Giải thích câu nói của Mac: "Sự xụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau"

Lí luận của C.Max-Lenin đã chỉ ra rằng sự chuyển biến từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử. Sự chuyển biến đó là kết quả của quá trình đấu tranh của giai cấp vô sản và giai cấp tư sản , trong đó giai cấp vô sản đại diện cho xã hội mới tiến bộ sẽ giành thắng lợi.Vì vậy C.Mac cho rằng:”sự thất bại của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau”. Qua đây ta còn nhận định thêm rằng đó còn là một tât yếu lịch sử. Đầu tiên, ta khẳng định rằng câu nói của Mac là hoàn toàn đúng đắn. Điều này được chỉ rõ qua các luận điểmsau: Trước hết ta đi vào tìm hiểu quá trình ra đời của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. 1. Sự hình thành giai cấp và tích luỹ tư bản Đầu tiên ta cần phải hiểu thế nào là giai cấp và giai cấp tư sản, vô sản là gì?Lê_nin đã định nghĩa : “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử,khác nhau về quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội,và như vậy là khác nhau về cách hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của người khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định.” Khi giai cấp hình thành đồng nghĩa xã hội bắt đầu có sự phân hoá giai cấp thành giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Tư sản là giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất còn vô sản là những người bị chiêm đoạt sức lao động và không có tư liệu sản xuất trong tay. Sau khi xã hội bắt đầu có sự phân hoá như vậy, giai cấp tư sản lập nên chính quyền nhà nướ để bảo vệ lợi ích cho họ và từ đó chủ nghĩa tư bản ra đời. Chủ nghĩa tư bản ra đời dựa trên những điều kiện cơ bảnsau: + Sự tiến bộ kĩ thuật dẫn tới sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. + Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá là điều kiện cơ bản nhất để dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, song chỉ có nền kinh tế hàng hoá thôi thì chưa đủ. Muốn có quan hệ tư bản chủ nghĩa thì cần phải có một quá trình chuẩn bị gọi là quá trình tích luỹ tư bản ban đầu. Có một điều mà ta cần hiểu đó là qúa trình tích luỹ ban đầu của chủ nghĩa tư bản Tích luỹ tư bản nguyên thuỷ là quá trình tạo ra vốn đầu tiên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản. Cùng với vốn (tư bản), quá trình tích luỹ nguyên thuỷ còn đòi hỏi có lực lượng lao động làm thuê (nhân công). * Tích luỹ vốn

doc14 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 17/08/2013 | Lượt xem: 8785 | Lượt tải: 4download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giải thích câu nói của Mac: "Sự xụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau", để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Họ và tên: TrÇn B¸ Minh Lớp : K50A1C KIỂM TRA GIỮA KỲ Đề : Giải thích câu nói của Mac :” Sự xụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau.” BÀI LÀM Lí luận của C.Max-Lenin đã chỉ ra rằng sự chuyển biến từ hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa sang xã hội xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử. Sự chuyển biến đó là kết quả của quá trình đấu tranh của giai cấp vô sản và giai cấp tư sản , trong đó giai cấp vô sản đại diện cho xã hội mới tiến bộ sẽ giành thắng lợi.Vì vậy C.Mac cho rằng:”sự thất bại của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản là tất yếu như nhau”. Qua đây ta còn nhận định thêm rằng đó còn là một tât yếu lịch sử. Đầu tiên, ta khẳng định rằng câu nói của Mac là hoàn toàn đúng đắn. Điều này được chỉ rõ qua các luận điểm sau: Trước hết ta đi vào tìm hiểu quá trình ra đời của giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. 