Giáo trình Xã hội học giáo dục

Giáo trình Xã hội học giáo dục Giáo trình do PGS. TS Nguyễn Văn Hộ - TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền, Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên biên soạn cho các lớp Cử nhân quản lý giáo dục, Thạc sỹ Giáo dục, Thạc sỹ Quản lý giáo dục. Đây là giáo trình được nhà xuất bản Giáo dục xuất bản năm 2004 và là tài liệu chính thống (được Hội đồng khoa học và các phản biện khoa học thẩm định, cho xuất bản). Tuy chưa phải là tài liệu hoàn hảo nhưng là tài liệu bổ ích được viết bởi PGS TS Nguyễn Văn Hộ, một "cây đa, cây đề" trong lĩnh vực Giáo dục của Việt Nam. Bản thân người gửi tài liệu cũng là một Nghiên cứu sinh do tác giả hướng dẫn.

pdf54 trang | Chia sẻ: lvcdongnoi | Ngày: 06/02/2013 | Lượt xem: 2871 | Lượt tải: 10download
Bạn đang xem nội dung tài liệu Giáo trình Xã hội học giáo dục, để tải tài liệu về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
+ Sự phân phối về địa vị, nghề nghiệp và tiền thương của người lao động không được quy định bởi kết quả GD. Cùng một thành quả GD như nhau danh độ, bằng cấp) thì những người đàn ông có địa vị gia đình cao, có thu nhập cao hơn người ở gia đình địa vị thấp) con trai thu nhập cao hơn con gái. Có thể nói, những bất bình đẳng trong GD TBCN là hiện tượng XH phổ biến và việc khắc phục nó không thể theo hướng như các nhà XHH chức năng đề xuất. VI. Một số vấn đề XH về GD ở nước ta hiện nay 1. Những thành tựu cơ bản GD của Việt Nam. - Hệ thống GD quốc dân hoàn chỉnh, thống nhất - Quy mô GD tăng nhanh : từ 1995-2000 (mẫu giáo tăng 1,2 lần; THCS tăng 1,6 lần; THPT tăng 2,3 lần; DN tăng 1,8 lần; ĐH tăng 3 lần). - Công tác XHH GD đã đem lại kết quả bước đầu - Chất lượng GD có chuyển biến - Trình độ hiểu biết, khả năng tiếp cận tri thức mới của một bộ phận học sinh, sinh viên được tăng lên. HDI năm 1990: 0,456 xếp thứ 121/174 năm 2000: 0,682 xếp thứ 101/174 2. Những yếu kém: - Chất lượng GD còn thấp - Hiệu quả GD chưa cao - Cơ cấu đào tạo nhân lực về ngành nghề, về trình độ, về dùng miền chưa hợp lý. - Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và thấp về chất lượng - Cơ sở vật chất của nhà trường còn thiếu thốn - Chương trình, giáo trình, phương pháp GD chậm đổi mới, chậm hiện đại hoá. - Công tác quản lý GD kém hiệu quả Nguyên nhân của yếu kèm là: về chủ quan: năng lực quản lý GD-ĐT còn hạn chế; về khách quan: trình độ phát triển KH-KT còn thấp; nền KT thị trường chưa hoàn thiện; cải cách hành chính nhà nước chậm trễ. 3. Một số vấn đề XH trong GD và hướng giải quyết: 32 - Nhận thức XH về GD được đổi mới, đúng đắn hơn về vị trí của giáo dục. - Sự nghiệp GD đang đứng trước những mâu thuẫn cơ bản là: + Mâu thuẫn giữa chính sách đầu tu còn hạn hẹp cho GD với nhu cầu phát triển GD, giữa khả năng khách quan của nền kinh tế rất hạn chế và mong muốn chủ quan về tốc độ nhanh trong phát triển + Mâu thuẫn giữa số lượng người đi học và khả năng nâng cao chất lượng GD; Giữa cơ sở vật chất nhà trường với mục đích phát triển toàn diện (trên thực tế, HS phải hàng chịu một quan niệm về học vấn phổ thông phiến diện, mang nặng tính khoa cử, chạy theo bằng cấp, tạo nên sự mất cân đối trong nhân cách học sinh: mất cân đối giữa kiến thức và kỹ năng lao động, giữa hiểu biết và thực hành, truyền thống tôn sư trọng đạo bị xói mòn). + Mẫu thuận giữa cơ cấu kinh tế, lao động với cơ cấu GD (tốt nghiệp đại học, cao đẳng ra không có việc làm, nông thôn thiếu lao động; nhiều lĩnh vực sản xuất mới ra