Gia công phần mềm ở Việt Nam, tại sao chỉ dừng lại ở tiềm năng

LỜI NÓI ĐẦU Trong giai đoạn hội nhập với nền kinh tế thế giới đang phát triển như vũ bão, nhà nước ta phải có sự đầu tư đúng đắn vào các ngành công nghiệp thế mạnh và tiềm năng. Một trong số đó là ngành công nghệ thông tin (CNTT), với hướng đi chính là gia công xuất khẩu phần mềm (GCPM). Đánh giá được đây một ngành công nghiệp mới mẻ nhưng đầy tiềm năng, xen lẫn những khó khăn thử thách, nhóm chúng tôi sẽ đưa ra những cái nhìn từ tổng quan tới chi tiết nhất để người đọc có thể hình dung được bức tranh toàn cảnh về ngành công nghiệp đầy tiềm năng và thách thức này. Trước tiên, chúng ta khái niệm chung nhất về Gia công phần mềm (Outsourcing) là một từ tiếng Anh gồm hai phần- out: bên ngoài và source: nguồn- ngụ ý sự thu hút nguồn nhân lực bên ngoài, khi điều này có lợi cho doanh nghiệp, nhằm mục đích thực hiện những công việc, sự vụ theo hợp đồng. Việc chuyển sang sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí quản lý, điều hành nhân sự, trong khi chất lượng, hiệu quả công việc vẫn được đảm bảo. Tuỳ thuộc vào hình thức cũng như lĩnh vực sử dụng nhân lực bên ngoài mà khoản ngân sách tiết kiệm được cho doanh nghiệp có thể nằm trong khoảng từ 10- 40%. Dựa trên sự nghiên cứu của nhóm, chúng tôi xem xét vấn đề ở 4 khía cạnh bao quát nhất tương ứng với những phần sau đây: Phần I: Góc nhìn kinh tế và văn hóa trong gia công phần mềm ở Việt Nam Phần II: Vấn đề pháp luật . Phần III: Quy mô đầu tư và chảy máu chất xám Phần IV: Ảnh hưởng của giáo dục với chất lượng nguồn nhân lực ------------------------------ ------------------------------ ------------------------------ MỤC LỤC Phần I: Góc nhìn kinh tế và văn hóa trong gia công phần mềm ở Việt Nam Trang 1 Phần II: Vấn đề pháp luật .Trang 6 Phần III: Quy mô đầu tư và chảy máu chất xám Trang 8 Phần IV: Ảnh hưởng của giáo dục với chất lượng nguồn nhân lực Trang 10 TÀI LIỆU THAM KHẢO .Trang 14

pdf14 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 02/02/2013 | Lượt xem: 2256 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Gia công phần mềm ở Việt Nam, tại sao chỉ dừng lại ở tiềm năng, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
1 GIA CÔNG PHẦN MỀM Ở VIỆT NAM, TẠI SAO CHỈ DỪNG LẠI Ở TIỀM NĂNG? Trong giai đoạn hội nhập với nền kinh tế thế giới đang phát triển như vũ bão, nhà nước ta phải có sự đầu tư đúng đắn vào các ngành công nghiệp thế mạnh và tiềm năng. Một trong số đó là ngành công nghệ thông tin (CNTT), với hướng đi chính là gia công xuất khẩu phần mềm (GCPM). Đánh giá được đây một ngành công nghiệp mới mẻ nhưng đầy tiềm năng, xen lẫn những khó khăn thử thách, nhóm chúng tôi sẽ đưa ra những cái nhìn từ tổng quan tới chi tiết nhất để người đọc có thể hình dung được bức tranh toàn cảnh về ngành công nghiệp đầy tiềm năng và thách thức này. Trước tiên, chúng ta khái niệm chung nhất về Gia công phần mềm (Outsourcing) là một từ tiếng Anh gồm hai phần- out: bên ngoài và source: nguồn- ngụ ý sự thu hút nguồn nhân lực bên ngoài, khi điều này có lợi cho doanh nghiệp, nhằm mục đích thực hiện những công việc, sự vụ theo hợp đồng. Việc chuyển sang sử dụng nguồn nhân lực bên ngoài giúp doanh nghiệp giảm đáng kể chi phí quản lý, điều hành nhân sự, trong khi chất lượng, hiệu quả công việc vẫn được đảm bảo. Tuỳ thuộc vào hình thức cũng như lĩnh vực sử dụng nhân lực bên ngoài mà khoản ngân sách tiết kiệm được cho doanh nghiệp có thể nằm trong khoảng từ 10- 40%. Dựa trên sự nghiên cứu của nhóm, chúng tôi xem xét vấn đề ở 4 khía cạnh bao quát nhất tương ứng với những phần sau đây: Phần I: Góc nhìn kinh tế và văn hóa trong gia công phần mềm ở Việt Nam......Trang 1 Phần II: Vấn đề pháp luật.........................................................................Trang 6 Phần III: Quy mô đầu tư và chảy máu chất xám..........................................Trang 8 Phần IV: Ảnh hưởng của giáo dục với chất lượng nguồn nhân lực....................Trang 10 PHẦN I: Góc nhìn kinh tế và văn hóa trong gia công phần mềm ở Việt Nam? I.Kinh tế: Sau một thời gian nỗ lực xây dựng thương hiệu, tìm kiếm thị trường, các doanh nghiệp gia công phần mềm Việt Nam đang có những bước thăng tiến quan trọng với doanh số xuất khẩu phần mềm tăng trưởng khả quan thì cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã khiến họ lại rơi vào cảnh lao đao khi các thị trường mới đóng cửa, còn các thị trường đang lâm vào cảnh "thắt lưng buộc bụng" tạm quay lưng với các đơn đặt hàng nước ngoài. Vốn được đánh giá là một trong những nước có tiềm năng lớn trong hoạt động GCPM nói riêng và ngành CNTT nói chung, tuy nhiên để có thể bức phá ra khỏi hai chữ “tiềm năng” đồng thời đưa ngành công nghiệp không khói này lên ngang tầm với các khu vực khác thì sẽ còn nhiều vấn đề phải bàn tới, đặc biệt là những thách thức trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế hiên nay. 1.Thị trường màu mỡ tiềm năng lớn: a.Tình hình năm 2009: 2 Theo ông Trương Gia Bình, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (Vinasa), đồng thời là Chủ tịch HĐQT Tập đoàn FPT, ngành phần mềm Việt Nam năm nay sẽ chỉ tăng khoảng 10% so với mức tăng trưởng 20% của năm 2008. Nguyên nhân chủ yếu là do tác động suy thoái kinh tế toàn cầu, các khách hàng chọn cách giữ lại các dự án gia công để tạo việc làm cho nhân viên. Phù hợp với dự đoán của ông Bình, các con số mới được công bố cho thấy, trong nửa đầu năm 2009, tăng trưởng doanh thu về gia công phần mềm của Việt Nam đã giảm nhiều, thậm chí đã có doanh nghiệp tăng trưởng âm. Điển hình, con chim đầu đàn của ngành là Fsoft (Công ty Phần mềm FPT) cũng chỉ có mức tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái là 12,5%, tuy nhiên, mới chỉ đạt 92,3% so với kế hoạch đề ra. Tương tự, theo công bố mới đây của NEC Solutions Việt Nam - công ty con thuộc tập đoàn phần mềm