, xuất bản những cuốn sách tham khảo, truyện tranh… được viết bằng hai thứ chữ Việt – tiếng dân tộc để phục vụ cho nhu cầu học tập và tìm hiểu của đồng bào dân tộc. Phải xây dựng được một đội ngũ giáo viên có chất lượng và giàu nhiệt huyết, đảm bảo chữ dân tộc nào được người dân tộc đó dạy. Có như vậy chất lượng học tiếng dân tộc mới được đảm bảo. Kinh nghiệm cho thấy rằng, những tiếng dân tộc nào có một đội ngũ giáo viên là người dân tộc mình đảm nhận việc dạy học thì tiếng dân tộc đó được dạy có chất lượng và được duy trì liên tục. Do đó, cần có những chính sách khuyến khích, động viên, chế độ lương thưởng phù hợp để giúp cho các giáo viên có thể yên tâm công tác và làm hết trách nhiệm của mình. Thêm khoa tiếng dân tộc vào các trường cao đẳng, đại học dạy về sư phạm và ngôn ngữ để có thể đào tạo được một đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp, có hiểu biết sâu sắc về văn hóa ngôn ngữ dân tộc trở về phục vụ địa phương. GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 103 Tạo điều kiện cho các con em người dân tộc được học các trường đào tạo sư phạm để mai này họ sẽ trở thành giáo viên phục vụ cho bản làng của mình. Ngoài ra, Cần phải có sự tham gia của các ngành, các cấp, trước hết là được sự ủng hộ, quan tâm của chính quyền tỉnh. Thực tế cho thấy, việc tổ chức dạy tiếng dân tộc ở tỉnh nào có sự quan tâm của chính quyền, của ngành giáo dục thì phong trào được duy trì. Ý nghĩa : Nâng cao được trình độ dân trí cũng như những hiểu biết, ý thức của đồng bào về các giá trị văn hóa của dân tộc mình. Các giá trị văn hoá này được hình thành suốt chiều dài của lịch sử, tạo nên bản sắc và phong cách riêng của từng dân tộc. Đây là cơ sở liên kết dân tộc và tạo nên sức sống của dân tộc trong giao lưu với các cộng đồng dân tộc khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Việc nâng cao ý thức và tính tự giác của các đồng bào dân tộc trong việc thực hiện gìn giữ “ bộ gien di truyền” văn hóa quý hiếm của từng dân tộc là công việc đầu tiên và có ý nghĩa quyết định đến công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị dân tộc, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một quốc gia đa dân tộc thống nhất và là nền tảng để phát triển du lịch văn hóa tới Tây Bắc. Việc dạy tiếng dân tộc trong nhà trường là một biện pháp tốt nhất, có hiệu quả nhất nhằm bảo tồn, phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Bằng việc dạy học, học tiếng trong trường học, các thế hệ sau sẽ được tiếp nhận tiếng mẹ đẻ và góp phần làm giàu đẹp tiếng mẹ đẻ của mình. Nhờ vậy, tiếng mẹ đẻ không những được duy trì phát triển mà còn từng bước trở thành một ngôn ngữ văn hoá. Đây cũng là một biện pháp nhằm đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng cấp thiết của đồng bào dân tộc Tây Bắc. Chỉ khi nắm bắt, hiểu rõ và đáp ứng được tâm tư nguyện vọng, nhu cầu của người dân tộc ở đây một cách chính xác và đầy đủ thì việc quản lý mới có hiệu quả được. 3.1.2 Giải pháp 2 : Đẩy mạnh và khẩn trương sưu tầm, bảo vệ, khôi phục các di sản văn hóa đã và đang dần bị lãng quên hoặc bị thương mại hóa. Bảo vệ những di sản văn hóa có giá trị cho việc phát triển du lịch và văn hóa cộng đồng. Mục tiêu Tìm lại những giá trị văn hóa đã bị lãng quên. Tìm lại nguyên vẹn các giá trị văn hóa đã bị thương mại hóa. Bảo vệ những giá trị văn hóa và làm phong phú thêm kho tàng văn hóa dân tộc. Các giải pháp cụ thể Thực hiện việc kiểm kê các tài sản văn hoá vật thể và phi vật thể của đồng bào các dân tộc Tây Bắc, đặc biệt là ở những vùng khó khăn, xa xôi cách trở là một trong những việc làm cấp bách hiện nay của Đảng và Chính phủ, của bản thân mỗi dân tộc và trước hết là của các cấp lãnh đạo quản lý ngành văn hoá hiện nay ở địa phương cũng như của Trung ương. Khai thác phải đi đôi với việc bảo vệ, khôi phục những địa danh mang đậm bản sắc văn hóa của người Mường, người Thái, người Dao, người H’Mông (nhữngđịa điểm đang dần trở thành những điểm du lịch văn hoá thú vị ), Những chợ văn hoá ở Hoà Bình, Sơn La, Lai Châu, Lào Cai (đang dần thu hút được sự quan tâm của du khách trong nước và quốc tế). Việc khai thác các dịch vụ văn hoá và di sản văn hoá phải được tiến hành đồng bộ, có qui hoạch và phương pháp cụ thể, cần tránh sự thô thiển, thương mại hoá tràn lan, không chú ý bảo vệ các giá trị văn hoá dân tộc, phá vỡ cảnh quan và môi trường văn hoá dân tộc. Sưu tầm, bảo tồn những giá trị văn hoá đã bị thất lạc, lãng quên hoặc đang bị thương mại hoá. Đảng, nhà nước và các cấp chính quyền có trách nhiệm ở địa phương cần có sự quan tâm và đầu tư kinh phí hơn nữa cho công tác thu thập, sưu tầm các giá trị văn hóa còn nằm rải rác GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 105 trong trí nhớ của các cụ già, các làng thủ công truyền thống đang có nguy cơ bị thất truyền và đặc biệt là các luật tục, tác phẩm dân gian dân tộc. Vì các dân tộc ở vùng Tây Bắc có một kho tàng kiến thức rất phong phú và có giá trị cao về mặt quản lý xã hội được thể hiện qua văn hoá dân gian, như : tục ngữ, ca dao, truyện kể, hội lễ, sử thi, hương ước, luật tục… trong số này, hương ước và luật tục có vai trò quan trọng trong việc quản lý xã hội, nhưng mấy năm gần đây mới được quan tâm. Nếu thu thập được đầy đủ, đây là một kho tài sản quý báu, dồi dào về số lượng, phong phú về chủng loại. Chúng sẽ rất hữu ích cho sự nghiệp quản lý, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phát triển bền vững kinh tế – xã hội cho các dân tộc cũng như tạo nên một nét đẹp đặc trưng riêng biệt của mỗi dân tộc. Khuyến khích đồng bào duy trì và giữ vững nếp sống, phong tục tập quán, thói quen sinh hoạt theo phong cách riêng của dân tộc mình. Nhà sàn và sinh hoạt nhà sàn, y phục, phong cách giao tiếp, khôi phục các lễ hội, các nhạc cụ, điệu hát dân tộc bằng cách đưa lên sàn diễn, chế biến các món ăn dân tộc… là những công việc cần làm trước tiên, vừa đáp ứng được nhu cầu thưởng thức và tìm hiểu của du khách, vừa bảo tồn được những giá trị văn hoá dân tộc, đưa tinh hoa văn hoá dân tộc trở lại với cuộc sống cộng đồng. Gắn công tác du lịch với việc giữ gìn bản sắc văn hoá hoá là phương án tối ưu trong điều kiện hiện nay. Khẩn trương lập kế hoạch khai thác, di chuyển các