Đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến sự nghiệp phát triển các lĩnh vực văn hoá, thể thao và du lịch, đã ban hành nhiều chủ trương, đường lối và văn bản quy phạm pháp luật để định hướng cho ngành văn hoá, thể thao và du lịch hoạt động và phát triển, gồm: Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết Hội nghị Trung ương sáu khoá X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Luật Di sản văn hoá, Luật Điện ảnh, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Thể dục, thể thao; Luật Du lịch; Pháp lệnh Quảng cáo; Pháp lệnh Thư viện Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách mới tạo hành lang pháp lý để ngành văn hoá, thể thao hoạt động và phát triển như: Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoá; Nghị định số 10/2002/NĐ-CP về chế độ tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp; Nghị định số 43/2006/NĐ-CP về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. Thủ tướng Chính phủ đã có: Quyết định số 170/2003/QĐ-TTg ngày 14/8/2003 về Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá; Quyết định số 156/2005/QĐ-TTg ngày 23/6/2005 phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống bảo tàng Việt Nam đến năm 2020; Quyết định số 271/2005/QĐ-TTg ngày 31/10/2005 phê duyệt Quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hoá-thông tin cơ sở đến năm 2010; Quyết định số 167/2006/QĐ-TTg ngày 14/7/2006 phê duyệt Đề án “Phát triển hoạt động văn hoá-thông tin vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2010”; Quyết định số 45/2008/QĐ-TTg ngày 28/3/2008 phê duyệt Quy hoạch phát triển Nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đến năm 2010. Công tác xã hội hoá đối với các hoạt động văn hoá, thể dục,thể thao tuy có một số tiến bộ nhưng hiệu quả chưa cao do một số chính sách chưa huy động được các nguồn lực xã hội như chính sách về thuế, đất đai, tín dụng chưa thực sự khuyến khích các thành phần trong xã hội tham gia. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế -xã hội, nhu cầu hưởng thụ dịch vụ công của xã hội và người dân ngày càng cao và đa dạng, nhất là nhu cầu về dịch vụ giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa và thể dục thể thao Nhiều người có khả năng chi trả cao để được hưởng thụ dịch vụ công chất lượng cao theo nhu cầu (nhiều người đã cho con theo học các trường Quốc tế ở trong nước hoặc cho con theo học ở nước ngoài). Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của các tầng lớp nhân dân, Nhà nước đã thực hiện các biện pháp để tăng cường số lượng, nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp của các đơn vị công lập, đồng thời mở rộng cho mọi thành phần kinh tế ngoài Nhà nước tham gia cung cấp; trong đó, Nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo cung cấp một số dịch vụ cơ bản, thiết yếu đối với xã hội, tập trung vào những lĩnh vực cung cấp dịch vụ công mà xã hội có nhu cầu, nhưng các đơn vị cung cấp dịch vụ công ngoài Nhà nước không cung cấp, hoặc cung cấp không đầy đủ, cung cấp cho những khu vực, vùng miền điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn; cung cấp cho những đối tượng chính sách, người nghèo. Để thực hiện vai trò này, Nhà nước đã tổ chức lại, đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị cung cấp dịch vụ công do Nhà nước thành lập theo hướng nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc sử dụng nguồn lực lao động, tài chính, tổ chức bộ máy, đồng thời xây dựng chính sách ưu đãi về tài chính như: thuế, đất, tín dụng, để thu hút các đơn vị thuộc các thành phần kinh tế khác ngoài Nhà nước tham gia cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên kết quả vẫn còn hạn chế. Vì vậy, để đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng cao của xã hội và nhân dân về số lượng và chất lượng dịch vụ công, trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, thì việc đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập cung cấp dịch vụ công nói chung và các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, thể thao và du lịch nói riêng là phù hợp với lộ trình cải cách hành chính nhà nước và điều kiện thực tế của Việt Nam, vì vậy tôi chọn đề tài: “Đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch”. MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU . 1 Chương 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ KINH NGHIÊM QUỐC TẾ VỀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 10 1.1 Lý luận chung về đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập 10 1.2 Kinh nghiệm quốc tế .13 Chương 2. THỰC TRẠNG CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ VĂN HOÁ, THỂ THAO VÀ DU LỊCH . 21 2.1 Giới thiệu về Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch. 22 2.2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch .34 2.3 Thực trạng cơ chế hoạt động trong các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch: 35 2.4. Thực trạng cơ chế hoạt động hiện hành của sự nghiệp ngành văn hoá, thể thao và du lịch 37 2.5. Về thực hiện Nghị định số 43/2006/NĐ-CP. 39 Chương 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM ĐỔI MỚI CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP TRỰC THUỘC BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH . 56 3.1. Quan điểm 56 3.2. Nguyên tắc. 57 3.3. Đổi mới cơ chế hoạt động. 58 3.4 Điều kiện để thực hiện các giải pháp. 68 Kết luận và Kiến nghị . 87 Tài liệu tham khảo Phụ lục

doc100 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 07/02/2013 | Lượt xem: 3150 | Lượt tải: 25download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nh đủ chi phí tiền lương, chi phí hoạt động thường xuyên, chi phí khấu hao tài sản cố định trong giá dịch vụ của đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời với việc thay đổi cơ chế tính giá dịch vụ, nghiên cứu có chính sách tạo điều kiện cho đối tượng nghèo tiếp cận được các dịch vụ sự nghiệp công thiết yếu (đối tượng được vay vốn để đi học…), khuyến khích, cấp học bổng cho học sinh nghèo, học sinh học tập đạt kết quả tốt, khuyến khích các doanh nghiệp và cá nhân đóng góp xây dựng quỹ xã hội, quỹ từ thiện… 3. Nhà nước thực hiện phương thức hỗ trợ trực tiếp kinh phí cho các đối tượng chính sách xã hội, người nghèo để mua dịch vụ sự nghiệp công từ thị trường, thay vì chế độ miễn, giảm giá dịch vụ thông qua các đơn vị sự nghiệp công lập. 4. Hiện nay Nghị định 43 quy định: nếu đơn vị tự chủ 100% về tài chính thì sẽ được tự chủ toàn bộ về tổ chức bộ máy, biên chế … như vậy một vấn đề đặt ra là khi đó, quyền lực tập trung vào người Thủ trưởng đơn vị quá lớn (trước đây còn có cơ quan chủ quản giám sát về biên chế, tuyển dụng, tài chính...), như vậy nên chăng Nhà nước cần phải nghiên cứu một mô hình quản lý các đơn vị sự nghiệp tự chủ 100% về tài chính cần có một Hội đồng quản lý, các thành viên trong Hội đồng có quyền ngang nhau, quyết định các vấn đề của đơn vị bằng hình thức bỏ phiếu kín, như vậy sẽ dân chủ hơn, tránh việc lạm quyền, tạo điều kiện cho đơn vị phát triển bền vững. 3.4. Điều kiện để thực hiện các giải pháp 3.4.1. Tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức đối với các ngành, chính quyền các cấp, xã hội và nhân dân về việc thực hiện các chủ trương đổi mới cơ chế hoạt động, tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập và thực hiện xã hội hóa một số loại hình dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực văn hóa, thể dục thể thao; thống nhất quan điểm phát triển cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong một số hoạt động dịch vụ sự nghiệp (như chuyển phí dịch vụ thành giá dịch vụ, thực hiện cơ chế hạch toán đầy đủ chi phí đầu vào-đầu ra, không hạch toán tiền lương qua Ngân sách Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập…). 