đời, đòi hỏi những người lao động có trình độ cập nhật, vì thế, số lao động đã được đào tạo trước đây khó có thể thích ứng - lực lượng lao động KT ở nước ta vừa thừa lại vừa thiếu). Để giải quyết những mâu thuẫn trên, giáo dục cần được đổi mới theo những tư tưởng chỉ đạo sau: + Phải xem giáo dục là quốc sách hàng đầu, kế hoạch phát triển GD phải gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - XH của từng địa phương và cả nước. (Chiến lược phát triển GD là một bộ phận thiết yếu trong chiến lược con người, là trung tâm của chiến lược KT-XH. Cần khắc phục tình trạng coi GD chỉ là một thứ phúc lợi, xếp GD ra ngoại vi sản xuất. Cần đầu tư thích đáng cho GD, vì nó là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển). + Kế hoạch GD phát triển theo từng vùng, đại trà, mũi nhọn nên toàn bộ hệ thống GD vận động theo hướng phân hoá ngày càng rõ rệt, do đó phải xác định rõ mục tiêu, kế hoạch phát triển chương trình, sách giáo khoa... theo từng vùng, phân luồng hợp lý để hạn chế tốt số học sinh tốt nghiệp từng cấp học có thể đi vào sản xuất hay tiếp tục học lên. Kết hợp phổ cập GD (xây dựng mặt bằng dân trí) với chính sách đào tạo và sử dụng nhân tài, tạo ra mũi nhọn cho sự nghiệp phát triển giáo dục. + Chất lượng và hiệu quả đào tạo của GD là tạo rạ chất lượng mới, cấu tạo mới trong cấu trúc nhân cách (điều chỉnh, bổ sung), mở rộng kiến thức nâng cao phẩm chất của mỗi cá nhân, mỗi thế hệ. Chất lượng GD được đánh giá bằng hiệu quả bên trong (số học sinh lên lớp, tết nghiệp) và hiệu quả bên ngoài (tác dụng của GD đối với kinh tế- xã hội). Hiệu quả GD 33 nói lên chất lượng của GD. Chỉ có một nền GD có hiệu quả và chất lượng mới nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. + Mở rộng việc đa dạng hoá các loại hình đào tạo thông qua việc kết hợp giáo dục chính quy, GD không chính quy, GD nhà trường và GD gia đình, GD thường xuyên; GD suốt đời; áp dụng nhiều hình thức trường lớp: quốc lập, bán công, dân lập, trên cơ sở một luật GD và những quy định chung của nhà nước trong đào tạo. + XHH, dân chủ hoá GD và thực hiện công bằng XH trong GD: . Tạo ra nhận thức đúng trong XH về vị trí, vai trò của GD đối với việc phát triển lực lượng lao động, phát triển KT-XH. . Kết hợp sức mạnh của nàn nước và sự đóng góp của toàn dân trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động GD. . Đem GD đến với người dân lao động, tạo mọi điều kiện để mọi người được học hành, phát triển sâu rộng các tổ chức quần chúng tham gia vào việc quản lý GD. VII. Xã hội hoá giáo dục XHH là quá trình mà qua đó cá nhân học hỏi, lĩnh hội nền văn hoá của Xh như một khuôn mẫu XH. Quá trình mà nhờ nó, cá nhân đạt được những đặc trưng XH của bản thân, học hỏi được cách sống (suy nghĩ, ứng xử trong cộng đồng, trong đời sống XH và phát triển được khả năng đảm nhiệm các vai trò XH với tư cách vừa là cá thể vừa là một thành viên của XH 1. Nội dung của XHHGD Quá trình XHH cá nhân và nhóm XH có ba nội dung cơ bản sau đây: - Sự học tập (học và tập) của cá nhân về cách thức và quy định để tham gia một nhóm XH; để được nhóm đó chấp nhận như một thành viên thuộc nhóm. (Khi mới sinh ra, đứa trẻ chưa có khả năng tự hội nhập với XH. Để có được nó phải có quá trình tiếp nhận (học) những tri thức, kỹ năng, thao tác cần thiết mà XH đòi hỏi (hoạt động XH, các quan hệ và liên hệ giữa các thành viên trong XH hay còn gọi là các chuẩn mực văn hoá của XH). - Cá nhân học hỏi không phải để làm biến mất bản thân mình trong XH mà là để