1. Sự hình thành giai cấp và tích luỹ tư bản Đầu tiên ta cần phải hiểu thế nào là giai cấp và giai cấp tư sản, vô sản là gì?Lê_nin đã định nghĩa : “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn gồm những người khác nhau về địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định trong lịch sử,khác nhau về quan hệ của họ đối với những tư liệu sản xuất, về vai trò của họ trong tổ chức lao động xã hội,và như vậy là khác nhau về cách hưởng thụ và về phần của cải xã hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này có thể chiếm đoạt lao động của người khác, do chỗ các tập đoàn đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định.” Khi giai cấp hình thành đồng nghĩa xã hội bắt đầu có sự phân hoá giai cấp thành giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Tư sản là giai cấp nắm giữ tư liệu sản xuất còn vô sản là những người bị chiêm đoạt sức lao động và không có tư liệu sản xuất trong tay. Sau khi xã hội bắt đầu có sự phân hoá như vậy, giai cấp tư sản lập nên chính quyền nhà nướ để bảo vệ lợi ích cho họ và từ đó chủ nghĩa tư bản ra đời. Chủ nghĩa tư bản ra đời dựa trên những điều kiện cơ bảnsau: + Sự tiến bộ kĩ thuật dẫn tới sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. + Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá là điều kiện cơ bản nhất để dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, song chỉ có nền kinh tế hàng hoá thôi thì chưa đủ. Muốn có quan hệ tư bản chủ nghĩa thì cần phải có một quá trình chuẩn bị gọi là quá trình tích luỹ tư bản ban đầu. Có một điều mà ta cần hiểu đó là qúa trình tích luỹ ban đầu của chủ nghĩa tư bản   Tích luỹ tư bản nguyên thuỷ là quá trình tạo ra vốn đầu tiên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản. Cùng với vốn (tư bản), quá trình tích luỹ nguyên thuỷ còn đòi hỏi có lực lượng lao động làm thuê (nhân công). * Tích luỹ vốn + Các cuộc phát kiến địa lý đã đem về cho châu Âu và giai cấp tư sản nguồn hương liệu, gia vị, vàng bạc, hàng hoá. Đó là những nguồn vốn đầu tiên cho quá trình tích luỹ tư bản nguyên thuỷ. Vì thế, quý tộc và thương nhân châu Âu không ngừng ra sức bóc lột của cải, tài nguyên vàng bạc của các nước châu Phi và châu Á. +  Bằng buôn bán, trao đổi hàng hoá giữa các khu vực, đặc biệt giữa các khu vực, đặc biệt là buôn bán nô lệ da đen, đem lại lợi nhuận kếch xù cho nhà tư sản. + Bằng thủ đoạn cướp biển, bằng sức mạnh quân sự đe doạ để mua được hàng hoá với giá rẽ mạt, đem bán với lợi nhuận rất cao. + Dùng bạo lực để tước đoạt ruộng đất của nông dân, biến ruộng đất thành đồng cỏ chăn nuôi cừu, lấy lông bán làm len dạ, đem lại lợi nhuận (ở Anh). Như vậy, quá trình tích luỹ vốn ban đầu là quá trình tập trung vốn vào tay một số ít người, đồng thơi cũng là quá trình tước đoạt tư liệu sản xuất của nhân dân lao động, chủ yếu là nông dân, biến họ thành những người làm thuê. Công cuộc tích luỹ tư bản nguyên thuỷ được tiến hành bằng lối phá hoại tàn nhẫn. * Nguồn nhân công - Đối với nông dân : Tiến hành phong trào “Ráo đất cướp ruộng”, biến ruộng đất của nông dân thành đồng cỏ chăn cừu phục vụ cho sản xuất len dạ. Nông dân bị mất ruộng đất, chỉ còn con đường làm thuê, bán sức lao động cho những ông chủ giàu có (điển hình nhất ở Anh từ thế kỉ XVI). - Đối với thợ thủ công : Ở thành thị, nhiều thợ thủ công do rủi ro, do vay nặng lãi, do thuế khoá – đã mất tư liệu sản xuất, phải đi làm thuê. Nhờ có quá trình tích luỹ tư bản chủ nghĩa