di tích văn hóa ở vùng sắp bị ngập khi xây dựng các nhà máy thuỷ điện. Khu vực Tây Bắc cụ thể là ở Sơn La, trong những năm gần đây thường xuyên bị xảy ra các tình trạng sụt lún và ngập nước ở nơi gần nhà máy thủy điện Sơn La điều này ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân, đe dọa nghiêm trọng đến sự sống còn của những di tích văn hóa và tiềm năng phát triển du lịch của địa phương. Chính quyền địa phương và những bên có liên quan cần có những kế hoạch cụ thể để di chuyển hoặc bảo vệ các di tích văn hóa khỏi những tác động của con người. Việc tái định cư cho hàng chục vạn dân vùng lòng hồ Sơn La – Lai Châu phải được chú trọng đến và gắn với việc bảo vệ các di sản văn hoá. Cần đảm rằng ở nơi ở mới đồng bào vẫn có thể sinh hoạt và xây dựng cuộc sống bình thường, những di sản văn hóa vẫn được bảo vệ trước sự tác động của thời buổi công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá cơ sở. Mọi hoạt động văn hoá phải hướng về cơ sở, dân trực tiếp làm, dân quản lý, dân hưởng thụ. Cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể vừa lãnh đạo hướng dẫn, vừa trực tiếp tham gia các hoạt động văn hoá cùng quần chúng nhân dân. Tăng cường hơn nữa công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác văn hoá là người dân tộc để trở về phục vụ cho xã, bản mình. Coi trọng trường văn hoá nghệ thuật tỉnh để đủ sức đào tao cán bộ văn hoá cho các xã, bản. Xây dựng mô hình “ gia đình văn hoá”,”bản văn hoá” cho phù hợp với mỗi vùng dân tộc. Tuyên truyền giới thiệu văn hoá các dân tộc Thái,Mường, Dao, Mông với các dân tộc khác, với cả nước và quốc tế. Tạo nhiều chương trình giao lưu để các dân tộc có thể hiểu biết và học hỏi lẫn nhau. Đưa nội dung văn hoá, nhất là các tác phẩm văn học dân gian nổi tiếng của các dân tộc vào giảng dạy và học tập trong các trường phổ thông, chuyên nghiệp, đào tạo cán bộ. Nâng cao ý thức trách nhiệm cho mọi thành viên trong cộng đồng bảo vệ các giá trị văn hóa của dân tộc mình, của địa phương mình. Đề cao pháp luật trong việc bảo vệ di sản văn hóa dân tộc, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Việc bảo vệ tiếng nói, y phục, mái nhà dân tộc, thuần phong mỹ tục dân tộc trong điều kiện giao lưu văn hóa, mở GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 107 cửa và sự tác động mạnh mẽ của thị trường phải được quy định rõ bằng văn bản, chính sách luật. Nhà nước cần đầu tư và khuyến khích các tầng lớp nhân dân tham gia đóng góp sức mình vào công việc tôn tạo, tu bổ, sử dụng, khai thác hợp lý, có hiệu quả cách giá trị văn hóa truyền thống. Cần có sự tập hợp cách nghệ nhân văn hóa dưới mọi hình thức để làm sống dậy những giá trị văn hóa đang bị thời gian vùi lấp bằng sự quan tâm đầu tư đầy đủ và tổ chức chặt chẽ, đồng bộ, làm đến đâu chắc đến đó. Cần đưa ngay ra các thiết chế văn hóa để nghiên cứu, sưu tầm, biên dịch, biên tập xuất bản thành sách, thành băng hình, băng nhạc, thành tiết mục văn nghệ dân gian, lễ hội dân gian để phổ biến và lưu trữ các gái trị văn hóa truyền thống Cần sớm quy hoạch nhóm tượng đài chiến thắng chiến dịch Hòa Bình nằm trong quần thể khu bảo tàng du lịch văn hóa dân tộc. Ý nghĩa : Giữ gìn và lưu truyền được những giá trị văn hóa của đồng bào dân tộc trong thời buổi công nghiệp hóa hiện đại hóa. Góp phần giữ vững bản sắc riêng của từng dân tộc trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Nâng cao chất lượng đời sống văn hóa của người dân, nâng cao ý thức của các cán bộ đảng viên trong công cuộc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số. 3.1.3 Giải pháp 3 : Cải thiện những điểm chưa hoàn thiện, loại bỏ những yếu tố tiêu cực và tiếp thu tinh hoa văn hoá của các dân tộc khác Mục tiêu Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Mang đến cho đồng bào dân tộc một cuộc sống văn minh, tiến bộ nhưng vẫn đậm đà bản sắc văn hóa riêng. Mô tả giải pháp Việc chuyển một nền văn hoá tiền công nghiệp ở vùng núi và dân tộc thiểu số sang một nền văn hoá công nghiệp hiện đại là một quá trình cải tiến căn bản và lâu dài. Ơ đây, cần phải làm một cách bình tĩnh, kiên trì và thận trọng. Quá trình này không phải chỉ là quá trình đưa các yếu tố văn minh cấy vào xã hội cổ truyền mà còn là quá trình cấu trúc lại hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới trên cơ sở chuyển các giá trị tiến bộ và tích cực của hệ thống cũ vào hệ thống mới trên cơ sở những đòi hỏi của thời đại. Những yêu cầu phát triển của thời đại phải trở thành điểm tựa để lựa chọn các giá trị trong quá khứ và hiện tại. Bản sắc dân tộc không phải là cái bất biến, tĩnh tại, khép kín mà là ở trong xu thế động và mở. Nó luôn mang tính lịch sử cụ thể và luôn tạo lập các giá trị mới để thích ứng với yêu cầu phát triển chung của thời đại. Vì vậy, bản sắc dân tộc phải được hiểu trong xu thế phát triển và phát triển là điều kiện để giữu gìn bản sắc. Do đó điều quan trọng là phải thay đổi cách nhìn, cách suy nghĩ của đồng bào cho phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại, tránh xu thế bảo thủ, khép kín và phục cổ. Giáo dục, tuyên truyền và gần gũi với người dân tộc giúp họ hiểu được đâu là những giá trị cần được giữ gìn và phát huy, đâu là những giá trị cần được loại bỏ dần. Những phong tục, tập quán có giá trị văn hoá tích cực trong đám cưới, đám tang, làm vía, lễ hội, các nhạc cụ, ngành nghề truyền thống cần được khuyến khích phổ biến trong cộng đồng. Tránh tình trạng những phong tục đẹp lại cho là lạc hậu, tốn kém, bị xoá bỏ như “ lễ lên thang và ăn thề” trong đám cưới của người Thái. Không có lễ này sẽ không còn đám cưới theo phong tục người Thái. Với người Thái cần cải tiến đám cưới, tiến bộ và gọn như miền xuôi, chỉ giữ lại phong tục đẹp như đã nêu trên. Trong tang ma cũng chỉ nên rút gọn, mặc dù xã hội cộng đồng còn nặng tâm lý “ nghĩa tử là nghĩa tận”, nhất là đối với dân tộc Mông. Thực ra, thời gian tang ma kéo dài GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 109 như dân tộc Mông do thầy cúng phải “ cúng hết bài” “ cúng dở dang sẽ không thiêng, hồn không lên trời được sẽ quanh quẩn ở làng xóm thành ma đói hại người”, đó là những tư tưởng lạc hậu cần phải được loại trừ dần trong xã hội hiện đại. Ý nghĩa : Thực hiện một cách triệt để những biện pháp trên sẽ góp phần hoàn thiện nền văn hóa của các đồng bào dân tộc Tây Bắc. Góp phần vào công cuộc xây dựng một nền văn hóaViệt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. 