Nhật NEC Soft được thành lập năm 2006, có doanh thu khoảng 3 triệu USD năm 2008, thì có mức tăng trưởng âm tới 30% so với cùng kỳ năm ngoái, doanh thu trong 6 tháng đầu năm sụt giảm nghiêm trọng. Hiện theo các doanh nghiệp gia công phần mềm, các thị trường truyền thống của phần mềm gia công đều trong tình trạng sụt giảm. Nổi bật là thị trường Mỹ và Nhật. Theo Fsoft, Nhật là khách hàng chung thủy, nên hầu hết các hợp đồng không bị cắt giảm, nhưng, "họ không tăng thêm đã là tăng trưởng âm rồi". Trước tình cảnh này, các doanh nghiệp gia công phần mềm cũng đã đưa ra các dự đoán "bắt đáy" thời khủng hoảng của ngành này. Theo ông Nguyễn Thành Nam, nguyên Tổng giám đốc của Fsoft, nay giữ chức Tổng giám đốc FPT, thì đây là thời kỳ đi ngang của ngành gia công phần mềm và những dấu hiệu phục hồi đầu tiên có thể trở lại vào cuối năm 2009. Tuy nhiên, cũng có nhiều ý kiến không được lạc quan như vậy và cho rằng thị trường của phần mềm gia công Việt Nam sẽ còn eo hẹp đến hết 2010. Theo họ, dù nền kinh tế thế giới đang có dấu hiệu phục hồi trở lại nhưng ngành công nghiệp phần mềm nói chung và gia công phần mềm nói riêng sẽ phục hồi chậm hơn so với nền kinh tế chung khoảng nửa năm. Riêng với thị trường Nhật, được dự đoán là sẽ phục hồi muộn hơn vào khoảng đầu 2011. Như vậy, để các doanh nghiệp đang có thị trường này lấy lại đà tăng trưởng ở đây cũng sẽ chậm hơn các thị trường khác. b.Tiềm năng nằm ở đâu? Theo số liệu chính thức cung cấp tại Diễn đàn WITFOR 2009, năm 2008 doanh thu ngành CNTT-TT Việt Nam đạt trên 10 tỷ USD. Ngành gia công xuất khẩu phần mềm trong ba năm qua vẫn duy trì được tốc độ tăng trưởng trên 50% mỗi năm. Năm 2004,tập đoàn tư vấn quốc tế Kearrney đã xếp nước ta vào thứ hạng 20/25 quốc gia có khả năng thu hút gia công dịch vụ tốt nhất. Đây thực sự là những con số ấn tượng bởi nước ta cũng chỉ mới phát triển ngành CNTT trong vòng 10 năm trở lại đây, nhất là ngành GCPM. Bên cạnh đó có thể xét tới giá nhân công rẻ là nhân tố cạnh tranh lớn nhất của thị trường gia công phần mềm Việt Nam so với các thị trường truyền thống khác,chẳng hạn như Ấn Độ ,Trung Quốc và Philippines. Tình trạng suy thoái kinh tế suy thoái thiếu hụt nhân công một cách trầm trọng ở các nước ở khu vực Tây Âu,Nhật và Mỹ đã tác động vào việc các nước chuyển hướng tìm kiếm sang thị trường Việt Nam.Bênh cạnh đó,mối lien hệ lịch sử và sự tương đồng về văn hóa cũng là yếu tố giúp Việt Nam được chú ý trên bản đồ các quốc gia gia công xuất khẩu phần mềm.Những năm gần đây,Việt Nam có thị trường mới đầy tiềm năng ,và lại khá “chung thủy” đó là Nhật. Ngành CNTT là ngành cần rất nhiều lao động trẻ, mà đối với Việt Nam đây là một lợi thế. Hơn nữa nhu cầu việc làm trong ngành GCPM hay rộng hơn là CNTT lại rất lớn. Điều này sẽ giúp các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến thị trường nước ta. Có thể thấy được qua mức đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài đổ vào Việt Nam đang tăng rất mạnh (chỉ trong 11 tháng đầu năm2008, theo Cục Đầu tư nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt trên 60 tỉ đô la Mỹ, gấp ba lần so với cả năm 2007) Tuy gặp nhiều khó khăn,gia công xuất khẩu phần mềm vẫn là cơ hội lớn để Việt Nam phát triển nền kinh tế. Chúng ta đang có rất nhiều lợi thế. Ở thời điểm hiện tại, 3 dù vẫn có tỷ lệ cao nhưng lần đầu tiên Việt Nam đã thoát khỏi top 10 thế giới về vi phạm bản quyền (đứng thứ 12). Điều này giúp giảm bớt sự quan ngại của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực CNTT trong nước cũng như nước ngoài về các tranh chấp khi mà vấn đề sở hữu trí tuệ và bản quyền phần mềm dính dáng rất nhiều tới pháp luật. Các chế tài xử lý vi phạm bản quyền phần mềm đã khuyến khích rất nhiều cho các công ty GCPM bởi như vậy họ có thể có được nguồn doanh thu quốc nội rất lớn. Xu hướng “máy tính hóa” của các ngành nghề, các công ty, xí nghiệp đòi hỏi phải sử dụng các phần mềm, dịch vụ quản lý, lúc này chính là cơ hội khai thác triệt để của các công ty GCPM. Tại hội thảo thường niên toàn cảnh công nghệ thông tin - truyền thông (CNTT-TT) 2009 tổ chức tại TP HCM ngày 15/7/2009, TS Lê Trường Tùng, Phó Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, cho biết chỉ số phát triển CNTT-TT năm 2009 của Việt Nam đã tăng 15 bậc so với năm năm trước (thứ hạng 92/154). Năm 2009 cũng là năm đầu tiên Việt Nam được Gartner đưa vào danh sách 30 địa điểm đáng chú ý cho ngành gia công phần mềm trên thế giới (30 Leading Locations for Offshore Services). Công nghệ phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin cũng vẫn đang được Chính phủ coi như một ngành "công nghiệp trọng tâm" của giai đoạn phát triển 10 năm tới Theo phân tích của Tiến sĩ Nguyễn Trọng, nguyên Chủ tịch Hội Tin học TP HCM, nguyên Chánh Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin của Chính phủ, trong 15-20 năm tới đây, sẽ không có ngành kinh tế nào có tiềm năng mang lại hiệu quả toàn diện và to lớn hơn cho Việt Nam so với công nghiệp phần mềm và dịch vụ công nghệ thông tin. Vì vậy, cần đến một "chiến lược tầm quốc gia", để có khả năng tạo lập và khai thác tốt nhất nền tảng trí tuệ Việt Nam, đóng góp từ 8 - 10% GDP vào những năm 2020 - 2025. Một trong những khó khăn mà Việt Nam phải vượt qua từ đây đến 2025, đó là bài toán nhân lực. Ông Trọng đã đưa ra những con tính khá cụ thể. Để đào tạo được 1 kỹ sư phần mềm đủ sức làm việc trên thị trường quốc tế, cần chi phí khoảng 10.000 USD. Như vậy, nếu bỏ ra số vốn đầu tư 10 tỉ USD từ nay đến 2025 thì nguồn nhân lực của chúng ta sẽ đạt được con số 1 triệu kỹ sư. Chỉ cần 50% trong số họ đạt được doanh số khoảng 30.000 USD/năm/người vào thời điểm 2025 - 2026 (bằng Ấn Độ hiện tại) đã tạo ra 15 tỉ USD/năm. Chưa kể đến 2015, khi đã có 70% lực lượng thì tổng doanh thu vào năm 2025 sẽ vào khoảng 60 tỉ USD. Con số này hiệu quả và an toàn gấp mấy lần