3.4.2. Các cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực ban hành đầy đủ các cơ chế chính sách có liên quan, nhất là các định mức kinh tế-kỹ thuật để làm căn cứ Nhà nước đặt hàng và giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp và làm căn cứ để các đơn vị sự nghiệp thực hiện. - Tăng cường trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đối với hoạt động dịch vụ sự nghiệp. - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện của các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công (bao gồm cả tình hình thực hiện xã hội hóa) đảm bảo chất lượng hoạt động dịch vụ sự nghiệp. 3.4.3. Đào tạo. bồi dưỡng và xây dựng đội ngũ cán bộ viên chức trong các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ nhất là công tác quản lý, quản trị đơn vị sự nghiệp và hoàn thiện đội ngũ cán bộ, viên chức làm công tác tài chính, kế toán. Trên cơ sở định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước, chiến lược phát triển văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2020, kinh nghiệm Quốc tế, kiến thức đã được trang bị, các kết quả thu thập khảo sát, nghiên cứu thực tế và dựa vào quá trình công tác trên lĩnh vực cán bộ tổ chức, tác giả xin đưa ra giải pháp nhằm Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ngành văn hóa, thể thao và du lịch dưới dạng một bản Đề án: ĐỀ ÁN Đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương và khung giá dịch vụ) đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ngành văn hoá, thể thao và du lịch I. QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO: Đẩy mạnh việc quán triệt các quan điểm của Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng “Đổi mới cơ chế quản lý và phương thức cung ứng dịch vụ công là khâu đột phá quan trọng để phát triển nhanh và có hiệu quả các lĩnh vực văn hóa xã hội. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, phải luôn coi trọng yêu cầu nâng cao các phúc lợi xã hội cơ bản của nhân dân. Đặc biệt là đối với người nghèo, vùng nghèo, đối tượng chính sách ”; Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đối với một số loại dịch vụ công cơ bản, cụ thể là: “Tăng cường đầu tư và đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước để các đơn vị sự nghiệp công phát triển mạnh mẽ và có hiệu quả”; Kết luận số 20-KL/TW của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành TW khóa X về cải cách tiền lương cụ thể là: “Đổi mới cơ chế hoạt dộng và cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương) đối với khu vực sự nghiệp công lập theo hướng đơn vị sự nghiệp được thu phí (giá) dịch vụ tính đủ tiền lương và từng bước tính đủ các chi phí khác; đơn vị hạch toán thu chi (không vì mục đích lợi nhuận )”, đồng thời cụ thể hóa và bổ sung một số nội dung cơ bản có ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sau: 1. Đổi mới cơ bản cơ chế quản lý đối với các phương thức cung ứng dịch vụ sự nghiệp công là khâu đột phá quan trọng để phát triển nhanh và có hiệu quả các lĩnh vực và loại hình dịch vụ sự nghiệp công. 2. Nhà nước tiếp tục đảm nhiệm vai trò cung cấp một số dịch vụ sự nghiệp công có vai trò thiết yếu đối với xã hội và giữ vai trò chủ đạo, đồng thời thực hiện xã hội hóa, có chính sách thu hút tối đa nguồn lực của xã hội, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển các dịch vụ sự nghiệp công đặt dưới sự giám sát và quản lý của Nhà nước. 3. Trong từng lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công cần xác định rõ trách nhiệm của Nhà nước và trách nhiệm của người thụ hưởng dịch vụ trong việc chia sẻ, đóng góp chi phí cung cấp dịch vụ công. 4. Nhà nước thực hiện công tác quản lý nhà nước trên cơ sở ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quy hoạch, các tiêu chuẩn, quy chuẩn, tiêu chí và các cơ chế quản lý, quy định về chế độ báo cáo và tổ chức giám sát và hướng dẫn việc thực hiện giám sát của cộng đồng đối với việc cung cấp dịch vụ công của các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội. II. MỤC TIÊU 1. Phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động và thu hút toàn xã hội chăm lo sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao; tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng thụ chất lượng văn hóa, thể dục thể thao ở mức độ ngày càng tăng cao. 2. Thúc đẩy sự phát triển các hoạt động cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trong các lĩnh vực đáp ứng nhu cầu của xã hội. 3. Hoàn thiện công tác quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực của Nhà nước và của toàn xã hội trong việc cung ứng dịch vụ sự nghiệp công lập để nâng cao số lượng và chất lượng dịch vụ sự nghiệp công. III. CÁC NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐỔI MỚI 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng Cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính (trong đó có tiền lương) tại Đề án này chỉ áp dụng đối với các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong ngành văn hoá, thể thao và du lịch. 2. Đổi mới cơ chế hoạt động Hoạt động sự nghiệp văn hoá, thể thao và du lịch là sự nghiệp công lập và kinh phí hoạt động chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp. Trên cơ sở thực hiện chính sách xã hội hoá và chính sách tự chủ tài chính hiện nay,với đặc thù của các đơn vị sự nghiệp hoạt động trong ngành văn hoá, thể thao, du lịch và với quan điểm, nguyên tắc nêu trên, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đề nghị phân loại các đơn vị sự nghiệp văn hoá, thể thao, du lịch thành 4 loại tổ chức sự nghiệp để có cơ chế hoạt động cho phù hợp: - Tổ chức sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động. - Tổ chức sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động. - Tổ chức sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động. - Tổ chức sự nghiệp chuyển đổi sang thực hiện xã hội hoá 2.1. Tổ chức sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động, gồm: - Một số đơn vị nghệ thuật biểu diễn như: Tuồng, Chèo, Cải lương, Nhã nhạc cung đình Huế, Nhạc vũ kịch, Giao hưởng, Múa cổ điển Châu Âu (Ballet). - Thông tin lưu động, chiếu bóng lưu động, Trung tâm văn hoá-thông tin, Trung tâm văn hoá-thể thao, Trung tâm thể dục, thể thao hoạt động ở vùng trung du, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc, vùng núi, vùng có khó khăn và biên giới, hải đảo. a) Đối với các đơn