nói trên mà ở châu Âu, một số nhà quý tộc và tư sản đã kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa. Họ bỏ vốn ra lập các xí nghiệp, nhà máy, trang trại,…thuê nhân công kinh doanh tư bản chủ nghĩa. Họ bỏ vốn ra lập xí nghiệp, nhà máy, trang trại…thuê nhân công về là, và trả lương, bóc lột sức lao động. Hình thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa xuất hiện. Về kinh tế (Sự xuất hiện các hình thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa)    Nhờ có quá trình tích luỹ nguyên thuỷ, ở châu Âu đã xuất hiện những hình thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa : + Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh và mâu thuẫn sâu sắc với chế độ phong kiến lỗi thời lạc hậu. + Công trường thủ công thay cho phường hội, sản xuất trên quy mô lớn hơn. Việc áp dụng kĩ thuật vào sản xuất làm cho năng suất lao động tăng nhanh. Xuất hiện quan hệ chủ - thợ (sự bóc lột của chủ xưởng đối với những người lao động làm thuê). + Công trường thương mại thay cho thương hội thời trung đại. + Trong nông nghiệp : Hình thức đồn điền, trang trại sản xuất trên quy mô lớn thay thế dần cho sản xuất nhỏ của nông dân. Cong dân biến thành công nhân nông nghiệp theo chế độ làm công ăn lương, chủ đất trở thành tư sản, quý tộc mới. - Thương nghiệp : Xuất hiện các công ti thương nghiệp lớn Đông Ấm, châu Phi – các công ti này vừa buôn bán vừa cướp biển. Về xã hội : Phân hoá sâu sắc, đồng thời với quá trình tích luỹ vốn ban đầu và việc thành lập những công trường thủ công, hai giai cấp mới là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản ra đời. * Giai cấp tư sản : Theo C.Mác và Ph.Ănghen thì “Giai cấp tư sản là giai cấp những nhà tư bản sở hữu tư liệu sản xuất xã hội và sử dụng lao động làm thuê”.Giai cấp đó bao gồm chủ xưởng và thương nhân giàu có. Điạ vị kinh tế của giai cấp tư sản ngày càng lớn mạnh, thế nhưng địa vị chính trị và xã hội ngày càng thấp kém, luôn bị giai cấp phong kiến chèn ép, nên họ tìm cách thoát khỏi ách thống trị của phong kiến. * Giai cấp công nhân: Theo C.Mác và Ph.Ănghen thì “Giai cấp vô sản là giai cấp là những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống”. Tóm lại, những người lao động vô sản làm thuê, bị bóc lột nặng nề ’Sau này họ đi theo tư sản chống lại chế độ phong kiến . Bên cạnh đó, quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản được thông qua con đường áp bức và bóc lột quần chúng nhân dân lao động bằng nhiều biện pháp dã man : cướp bóc, lừa gạt, buôn bán, kể cả giết người,… 2. Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Cùng với chủ nghĩa duy vật lịch sử C.Mác và Ăngghen đã đi sâu nghiên cứu sự vận động của xã hội tư bản chủ nghĩa, làm rõ một trong những bản chất của giai cấp tư sản trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa là bóc lột giá trị thặng dư. Nhờ bóc lột giá trị thặng dư mà giai cấp công nhân đã tạo ra, giai cấp tư sản đã đẩy mạnh phát triển kinh tế và bước vào cuộc cách mạng công nghiệp làm tăng năng xuất lao động, nhưng đồng thời cũng làm cho lực lượng sản xuất mang tính xã hội hoá ngày càng cao, mâu thuẫn với tính chất chật hẹp của chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì càng làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất càng gay gắt . Xét về mặt kinh tế thì chỉ có thể giải quyết triệt để mâu thuẫn đó khi có cuộc cách mạng giành những tư liệu sản xuất chủ yếu vào tay xã hội quản lý, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và sự phát triển của lực lượng sản xuất. Về mặt xã hội, người có xứ mệnh