các dự án khai thác tài nguyên thiên nhiên, ngay cả giả thiết là các dự án khai thác này thành công, ông Trọng bình luận. Qua đây chúng ta có thể hình dung ra những cơ hội và tiềm năng lớn như thế nào đang dành chỗ cho ngành CNTT nói chung và GCPM nói riêng. Lới thế ấy đến từ rất nhiều yếu tố như nguồn lao động trẻ dồi dào, sự đầu tư mạnh của Chính phủ, sự đổi mới của hệ thống bảo hộ vi phạm bản quyền hay sự đầu tư ồ ạt của nước ngoài...Nhưng “tiềm năng” vẫn chỉ là tiềm năng nếu nó không có những yếu tố thúc đẩy mang tính đột phá, không quá khi nhận định những tiềm năng lớn này vẫn chỉ nằm trong vỏ bọc mà chưa thể khai thông được.Sẽ có rất nhiều điều phải làm cho tương lai... 2. Hiện trạng thực tế: a.Nhập cuộc không dễ dàng: Nhìn lại những năm 2004-2007,có thể nói đây là những năm tạo y tín,và thương hiệu về gia công phần mềm ở Việt Nam trên thị trường quốc tế.Bế tắc với thị trường trong nước,rất nhiều doanh nghiệp đi theo phong trào outsourcing. Các công ty đều rục rịch tuyển quân,xây dựng các nhóm làm gia công, nhỏ có lớn có, hang trăm mối bắt tay , hàng trăm mối quan hệ được căng ra để tìm kiếm hợp đồng dự án outsourcing ra nước ngoài. Nhưng điều không mấy khả quan, với 2 thị trường gia công lớn Trung Quốc và Ấn Độ, hợp đồng gia công VN ít và độ phức tạp chưa cao.Thậm chí có nơi còn chưa biết gì về thị trường outsourcing ở VN, cho đến mãi sau này. 4 Với vai trò đầu mối, hiệp hội danh nghiệp phần mềm Việt Nam(VINASA) cũng tổ chức lien tiếp các chuyến thăm,giao lưu, tìm kiếm hợp tác giữa VN với thị trường như Mỹ,Nhật Bản,Hàn Quốc…Tuy nhiên,không máy khả quan. Kết thúc đều là thất vọng và mệt mỏi…và những tấm danh thiếp. Những năm khó khăn hơn,các công ty đành phải chấp nhận rủi ro khi gia công cho đối tác trong tình trạng khách hang có thể “đứt gánh” toàn bộ hoạt động…Các công ty trong khi nằm dài chờ hợp đồng thì phải nuôi quân dự trữ với trung bình 300USD/người/tháng, do thế không ít công ty đã sớm “bỏ cuộc vui”,phí lại những hoài công gầy dựng…Vì thế đòi hỏi sự đầu tư kiên trì từ phí doanh nghiệp,nếu không chị đầu tư, theo ông Lê Xuân Hải, CEO Vietsoftware Internâtionl thì “Sẽ không bao giờ có cơ hội hoặc cơ hội đến mà không đủ sức làm”. Bênh cạnh đó, mặc dù bài toán hợp tác chưa được giải quyết xong, các doanh nghiệp đối đầu mới với bài toán đội ngũ kỹ thuật có chất lượng, việc giữ họ ở lại công ty thực sự trở thành vấn đề đau đầu. Giá nhân lực VN trong thời gian này tăng cao 200% so với trước, việc nhảy “hãng” như đi chợ của nhân lực có kinh nghiệm là điều khó tránh khỏi. Đây cũng chính là nguyên nhân kiến khách hang Nhật Bản và Âu Mỹ rút khỏi thị trường Ấn Độ.Các doanh nghiệp tranh nguồn nhân lực này làm cho bức tranh outsourcing của VN mang nhiều mảng tối. Doanh thu của ngành không đều, chủ yếu từ phía các doanh nghiệp Việt Kiều (Mỹ) tranh thủ sự đầu tư,và hợp đồng từ Mỹ như TMA,PSV, GlobalCyberSoft, SilkRoad, GlassEgg, PSD, GHP… nhóm doanh nghiệp trong nước là FPT,nhóm doanh nghiệp phát triển thị phần trong nước Lạc Việt, HPT, VietSoftware, AZ solutions, CMS…yếu tố trên tạo sự phân cấp cho bức tranh outsourcing ở nước ta. b.những mặt hạn chế trong thị trường Việt Nam. Có thể nói hạn chế lớn nhất ở Việt Nam là vấn đề nhân lực có chất lượng kỹ thuật. Bức cảnh outsourcing ở Việt Nam chứng kiến cảnh ra đi của nhiều nhân lực có kỹ thuật cao làm việc cho các công ty nước ngoài , các nhân lực có trình độ tay nghề trong nước thì lại nhảy như đi chợ ở các doanh nghiệp. Việt Nam chưa thu hút được các tập đoàn lớn và cũng chưa có công ty đạt 1.000 kỹ sư Do đó bài toán nhân lực luôn đâu đầu cho các chuyên gia,Nhà Nước.Hơn nữa các công ty doanh nghiệp ở nước ta không những nhỏ,và rời rạc,tập trung được vài thương hiệu quốc tế,Trong khi đó Việt Nam sẵng sang đẩy mạnh nhân công, tài lực,kinh phí, để xây dựng thương hiệu quốc gia. Ông Phí Anh Tuấn nhận định (AZ solutions): “Việt Nam, vì thế đang cần những doanh nghiệp mạnh làm đầu tầu thúc đẩy nghành công nghiệp phần mềm tăng tốc”. Mặc định hướng của nhà nước trong vai trò phát triển gia công phần mềm chỉ rõ nét trong những năm gần đây,thực chất chưa làm được nhiều. Nói chung, đang đẩy mạnh công nghiệp đầy tiềm lực này. Do đó việc chậm trễ hơn so với một số quốc gia như Ấn Độ,Trung Quốc, Israel…sở dĩ phát triển mạnh lĩnh vực này cũng nhờ có các chính sách hỗ trợ kịp thời của nhà nước. Khi đó ở Việt Nam, chưa có việc sát hạt cụ thể,quy mô, đầu tư vào nghành công nghiệp phần mềm.Những năm qua đó là nguồn trợ cấp từ phía nhà nước…Và đây là thiệt thòi lớn trong cạnh tranh quốc tế. Một nét làm xấu đi bức tranh outsourcing ở nước ta là vấn đề bản quyền.Thời điểm hiện tại,dù tỷ lệ cao nhưng lần đầu tiên Việt nam đã thoát khỏi top 10 thế giới về vi phạm bản quyền(đứng thứ 12)...Việc qui phạm bản quyền ở nước ta xem ra sắc thái rất nhẹ,nhưng đến các nước phát triển đó là vấn đề không thể chấp nhận được, điều đó làm họ kỳ thị,khinh mệt và chần chừ khi đối tác với Việt Nam.Thấy vậy nhưng không phải đơn giản, bằng chứng của sự không them quan tâm là một số công ty nước ngoài thực sự chưa biết gì đến thị trường outsourcing ở nước ta. Biết là như vậy, nhưng vấn đề qui phạm bản quyền phần mềm ,là vấn đề bức xúc , nan giải, khó triển khai triệt để…đứng thứ 12 cũng đã là cố gắng khi su hướng open source phát triển. Gia nhập WTO, chính sách pháp luật về vấn đề luật thương mại được bổ sung,nhân đó cần có sự định hướng rõ rang từ từ, dần dần , chế tài để đưa Việt Nam rời xa top qui phạm bản quyền,nâng cao uy tín trên thương trường quốc tế. 5 c. Đề xuất phương hướng cho nghành gia công phần mềm Việt Nam. Để mở ra một sự sáng lạn hơn cho tương lai của nghành gia công phần mềm ở Việt Nam,cần có sự đầu tư một cách toàn diện trên mọi mặt về Giáo Dục, Pháp Luật,Chính sách nhà nước , và cả ý thức của mọi người về nghành công nhiệp đầy tiềm năng này. Tuy