3.1.4 Giải pháp 4 : Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong sinh hoạt hàng ngày. Mục tiêu Khôi phục lại những hoạt động văn hóa đã và đang dần bị mai một. Đưa các hoạt động văn hóa vào trong cuộc sống thật của người dân, làm cho các giá trị văn hóa sống trong từng nếp sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân. Mô tả giải pháp Để đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa vùng đồng bào dân tộc Mông, nhà nước cần có chính sách đầu tư thỏa đáng, xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, nơi sinh hoạt tập thể cho đồng bào Tây Bắc để phục vụ cho hội họp, các hoạt động văn hóa của nhân dân. Thực hiện các cuộc thi đua làng văn hóa, bản văn hóa giữa các bản làng, giữa các dân tộc ở khu vực Tây Bắc với nhau. Tổ chức các cuộc giao lưu văn hóa giữa các dân tộc với nhau để đồng bào các dân tộc hiểu biết hơn về phong tục, tập quán của nhau. Tạo mối quan hệ gần gũi thân thiết giữa cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Chú ý mở các cuộc liên hoan, sáng tác văn học nghệ thuật, những bài dân ca, bài hát mới đáp ứng nhu cầu ca hát của đồng bào ở các bản thôn hoặc cụm thôn bản. Có chính sách đãi ngộ thỏa đáng cho các các hoạt động văn hóa lưu động về vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc Tây Bắc. Khuyến khích người dân tổ chức nếp sống theo truyền thống dân tộc mình, mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình. Tổ chức tốt đời sống văn hóa cơ sở, nâng cao mức hưởng thụ và tiếp nhận văn hóa mới, đồng thời có biện pháp ngăn chặn các nguồn băng đĩa nhạc ngoại lai, tuyên truyền đạo trái phép đang thâm nhập một cách mạnh mẽ và phổ biến vào vùng đồng bào dân tộc Tây Bắc. Đưa ra những quy định bắt buộc người dân phải mặc trang phục truyền thống trong những ngày hội hè, lễ tết. Quy định mặc trang phục truyền thống của dân tộc của dân tộc mình đối với những cán bộ công chức nhà nước ở từng địa phương, các giáo viên giảng dạy và các em học sinh đến lớp. Khôi phục và duy trì các làng nghề thủ công truyền thống như thêu dệt, in sáp ong, ghép vải hoa văn tạo ra các sản phẩm thổ cẩm mới, nghề chạm khắc bạc, nghề thêu rèn đúc, nghề làm đồ mộc gia dụng, đan lát.... Bảo tồn tôn tạo các di sản văn hoá vật thể, các cảnh quan như các khu rừng thiêng, kiến trúc nhà cửa, khu ruộng bậc thang, rừng thảo quả, nương trồng lanh, dòng suối v.v... Ý nghĩa : Giúp cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc duy trì và bảo tồn nền văn hóa truyền thống của mình trong quá trình phát triển và hội nhập đất nước. 3.2 NHÓM GIẢI PHÁP “ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HOÁ TÂY BẮC VÀ DU LỊCH VIỆT NAM” 3.2.1 Giải pháp 1 : Xây dựng Làng Văn Hóa các dân tộc Tây Bắc Mục tiêu Tạo một không gian cho du khách có thể tìm hiểu về văn hóa, sinh hoạt của cộng đồng dân tộc ở Tây Bắc. Bên cạnh đó có thể tham gia các lễ hội, các trò GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 111 vui chơi giải trí cùng đồng bào dân tộc nơi đây mà không phải mất nhiều thời gian vận chuyển. Mô tả giải pháp Ngoài việc, nhà nước đã có chủ trương đầu tư cho dự án “ làng văn hoá – du lịch các dân tộc Việt Nam” tập trung ở Hà Tây thì cũng nên đầu tư làng văn hoá du lịch đặc trưng cho nền văn hoá của từng vùng ( Tây Bắc, Tây Nguyên,Việt Bắc…) với qui mô vừa phải, cũng không nhất thiết Nhà nước phải dùng nguồn ngân sách để đầu tư mà có thể kêu gọi các doanh nghiệp vào đầu tư. Nhà nước hỗ trợ một phần đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách thuế, đất đai, và một số chính sách ưu tiên khác. Mỗi vùng văn hoá có thể có rất nhiều dân tộc khác nhau, tuỳ theo từng điều kiện cụ thể mà có thể khai thác giới thiệu về văn hoá của toàn bộ các dân tộc trong vùng, nhưng cần tập trung khai thác có điểm nhấn một số dân tộc đặc trưng vùng văn hoá đó. Ví dụ : dân tộc Thái – Mường- H’ Mông ở Tây Bắc, Tày – Nùng ở Việt Bắc. Chọn địa điểm có địa thế, địa hình và vị trí phù hợp, kể cả việc thuận lợi cho phục vụ tham quan, nghỉ ngơi du lịch sau này. Việc thiết kế, qui hoạch và tổ chức khác thác dự án nên qui hoạch đầy đủ các khu chức năng để đảm bảo từ việc bảo tồn, giới thiệu văn hoá đến việc nghỉ ngơi, thưởng thức và tham gia vào hoạt động văn hoá dân gian, tổ chức sản xuất giới thiệu các nghề thủ công truyền thống… o Khu làng của các dân tộc : ngoài việc quan tâm đến qui hoạch cảnh quan làng – bản, thiết kế kiến trúc từng ngôi nhà, vườn, cây… thì phải lưu ý đến các tinh hoa văn hoá vật thể tiêu biểu, điển hình đã có trong lịch sử đời sống các dân tộc như : đình, nhà sàn, nhà mồ, tượng, nhạc cụ hay các phẩm vật thủ công… o Khu trung tâm vui chơi giải trí : tổ chức các lễ hội như : lễ cầu mát, Lễ Thành Hoàng, Hội xuống đồng của người Mường, lễ tế thần linh, lễ cúng trời, xên bản của người Thái, các lễ hội lịch sử, nghi lễ vòng đời, lễ hội tốn giáo, tín ngưỡng… o Tổ chức các trò chơi dân gian bao gồm : các trò chơi giải trí như thả diều, đánh đu, chọi gà, bắt trạch trong chum, leo cầu um… các trò chơi mang ý nghĩa tín ngưỡng như: tung còn, đánh phết, ném cầu, vật cù, cướp nõ nường, múa mo… các trò chơi thi tài như : thổi cơm thi, leo cầu, bắt vịt, săn cuốc, đuổi lợn, thi pháo đất, thi dệt vải… ngoài ra còn có các trò chơi dân gian cho trẻ em, các trò thi đấu thể thao… o Tổ chức các chợ và chợ phiên của các dân tộc như chợ xuân, chợ thủ công, chợ tình, chợ phiên… o Tổ chức các khu công viên văn hoá : nơi đây sẽ tái hiện sống động các truyền thuyết, lịch sử văn háo của từng dân tộc. o Khu sản xuất các sản phẩm văn hoá bằng thủ công là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất thường nhật của người dân nhằm mục đích giới thiệu và kinh doanh các mặt hàng trực tiếp từ những bàn tay khéo léo của bà con các dân tộc như dệt vải, sản xuất nhạc cụ dân tộc, rèn đúc công cụ sản xuất, mây tre đan, rượu cần… Trong làng văn hoá – du lịch ta không thể đưa nguyên xi tất cả những gì đang có và đang diễn ra thường nhật ở các dân tộc vào được mà phải nghiên cứu chọn lọc các yếu tố điển hình và những nét đặc trưng tiêu biểu nhất. Cần vật thể hoá, tạo ra những bối cảnh độc đáo và hấp dẫn cho các hình thái hoạt động của văn hóa phi vật thể. Ý nghĩa Mô hình “ làng văn hoá” nếu đầu tư thích đáng, nghiên cứu kỹ, khai thác triệt để, thì có thể sẽ trở thành một mô hình thu nhỏ của một dân tộc, một vùng văn hoá hoặc của cả một đất nước. Nó vừa giúp bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc trong một quốc gia, vừa thúc GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 113 đẩy phát triển kinh tế du lịch mạnh mẽ. Góp phần quảng bá hiệu quả hình ảnh Việt Nam với bạn bè năm châu và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. 