lịch sử thực hiên quá trình cách mạng xã hội đó là giai cấp công nhân, con đẻ của nền đại công nghiệp,có mâu thuẫn đối kháng về lợi ích với giai cấp tư sản và đại diện cho lực lượng sản xuất và phương thức sản xuất tiên tiến của thời đại mới. Học thuyết giá trị thặng dư luận chứng một cách khoa học từ nguồn gốc kinh tế của sự diệt vong chủ nghĩa tư bản , sự ra đời của chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin nói:” chỉ có học thuyết kinh tế của Mác là đã giải thích được địa vị thực sự của giai cấp vô sản trong toàn bộ chế độ tư bản chủ nghĩa”. Nhờ những bước tiến to lớn của lực lượng sản xuất mà biểu hiện tập chung nhất là sự ra đời của công nghiệp cơ khí, chủ nghĩa tư bản đã tạo ra bước phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất . Trong vòng chưa đầy một thế kỷ , chủ nghĩa tư bản đã tạo ra những lưc lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất mà nhân loại đã tạo ra cho đến lúc đó. Nhưng , như C.Mác và Ăngnghen đã chỉ ra, trong xã hội đầy đối kháng giai cấp đó, con người càng chinh phục tự nhiên, cải tạo tự nhiên bao nhiêu thì tình trạng nguời áp bức bóc lột người càng được mở rộng bấy nhiêu . Sự phát triển của kinh tế -kỹ thuật đi liền với sự suy đồi về đạo đức , sự giàu có thừa thãi của một số ít người đẩy số đông người vào cảnh cùng khổ. Lực lượng sản xuất càng được cơ khí hoá , hiện đại hoá và do vậy càng mang tính xã hội hoá cao bao nhiêu thì những quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất từ chố đóng vai trò là yếu tố mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển ngày càng trở thành vật chướng ngại đối với sự phát triển hơn nữa của nó bấy nhiêu. Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất trở thành mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản dẫn đến đấu tranh giai cấp. Tính gay gắt của mâu thuẫn trên lĩnh vực kinh tế quy định tính gay gắt ngày càng tăng của mâu thuẫn trên lĩnh vực xã hội giữa giai cấp công nhân,nông dân lao động và giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản xuất hiện ngay từ đầu và ngày càng trở lên căng thẳng. Khi tiếp thu chủ nghĩa xã hội khoa học, phong trào công nhân đã chuyển từ tự phát sang tự giác. Toàn bộ hoạt động mang tính phủ định của nó đối với chủ nghĩa tư bản bắt đầu được hướng vào việc lật đổ nhà nước tư sản để xác lập nhà nước của giai cấp công nhân của nhân dân lao động. Như vậy sự phát triển mạnh mẽ của đại công nghiệp cơ khí và cùng với nó, sự trưởng thành cả về chất và lượng của giai cấp công nhân-vốn là sản phẩm của chính phủ tư bản- đã tạo ra tiền đề kinh tế và xã hội để tiến tới thủ tiêu chủ nghĩa tư bản . Diễn đạt tư tưởng đó ,C.Mác và Ph. Ăngghen cho rằng giai cấp tư sản không chỉ tạo ra vũ khí để giết mình, mà còn sinh ra những người sử dụng vũ khí ấy ,những công nhân hiện đại những người vô sản. Phần nào ý thức được sự quy định của mâu thuẫn trên lĩnh vực kinh tế đối với mâu thuẫn trên lĩnh vực xã hội, giai cấp tư sản đã cố gắng điều chỉnh quan hệ sản xuất với hy vọng làm cho nó phù hợp với tính xã hội hoá của lực lượng sản xuất và nhờ vậy làm dịu bớt đi sự căng thẳng của mâu thuẫn giữa tư sản và vô sản. Những công ty cổ phần, chế độ tham dự lần lượt xuất hiên, những doanh nghiệp nhà nước ra đời. Song sở hữu nhà nước trong chủ nghĩa tư bản thực chất chỉ là giai cấp tư sản nhân danh nhà nước để nắm tư liệu sản xuất. Do vậy, mâu thuẫn đối kháng trong kinh tế và trong lĩnh vực xã hội không hề suy giảm, thậm chí còn tăng lên. Mâu thuẫn đó chỉ có thể được giải quyết, theo Ph. Ăngnghen,một khi to