rất đơn giản khi đề cập nhưng thực hiện thì lại rất khó, chẳng hạn: +Về Giáo Dục: Nâng cao chất lượng giảng dạy, cải cách phương thức làm việc,học tập , giảng dạy trong trường , làm sinh viên có nhiều điều kiện cọ xát thực tế hơn,..nâng cao chất lượng đầu ra cho nghành gia công.Bênh cạnh đó,thúc đẩy số lượng trường đào tạo,không những nhiều mà còn phải chất lượng. ÎCần có chính sách ưu đãi , học bổng khuyến khích học hỏi,nâng cao tay nghề +Về Nhà Nước: mang tính chủ lực cao, tính định hướng, sự đầu tư thiết thực xây dựng thương hiệu quốc gia.Mở rộng đối ngoại hợp tác lâu dài với thị trường tiềm năng , (Mỹ,Nhật….), khuyến khích phát triển doanh nghiệp cho thị phần trong nước để phần nào khắc phục vấn đề bản quyền ,nâng cao uy tín trên bản đồ gia công trên thế giới +Về Pháp Luật : cũng cần có chế tài xác định , những bộ luật cụ thể về vấn đề phần mềm,và bản quyền…cũng như là bằng chứng cho sự tiến lên của quốc gia sạch về phần mềm, xu hướng phát triển trong tương lai. II.Ảnh hưởng của văn hóa đến GCPM: 1. Thực trạng: Đại đa số người dung phần mềm ở Việt Nam đều có “chủ trương” chung: 1.Miễn phí hoặc bản crack không bản quyền . 2.Tính chuyên môn cao( các phần mềm có tính chuyên môn cao)…việc vi phạm bản quyền ở Việt Nam diễn ra 1 cách tràn lan khó kiểm soát…đến nỗi một số người xem việc đó là hiển nhiên!...Tuy nhiên, đã ảnh hưởng ít nhiều về vị trí của VN về gia công phần mềm trên thế giới..Doanh nghiệp cũng rất ý tứ trong khâu đặt hàng,và sử dụng phần mềm.Các công ty lớn cũng đang dần dần hợp phí hóa mô hình CNTT trong sản xuất. Nhà nước chủ trương khuyến khích dung phần mềm bản quyền, cho tới nay VN thoát khoải top 10 nước qui phạm bản quyền…Tuy nhiên đây vẫn là vấn đề khó thực hiện. Thực ra xem xét vấn đề về văn hóa sử dụng máy tính cũng như các phần mềm máy tính là điều không dư thừa. Việc sử dụng phần mềm vi phạm bản quyền quá nhiều đã tạo ra tiền lệ xấu cho các doanh nghiệp cũng như cá nhân người sử dụng sau này. Khi đó các công ty hoạt động trong lĩnh vực GCPM trong nước sẽ cảm thấy hụt hẫng vì mất đi một nguồn thu lớn từ nội địa khi các phần mềm trong nước chưa đủ khả năng cạnh tranh với các phần mềm lớn ở nước ngoài. Hơn nữa, thiện cảm của các công ty nước ngoài đối với thị trường Việt nam cũng sẽ mất đi. 2. Hướng khắc phục: Ở đây chúng tôi không xét đến khía cạnh tài chính của các cá nhân cũng như doanh nghiệp sử dụng phần mềm máy tính. Chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh một chút về vấn đề ý thức người sử dụng. Dường như việc dùng phần mềm lậu đã ăn sâu vào tiềm thức của họ, đây là điều gây bức xúc đối với ngành GCPM nói riêng và ngành công nghệ thông tin nói chung. Khắc phục vấn đề này sẽ thực sự khó khăn nhưng đi đầu và chủ chốt nhất vẫn là nhận thức của người sử dụng. Bên cạnh đó, cần gia tăng việc tuyên truyền, tổ chức các buổi nói chuyện để cho người dân hiểu được lợi ích của việc dùng phần mềm bản quyền cũng như tác hại của việc dùng phầm mềm crack. Sự góp mặt của Nhà nước là rất quan trọng. Chúng ta cần có những chế tài quy định rõ ràng, minh bạch trong việc sử lý các trường hợp dùng phần mềm crack. 6 Phần II: Vấn đề pháp luật Được sự ưu đãi lớn từ phía Nhà nước không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà còn về pháp luật. Mặc dù chỉ là một ngành công nghiệp mới mẻ nhưng ngành gia công phần mềm ở Việt Nam đang được Nhà nước ta đặc biệt chú trọng thúc đẩy phát triền với những chính sách ưu đãi đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực nay. Bên cạnh sự thuận lợi đó còn có nhiều bất cập vẫn còn tồn đọng. 1. Tiềm năng - chính sách ưu đãi của nhà nước + Về thuế đối với doanh nghiệp.Theo thông tư số 123/2004/TT-BTC, DNPM mới thành lập được hưởng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) 10% trong 15 năm; được miễn thuế TNDN 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và được giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo + Về thuế giá trị gia tăng. Sản phẩm và dịch vụ phần mềm được hưởng ưu đãi cao nhất về thuế giá trị gia tăng. +Về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên vật liệu phục vụ trực tiếp cho họat động sản xuất sản phẩm phần mềm mà trong nước chưa sản xuất được. Theo danh mục do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường trước đây (nay là Bộ Khoa học Công nghệ) ban hành, miễn thuế xuất khẩu đối với sản phẩm phần mềm. +Ưu đãi về tín dụng.Những đơn vị hợp tác tại Khu CNPM có các họat động sản xuất và dịch vụ phần mềm được áp dụng các hình thức hỗ trợ đầu tư Quỹ hỗ trợ phát triển của Nhà nước theo quy định tại Nghị định số 43/1999/NĐ – CP ngày 29 tháng 6 năm 1999 của Chính phủ về tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. +Về đào tạo phát triển nguồn nhân lực.Những đơn vị hợp tác tại Khu CNPM được thành lập các cơ sở đào tạo về công nghiệp thông tin. Các cơ sở này được hưởng các ưu đãi đối với các họat động đào tạo về công nghệ thông tin như đối với doanh nghiệp phần mềm Ngoài ra nghành gia công phần mềm ở nứơc ta được hưởng một số thuận lợi khác từ pháp luật như việc quản lý lỏng lẻo của pháp luật nên một số lập trình viên có thể dùng các phần mềm lậu, vi phạm bản quyền để phục vụ tốt hơn cho công việc của mình. Việc rút ngắn các công đoạn trong thành lập công ty cũng giúp ngành gia công phần mềm ở Việt Nam phát triển mạnh… 2.Những hạn chế mà pháp luật mang lại: Tuy nhiên pháp luật ở Việt Nam cũng còn nhiều hạn chế khiến nghành gia công phần mềm ở Việt Nam chỉ ở mức tiềm năng. Những hạn chế mà pháp luật mang lại là: + Thủ tục hành chính quá rườm rà.Dù có cải cách nhưng so với nỗ lực cải thiện môi trường của nhiều nước Việt Nam vẫn chưa theo kịp. Ví dụ như doanh nghiệp phải tốn không ít khoản chi phí không thể ghi lại bằng hoá đơn chứng từ để chứng minh là chi phí hợp lí, hợp lệ. Trong khi đó cơ quan thuế lúc nào cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có đầy đủ hồ sơ giấy tờ chứng minh các khoản chi tiêu đó là hợp lệ. Trong nghành gia công phần mềm các doanh nghiệp muốn xuất khẩu phần mềm thì phải đăng kí và chờ kiểm duyệt, nhưng do chờ quá lâu nên bạn hàng có thể tìm đến nơi khác… + Luật quá sơ sài.Luật sở hữu trí tuệ ở Việt Nam quy định, tác giả của chương trình máy tính (phần mềm) là các cá nhân trực tiếp tham gia xây dựng chương trình. Các tác giả có tất cả các quyền nhân thân như tác giả các tác phẩm văn học nghệ thuật khác - ví dụ như quyền đặt tên, quyền đứng tên, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác 7 phẩm. Luật Sở hữu trí tuệ không cho phép đăng ký tác giả là một pháp nhân – đây chính là mấu chốt của mọi rắc rối trong thực tế ngành phần mềm hiện nay. Theo như luật thì các lập trình viên đuợc thuê gia công phần mềm sẽ có quyền đứng tên sở hữu phần mềm đó. Cũng chính vì những bất hợp lý của việc coi lập trình viên là tác giả phần mềm, nên ngay sau khi Luật SHTT có hiệu lực, đã có một số tranh chấp liên quan đến bản quyền phần mềm. Đầu tiên là vụ kiện tụng giữa Công ty Định Gia (DigiNet) và Công ty P.C.I ở TP.HCM, tiếp đến là vụ kiện giữa Công ty Hà Nội Software và Công ty Thương mại Số ở Hà Nội. Hai vụ kiện này đều liên quan đến việc nhân viên phát triển phần mềm chuyển sang làm việc công ty khác, sử dụng phần mềm của công ty cũ để kinh doanh. Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay bảo hộ bản quyền phần mềm như tác phẩm viết theo công ước Berne tương tự như Việt Nam. Nhưng các nước có quy định riêng rõ ràng với việc bảo hộ bản quyền phần mềm, đặc biệt là với vấn đề tác giả phần mềm, còn luật Việt Nam rất sơ sài và thiếu các quy định chi tiết. Ví dụ như Trung Quốc, luật bản quyền cho phép định nghĩa tác giả có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nên hoàn toàn tránh được các bất cập nói trên mà vẫn tuân thủ công ước Berne. Luật Mỹ cũng quy định rõ tác phẩm làm thuê hoặc làm theo nhiệm vụ được giao thuộc sở hữu công ty, không phải bản thân cá nhân tham gia phát triển như Việt Nam. Còn các nước châu Âu (EU) không cho phép tác giả là một pháp nhân như Việt Nam nhưng họ có quy định rõ về quyền của pháp nhân sở hữu phần mềm không phải là tác giả. Tuy nhiên để bảo đảm quyền lợi, doanh nghiệp vẫn phải có thỏa thuận riêng với các lập trình viên và nhân viên liên quan. Luật pháp quá sơ sài làm mức độ vi phạm bản quyền phần mềm ở Việt Nam luôn ở mức cao thế nhưng quy định xử phạt đối với các hành vi vi phạm bản quyền lại chưa đủ sức để răn đe. Theo pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002 sửa đổi bổ sung năm 2008 trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ: “Lĩnh vực: sở hữu trí tuệ Pháp lệnh năm 2002 quy định mức phạt tiền tối đa là 100.000.000 đồng nay đã nâng lên là 500.000.000 đồng”. Ở nước ta hiện nay việc xử phạt chỉ dừng lại ở việc xử phạt hành chính, chưa xử lý hình sự hoặc chuyển qua tòa dân sự yêu cầu người xâm phạm sở hữu trí tuệ bồi thường như các nước trên thế giới. Tuy đã có luật rồi nhưng việc áp dụng các luật đó vẫn chưa đựoc áp dụng rộng rãi, nếu vi phạm thì cũng chỉ là giơ cao đánh khẽ. Nhà nước vẫn lơi lỏng việc quản lý các luật đó, hàng ngày hàng giờ vẫn có hàng triệu ngưòi, hàng trăm công ty vẫn đang dùng các phần mềm vi phạm bản quyền. Bên cạnh đó nhiều ý kiến cũng cho rằng môi trường chính sách phát triển CNPM trong 5 năm qua còn hạn chế do hầu như chưa có một chương trình, kế hoạch tổng thể, hay bản quy hoạch phát triển CNPM nào được phê duyệt. Điều này có thể do trong thời gian qua bộ máy chuyên trách quản lý nhà nước về CNTT từ trung ương đến các địa phương mới được thành lập, đang trong quá trình kiện toàn tổ chức. Việc thiếu các chương trình, kế hoạch cụ thể đã hạn chế phần nào sự tăng trưởng của các DNPM. Mặt khác, các cơ chế chính sách cụ thể chậm được ban hành cũng khiến cho việc mở rộng thị trường ở khu vực nhà nước gặp trở ngại. Sự thiếu nhất quán trong việc thực thi các chủ trương chính sách ưu đãi cho phát triển CNPM cũng đem lại những quan ngại cho các nhà đầu tư vào lĩnh vực này. 3.Kết luận: Với sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và Chính phủ, sự nỗ lực của các DN, ngành gia công phần mềm ở Việt Nam mấy năm qua đã có nhiều khởi sắc. Điển hình thành công của các DNPM lớn đã khẳng định khả năng gia công phần mềm của Việt Nam là hoàn toàn có thể thành một thị trường lớn hấp dẫn. Tuy nhiên sự phát triển của ngành này vẫn chưa đạt được như mong muốn . 8 Phần III: Qui mô đầu tư và vấn đề chảy máu chất xám Chiếm 10% trong tổng giá trị ngành gia công phần mềm trong toàn thế giới tạo ra, Việt Nam được đánh giá là một thị trường đầy tiềm năng không chỉ về nguồn nhân lực mà còn về thị trường với mức độ ổn định cao (ít bị biến động của cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua). Đất lành chim đậu, trong thời gian gần đây, quy mô đầu tư vào thị trường gia công phần mềm của cả trong và ngoài nước càng ngày càng phát triển và gia tăng không ngừng tạo một tiền đề vô cùng thuận lợi cho thời gian tới. 1. Quy mô đầu tư a. Nước ngoài + Thực trạng: - Là một thị trường thu hút đầu tư lớn của các nước phát triển như: Nhật Bản, Mỹ, Ấn Độ … Hàng năm các công ty Âu Mỹ, Nhật Bản phải chi tới 27 tỷ USD để outsourcing trên khắp thế giới, riêng về Nhật Bản doanh số thị trường này 140 tỷ USD/năm, chiếm 20% thị phần giá trị nhập khẩu khoảng 3 tỷ USD. Và tổng doanh thu của Việt Nam trong thị phần đó là 10% tức là 300 triệu USD/ năm. - Vào năm 2004,tập đoàn tư vấn quốc tế Kearrney đã xếp nước ta vào thứ hạng 20/25 quốc gia có khả năng thu hút gia công dịch vụ tốt nhất. - Theo số liệu chính thức cung cấp tại Diễn đàn WITFOR(*) 2009, năm 2008, doanh thu ngành CNTT-TT Việt Nam đạt trên 10 tỷ USD. + Nguyên nhân: - Sở dĩ có được những có số lạc quan và đáng khích lệ đó là nguồn