3.2.2 Giải pháp 2 : Nhà nước cần đưa ra các chính sách khuyến khích, Kêu gọi và hỗ trợ các nhà đầu tư tư nhân đầu tư vào phát triển du lịch văn hoá Tây Bắc Mục tiêu Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư khai thác tiềm năng du lịch ở Tây Bắc, tăng thêm nguồn vốn để giúp phát triển kinh tế du lịch Tây Bắc, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và tăng nguồn doanh thu cho khu vực và quốc gia. Mô tả giải pháp Nhà nước cần có những chính sách phù hợp và kịp thời để khuyến khích, kêu gọi và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào việc phát triển du lịch văn hóa ở Tây Bắc. Để tuỳ theo hoàn cảnh, điều kiện địa lý, xã hội, năng lực và khả năng tài chính và khai thác tài chính của mỗi doanh nghiệp mà họ có thể lựa chọn một lĩnh vực đầu tư cho phù hợp chẳng hạn : o Đầu tư khai thác trong lĩnh vực văn hoá phi vật thể như: khai thác, giới thiệu, biểu diễn diễn những làn điệu dân tộc, tái hiện các lễ hội, phong tục tập quán mang đậm bản sắc riêng của từng dân tộc. o Đầu tư khai thác sản xuất các sản phẩm văn hoá ( văn hoá phẩm) đặc trưng phục vụ cho khách du lịch và xuất khẩu : dệt thổ cẩm, sản xuất đồ mây tre đan, sản xuất các nhạc cụ dân tộc nguyên mẫu và mô hình, các sản vật như rượu cần… Những chính sách khuyến khích đầu tư cụ thể như sau : Cần nhanh chóng hoàn thiện chính sách quy hoạch du lịch tổng thể vùng Tây Bắc, tiến tới xây dựng quy hoạch chi tiết, định hướng phát triển du lịch Tây Bắc theo một hướng thống nhất, hiệu quả. Hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước trong việc sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn tài nguyên nhân văn cho phát triển du lịch. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo cơ chế ưu đãi về thuế, hỗ trợ vốn… cho các doanh nghiệp du lịch đầu tư vào lĩnh vực du lịch văn hóa. Tăng cường, chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch phục vụ cho loại hình du lịch văn hóa - nhân văn như đường sá giao thông, hệ thống cấp thoát nước, cơ sở y tế, thông tin liên lạc… tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch ở khu vực Tây Bắc. Nâng cao nhận thức của cộng đồng về phát triển du lịch văn hóa và những lợi ích mà du lịch đem lại cho người dân địa phương, cảnh báo những tác động tiêu cực mà hoạt động du lịch có thể gây ra, đồng thời đẩy mạnh công tác xúc tiến quảng bá du lịch thông qua các chiến dịch quảng bá trong và ngoài nước. Ý nghĩa Việc kêu gọi, tạo điều kiện và để cho các doanh nghiệp tham gia gánh vác một phần vào sự nghiệp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc bằng cách đầu tư vào các lĩnh vực văn hoá sẽ mang lại nhiều lợi ích cho cả xã hội và doanh nghiệp ở chỗ : o Nhà nước không phải dùng nguồn ngân sách để đầu tư mà các di sản văn hoá vẫn được bảo tồn và phát huy. GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 115 o Do doanh nghiệp phải tự bỏ vốn hoặc tự khai thác các nguồn vốn, cho nên việc đầu tư sẽ được tính toán kỹ lưỡng tránh lãng phí và đặc biệt là không để dự án kéo dài dây dưa. o Doanh nghiệp đầu tư vào văn hoá để khai thác du lịch và kinh doanh sản xuất sẽ tạo động lực phát triển kinh tế-xã hội, giải quyết công ăn việc làm tai các địa phương và vùng lãnh thổ. Chính sự phát triển này sẽ lại là động lực, thậm chí còn là nguồn lực phục vụ cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá. o Tuỳ theo năng lực của mỗi doanh nghiệp, có thể đầu tư vào nhiều lĩnh vực văn hoá khác nhau, cùng với sự đầu tư của Nhà nước, sẽ tạo ra được nhiều nguồn lực, tạo được tính xã hội hoá cao trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. 3.2.3 Giải pháp 3 : Thực hiện hàng loạt các chính sách nhằm nâng cao vai trò và trách nhiệm của cộng đồng địa phương trong việc phát triển du lịch Tây Bắc. Mục tiêu Xây dựng và đào tạo nguồn nhân lực địa phương có chất lượng để phục vụ cho sự phát triển du lịch Tây Bắc. Tăng mức độ tham gia đóng góp của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch, tạo công ăn việc làm, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Mô tả giải pháp Muốn phát triển du lịch văn hóa một cách bền vững thì đầu tiên phải nâng cao được vai trò, trách nhiệm của cộng đồng địa phương. Các cấp chính quyền ở các tỉnh Tây Bắc phải trao quyền cho các tộc người ở đây tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch và đề ra các quyết định về quản lý du lịch, phát triển du lịch tại địa phương có sự tham gia của các tổ chức tư vấn và thành phần hữu quan khác. Họ phải được tham gia cung cấp các dịch vụ du lịch như dịch vụ ăn nghỉ, giải trí, mua bán… cho du khách. Nhà nước phải có chính sách bắt buộc các doanh nghiệp khai thác du lịch ở Tây Bắc phải sử dụng nhân lực tại các làng dân tộc địa phương. Cộng đồng địa phương có quyền thu lệ phí tại các điểm du lịch ở làng bản như : Cát Cát, Tả Phìn, Cầu Mây… Để đảm bảo chất lượng nguồn nhân lực ở địa phương trong du lịch thì phải xây dựng và phát triển các trường đào tạo về du lịch ở Tây Bắc dành cho con em người dân địa phương. Mỗi tỉnh ở khu vực Tây Bắc nên xây dựng ít nhất là một trường hoặc một cơ sở đào tạo nhân lực du lịch theo yêu cầu cụ thể của từng tỉnh. Phải tuỳ vào tình hình thực tế của du lịch cả nước nói chung và của Tây Bắc nói riêng để có số lượng và chính sách đào tạo cho phù hợp. Chính phủ và các tỉnh ở Tây Bắc cần có quy hoạch chung về đào tạo và gắn đào tạo với sử dụng, không nên để xuất hiện tình trạng tự phát. Công tác đào tạo nên gắn với việc sử dụng cho du lịch ngay tại địa phương, tránh kiểu nhân lực vừa