phát triển các năng lực của chính mình, ý thức của mình như là một thực thể XH độc lập, tách riêng ra khỏi các cá nhân khác nhau và tham gia vào các hoạt động của nhóm như một chủ thể, một yếu tố nhóm. (XHH là quá trình phát triển "cái tôi" của mỗi cá nhân trong XH). XH không chỉ tồn tại với tư cách là tổ hợp các cá nhân mà còn là tổ hợp các nhóm XH. Vì vậy quá trình XHH còn bao hàm nội dung làm cho các nhóm XH thích nghi lẫn nhau theo chuẩn mực chung của văn hoá XH (quá trình XHH nhóm). Cần lưu ý rằng các nội dung này 34 được thay đổi theo sự thay đổi của XH. (Trong XH cũ, XHH là đúc theo khuôn mẫu; trong XH hiện đại, XHH mang ý nghĩa như là quá trình giúp đỡ, khiến cho cá nhân phát huy được cái năng lực hoạt động và sáng tạo của mình). 2. Các nhân tố tác động đến quá trình XHHGD Xét trên bình diện tổng quát, toàn bộ đời sống XH là những tác nhân XHH. Tuy nhiên, trong số các tác nhan đó, có các nhân tố chính thức và không chính thức. - Nhân tố chính thức là các tổ chức, các thiết chế XH có chức năng XHH, được cấu trúc chặt chẽ, được quy định trách nhiệm truyền đạt các mô thức hành vi và ý thức đã được XH chấp nhận tới cá nhân (nhân tố chính thức điển hình là GD, tôn giáo, pháp luật v.v...). - Nhân tố không chính thức bao gồm các tác động qua lại của cá nhân đã được XHH trong các nhóm, các cộng đồng, tác động của các phương tiện thông tin đại chúng... mà kết quả là vừa đạt được hiệu quả đối với XH, vừa làm biến đổi cá nhân. - Các nhân tố chủ yếu: ảnh hướng chủ yếu tới quá trình XHH cá nhân bao gồm cá nhân tố chính thức và không chính thức + Gia đình: . Đứa trẻ ra đời phụ thuộc hoàn toàn vào gia đình để được tồn tại (về vật chất, tinh thần, tình cảm), sự phụ thuộc này tạo nên sự kết dính mạnh mẽ giữa trẻ và những người chăm sóc. Sự cảm nhận thế giới, về Xh và chính bản thân của trẻ được quyết định bởi thái độ, hành vi và niềm tin của gia đình (thông qua các thông tin có lời và không có lời, chủ đích và không chủ đích, người lớn truyền đạt cho trẻ những giá trị, niềm tin, thái độ và tri thức sống, hoạt động). Nội dung và phương pháp XHH của cá nhân tuỳ thuộc vào nguồn gốc giai cấp XH, truyền thống văn hoá của gia đình. Trong phạm vi bao quát, XHH gia đình phụ thuộc và được thay đổi tuỳ theo sự biến đổi của XH và sự thay đổi của nó, cả về chức năng, nội dung, phương pháp và mức độ ảnh hưởng. + Trường học: Trong XH truyền thống, nông nghiệp, XHH gia đình có vai trò chủ yếu. Ngày nay, vai trò đó được chuyển dần sang các tổ chức, các thiết chế XH khác nhau, trong đó nhà trường giữ vị trí then chốt. Trường học là cơ quan chủ yếu chịu trách nhiệm hình thành cho trẻ hệ thống tri thức khoa học, kỹ thuật các giá trị chuẩn mực văn hoá mà XH mong đợi. Cũng như gia đình, thiết chế giáo dục cũng mang tính giai cấp, đẳng cấp và tính XH sâu sắc, được thể hiện trong mục đích, nội dung và phương pháp tổ chức giáo dục. (Với tầm quan trọng đặc biệt này, GD trở thành quốc sách, được ưu tiên về ngân 35 sách và các ưu đãi XH khác. Đồng thời thiết chế GD được tổ chức sao cho phản ánh được các quy luật đang vận động trong XH hiện tại, nhà trường gắn với cuộc sống), được thiết kế sao cho các kiến thức được truyền đạt qua các thế hệ (khoá học) mang tính kế thừa và phát triển. - Nhóm XH : + Nhóm XH mà đứa trẻ đang sống (đặc biệt là nhóm bạn bè) có chức năng cơ bản là thoả mãn nhu cầu giao tiếp, nhu cầu giải trí giữa các cá nhân. + Quan hệ trong nhóm là quan hệ bình đẳng, cùng vị thế XH nên các cá nhân thường