nhân lực dồi dào với giá nhân công rẻ hơn so với các nước phát triển như Ấn Độ, Mỹ. Ở Ấn Độ, lương bình quân của một người Coder là 5 USD/ giờ, trong khi đó ở Việt Nam thì trung bình chỉ là 2 USD/ giờ. - Hơn nữa, do quan hệ ngoại giao hợp tác tốt đẹp của Nhà nước ta với các nước phát triển. Từ khi mở cửa đến nay, Chính phủ đã rất coi trọng việc ngoại giao, kí kết các hiệp định song phương, giúp đỡ, hợp tác trên diện rộng với các nước đã và đang phát triển. b. Trong nước: + Thực trạng: - Quy mô đầu tư manh mún,nhỏ lẻ: - 90% doanh nghiệp GCPM thuộc cỡ nhỏ(1-25 nv). - Chỉ có 3-4 Cty cótrên 1000 nhân sự. 650 doanh nghiệp GCPM, ~20.000 nhân sự - Năng suất 10.000$/người/năm. - Trong số 1000 DN GCPM của VN thì có 2 DN đạt tiêu chuẩn CMMI mức 5. Vậy là chúng ta còn rất"non"trong việc tham gia vào thị trường GCPM thế giới. => Với quy mô trong nước hiện tại thì gần như chúng ta chưa có đủ khả năng đề gia công các phần công việc lớn đòi hỏi cần có một quy trình làm việc chuyên nghiệp và nhân công chất lượng cao. 9 + Nguyên nhân: - Chúng ta học rất nhanh, làm rất nhanh, nhưng khi biết làm rồi thì lại làm ẩu, làm không có kế hoạch hoặc cắt xén công đoạn. Trong gia công thì không thể như vậy vì chúng ta đang làm một phần trong cả sản phẩm của họ. Chỉ cần sáng tạo một chút, tưởng là đẹp hơn, nhưng lại không khớp được vào sản phẩm của họ. - Thiếu nguồn nhân công chất lượng cao. Chúng ta học trong môi trường đại học chỉ là những kiến thức nền tảng, chưa có thể áp dụng cụ thể vào thực tế. Và khi ra đi làm, các kiến thức dường như quá mới lạ với chúng ta. Không chỉ dừng ở đó, chất lượng đào tạo ở các bật dưới còn quá thấp, tỉ lệ đậu vào các trường thuộc đại học còn rất ít. - Định hướng gia công phần mềm thực sự chỉ mới được biết đến và quan tâm trong thời gian gần đây. Với chúng ta, nó còn thực sự mới trong khi các nước khác đã phát triển đến một mức độ nhất định. - Thiếu tính chuyên nghiệp và kỉ luật. Không chỉ vậy chúng ta cần hoàn thiện quy trình làm việc theo một chuẩn quốc tế trong giai đoạn hội nhập hiện nay. - Sự quan tâm của Nhà Nước còn hạn hẹp. Nguồn kinh phí đầu tư của Nhà nước vào ngành công nghiệp còn mới mẻ và đầy tiềm năng này thực sự còn quá ít ỏi so với khả năng của nó. 2. Vấn đề chảy máu chất sám: + Thực trạng: - Đây thực sự là một vấn đề đầy nan giải và là vấn đề bức bối của Nhà nước ta hiện nay. Hằng năm, có hàng ngàn lượng nhân công chất lượng cao đi làm việc ở nước ngoài và định cư ở đó. - Nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước còn quá ít ỏi, chưa đáp ứng được nhu cầu cao của ngành gia công phần mềm ở Việt Nam. + Nguyên nhân: - Còn quá nhiều những bất cập, hủ tục trong các cơ quan nhà nước hiện nay. Hiện nay, trên các bài báo đang lên án việc trong các cơ quan nhà nước xảy ra các tệ nạn như ô dù, đút lót … nhưng động thái của Nhà nước thực sự chưa mạnh mẽ và thỏa đáng. - Chính sách đãi ngộ của nhà nước còn chưa cao. Với mức lương hiện nay của các cơ quan nhà nước thì còn quá thấp so với các công ty ở nước ngoài. + Đề xuất: - Nhà nước cần xem xét các vấn đề đãi ngộ nhân tài sau khi theo học ở các trường đại học trong và ngoài nước với các hoạt động thực tiễn như: chính sách ưu đãi về lương, về thuế, về cuộc sống, nhà cửa … - Dần xóa đi những hủ tục trong các cơ quan hành chính. - Có những chế tài rõ ràng và minh bạch trong việc thưởng và phạt ở các cơ quan Nhà nước hiện nay. 10 Phần IV: Ảnh hưởng của giáo dục tới chất lượng nguồn nhân lực Trong ngành công nghiệp gia công phần mềm, bên cạnh yếu tố về xã hội thì yếu tố về con người là yếu tố quan trọng hàng đầu. Vai trò của nhân công trong ngành công nghiệp công nghệ nói chung và gia công phần mềm nói riêng là yếu tố xuyên suốt và không thể thay thế được. Hiểu được vai trò quan trọng đó, nhóm chúng tôi đi sâu phân tích những nhân tố của giáo dục ảnh hưởng tới nguồn nhân công hiện nay. Ở đây, chúng tôi chỉ đi sâu phân tích những mặt hạn chế để rồi đưa ra những ý kiến góp phần cải thiện nguồn nhân lực hiện nay. 1.Nhân lực có chất lượng là gì? Thật sự mà nói khó có thể định nghĩa rõ ràng về khái niệm “chất lượng” của nguồn nhân lực, bởi sẽ có rất nhiều mặt phải bàn tới như năng lực vốn có, môi trường đào tạo, làm việc...Và điều này còn phụ thuộc vào cách nhìn nhận của từng cá nhân, tập thể hay các nơi tiếp nhận nguồn lao động.Vì vậy ở đây nhóm nghiên cứu đề tài chỉ xin đưa ra cho người đọc ý kiến tổng quan nhất về tiêu chí để đánh giá chất lượng của nguồn lao động : 1.Vận dụng tốt kiến thức nền tảng để tạo đà cho công việc thực tế. Đây là điều hoàn toàn đúng bởi bất cứ ngành nghề hay công việc gì cũng cần người lao động phải có hiểu biết ban đầu, nó giúp họ không cảm thấy quá bỡ ngỡ với công việc thực tế. Chúng ta sẽ dễ dàng hơn trong việc hòa nhập với công việc khi có một lượng kiến thức nhất định. 2.Biết cách tiếp cận công nghệ mới.Khi xã hội hiện đại hóa, đa phần công việc đều có máy móc hỗ trợ, những kỹ thuật, công nghệ mới có lợi đều được áp dụng, điều này đòi hỏi người làm phải cập nhật cho mình những thông tin đầy đủ nhất và có thể vận hành tốt các thiết bị, hệ thống...