thừa vừa thiếu. Cần có những chính sách ưu tiên con em dân tộc ở các vùng này, tạo điều kiện để họ tham gia trực tiếp vào các công trình, dự án du lịch tại địa phương. Nguồn nhân lực quyết định chất lượng sản phẩm, vì vậy các công ty khai thác du lịch ở Tây Bắc nên tập trung xây dựng đội ngũ nhân lực du lịch đáp ứng yêu cầu về số lượng và chất lượng cho hoạt động của doanh nghiệp mình. Đánh giá chính xác chất lượng đội ngũ, có chính sách bồi dưỡng, nâng cao trình độ nguồn nhân lực hiện co, thu hút và tăng cường chất lượng đào tạo nhân lực du lịch trong tương lai. Có cơ chế phù hợp để khuyến khích các nghệ nhân tham gia các hoạt động du lịch văn hóa. Chính quyền địa phương phải có trách nhiệm giáo dục, hướng dẫn, mở các lớp đào tạo cho con em địa phương tham gia vào lĩnh GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 117 vực du lịch. Không để tình trạng tự phát như trẻ em bỏ học, người dân địa phương đua nhau đi bán hàng rong chèo kéo du khách hoặc xin ăn… làm mất đi hình ảnh tốt đẹp về du lịch Tây Bắc trong mắt du khách. Ý nghĩa : Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch đòi hỏi mối quan hệ mật thiết giữa cơ sở khai thác du lịch và cộng đồng địa phương. Sự đóng góp của cộng đồng địa phương là điều kiện quan trọng để xây dựng được một sản phẩm du lịch văn hóa Tây Bắc có chất lượng và có những nét đặc trưng nổi bật, khác biệt với các sản phẩm du lịch ở các nơi khác. Như vậy, có thể nói đào tạo về nhân lực địa phương có chất lượng là sự đầu tư đúng đắn và góp phần hình thành nên thương hiệu sản phẩm du lịch văn hóa Tây Bắc. 3.2.4 Giải pháp 4 : Nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch văn hóa khu vực Tây Bắc Mục tiêu Tập trung phát triển sản phẩm du lịch văn hóa tiêu biểu, độc đáo và có chất lượng, mang dấu ấn riêng của Tây Bắc. Khai thác hiệu quả các tiềm năng du lịch sẵn có ở Tây Bắc. Xây dựng thương hiệu cho du lịch Tây Bắc Mô tả giải pháp . Chất lượng sản phẩm dịch vụ cần được hiểu là sự tổng hợp của giá trị nhân văn, tính đa dạng, thái độ phục vụ, sự tiện nghi và khả năng sẵn sàng phục vụ. Bởi vậy, giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ du lịch văn hóa Tây Bắc là thực hiện những giải pháp cụ thể sau : Thứ nhất, về công tác quy hoạch các điểm, tuyến du lịch Tây Bắc. Nhà nước cần phải chủ động xây dựng quy hoạch và quy hoạch phải đi trước một bước, quy hoạch phải đảm bảo tính khoa học và đồng bộ. Chú trọng đầu tư đối với những khu, điểm du lịch có khả năng phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù, có sức cạnh tranh và đặc biệt cần quan tâm và có những cơ chế chính sách ưu tiên đầu tư ở những khu, điểm du lịch ở những miền núi xa xôi - nơi có tiềm năng du lịch hấp dẫn, nhưng hệ thống cơ sở hạ tầng xã hội còn yếu kém và cuộc sống người dân còn nhiều khó khăn. Đối với những điểm du lịch trọng điểm của khu vực Tây Bắc cần quy hoạch đường sá hợp lý, có hệ thống cầu vượt, hệ thống công trình ngầm, bãi đậu xe đủ rộng, hợp lý. Hệ thống sân bay, cảng biển, điện, thoát nước, cấp nước, bãi xử lý nước thải, nghĩa trang hiện đại, khoa học và kiến trúc hài hoà giữa cảnh quan thiên nhiên và môi trường với hạ tầng khu vực. Thứ hai, Đầu tư xây dựng đồng bộ và có trọng tâm, trọng điểm hệ thống cơ sở hạ tầng ở các khu, điểm du lịch: Hiện nay, ngành Du lịch Việt Nam đang tiếp tục thực hiện “Chương trình hành động quốc gia về du lịch”, trong đó có chương trình đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch, trong đó ưu tiên đầu tư cho các khu du lịch quốc gia. Từ năm 2000 - 2010, chương trình này đã đầu tư trên 4 ngàn tỷ đồng vào phát triển cơ sở hạ tầng du lịch trên phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, việc đầu tư này còn dàn trải, không đồng bộ… nên hiệu quả đầu tư là không cao. Đây là nguồn vốn đầu tư ban đầu của Nhà nước nhằm kích thích và hấp dẫn các nhà đầu tư. Tây Bắc là một vùng hội tụ đủ những điều kiện để có thể trở thành một khu du lịch quốc gia. Vì vậy cần tranh thủ nguồn vốn hỗ trợ từ “Chương trình” để đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng (giao thông, cấp điện nước, bến tàu du lịch, xử lý môi trường và chất thải…) để làm cơ sở thu hút các nhà đầu tư vào các công trình dịch vụ du lịch khác. Ngoài ra, các tỉnh Tây Bắc cũng cần kiến nghị để được hỗ trợ thêm nguồn vốn này để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 119 ở một số khu, điểm du lịch quan trọng khác của khu vực, đặc biệt là ở những vùng sâu vùng xa, các vùng có điều kiện KT - XH khó khăn, các điểm du lịch gắn với giá trị đa dạng sinh học, gắn với giá trị văn hóa bản địa… Ngoài nguồn vốn ngân sách nhà nước (cả Trung ương và địa phương) dành cho phát triển cơ sở hạ tầng khu du lịch, Tây Bắc có thể khai thác thêm các nguồn vốn khác cho công tác này như tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế, nguồn vốn ODA, FDI và các nguồn vốn khác… Nghiên cứu xây dựng và ban hành cơ chế huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch theo hướng: Cơ chế huy động vốn đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch từ việc đấu giá quyền sử dụng đất; xã hội hóa công tác đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch; phát hành trái phiếu; hình thức BOT trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch gắn với các cơ sở dịch vụ kinh doanh du lịch; điều tiết các khoản thu ngân sách của địa phương trong việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng du lịch; cơ chế về việc sử dụng các ưu đãi đầu tư (tín dụng phát triển, thuế..)