vị sự nghiệp nêu trên, thực hiện theo cơ chế: - Nhà nước giao kinh phí hoạt động từ ngân sách theo hình thức đặt hàng, mua dịch vụ, hỗ trợ cơ sở vật chất cho đơn vị tương ứng với chức năng, nhiệm vụ chuyên môn được cơ quan chủ quản cấp trên giao hàng năm. - Đơn vị chủ động sắp xếp tổ chức, lao động và hoạt động để hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn được giao, phần kinh phí chênh lệch do hiệu quả của việc sắp xếp tổ chức, lao động hợp lý và tiết kiệm chi phí sẽ được sử dụng để tăng thu nhập, trích quỹ phúc lợi và quỹ khen thưởng của đơn vị theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. - Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ và khả năng cơ sở vật chất hiện có, đơn vị có thể tạo nguồn thu và dịch vụ khác. b) Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp nêu trên, được quyền: - Xây dựng kế hoạch hàng năm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt về chỉ tiêu hoạt động chuyên môn, biên chế, kế hoạch đào tạo, kế hoạch tài chính bảo đảm hoạt động chuyên môn, kế hoạch đầu tư (trang thiết bị, cơ sở vật chất) làm cơ sở phân bổ và giao kinh phí từ ngân sách và khối lượng chuyên môn và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động và chuyên môn của đơn vị, thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật. - Quyết định việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho từ chức và miễn nhiệm cấp trưởng, cấp phó các bộ phận, tổ chức trực thuộc. Đề xuất nhân sự và trình lãnh đạo cơ quan chủ quản cấp trên quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm cấp phó đơn vị. - Quyết định việc khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của đơn vị từ ngạch chính và tương đương trở xuống theo quy định của pháp luật. - Thực hiện các chế độ về tiền lương theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan chủ quản cấp trên và chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật đối với cán bộ, viên chức thuộc quyền quản lý... 2.2. Tổ chức sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động, gồm: - Một số đơn vị nghệ thuật biểu diễn như: Xiếc, Múa rối, Ca múa nhạc dân tộc, Kịch hát dân tộc, Kịch nói. - Thư viện công, Bảo tàng, di tích. - Trung tâm Huấn luyện thể thao Quốc gia, Khu Liên hợp Thể thao quốc gia. - Viện phim Việt Nam, Bệnh viện Thể thao Việt Nam. a) Đối với các đơn vị sự nghiệp nêu trên, thực hiện theo cơ chế: Cơ quan chủ quản không giao chỉ tiêu kế hoạch mà chỉ giao kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ về cơ sở vật chất, đặt hàng, mua dịch vụ và thanh toán cho các đối tượng chính sách và các dịch vụ không có thu mà nhà nuớc phải đảm bảo. Đơn vị tự xây dựng nhiệm vụ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao và kinh phí ngân sách nhà nước hỗ trợ và năng lực, điều kiện thực hiện về nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, dịch vụ, thu từ các đối tượng hưởng thụ dịch vụ công chi trả và nguồn thu hợp pháp khác của đơn vị, đăng ký để cơ quan chủ quản phê duyệt. - Về biên chế: Căn cứ chỉ tiêu biên chế khung của cơ quan chủ quản cấp trên phê duyệt, đơn vị xây dựng kế hoạch nhân sự để tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định hiện hành. - Trên cơ sở quy hoạch hoặc phương án tổ chức bộ máy đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, được quyết định: thành lập các tổ chức sự nghiệp trực thuộc để hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao và phù hợp với phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ và tự đảm bảo kinh phí hoạt động; sáp nhập, giải thể các tổ chức trực thuộc và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của các bộ phận, tổ chức trực thuộc. - Ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ và dịch vụ đối với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện nhiệm vụ phù hợp với khả năng, lĩnh vực chuyên môn của tổ chức sự nghiệp và các quy định của pháp luật. b) Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp được quyền: - Quyết định việc tuyển dụng viên chức theo hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển phù hợp với yêu cầu chuyên môn của từng lĩnh vực cần tuyển. Ký hợp đồng làm việc với những người được tuyển dụng và hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật và khả năng tài chính của đơn vị. - Quyết định việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho từ chức và miễn nhiệm cấp trưởng, cấp phó các bộ phận, tổ chức trực thuộc. Đề xuất nhân sự và trình lãnh đạo cơ quan chủ quản cấp trên quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm cấp phó đơn vị. - Quyết định việc điều động, biệt phái, thôi việc, chấm dứt hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động thuộc thẩm quyền quản lý của đơn vị từ ngạch chính và tương đương trở xuống theo quy định của pháp luật. - Thực hiện các chế độ về tiền lương theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan chủ quản cấp trên; quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật đối với cán bộ, viên chức thuộc quyền quản lý. - Quyết định việc khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của đơn vị từ ngạch chính và tương đương trở xuống theo quy định của pháp luật. 2.3. Tổ chức sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động, gồm: - Trung tâm Chiếu phim quốc gia, Trung tâm Phát hành phim và chiếu bóng, Ban Quản lý Nhà hát Lớn Hà Nội, Trung tâm Triển lãm Văn hóa nghệ thuật, Trung tâm Công nghệ thông tin, Trung tâm Tin học và các tổ chức nghệ thuật biểu diễn ca nhạc nhẹ, tạp kỹ. a) Các đơn vị sự nghiệp nêu trên, thực hiện theo cơ chế: - Cơ quan chủ quản không giao chỉ tiêu kế hoạch mà chỉ giao kinh phí ngân sách nhà nước theo hình thức: đặt hàng, đấu thầu cung cấp dịch vụ và mua dịch vụ theo chức năng, nhiệm vụ được giao của đơn vị và hỗ trợ cơ sở vật chất. - Căn cứ định hướng phát triển văn hoá, thể thao, du lịch của nhà nước và chức năng, nhiệm vụ, cơ sở vật chất, trang thiệt bị, năng lực cán bộ, nhu cầu của xã hội và khả năng ngân sách nhà nước hỗ trợ và các nguồn thu khác, đơn vị tự xây dựng nhiệm vụ, đăng ký kế hoạch để cơ quan chủ quản phê duyệt, làm căn cứ để theo dõi kiểm tra, giám sát. - Ký hợp đồng thực hiện nhiệm vụ và dịch vụ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; hợp tác với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện nhiệm vụ phù hợp với khả năng, lĩnh vực chuyên môn của tổ chức sự nghiệp và quy định của pháp luật. - Quyết định việc đầu tư phát triển từ vốn vay, vốn huy động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, từ quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của tổ chức sự nghiệp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của đơn vị và quy định của pháp luật. - Về biên chế: Căn cứ chỉ tiêu biên chế khung do cơ quan chủ quản phê duyệt, đơn vị xây dựng kế hoạch nhân sự và được quyền quyết định tổng biên chế hàng năm của đơn vị, căn cứ vào nhu cầu cán bộ, viên chức và khả năng tài chính của đơn vị để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. b) Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp được quyền - Tự quyết định biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước giao hoặc đặt hàng, đấu thầu dịch vụ, mua dịch vụ và các nguồn thu khác của đơn vị. - Trên cơ sở quy hoạch hoặc phương án tổ chức bộ máy đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, được quyết định thành lập các tổ chức sự nghiệp trực thuộc để thực hiện các hoạt động dịch vụ phù hợp với phương án tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tự đảm bảo kinh phí hoạt động; sáp nhập, giải thể các tổ chức trực thuộc và quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế hoạt động của các bộ phận, tổ chức trực thuộc. - Quyết định việc tuyển dụng viên chức theo hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển phù hợp với yêu cầu chuyên môn của từng lĩnh vực cần tuyển. Ký hợp đồng làm việc với những người được tuyển dụng và ký hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật và khả năng tài chính của đơn vị. - Quyết định việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho từ chức và miễn nhiệm cấp trưởng, cấp phó các bộ phận, tổ chức trực thuộc. Đề xuất nhân sự và trình lãnh đạo cơ quan chủ quản cấp trên quyết định bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, miễn nhiệm cấp phó đơn vị. - Thực hiện chế độ tiền lương theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan chủ quản cấp trên, quy chế chi tiêu nội bộ, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật đối với cán bộ, viên chức thuộc quyền quản lý. - Quyết định việc khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của đơn vị từ ngạch chính và tương đương trở xuống theo quy định của pháp luật. 2.4. Tổ chức sự nghiệp chuyển đổi sang thực hiện xã hội hoá Thực hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hoá và Nghị định số 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá và đề án quy hoạch phát triển xã hội hoá đến năm 2010 của ngành, việc thực hiện chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp công lập sang đơn vị ngoài công lập, như sau: a) Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chuyển đổi 03 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ sang hoạt động xã hội hoá, gồm: Nhà hát Ca, Múa, Nhạc nhẹ Trung ương, Nhà hát Tuổi trẻ, Trung tâm Kỹ thuật Điện ảnh Việt Nam. b) Căn cứ đề án xã hội hoá và tình hình thực tế hoạt động văn hoá, thể thao, du lịch ở địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiến hành chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp công lập sang hoạt động xã hội hoá. 3. Đổi mới cơ chế tài chính 3.1. Nguồn kinh phí Để tạo điều kiện, phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập của ngành, việc đổi mới cơ chế tài chính thực hiện theo hình thức: a) Nhà nước cấp kinh phí hỗ trợ cơ sở vật chất, đặt hàng và mua dịch vụ công và thanh toán cho các đối tượng chính sách và các dịch vụ không có thu mà nhà nước phải đảm bảo và kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản cho các công trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện các nhiệm vụ nhà nước giao, chương trình mục tiêu quốc gia, đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức, nghiên cứu khoa học; kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ nhà nước quy định (nếu có) thực hiện theo quy định hiện hành. b) Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, dịch vụ và thu từ các đối tượng hưởng thụ dịch vụ công chi trả và nguồn tài trợ của các cơ quan, tổ chức trong nước và ngoài nước của đơn vị sự nghiệp. 3.2. Quyền tự chủ tài chính a) Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ và khả năng hoàn thành nhiệm vụ được giao, đơn vị sự nghiệp được quyền khai thác, sử dụng cơ sở vật chất hiện có để mở ra các hoạt động sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho xã hội không trái với quy định của pháp luật và thực hiện công khai, dân chủ và chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. b) Đơn vị sự nghiệp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí được quyền phát hành và quy định giá vé vào cửa, vé sử dụng dịch vụ theo khung giá dịch vụ quy định của nhà nước trong hoạt động các lĩnh vực: văn hoá, thể thao, du lịch theo nguyên tắc: căn cứ vào hướng dẫn của cơ quan quản lý nhà nước về khung giá (phí) dịch vụ, thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập xây dựng và quyết định mức thu dịch vụ (không vì mục đích lợi nhuận) trên cơ sở tính đủ tiền lương, từng bước tính đủ các chi phí khác; các khoản thanh toán khác cho cá nhân, thanh toán dịch vụ công, chi nghiệp vụ chuyên môn. Đơn vị thực hiện chế độ miễn, giảm cho các đối tượng chính sách-xã hội theo quy định của nhà nước. c) Đơn vị được quyền sử dụng đối với hoạt động về các khoản thu, mức thu và sử dụng nguồn tài chính, tự chủ về sử dụng phần chênh lệch thu lớn hơn chi hàng năm theo quy định của pháp luật thuộc lĩnh vực được giao. Được quyền sử dụng nguồn thu từ tài trợ, ủng hộ của các tổ chức, cá nhân để tăng thêm nguồn thu phục vụ cho hoạt động của đơn vị. Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích luỹ. d) Đơn vị sự nghiệp thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp. Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước. Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước, đơn vị được để lại bổ sung quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay. Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số tiền còn lại (nếu có). đ) Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên quy định, Thủ trưởng đơn vị được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và quyết định phương thức khoán chi cho từng bộ phận, đơn vị trực thuộc; quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật. e) Hàng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có) đơn vị được sử dụng theo trình tự sau: - Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. - Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động. - Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập. Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 03 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm. Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các Quỹ do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị. 4. Đổi mới phương thức xây dựng và phân bổ dự toán ngân sách Với đặc thù của hoạt động văn hoá, thể thao và điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước và theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khoá VIII): “ Về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc “, trong những năm tới, nhà nước vẫn phải đảm bảo tài chính cho hoạt động của các lĩnh vực: Nghệ thuật truyền thống, bảo tàng, di tích, thư viện, văn hoá cơ sở, mỹ thuật và thể dục, thể thao và sự đóng góp của xã hội, cụ thể: 4.1.Về chi thường xuyên: Nhà nước đảm bảo ngân sách cho các hoạt động của một số đơn vị do nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên và một số đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động. 4.2.Về chi đầu tư: Về cơ bản vẫn do ngân sách nhà nước đảm bảo đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động của các bộ môn nghệ thuật truyền thống, nghệ thuật thế giới tiêu biểu; hệ thống Bảo tàng Lịch sử, Bảo tàng Cách mạng và tu bổ chống xuống cấp các di tích lịch sử, cách mạng, kiến trúc nghệ thuật; cơ sở vật chất ban đầu và nâng cấp trang thiết bị cho thư viện công; cơ sở vật chất ban đầu cho hoạt động văn hoá cơ sở ở các địa điểm miền núi, hải đảo, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn và các Trung tâm huấn luyện thể thao Quốc gia, Khu Liên hợp thể thao Quốc gia phục vụ cho thể thao thành tích cao. Để việc đầu tư có hiệu quả, cần phân cấp cụ thể trách nhiệm của Chính phủ, của Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong việc đầu tư, nâng cấp các tổ chức sự nghiệp công lập ngành văn hoá, thể thao, du lịch do địa phương quản lý, tránh tình trạng trông chờ Trung ương hỗ trợ như hiện nay. 4.3. Về phương thức xây dựng dự toán: Trên cơ sở kết quả hoạt động và chi tiêu thực tế của năm trước và kế hoạch hoạt động của năm kế hoạch, đơn vị xây dựng dự toán thu, chi ngân sách cho năm sau và cân đối các nguồn thu để xác định mức ngân sách nhà nước đảm bảo. Cơ quan chủ quản căn cứ vào khả năng ngân sách để quyết định phân bổ ngân sách nhà nước phải đảm bảo cho các đơn vị, trên nguyên tắc phải bù đủ chi phí của những khoản mục chưa được phép thu. Trường hợp ngân sách nhà nước không đảm bảo đủ các chi phí chưa được phép thu thì nhà nước phải cho phép các đơn vị điều chỉnh mức thu cho phù hợp. 5. Về tiền lương, tiền công và thu nhập 5.1. Nhà nước khuyến khích đơn vị sự nghiệp tăng thu, tiết kiệm chi, thực hiện tinh giản biên chế, tăng thêm thu nhập cho người lao động trên cơ sở hoàn thành nhiệm vụ được giao, tùy theo kết quả hoạt động tài chính trong năm (sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước và trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp theo quy định). Đơn vị được xác định tổng mức chi trả thu nhập trong năm của đơn vị, cụ thể: a) Đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động (không khống chế tổng mức thu nhập). b) Đối với đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động (từ 10% trở lên) được quyết định tổng mức thu nhập trong năm cho người lao động, nhưng tối đa không quá 03 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm do nhà nước quy định. c) Đối với đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên: Căn cứ kết quả tài chính, số kinh phí tiết kiệm được, đơn vị được xác định tổng mức chi thu nhập trong năm của đơn vị tối đa không quá 02 lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định. 5.2. Trên cơ sở thang, ngạch, bậc lương theo quy định của pháp luật đối với các lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch và kết quả thực hiện nhiệm vụ, khả năng tài chính của đơn vị (sau khi thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ đối với nhà nước và trích lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp theo quy định). Đơn vị sự nghiệp công lập được quyền: a) Quy định Quy chế trả lương nội bộ trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị và cán bộ, viên chức. - Thang, ngạch, bậc lương đang hưởng theo quy định được làm căn cứ để xác định mức đóng bảo hiểm xã hội và bảo hiểm y tế theo quy định của nhà nước. - Khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu… thì khoản tiền tăng thêm theo chế độ sẽ được ngân sách cấp bổ sung đối với các đơn vị sự nghiệp do nguồn ngân sách cấp. 5.3. Tự chủ trong việc trả lương đối với cán bộ, viên chức trên cơ sở thông qua đánh giá kết quả, chất lượng công việc theo Quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị và quy định của pháp luật về tiền lương, với các nội dung: - Đối với những hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao, chi phí tiền lương, tiền lương tiền công cho cán bộ, viên chức và người lao động, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định. - Đối với những hoạt động cung cấp sản phẩm, dịch vụ do nhà nước đặt hàng có đơn giá tiền lương trong đơn giá sản phẩm được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị tính theo đơn giá tiền lương quy định. Trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan có thẩm quyền quy định đơn giá tiền lương, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ theo quy định. - Đối với những hoạt động dịch vụ có hạch toán chi phí riêng, thì chi phí tiền lương, tiền công cho người lao động được áp dụng theo chế độ tiền lương trong doanh nghiệp nhà nước. Trường hợp không hạch toán riêng chi phí, đơn vị tính theo lương cấp bậc, chức vụ do nhà nước quy định. 5.4. Quyết định việc nâng bậc lương thường xuyên và trước thời hạn, phụ cấp thâm niên vượt khung trong cùng ngạch đối với cán bộ, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý của đơn vị từ ngạch chính và tương đương trở xuống theo tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ và theo quy định của pháp luật và phân cấp của cơ quan chủ quản cấp trên. 6. Đổi mới về khung giá dịch vụ Hoạt động lĩnh vực văn hoá, thể thao và du lịch là một loại dịch vụ tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, xã hội mà Nhà nước phải quản lý như: phí dịch vụ thư viện, phí thăm quan bảo tàng, di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh... Xin đề xuất khung giá dịch vụ 6.1. Hiện nay các mức quy định về phí Thư viện và tham quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá đều lạc hậu và không phù hợp với sự biến động của thị trường hiện nay và cơ chế thị trường giữa cung và cầu. Do vậy, đề nghị cần phải có Khung giá dịch vụ được hợp lý với hình thức là trả tiền cung cấp dịch vụ. Về Khung giá dịch vụ đối với giá, phí dịch vụ công theo nguyên tắc: - Tính đủ tiền lương, từng bước tính đủ chi phí khác, các khoản thanh toán khác cho cá nhân, thanh toán dịch vụ công cộng, chi nghiệp vụ chuyên môn. - Ngân sách nhà nước chỉ thanh toán dịch vụ công ích cho các đối tượng chính sách và các dịch vụ không có thu mà nhà nước phải đảm bảo; còn các đối tượng khác khi hưởng thụ dịch vụ phải tự thanh toán: cơ quan quản lý Nhà nước hướng dẫn khung giá để các đơn vị sự nghiệp quyết định mức thu phù hợp và hạch toán thu khi cung cấp dịch vụ. - Các dịch vụ công như: thuê phòng khách sạn, nhà hàng, biểu diễn nghệ thuật, bóng đá, thể dục thể thao. Do thị trường tự điều tiết giá, nhà nước không quy định khung giá. Tạo điều kiện để đơn vị tăng thu bảo đảm nguồn đáp ứng yêu cầu công việc. 6.2. Từ thực tế hiện nay về mức thu phí Thư viện và tham quan danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá và các nguyên tắc nêu trên, đồng thời để các đơn vị có thời gian chuẩn bị chuyển sang thực hiện theo cơ chế mới, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đề xuất khung giá dịch vụ đối với hoạt động Di sản văn hoá và Thư viện từ giai đoạn năm 2011 đến 2013 với lộ trình thực hiện theo hướng: - Từ năm 2011 đến năm 2012: Thực hiện về giá và lệ phí trên cơ sở tình hình thực tế hiện nay của các đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật hiện hành, riêng tiền lương sẽ tính đủ trong giá thu. - Từ sau