Điều này càng đúng với những người làm việc trong ngành CNTT 3.Sáng tạo là không thể thiếu.Trong môi trường cạnh tranh đầy khắc nghiệt, bạn sẽ bị đào thải nếu thiếu đi tính sáng tạo. Công việc không bao giờ cũng thuân lợi như ý bạn, nó luôn đi kèm với rất nhiều khó khăn mà đôi khi có thể giết chết tương lai của bạn, và lúc này cái cần nhất chính là những ý tưởng sáng tạo từ bản thân của bạn, nó sẽ giúp bạn giải quyết công việc dễ dàng và có hiệu quả hơn. 4.Mạnh dạn áp dụng cái mới vào quá trình làm việc. Thực tế thì có rất nhiều người khi làm việc nảy sinh rất nhiều ý tưởng táo bạo, rất khả thi nhưng họ lại thiếu một chút quyết tâm để đưa ra đề xuất của mình, họ vô tình đánh mất cơ hội thăng tiến của bản thân, cũng như mang lại lợi ích chung cho tập thể. 5.Có trách nhiệm,sự kỷ luật trong công việc,đặc biệt là khi ở trong một tập thể. Nhắc đến yếu tố trách nhiệm, sự kỷ luật phải thú nhận rằng điều này còn thiếu rất nhiều trong đội ngũ lao động Việt Nam. Môi trường làm việc của nước ngoài thật sự đáng để chúng ta học hỏi, bởi ở đó mỗi cá nhân luôn tôn trọng ý kiến của các cá nhân khác, họ cũng sẵn sang nhận trách nhiệm khi mắc lỗi cũng như hoàn thành rất tốt công việc được giao. 6.Rất cần tới những cá nhân có khả năng xây dựng và hình thành những ý tưởng lớn,nói đúng hơn là những “kiến trúc sư” trong ngành phần mềm nước ta. Yếu tố này xin được nói riêng với ngành GCPM. Việt Nam có thể được biết đến là thị trường tiềm năng trong lĩnh vực CNTT nói chung và ngành GCPM nói riêng nhưng lại chưa thể đột phá và giới thiệu với khách hàng những dự án có qui mô lớn, mang tính khẳng định thương hiệu. Cho nên chúng ta cần phải đào tạo và thu hút những nhân tài có khả năng “vẽ đường” cho ngành GCPM. 11 2.Góc nhìn thực tế-Các số liệu khảo sát: Trước tiên chúng tôi xin đưa ra cho người đọc những số liệu trong một cuộc khảo sát của Tiến sĩ Trương Mỹ Dung (Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa Học Tự Nhiên) với các doanh nghiệp CNTT trong cả nước. +80 doanh nghiệp(DN) :62,25% DN vốn trong nước,33,75% DN vốn nước ngoài,5% DN vốn liên doanh.Số DN phần mềm chiếm 66,25% +Tiêu chí công nghệ & kỹ năng chuyên môn đánh giá : rất tốt 5%,tốt 23%, đạt 56%, chưa đạt 16%. +Tiêu chí ngoại ngữ : rất tốt 0%, đạt 62%, chưa đạt 38%. Có thể nêu khái quát về tiêu chí để đánh giá như sau : +Rất tốt : hiểu vấn đề nhanh, tiếp cận tốt với những cái mới, thực hiện công việc đúng theo qui trình được giao, biết cách xử lý vướng mắc khi gặp phải. Về ngoại ngữ thì có thể hiểu mọi thuật ngữ chuyên ngành cũng như giao tiếp, không mắc sai sót khi tham khảo tài liệu, giao tiếp lưu loát. +Tốt : Đáp ứng được các yêu cầu đề ra, hỗ trợ tốt cho đồng nghiệp, biết quản lý quỹ thời gian với công việc, có khả năng hiểu được phần lớn tài liệu bằng ngoại ngữ, nghe nói tương đối thành thạo. +Đạt : Hoàn thành được các công việc được phân công, không mắc lỗi lớn trong khi thực hiện các dự án, thường xuyên tu bổ kiến thức chuyên môn, có thể đọc tài liệu ngoại ngữ, nắm được các ý chính của công việc khi giao tiếp với người nước ngoài. +Chưa đạt : Chậm trong thực hiện công việc, làm sai các yêu cầu dự án, còn hời hợt trong công việc, không thể tiếp cận thong tin từ tài liệu, sách báo chuyên ngành. Chỉ số đạt nhìn có vẻ rất khả quan nhưng các DN khuyến cáo đánh giá như vậy cũng chỉ là để phù hợp với mức độ phát triển”tầm trung bình khá” của họ với tốc độ nền CNTT thế giới. Hơn nữa họ cũng muốn đưa ra một con số “không đến nỗi nào” để khích lệ cho việc phát triển. Có thể tóm gọn ý kiến đánh giá của DN như sau : + Ngoại ngữ vẫn là điểm yếu nhất của nhân lực CNTT nước ta hiện nay. + Khả năng làm việc nhóm,cũng như chuyên môn còn yếu . + Sinh viên mới ra trường còn quá bỡ ngỡ trong môi trường làm việc,ảnh hưởng nhiều tới khả năng tư duy công việc. + Các doanh nghiệp phải mất chi phí và thời gian để “tu bổ” những kỹ năng cần thiết cho sinh viên. + Hạn chế trong vấn đề giao tiếp ,tính thụ động trong công việc còn chiếm đa số. 3.Nguyên nhân: Có nhiều nguyên nhân nhưng có lẽ gần gũi nhất và cũng là quan trọng nhất đó chính là vấn đề đào tạo trong môi trường giáo dục. Trước tiên chúng ta sẽ nhìn sơ qua về cách tiếp cận nền giáo dục của học sinh Việt Nam, sau đó sẽ đánh giá về môi trường đạo tạo ngành nghề là các trường đại học, cao đẳng... 1.Môi trường giáo dục từ tiểu học đến phổ thông. + Học sinh ngay khi bước vào cấp tiểu học đã được “chuẩn hóa” với mục tiêu là phải đạt được những danh hiệu ,thành tích tốt. + Đặt nặng học sinh vào những điểm số mà quên rằng những kỹ năng đầu đời mới là cái cần nhất. + Xã hội ,nhà trường cũng như cha mẹ vô tình đã đặt áp lực lên vai những học sinh này. + Bản tính thụ động ,e dè đã bắt đầu hình thành trong mỗi học sinh khi không đáp ứng được nguyện vọng mà cha mẹ đặt ra + Bước chạy đà quan trọng này đã bị kìm hãm bởi sự cứng nhắc trong nền giáo dục ,ảnh hưởng rất lớn tới những cấp học sau này 12 + Khi bước vào cấp 2,3 học sinh vẫn chưa thể tự định ra hướng đi đúng đắn,chưa xác định được những yêu cầu của việc học. + Môi trường sống theo thời đại cộng với sự thiếu hụt những hoạt động cộng đồng có ích đã làm học sinh mất đi những kỹ năng thiết yếu. 2.Xem xét môi trường đào tạo đại học của nước ta. a.Cái nhìn tổng quan với các ngành nghề đào tạo. + Đa số sinh viên khi bước vào môi trường CĐ,ĐH đã “tích lũy” rất nhiều sự thụ động mà họ có được ở các cấp học dưới. Sự thụ động là một trong những nguyên nhân hàng đầu khiến sinh viên đánh mất rất nhiều cơ hội học hỏi tiếp cận với những người đi trước vốn đã có rất nhiều kinh nghiệm trong công việc. Những kỹ năng mềm khi ra trường của sinh viên cũng sẽ thiếu đi do trong qua trình học tập họ đã không tạo sự mạnh dạn cho bản thân cũng như sự năng động. Yếu tố này tồn tại nhiều và lâu khiến cho người sinh viên mất khả năng xây dựng và sáng tạo cho công việc của mình. + Tâm lý học cho qua đã thành thói quen. Phải tiếp cận khối lượng kiến thức ở nhiều lĩnh vực, nhiều môn học khiến sinh viên nhàm chán hình thành thói quen học tủ, học để qua. Điều đó ảnh hưởng không ít đến kết quả học tập và việc học các môn chuyên nghành. + Nhiều sinh viên cảm thấy hụt hẫng khi thấy không hợp với ngành nghề đã chọn. Đây là điều không tránh khỏi khi mà mức độ đầu tư cho việc định hướng nghề nghiệp tương lai của học sinh ở cấp phổ thông còn quá thấp. Đến khi bước vào môi trường đại học, bắt đầu tiếp cận những bước đi đầu tiên của nghành nghề, sinh viên mới ngỡ ra rằng mình đã chọn sai con đường. Như vậy đồng nghĩa với việc những người có khả năng trong các lĩnh vực khác không thể phát huy được. + Sự trao đổi giữa giảng viên và sinh viên còn rất hạn chế...