... Thứ ba, Đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở lưu trú có chất lượng và các công trình dịch vụ du lịch bổ trợ khác: Trong tiến trình hội nhập của du lịch Tây Bắc với du lịch cả nước, du lịch Việt Nam với khu vực và thế giới, các tiêu chuẩn về dịch vụ du lịch phải được nâng cao phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Trên phạm vi cả nước, hiện nay Việt Nam có hệ thống khách sạn du lịch tương đối phát triển, tuy nhiên đối với Tây Bắc thì hệ thống khách sạn mặc dù đã đứợc đầu tư xây mới và nâng cấp, phần nào đã đáp ứng được nhu cầu lứu trú cho khách du lịch. Nhưng trong bối cảnh hội nhập và trong xu thế phát triển hiện nay, khả nãng đáp ứng của hệ thống khách sạn ở Tây Bắc còn rất hạn chế và chưa đáp ứng được nhu cầu. Chính vì vậy việc đầu tư nâng cấp và xây dựng mới hệ thống khách sạn, đặc biệt là các khách sạn thương mại, khách sạn nghỉ dưỡng cao cấp (3 - 4 sao) với đầy đủ các công trình dịch vụ bổ trợ (tổ hợp thể thao, khu hội chợ, hội nghị, hội thảo, các nhà hàng, cõ sở vui chõi giải trí…) ở nơi đây là hết sức quan trọng và cần thiết. Về hướng đầu tư phát triển không gian hệ thống khách sạn thì cần ưu tiên các dự án xây dựng khách sạn, nhà hàng cao cấp ở Khu du lịch, những tuyến du lịch trọng điểm. Ở các không gian du lịch khác (các khu, điểm du lịch có ý nghĩa địa phương) chỉ nên đầu tý xây dựng các khách sạn với quy mô và tiêu chuẩn trung bình để đảm bảo tính hiệu quả và phù hợp với lĩnh vực kinh doanh. Bên cạnh đó cũng cần chú trọng phát triển hệ thống lưu trú sinh thái, hệ thống lưu trú trong dân... Thứ tư, tăng cường quản lý nhà nước về cơ sở hạ tầng. Ban hành các chính sách pháp luật phù hợp và thực hiện nghiêm chính sách đó. Quản lý tốt công trình hạ tầng kỹ thuật và quản lý tốt đất đai. Quản lý tốt quá trình đầu tư nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng đảm bảo. Tăng cường quản lý nhà nước đảm bảo thu hút đầu tý tạo ra các công trình chất lượng hiệu quả, chống thất thoát trong xây dựng cơ bản. Ý nghĩa : Xây dựng tiền đề cho việc phát triển Tây Bắc trở thành một khu du lịch văn hóa trọng điểm của quốc gia. 3.2.5 Giải pháp 5 : Xúc tiến và quảng bá hình ảnh du lịch Tây Bắc Mục tiêu Mang hình ảnh của du lịch Tây Bắc đến với đồng bào mọi miền của tổ quốc và với du khách quốc tế. Mô tả giải pháp GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 121 Xuất bản các ấn phẩm giới thiệu về du lich Tây Bắc, đĩa tư liệu CD ROM, bản đồ du lịch Tây Bắc bằng hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh. Xây dựng và phát triển website, tận dụng ưu thế của Blog, của các forum để giới thiệu về du lịch Tây Bắc. Đặc biệt, phải xây dựng 1 website chuyên biệt về du lịch Tây Bắc. Phối hợp với các phương tiện truyền thông, tổ chức các hội nghị, hộ thảo giới thiệu về du lịch Tây Bắc với du khách tham quan và các nhà đầu tư. Đặt panno giới thiệu về du lịch Tây Bắc tại các vị trí cửa ngõ giao thông. Tăng cường khả năng liên kết vùng và khu vực. Đặc biệt là liên kết với những khu vực lân cận. Tây Bắc cần tận dụng ưu thế thu hút khách của các vùng du lịch lân cận đã phát triển để kết hợp thu hút du khách đến Tây Bắc, tổ chức các tour du lịch kết hợp giữa các vùng. Ý nghĩa Quảng bá về con người, phong cảnh, văn hóa của các dân tộc vùng Tây Bắc. Tạo điều kiện phát triển du lịch đến Tây Bắc. 3.3 CÁC GIẢI PHÁP KHÁC 3.3.1 Giải pháp 1 : Dạy người dân Tây Bắc làm kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Tây Bắc Mục tiêu Cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của đồng bào. Tạo cơ sở vững chắc để bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc. Các giải pháp cụ thể Cuộc sống của đồng bào Tây Bắc hiện nay vẫn còn rất khó khăn, mang đậm tính chất của một nền kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp. Bởi vậy, việc các dân tộc tìm đến miền xuôi, học theo lối sống văn hóa và làm kinh tế như người miền xuôi để dần mai một hết những giá trị truyền thống của dân tộc mình cũng là một điều dễ hiểu. Muốn duy trì, bảo vệ và phát triển được các giá trị văn hóa của các dân tộc Tây Bắc thì phải giúp người dân Tây Bắc làm kinh tế, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của họ. Chỉ khi cuộc sống của họ được đảm bảo thì các giá trị văn hóa của họ mới được đảm bảo. Mặt khác, Văn hoá không phải là nhân tố đứng bên ngoài là kết quả thụ động của kinh tế mà là nguồn lực nội sinh, là nguyên nhân thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển. Đó là lí do vì sao muốn bảo tồn các giá trị văn hóa thì phải phát triển kinh tế và muốn phát triển kinh tế du lịch thì phải bảo tồn văn hóa. Để phát triển kinh tế ở Tây Bắc trước tiên phải Sử dụng và phát huy văn hoá kiến thức truyền thống. Vì Tây Bắc là một nơi khá đặc trưng về khí hậu, môi trường sinh thái, địa hình đa dạng, tình trạng văn hoá xã hội cũng khá đa dạng với rất nhiều dân tộc sinh sống. Nếu chỉ áp dụng các biện pháp khoa học, kỹ thuật, kinh tế, xã hội sẽ dẫn đến sai lầm, thiệt hại, lãng phí và suy thoái nặng nề. Cho nên văn hoá kiến thức truyền thống của dân tộc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trở ngại lớn nhất cho việc sử dụng, phát huy kiến thức truyền thống là thuộc hệ tư tưởng. Tâm lý phổ biến trong nhân dân và cán bộ là chỉ ham chuộng kỹ thuật mới lạ từ bên ngoài đem đến, kiến thức của ông cha để lại thì cho là lạc hậu. Lâu nay khi nói đến chuyển giao kỹ thuật thì chỉ nghĩ đến kỹ thuật hiện đại, khoa học phương tây. Do nhận thức sai mà một số người quá mê tín văn hoá kiến thức nước ngoài, chê bai văn hoá kiến thức truyền thống. Dần dần chính đông đảo cộng đồng địa phương vốn có rất nhiều kinh nghiệm quý cũng mất lòng tin vào khả năng của mình, trở nên phục thuộc vào các giải pháp từ bên ngoài đưa vào để giải quyết các vấn đề rất đặc trưng của họ. Kết quả là thất bại. Do đó, trước tiên là phải giáo dục cho người dân có nhận thức đúng GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 123 đắn về vai trò của văn hoá kiến thức truyền thống. Tiếp theo là các phương hướng và biện pháp cụ thể như sau : o Sưu tầm ghi chép văn hoá kiến thức truyền thống, xây dựng bộ hồ sơ về kho tàng văn hoá kiến thức truyền thống. o Giúp các cộng đồng bảo tồn văn hoá kiến thức truyền thống, cung cấp cho cán bộ và nhân dân địa phương. o Có chính sách, chế độ bảo đảm quyền sở hữu văn hoá kiến thức truyền thống. o Sử dụng văn háo kiến thức truyền thống trong các dự án kinh tế – xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì văn hoá kiến thức truyền thống cũng có không ít nhược điểm. Vì vậy trước khi sử dụng văn hoá kiến thức truyền thống phải được đánh giá một cách kỹ lưỡng sự phù hợp, tính hiệu quả và tính bền vững của nó. Tiếp đó, có thể nói phát triển kinh tế du lịch là một giải pháp giúp thay đổi sâu sắc xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Tây Bắc một cách hiệu quả nhất. Nhà nước cần có chính sách cụ thể để hướng