năm 2013 trở đi: Triển khai thực hiện theo Khung giá dịch vụ theo bảng dưới đây: TT Tên dịch vụ Đơn vị tính Đơn giá (đồng) 1 Lĩnh vực Di sản văn hoá a Ở Trung ương - Vé tham quan các Bảo tàng quốc gia 1 lượt 50.000 - 150.000 b Ở Địa phương - Vé tham quan di sản văn hoá thế giới 1 lượt 50.000 - 200.000 - Vé tham quan Bảo tàng tỉnh, thành phố và Bảo tàng chuyên ngành 1 lượt 20.000 - 50.000 - Vé tham quan di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia; các di tích cấp tỉnh, thành phố 1 lượt 20.000 - 50.000 2 Lĩnh vực Thư viện a Ở Trung ương - Cấp thẻ cho bạn đọc tại Thư viện Quốc gia 1 năm 60.000- 120.000 - Cấp thẻ cho bạn đọc tại Thư viện chuyên ngành 1 năm 50.000- 100.000 - Cấp thẻ cho bạn đọc tại Thư viện các trường đại học, trung học và dạy nghề 1 năm 50.000 - 100.000 b Ở địa phương - Cấp thẻ cho bạn đọc tại Thư viện tỉnh, thành phố 1 năm 30.000 - 60.000 - Cấp thẻ cho bạn đọc tại Thư viện quận, huyện 1 năm 20.000 - 50.000 - Cấp thẻ cho bạn đọc tại Thư viện xã, phường, thị trấn 1 năm 10.000 - 30.000 7. Một số kiến nghị về chính sách, chế độ Hoạt động sự nghiệp ngành văn hoá, thể thao là phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của đất nước, nhằm nâng cao và đáp ứng mức hưởng thụ văn hoá của nhân dân và mang tính hoạt động sự nghiệp đặc thù so với các lĩnh vực khác. Với đặc thù nêu trên, đối với các hoạt động sự nghiệp văn hoá, thể thao, du lịch cần phải được Nhà nước quan tâm về chính sách, chế độ và đầu tư cơ sở vật chất để hoạt động sự nghiệp ngành phát triển. Đề nghị Nhà nước ban hành một số chính sách, chế độ và đầu tư cho các lĩnh vực sự nghiệp của ngành gồm: 7.1. Các chính sách tài chính ưu đãi cho một số loại hình hoạt động văn hoá, nghệ thuật và thể dục, thể thao công lập: Nhà hát, Rạp chiếu phim, Trung tâm văn hoá, thể thao, Thư viện, Bảo tàng, Di tích và hoạt động thể dục, thể thao, gồm: Được vay vốn dài hạn, trung hạn với lãi xuất ưu đãi thấp, ưu đãi về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo quy định của Luật và quy định hiện hành, được hưởng thuế thu nhập doanh nghiệp là 10% sau khi trừ chi phí hợp lý, được trực tiếp nhận kinh phí hỗ trợ trong nước và quốc tế đóng góp (đối với nguồn kinh phí này đề nghị được miễn thuế). 7.2. Đảm bảo chính sách trợ cước vận chuyển sách, văn hoá phẩm lên miền núi; tăng cường sách tài trợ cho thư viện, vùng sâu, vùng xa, miền núi, vùng có khó khăn. 7.3. Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hoá cho các đối tượng chính sách, người có công, người nghèo, cận nghèo. 7.4. Chính sách tài trợ chi phí cho các tổ chức sự nghiệp công lập về nghệ thuật biểu diễn, chiếu bóng lưu động, bảo tàng, thư viện, văn hoá cơ sở khi phục vụ ở vùng đồng bằng có khó khăn, vùng trung du, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hải đảo, biên giới. 7.5. Chính sách đặt hàng với các tác phẩm nghệ thuật bao gồm: Tượng đài, tranh hoành tráng, chương trình nghệ thuật, vở diễn, các dịch vụ công… đối với các đơn vị sự nghiệp công lập. 7.6. Chính sách hỗ trợ cho đào tạo nghệ thuật truyền thống dân tộc dưới hình thức: miễn học phí, chế độ bồi dưỡng luyện tập, thực tập. 7.7. Chính sách về chế độ tập luyện, chế độ dinh dưỡng, chăm sóc y tế, chữa trị chấn thương, trang bị dụng cụ, các chế độ khuyến khích vật chất và tinh thần đối với vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài có thành tích xuất sắc đạt giải cao tại các cuộc thi đấu quốc tế. 7.8. Xây dựng lại thang, ngạch, bậc lương của ngạch diễn viên. 7.9. Xây dựng chính sách về việc giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội về nghỉ hưu trước tuổi đối với lao động nghệ thuật không còn khả năng biểu diễn nghệ thuật, không bố trí được công việc khác nhưng chưa đủ điều kiện nghỉ hưu theo quy định của pháp luật. 8. Chuyển đổi tổ chức hoạt động và lộ trình thực hiện Căn cứ vào các loại hình tổ chức sự nghiệp được nêu tại Đề án, việc chuyển đổi tổ chức và lộ trình thực hiện giai đoạn năm 2011đến năm 2014 các tổ chức sự nghiệp công lập ngành văn hoá, thể thao, du lịch được tiến hành, như sau: 8.1. Từ năm 2011 đến năm 2012: Các đơn vị sự nghiệp công lập tiếp tục thực hiện tự chủ về tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP và các quy định của pháp luật hiện hành. 8.2. Lộ trình thực hiện cơ chế mới (Đề án) 8.2.1. Từ năm 2012 đến năm 2013: tổ chức triển khai và thực hiện cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính mới tại một số đơn vị sự nghiệp công lập ngành văn hoá, thể thao, du lịch, gồm: a. Tổ chức sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động : Xiếc, Múa rối, Ca Múa Nhạc dân tộc, Kịch hát dân tộc, Kịch nói; Thư viện công; Bảo tàng, Di tích; Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia, Khu Liên hợp Thể thao quốc gia; Viện phim Việt Nam, Bệnh viện Thể thao Việt Nam. b. Tổ chức sự nghiệp tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động: Trung tâm Chiếu phim quốc gia, Trung tâm phát hành phim và chiếu bóng, Trung tâm Triển lãm văn hoá, nghệ thuật, Trung tâm Công nghệ thông tin, Trung tâm Tin học, Ban Quản lý Nhà hát lớn Hà Nội và các tổ chức nghệ thuật biểu diễn ca nhạc nhẹ, tạp kỹ. 8.2.2. Từ sau năm 2014: các đơn vị sự nghiệp công lập chuyển sang thực hiện cơ chế mới theo quy định của pháp luật và cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. 8.3. Thực hiện xã hội hoá các đơn vị sự nghiệp công lập Thực hiện Đề án quy hoạch phát triển xã hội hoá đến năm 2013 của ngành, và các văn bản của nhà nước về đẩy mạnh xã hội hoá, việc thực hiện chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp công lập sang đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, như sau: a. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch chuyển đổi 03 đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc sang hoạt động xã hội hoá, gồm: Nhà hát Tuổi Trẻ, Nhà hát Ca, Múa, Nhạc nhẹ Trung ương, Trung tâm Kỹ thuật Điện ảnh. b. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ tình hình thực tế của hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch ở địa phương và các văn bản về xã hội hoá của nhà nước, tiến hành chuyển đổi một số đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong ngành văn hoá như: Tổ chức nghệ thuật biểu diễn ca nhạc nhẹ, tạp kỹ; Rạp chiếu phim; Trung tâm Triển lãm văn hoá, nghệ thuật; Trung tâm văn hoá, thể thao sang hoạt động xã hội hoá. 9. Trách nhiệm thực hiện 9.1. Trách nhiệm của Thủ trưởng tổ chức sự nghiệp văn hoá, thể thao, du lịch 9.1.1. Tổ chức xây dựng Đề án chuyển đổi tổ chức và hoạt động của đơn vị theo loại hình tổ chức hoạt động tại Đề án này trình cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền phê duyệt trong năm 2011-2012. 9.1.2. Thủ trưởng tổ chức sự nghiệp văn hoá, thể thao, du lịch thực hiện quyền tự chủ và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của tổ chức sự nghiệp được giao; chịu trách nhiệm về những sai phạm xảy ra trong đơn vị; được khen thưởng hoặc phải chịu kỷ luật tuỳ theo thành tích hoặc mức độ vi phạm theo quy định của pháp luật. 9.2. Trách nhiệm của các Bộ, ngành 9.2.1. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch a. Chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng Nghị định của Chính phủ về đổi mới cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính, chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ đối với các đơn vị sự nghiệp công lập ngành văn hoá, thể thao, du lịch. b. Chủ trì và phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng khung giá dịch vụ công về lĩnh vực Di sản văn hoá, Thư viện để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.. c. Chủ trì và phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội xây dựng chính sách nghỉ hưu trước tuổi đối với lao động biểu diễn nghệ thuật (diễn viên). d. Hướng dẫn các đơn vị, địa phương triển khai. Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện Đề án, Nghị định của Chính phủ tại các đơn vị, địa phương. 9.2.2. Bộ Nội vụ: Phối hợp với Bộ văn hoá, Thể thao và Du lịch xây dựng các văn bản hướng dẫn về chính sách tiền lương và phụ cấp cho lao động nghệ thuật và hoạt động thể dục, thể thao (vận động viên, huấn luyện viên). 9.2.3. Bộ Tài chính: Phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các cơ quan liên quan hướng dẫn Khung giá (không vì mục đích lợi nhuận) dịch vụ công ích để các đơn vị sự nghiệp công lập quyết định mức thu và hạch toán thu khi cung cấp dịch vụ và ban hành các tiêu chuẩn, định mức liên quan đến quản lý và chi tiêu tài chính đối với các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện Đề án. 9.2.4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Phối hợp với Bộ Văn hoá,Thể thao và Du lịch và các Bộ có liên quan xây dựng và thực hiện kế hoạch đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực văn hoá và thể thao. 9.2.5. Bộ Tài nguyên và Môi trường: Phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch xây dựng và ban hành thuộc thẩm quyền các văn bản liên quan đến chính sách hỗ trợ tiền thuê đất, quỹ đất xây dựng các công trình văn hoá và thể thao. 9.3. Trách nhiệm của các địa phương, đơn vị 9.3.1. Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Chỉ đạo Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các đơn vị sự nghiệp văn hoá, thể thao, du lịch triển khai thực hiện và thường xuyên kiểm tra, giám sát và báo cáo Thủ tướng Chính phủ và Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính kết quả thực hiện và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện. 9.3.2. Các đơn vị sự nghiệp văn hoá, thể thao, du lịch: Căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao và các văn bản hướng dẫn của Nhà nước để triển khai thực hiện. KIẾN NGHỊ Chính thực tiễn của sự phát triển xã hội đặt ra những đòi hỏi phải thay đổi, đổi mới tư duy, đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, vì vậy tác giả mạnh dạn nêu lên một số gợi ý và kiến nghị như sau: Tiếp tục xác định và quán triệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 và những năm tiếp theo của Việt Nam: Coi văn hóa là trụ cột, linh hồn của dân tộc, là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã hội. Việc thay đổi cơ chế hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp là một tất yếu của sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống xã hội. Việc thay đổi cơ chế hoạt động trở thành hiện thực phải được quy định cụ thể trong các văn bản luật, các chính sách của Nhà nước để tạo hành lang pháp lý cho các đơn vị hoạt động. Cần phải xây dựng các chính sách cấp bách trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình trong giai đoạn tới, đó là: - Chính sách về phí và lệ phí trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn, trong lĩnh vực di sản văn hóa, lĩnh vực du lịch, phí thẩm định điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, phí thẩm định karaoke, phí thẩm định mỹ thuật nhiếp ảnh. - Chính sách giảm thuế thu nhập của nhà báo, vận động viên: đề xuất áp dụng thu thuế thu nhập cá nhân của nhà báo, vận động viên được hưởng mức ưu đãi như văn nghệ sỹ (được quy định tại Thông tư 82, điểm 2.3). - Kiến nghị về thuế thu nhập doanh nghiệp: kiến nghị hỗ trợ hoạt động văn hóa được tính vào chi phí hợp lý, mức thuế thu nhập doanh nghiệp 10% phải được áp dụng như đơn vị công lập. - Kiến nghị về nguồn thu bán vé: kiến nghị về nguồn thu từ bán vé, biểu diễn nghệ thuật, liên kết đào tạo nghệ thuật phải được coi là thu sự nghiệp, không thuộc đối tượng điều chỉnh của thuế. - Quy định về chế độ dinh dưỡng đặc thù với vận động viên, huấn luyện viên thể thao thành tích cao. - Kiến nghị hoàn thuế VAT biểu diễn nghệ thuật theo các quy định về ưu đãi lĩnh vực văn hóa. - Quy định điều chỉnh tăng định mức chi ngân sách cho đào tạo học sinh nghệ thuật, hỗ trợ cho sinh viên một số chuyên ngành đặc thù nghệ thuật trong việc xây dựng tác phẩm tốt nghiệp. - Đề nghị tăng đầu tư cho kịch bản văn học nghệ thuật. KẾT LUẬN Ngày nay hơn bao giờ hết, văn hóa và phát triển thường được nhắc đến như một cặp phạm trù. Bởi lẽ càng ngày người ta càng nhận thức được rằng động lực cho sự phát triển kinh tế- xã hội của một đất nước còn phải bao hàm cả yếu tố văn hóa. Nền tảng cốt lõi tạo nên nền Văn hóa của một Quốc gia, của một dân tộc là bản sắc văn hóa dân tộc. Sự tăng trưởng kinh tế nào mà đánh mất đi bản sắc văn hóa dân tộc thì sẽ chóng lụi tàn, không bền vững. Các học thuyết mới về tăng trưởng hiện nay chú ý nhiều hơn vào các nhân tố văn hóa, coi đó như một yếu tố quan trọng trong quyết định tính bền vững của sự tăng trưởng. Trong cuộc hội thảo phát triển bền vững-kinh nghiệm Việt Nam -Nhật bản tổ chức tại Hà Nội tháng 3/2007 cũng đã khẳng định vai trò của Văn hóa trong sự phát triển bền vững của một Quốc gia. Vì vậy, việc đầu tư ngân sách “tới ngưỡng” và tạo cơ chế hoạt động, chính sách để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc có vị trí hết sức quan trọng trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Ở nước ta, trong lãnh đạo và quản lý đất nước, Đảng và Nhà nước luôn chủ trương kết hợp đặt sự phát triển kinh tế -xã hội trên nền tảng phát huy bản sác văn hóa dân tộc, coi văn hóa là mục tiêu, là động lực và là phương tiện của sự phát triển. Thực trạng các đơn vị sự nghiệp công lập ở nước ta còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu, đặc biệt là việc xây dựng cơ chế tài chính và xã hội hóa hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp công lập còn chậm và chưa có hướng dẫn cụ thể. Mặt khác, kinh tế thị trường và cơ chế thị trường còn là mới mẻ đối với nước ta. Vì vậy, việc đổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là một vấn đề hết sức quan trọng có liên quan tới sự phát triển của kinh tế -xã hội Việt Nam nói chung và ngành văn hóa, thể thao và du lịch nói riêng. Việc thay đổi cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập là việc làm cần thiết, song không phải chỉ ngày một, ngày hai làm được, đòi hỏi phải có những bước thay đổi đồng bộ: thay đổi về tư duy trong quan điểm chỉ đạo và tổ chức thực hiện, về xây dựng cơ chế chính sách …tuy nhiên Luận văn này cũng chỉ mới là những bước đi ban đầu, có tính chất nhìn lại một quá trình, chưa đánh giá được một các toàn diện, khoa học về ưu điểm, nhược điểm của cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Được sự giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn Tiến sỹ Nguyễn Danh Ngà và các thầy cô giáo trong Học viện cùng các đồng nghiệp công tác trong lĩnh văn hóa, thể thao và du lịch, trong quá trình thực hiện luận văn này tác giả đã khắc phục những khó khăn, hạn chế về tư liệu, hệ thống hóa các văn bản cũng như các ý kiến của chuyên gia trong lĩnh vực này. Do những khó khăn khách quan như đã trình bày ở trên, cùng với những khó khăn về chủ quan, những hạn chế về điều kiện, thời gian, quy mô và yêu cầu của luận văn, luận văn này không thể tránh khỏi những hạn chế. Tác giả mong nhận được sự tham gia, đóng góp, xây dựng của các thày giáo, cô giáo, các đồng nghiệp và những ai quan tâm về vấn đề mà luận văn nêu ra để nó càng hoàn thiện và Đề tài này sẽ được áp dụng trong thực tiễn. Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức và giúp đỡ trong những ngày học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn./. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nghị quyết Hội nghị TW Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 10 - khóa IX 2. Nghị quyết Hội nghị TW Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 3 - khóa IX 3. Nghị quyết Hội nghị TW Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 2 - khóa IX 4. Nghị quyết Hội nghị TW Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 5 - khóa VIII 5. Nghị quyết 05/2005/NQ - CP của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao. 6. Nghị quyết của Bộ Chính trị số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 về Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. 7. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2009), Chế độ mới về điều chỉnh tiền lương - tiền công bảo hiểm xã hội, y tế - chính sách đối với cán bộ, công chức người lao động, chế độ công tác phí. 8. Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (2009), Kỷ yếu hội nghị triển khai công tác VH,TT & DL năm 2010. 9. Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (2010), Kỷ yếu hội nghị triển khai công tác VH,TT & DL năm 2011. 10. Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (1999), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Thực tiễn và Giải pháp, Hà Nội. 11. Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (2009), Văn bản pháp qui về văn hóa, thể thao, du lịch và gia đình. Năm 2007 - 2008 12. Ban tư tưởng Văn hóa trung ương (2000), Xã hội hóa hoạt động văn hóa, một số vấn đề lý luận và thực tiễn. 13. Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch - Vụ Tổ chức cán bộ (2008), Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của các đơn vị trực thuộc Bộ VHTT&DL. 14. Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (2009), Văn bản pháp luật về cải cách hành chính, Bộ phận tham mưu cải cách hành chính, Hà Nội. 15. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2009) chỉ thị số 79/CT-BVHTTDL về việc tổ chức triển khai thực hiện “ Chiến lược phát triển và hóa đến năm 2020”. 16. Đinh Văn Mậu - Phạm Hồng Thái (2005). Lý luận chung về Nhà nước. 17. Đỗ Mười (1994), đẩy tới một bước sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, Văn kiện hội nghị lần 7- BCHTW khóa VII, trang 30, Hà Nội. 18. Hoàng Vinh, (1999), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta, Nxb VHTT. 19. Học viện Hành chính Quốc gia (2002), Giáo trình “ Quản lý nhà nước về Văn hóa, Giáo dục, Y tế”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 20. Lê Chi Mai, (2001), Những vấn đề cơ bản về chính sách và quy trình chính sách, Nxb Đại học Quốc gia TP. HCM. 21. Lê Minh Thông, Nguyễn Danh Châu, (2009), Kinh nghiệm công tác nhân cự của một số nước, Nxb CTQG. 22. Luật cán bộ, công chức 2009. 23. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 12 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội. 24. Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 ngày 12 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội. 25. Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 5 tháng 12 năm 2007 của Quốc hội. 26. Mai Hữu Khuê (2003), Lý luận quản lý Nhà nước, Nxb Hà Nội. 27. Nguyễn Khoa Điềm (2002), Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb CTQG, Hà Nội. 28. Nghị định số 31/2005/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích. 29. Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30 tháng 5 năm 2008 của chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. 30. Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ về việc quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. 31. QUYẾT ĐỊNH: của Thủ tướng Chính phủ số 581/QĐ -TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020. PHỤ LỤC 1. QUYẾT ĐỊNH: của Thủ tướng Chính phủ số 581/QĐ -TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020. 2. CHỈ THỊ: của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch số 79/CT-BVHTTDL ngày 22 tháng 5 năm 2009 về việc tổ chức triển khai thực hiện “ Chiến lược phát triển và hóa đến năm 2020”. 3. NGHỊ QUYẾT: của Bộ Chính trị số 23-NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. 4. QUYẾT ĐỊNH: của Thủ tướng Chính phủ số 316/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2011 về phê duyệt đề án “ Xây dựng và rà soát các chế độ chính sách đối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật và văn nghệ sỹ; chế độ tài trợ, đặt hàng đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật; chính sách khuyến khích sáng tác trong các hoạt động văn học, nghệ thuật” thực hiện nghị quyết số 23 - NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. 5. QUYẾT ĐỊNH: của Thủ tướng Chính phủ số 645/QĐ-TTg ngày 29 tháng 4 năm 2011 phê duyệt đề án “ Xây dựng chính sách thẩm định, quảng bá, thuế ưu đãi... đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật trong nước; văn hóa phẩm của Việt Nam đưa ra nước ngoài và giới thiệu tinh hoa văn học, nghệ thuật của thế giới vào Việt Nam; chính sách sưu tầm, chỉnh lý, bảo tồn phát huy, quảng bá Di sản văn học, nghệ thuật Dân tộc và phát triển văn học, nghệ thuật quần chúng” thực hiện nghị quyết số 23 - NQ/TW ngày 16 tháng 6 năm 2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới. 6. QUYẾT ĐỊNH: của Thủ tướng Chính phủ số 369/QĐ-TTg ngày 14 tháng 3 năm 2011 về phê duyệt đề án tiếp tục hỗ trợ hoạt động sáng tạo tác phẩm công trình văn học, nghệ thuật, báo chí ở trung ương và các hội văn học nghệ thuật địa phương; hỗ trợ tác phẩm báo chí chất lượng cao ở địa phương giai đoạn 2011 - 2015. 7. QUYẾT ĐỊNH: của Thủ tướng Chính phủ số 844/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2011 về phê duyệt đề án khuyến khích sáng tác và công bố các tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ cứu nước giải phóng Dân tộc, thống nhất đất nước giai đoạn 1930 - 1975.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docĐổi mới cơ chế hoạt động đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.doc
Luận văn liên quan