Điều này bị ảnh hưởng một phần do sự thụ động của người sinh viên.Hơn nữa ở giáo dục đại học của nước ta số lượng sinh viên trên một giảng viên là quá lớn, gây khó khăn trong việc trao đổi thông tin. b.Với ngành phần mềm trong nước hiện nay. + Yêu cầu làm việc theo nhóm luôn là đòi hỏi rất cao trong lĩnh vực phần mềm nhưng việc đào tạo ở các trường ĐH vẫn còn thiếu quá nhiều về yếu tố này. Hầu như các dự án đều làm theo dạng teamwork nhưng sinh viên khi đi làm lại chưa thể theo kịp mô hình hoạt động và làm việc của nhóm. + CNTT là ngành luôn phải cập nhật cái mới nhưng kiến thức SV được học lại rất cũ và lạc hậu. Yếu tố này được nhắc đến rất nhiều trong ngành giáo dục nhưng nhà trường và giảng viên cũng chỉ mới thay đổi trong vài năm gần đây. Để đạt hiệu quả cao thì việc thay đổi, giới thiệu các tài liệu giảng dạy mới cần phải được thực hiện liên tục. + Sự hạn chế trong trình độ giảng dạy của giáo viên,giảng viên CNTT,chương trình chưa phù hợp,cơ sở hạ tầng với ngành kỹ thuật này chưa đầu tư đúng mức (Nguyễn Đình Thắng – Phó chủ tịch Hiệp hội DNPM VINASA). Cơ sở vật chất nếu đem so với các trường đại học nước ngoái thì quả thực các trường đại học nước ta còn thua xa, gây hạn chế cho việc nghiên cứu của sinh viên. Ngành CNTT vốn rất cần những thiết bị mang tính công nghệ cao, vì vậy nếu không đáp ứng được thì sẽ gây thiệt thòi rất lớn cho sinh viên. + Các DNPM vẫn còn hạn chế trong việc liên kết với nhà trường để giúp sinh viên sớm tiếp cận với thực tế công việc. Trong những năm gần đây, việc lien kết này đã có những bước tiến khả quan nhưng còn thấp, chưa đáp ứng được số lượng sinh viên đông như hiện nay. + Ngành CNTT là ngành rất cần khả năng ngoại ngữ tốt,nhất là tiếng Anh nhưng thực tế chỉ ra rằng yếu tố quan trọng này đã không được quan tâm đúng mức. Có lẽ không đâu xa, chỉ cần nhìn vào chương trình đào tạo tiếng Anh của trường đại học mà nhóm nghiên cứu đang học thì có lẽ cũng đủ thấy việc quan tâm đào tạo khả 13 năng ngoại ngữ cho sinh viên còn rất kém. Học đâu quên đó, đã là ngoại ngữ nhưng học xong khi đi làm sinh viên lại không thể giao tiếp được. Vấn đề này gây ảnh hưởng lớn đến khả năng thăng tiến và cơ hội làm việc của nguồn nhân lực CNTT. 4.Những giải pháp cơ bản. +Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp, quy trình đào tạo. Mở rộng quy mô, hình thức đào tạo CNTT. +Tăng cường dạy tiếng Anh và dạy CNTT bằng tiếng Anh hoặc các ngoại ngữ khác. + Sử dụng phần mềm nguồn mở trong giảng dạy +Đẩy mạnh dạy tin học và ứng dụng CNTT trong trường phổ thông + Xây dựng cơ sở dữ liệu cán bộ khoa học công nghệ ở trong nước và chuyên gia Việt kiều ở nước ngoài về CNTT. +Tổ chức các diễn đàn trao đổi về đào tạo nhân lực CNTT, + Có chính sách ưu đãi, khen thưởng, nâng bậc đối với giảng viên, giáo viên giỏi ứng dụng CNTT, đạt chuẩn kiến thức và kỹ năng CNTT. 5. Tiềm năng: Được thế giới biết đến là một nước hiếu học với sự thông minh cần cù vốn có, Việt Nam được các nước đánh giá cao khả năng của chúng ta. Bằng chứng là ở các kì thi Olympic diễn ra gần đây, Việt Nam đã đạt được tỉ lệ rất cao với số lượng lớn huy chương vàng và bạc. Nếu tính tổng thì chúng ta thua xa nhiều nước, nhưng nếu tính số lượng giải có trên đầu người thì chúng ta ở một vị trí cao. Không chỉ như vậy, khi Bill Gates viếng thăm Việt Nam vừa rồi, ông đã có một nhận định thực sự lạc quan về ngành công nghệ thông tin của nước ta với đội ngũ nhân lực hiện nay. Nhóm chúng tôi nghĩ rằng con người Việt Nam không thua ai, chúng ta giỏi, chúng ta thông minh chỉ có điều chúng ta lâu nay bị một vỏ bọc vô hình với sự nhút nhát, sợ thấp kém theo đuổi nên những gì mà chúng ta đạt được thực sự chưa tương xứng. Nếu thoát khỏi những vỏ bọc đó, ngành GCPM nói riêng và ngành CNTT nói chung sẽ có những bước tiến thật xa hơn nữa. Tổng kết : Qua các đánh giá chúng ta có thể thấy được cơ hội phát triển cho ngành GCPM nói riêng và ngành Công nghệ thông tin của nước ta là rất lớn. Khả năng nâng tầm ngành CNTT của nước ta sánh ngang với các khu vực khác là điều hoàn toàn có thể. Nhưng để làm được điều đó sẽ cần phải có những chính sách phù hợp về việc thúc đẩy đào tạo nhân lực, cải cách hành chính, pháp luật theo hướng cởi mở, tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tự trong nước cũng như nước ngoài, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước ... Nếu trong tương lai các vấn đề trên được giải quyết theo một lộ trình rõ ràng và tích cực thì cái nhìn của những khách hàng nước ngoài với ngành GCPM của Việt Nam sẽ không còn là hai chữ “tiềm năng”, mà thay vào đó sẽ đánh giá thị trường GCPM của Việt Nam là một thị trường đầy năng động và rất phát triển. Theo nhìn nhận của nhóm nghiên cứu chúng tôi, đây là một đề tài rộng, trong điều kiện về thời gian cũng như khả năng có hạn chúng tôi đã cố gắng gởi đến các bạn lượng thông tin cần thiết nhất, một cái nhìn khái quát, tổng thể nhất các mặt liên quan trong về vấn đề gia công phần mềm ở Việt Nam hiện nay và hướng khắc phục. ------ THE END ------ 14 * Các số liệu cũng như thông tin được tham khảo từ các tờ báo điện tử như : - www.thesaigontimes.vn - www.sohoa.vnexpress.net - www.laodong.com.vn - www.amnet.com.vn - www.bbc.com - www.wikipedia.com - www.esiportal.110mb.com/vn/outsourcing-help.shtml * WITFOR: World Information Technology Forum: Diễn đàn công nghệ thông tin thế giới. 2.Thành viên trong nhóm: 1.Trần Văn Như Tân: 0977023022 centrinoqn1104@gmail.com 2.Nguyễn Viết Dũng: 0983392643 dungnguyen1254@gmail.com 3.Lê Quốc Đạo: 01689131655 muadonga12@yahoo.com 4.Nguyễn Mậu Khoa: 0937470530 maukhoa_2006@yahoo.com 5.Nguyễn Duy Cường: 0985312786 henrycuongduy@gmail.com

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfGIA CÔNG PHẦN MỀM Ở VIỆT NAM, TẠI SAO CHỈ DỪNG LẠI Ở TIỀM NĂNG.pdf
Luận văn liên quan