dẫn người dân làm kinh tế bằng cách làm ra những sản phẩm phục vụ cho khách du lịch. Những chính sách này phải được quy hoạch đồng bộ, tránh tình trạng tự phát làm ảnh hưởng đến hình ảnh du lịch Tây Bắc và làm mai một đi những giá trị văn hóa của con người nơi đây. Ý nghĩa 3.3.2 Giải pháp 2 : Phát triển đài phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số phục vụ cho bà con dân tộc đồng bào Tây Bắc Mục tiêu Tạo kênh thông tin giải trí cho người dân, giúp cho đời sống tinh thần của họ thêm phong phú. Tạo kênh giáo dục, tuyên truyền và kênh thông tin chính thức những chính sách của Đảng và nhà nước đến các đồng bào dân tộc thiểu số xa xôi. Giải pháp cụ thể Vùng tây bắc là vùng có địa hình hiểm trở nhất, giao thông đi lại khó khăn nhất, trình độ dân trí và văn hoá còn thấp, đời sống của bà con dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn. Do đó, việc đẩy mạnh hoạt động của hệ thống thông tin đại chúng, trong đó có phát thanh, truyền thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số ở khu vực này là đặc biệt quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Đài tiếng nói Việt Nam là cơ quan thông tin đại chúng quốc gia có nhiều chương trình phát thanh bằng tiếng dân tộc thiểu số nhất. Với nội dung phong phú và hình thức thể hiện sự gần gũi, sinh động, các chương trình phát triển bằng tiếng dân tộc trên làn sóng đài tiếng nói Việt Nam đã thực sự vừa là diễn đàn rộng rai, vừa là người bạn gần gũi tâm tình của đồng bào các dân tộc. Vốn là những cư dân sinh sống bằng kinh tế nông nghiệp nương rẫy, địa bàn cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc rất xa xôi, hẻo lánh, giao thông cản trở, có những nơi báo chí muốn đến được phải mất 5-7 ngày đường. Chính vì vậy, các chương trình phát thanh tiếng dân tộc là một binh chủng tinh nhuệ, có hiệu quả nhất trên mặt trận tư tưởng – văn hoá đáp ứng nhanh chóng và kịp thời nhu cầu thông tin và nhận thức của đồng bào. Trong tình hình chữ viết đã thiếu, sách báo về bản, làng lại hết sức khó khăn thì việc nghe đài xem truyền hình bằng tiếng mẹ đẻ là một nhu cầu cấp thiết và là phương tiện chính để đồng bào các dân tộc tiếp nhận thông tin thưởng thức giải trí. Có thể nói làn sóng của đài tiếng nói việt nam và hệ thống phát thanh cả nước là địa chỉ tin cậy, là nơi lưu giữ bảo tồn phát huy văn hoá các dân tộc qua dân ca, ngâm thơ, GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 125 qua diễn đàn giao lưu văn hoá các dân tộc anh em. Tất cả các chương trình phát thanh dành cho đồng bào các dân tộc thiểu số từ tiếng Việt đến các dân tộc đều phải dành một tỷ lệ cao để nói về chủ đề văn hoá tinh thần các dân tộc. Qua Đài tiếng nói Việt Nam, phải giúp cho bà con miền núi phía bắc có thể hiểu biết thêm nhiều về đời sống sinh hoạt và phong tục của các dân tộc anh em trong đại gia đình việt nam nhất là của người Tây Nguyên, người Khơme Nam Bộ. Phát triển được kênh truyền thông đến đồng bào các dân tộc thiểu số cũng có nghĩa là đã phát triển được một trong các cơ quan tuyên truyền quan trọng nhất của Đảng và Chính Phủ. Phải nâng cao được chất lượng các chương trình phát thanh tiếng dân tộc, đài phát thanh phải là người bạn gần gũi nhất, đưa tin tức nhanh nhất đến cho cả những người mù chữ, những người khiếm thị, những người nghèo và cho mọi tầng lớp nhân dân ở mọi tầng lớp xa xôi nhất. Muốn đạt được yêu cầu nội dung chương trình dân tộc, miền núi hấp dẫn bổ ích đòi hỏi phải có một đội ngũ làm các chương trình tiếng dân tộc đủ mạnh cả về số lượng, năng lực, nhất là khả năng ngôn ngữ. Đây là một khó khăn lớn cho đối với phần lớn các đài phát thanh tỉnh cũng như đài tiếng nói Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài. Bởi vậy, để tạo nguồn phóng viên là người dân tộc thì không thể bỏ mặc cho đài tiếng nói Việt Nam tự lo liệu. Ngay từ bây giờ, nhà nước cần ưu tiên kinh phí và có kế hoạch chiến lược đào tạo cho học sinh người dân tộc thành thạo cả hai loại ngôn ngữ, tiếng Việt và tiếng dân tộc. Đồng thời, các khoa báo chí của các trường đại học phải có kế hoạch đề xuất với nhà nước đầu tư đội ngũ phóng viên, biên tập, phiên dịch, phát thanh viên người dân tộc một cách cơ bản nhất. Tăng cường công tác lãnh đạo quản lý đối với hệ thống phát thanh tiếng dân tộc là một nhiệm vụ quan trọng cấp bách hiện nay. Đài phát thanh tiếng nói việt nam và cả nước nói chung, công tác phát thanh tiếng dân tộc nói riêng cần phải được phát triển về số lượng, chất lượng và quy mô theo bước tiến của xã hội. Đối với đài tiếng nói việt nam cần có những giải pháp tối ưu nhất để các chương trình phát thanh tiếng dân tộc ngày càng hay càng hấp dẫn được người nghe, có tác dụng thúc đẩy phát triển văn hoá, kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá hiện nay. Công việc quan trọng hàng đầu là xây dựng kế hoạch tuyển chọn, đào tạo đội ngũ phóng viên, biên tập, biên dịch, phát thanh viên là người dân tộc để chương trình nào có người của chương trình ấy có đủ trình độ năng lực chuyên môn đảm đương chương trình phát thanh. Đài cần quan tâm tới chính sách cụ thể đối với cán bộ phóng viên đang làm công tác phát thanh dân tộc nhằm giúp chị em có thu nhập ổn định tạo điều kiện tốt cho hoạt động chuyên môn. Bộ biên tập cần lấy hoạt động chuyên môn để khuyến khích cán bộ phóng viên nâng cao nhận thức, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp phục vụ cho sự nghiệp phát thanh tiếng dân tộc. Đảng và Nhà nước cần có chính sách cụ thể, phù hợp đối với đôi ngũ cán bộ, phóng viên để động viên khích lệ bằng lợi ích vật chất, tinh thần một cách công bằng, dân chủ để họ có thu nhập bằng chính hoạt động của mình. Đối với cán bộ quẩn lý trực tiếp cần bố trí công tác trong nội bộ hợp lý, phát huy tài năng sáng tạo của mỗi cá nhân. Ngoài ra cũng cần phải tạo điều kiện để anh chị em tham gia vào các hoạt động, công tác khác, đồng thời tham gia giám sát xây dựng chương trình. Bộ biên tập đài tiếng nói Việt Nam cần thiết lập mối quan hệ quản lý sao cho có sự tập trung thống nhất giữa ban biên tập phát thanh dân tộc (tại Hà Nội) với các cơ quan thường trú của đài tại các địa phương và đài phát thanh truyền hình các tỉnh miền núi về các chương trình phát thanh tiếng dân tộc. Trước hết là sự thống nhất phương thức quản lý, về kế hoạch nội dung tuyên truyền. Các cơ quan thường trú có chương trình phát thanh tiếng dân tộc vừa hoàn chỉnh vai GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 127 trò thường trú của mình vừa có nhiệm vụ quản lý tổ chức các chương trình phát thanh dân tộc, giúp lãnh đạo đài nắm chắc công tác tuyên truyền để có hướng chỉ đạo kịp thời. Đối với “ Ban biên tập phát thanh dân tộc” trực thuộc Bộ biên tập đài tiếng nói Việt Nam tại Hà Nội cần được hoàn thiện về tổ chức, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ đối với công tác phát thanh dân tộc. Ban biên tập phát thanh dân tộc còn có nhiệm vụ tổ chức xây dựng mạng lưới cộng tác viên ở miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số có tin bài ngày càng phong phú, phản ánh toàn diện các mặt kinh tế – xã hội của mỗi vùng, tham mưu cho lãnh đạo đài có chế độ khuyến khích kịp thời tính tự chủ, sáng tạo và tính độc lập tương đối trong công tác phát thanh dân tộc đảm bảo đúng quy chế, pháp luật quy định về hoạt động báo chí. Đồng thời, tham mưu cho lãnh đạo đài về kế hoạch, quy hoạch đào tạo cán bộ cho các chương trình phát thanh tiếng dân tộc. Ban biên tập chỉ đạo các đài phát thanh ở các tỉnh, huyện miền núi về nội dung tuyên truyền, nâng cao trang thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ. Một tồn tại lớn nhất hiện nay của Đài tiếng nói Việt Nam đáng quan tâm là việc phủ sóng phát thanh cho các tỉnh phía Bắc đến nay vẫn chưa tốt. Cần phải có giải pháp kỹ thuật đảm bảo thực hiện phủ sóng cho vùng dân tộc và miền núi. Ngoài hệ thống sóng trung, cần có hệ thống sóng ngắn 50KW và 10KW tại Đài phát thanh các tỉnh miền núi. Trang bị thêm một số ăngten thích hợp để tiếp tốt sóng Đài tiếng nói Việt Nam. Ngoài ra, mỗi tỉnh cần có ít nhất một kênh phát thanh, truyền hình bằng tiếng dân tộc để phục vụ cho bà con dân tộc ở địa phương, nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của họ, để họ có thể được thể hiện những nhu cầu, nguyện vọng của mình cũng như được biết cụ thể những chính sách của Nhà Nước, cuộc sống của các đồng bào dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam. Nội dung phát thanh, truyền hình phải sát với nhu cầu cuộc sống của đồng bào. Chú trọng nêu các gương người tốt, việc tốt của đồng bào để học tập lẫn nhau. Ý nghĩa : Đài phát thanh, truyền hình đến tới từng làng bản Tây Bắc sẽ góp phần làm cho đời sống tinh thần của người dân thêm phong phú, góp phần nâng cao ý thức của người dân trong công cuộc bảo tồn văn hóa dân tộc. Đây cũng là kênh thông tin chính thức của nhà nước với các đồng bào dân tộc Tây Bắc, là phương tiện hữu hiệu để phổ biến những chính sách của nhà nước đối với đồng bào Tây Bắc. KẾT LUẬN Nằm ở vùng tận cùng của Tổ Quốc, Tây Bắc là một vùng đất giàu tiềm năng về du lịch, không chỉ có phong cảnh thiên nhiên rất hùng vĩ mà còn cả một bề dày văn hóa lịch sử và sự đa dạng sắc tộc của hơn 30 đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là một điều kiện lý tưởng để phát triển du lịch mà tự nhiên đã ban tặng cho vùng đất này. Trên cơ sở nghiên cứu về đặc điểm văn hóa của 4 dân tộc tiêu biểu ở khu vực Tây Bắc (Thái, Mường, Dao, H’Mông), cộng với việc phân tích thực trạng văn hóa cũng như thực trạng khai thác du lịch ở nơi đây, Đề tài đã đưa ra những giải pháp cụ thể và tiêu biểu để bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc Tây Bắc nói chung để phục vụ cho việc phát triển du lịch ở khu vực này trong giai đoạn 2012-2015. Đề tài hứa hẹn sẽ đem lại cho ngành du lịch Việt Nam nói chung, ngành du lịch Tây Bắc nói riêng một cái nhìn tổng quan và rõ nét hơn về thực trạng nền văn hóa cũng như tiềm năng phát triển du lịch văn hóa ở Tây Bắc. Giúp cho cơ quan chức năng có thêm các giải pháp hữu hiệu để bảo tồn văn hóa dân tộc và phát triển du lịch Việt Nam, mang hình ảnh tươi đẹp đầy nhân văn của vùng đất Tây Bắc đến với mọi du khách trong nước và quốc tế. Trên cơ sở lí luận và nghiên cứu cụ thể, Đề tài xin đề xuất một vài kiến nghị với các cơ quan chức năng vùng Tây Bắc như sau : Lãnh đạo tỉnh và các ban, ngành có liên quan cần nhanh chóng hoàn thành công tác xây dựng quy hoạch du lịch để định hướng cho hoạt động đầu tư và phát triển du lịch. GVHD : Ths Nguyễn Quốc Nam SVTH : Đặng Thị Yên Trang 129 Đẩy mạnh tuyên truyền các chương trình, tuyến, điểm du lịch ở Tây Bắc. Xây dựng thương hiệu Du Lịch Tây Bắc trên phạm vi rộng, tổ chức các sự kiện để thu hút sự chú ý của khách du lịch và các nhà đầu tư. Cấp ngân sách cho việc thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc Tây Bắc. Tận dụng cơ hội để nhận sự hỗ trợ của Trung Ương về cơ sở hạ tầng tích cực, học hỏi kinh nghiệm của các tỉnh đi trước, hình thành diễn đàn trao đổi thông tin, kinh nghiệm về phát triển du lịch với việc tuân thủ các cam kết khi gia nhập qui tắc và luật lệ của WTO trên mạng thông tin dành cho du lịch. Bên cạnh chính sách kích cầu của nhà nước, Tây Bắc cần linh động hơn nữa trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp và nhà đầu tư về nhiều mặt, tạo điều kiện giải quyết khó khăn, đặc biệt là về công tác giải phóng mặt bằng và các thủ tục hành chính, tránh tình trạng tháo chạy đầu tư. Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã tác động không nhỏ đến Việt Nam nói chung và Tây Bắc nói riêng. Các doanh nghiệp trong tỉnh đang gặp không ít khó khăn trong hoạt động kinh daonh, các nhà đầu tư thì dè dặt howng trong các quyết định đàu tư của mình. Với năng lực cạnh tranh còn thấp, môi trường kinh doanh chưa thuận lợi, Tây Bắc cần có những bước đi mạnh mẽ hơn trong cải cách và đổi mới để có thể nắm bắt cơ hội để từ đó đưa địa phương vượt qua những sóng gió phía trước, hướng đến sự phát triển lâu dài, bền vững. Nếu Tây Bắc thành công trong việc này thì các nhà đầu tư hiện tại chắc chắn sẽ mở rộng kinh doanh và kêu gọi các nhà đầu tư khác đến với Tây Bắc. Với nhiều nỗ lực của chính quyền địa phương cùng với các biện pháp hữu hiệu cụ thể thì Tây Bắc sẽ nhanh chóng trở thành một vùng du lịch trọng điểm của nước ta.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfxaydungbaotonvaphattrienvanhoadantoctaybac_131204224257_phpapp02_1214.pdf