chia xẻ thái độ, tâm tư, cảm xúc với nhau. Vì thế, tác động của nhóm mạnh mẽ tới mức có thể lấn át cả ảnh hưởng của gia đình và nhà trường. - Thông tin đại chúng: Trong XH nông nghiệp, mọi thông tin tới trẻ đều phần lớn thông qua gia đình, bạn bè (qua hình thức tiếp xúc cá nhân). Ngày nay, nhờ sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, cho phép trẻ thu nhận thông tin nhiều, đa dạng. Do đó, nhân tố thông tin không phải là một nhân tố chính thức nhưng ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong quá trình XHH trẻ. Cần đặc biệt lưu ý tới tính hai mặt của thông tin (mặt tích cực thể hiện ở chỗ nó tăng cường ý nghĩa của các giá trị, các chuẩn mực văn hoá cũng như các tri thức khoa học đa dạng và bổ ích; mặt tiêu cực thể hiện ở chỗ nó làm méo mó, lệch lạc việc tiếp nhận các giá trị thông tin qua các chương trình không lành mạnh do tính thương mại hoá và thiếu thận trọng, dẫn đến sự lầm tưởng của trẻ em cho rằng những gì được in ấn, truyền tải qua thông tin đại chúng đều là những thứ được XH thừa nhận. Trong nhiều trường hợp, các giá trị thông tin không phù hợp với giá trị chuẩn mực văn hoá chung và đài ngược trực tiếp với những cái được dạy dỗ trong nhà trường và gia đình, nó cản trở việc XHH tích cực đối với trẻ). Xã hôi hoá giáo dục XHH GD là huy động lực lượng của toàn XH cùng tham gia vào GD, tạo điều kiện để mọi người dân được thụ hưởng các thành qua do GD đem lại; huy động sự đóng góp của người dân. Đẩy mạnh đa dạng hoá các loại hình trường lớp, phát triển hệ thống trường lớp ngoài công lập, tổ chức tốt việc phối hợp giữa nhà trường gia đình và XH. Nhà nước giữ vai trò định hướng, tạo cơ chế, chính sách cho sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng GD. - XHHGD là một tư tưởng chiến lược về GD, chỉ đạo quá trình xây dụng và phát triển GD nhằm tạo ra chuyển biến sâu sắc, có tính "cách mạng” trong hoạt động thực tiễn GD, biến hoạt động GD vốn mang tính chuyên biệt trong một lĩnh vực, một thiết chế XH (ngành GD) trở thành một hoạt động XH rộng lớn, sâu sắc đi vào tất cả các lĩnh vực của đời sống vật chất, tinh thần của toàn XH. 36 Xây dựng và phát triển GD theo hướng XHH sẽ huy động được mọi tiềm năng của XH ở những mức độ khác nhau, tạo cơ sở mở rộng quy mô, đẩy nhanh tốc độ, tăng cường chất lượng GD đáp ứng nhu cầu phát triển và tiến bộ XH. Nghiên cứu XHHGD là nghiên cứu một trong những vấn đề cơ bản nhất của GD, giúp cho GD phát huy mọi tiềm năng của chính mình, dựa vào sức mạnh của XH để phát triển bền vững. XHHGD mang tính phổ quát đối với sự nghiệp GD chung, có tính toàn cầu. 3. Các yêu cầu đối với XHHGD Phải có biện pháp nâng cao hiểu biết của toàn XH về vai trò, tác dụng của GD làm chuyển biến thái độ của cộng đồng của XH đối với GD. Tạo cho quần chúng biến thái độ bằng hành vi cụ thể tham gia hoạt động GD dưới nhiều hình thức tương ứng với thế mạnh của chính họ. Tổ chức được các phong trào hỗ trợ giáo dục để góp phần giải quyết những khó khăn về vật chất, quản lý GD. XHHGD phải đặt dưới sự kiểm soát của Đảng và chính quyền các cấp để trên cơ sở đó mà tổ chức phối hợp các hoạt động, xây dựng môi trường GD thích hợp với hoàn cảnh của mỗi địa phương. Giữ vững vai trò tham mưu của trường học nhằm hướng mọi hoạt động vào việc thực hiện tốt mục tiêu GD. Nhà trường phải trở thành nòng cốt của mọi phong trào, mọi cuộc vận động thực hiện XHHGD. 4. Cơ chế tổ chức thực hiện Kết hợp giữa việc huy động các đoàn thể XH tham gia hỗ trợ hoạt động GD với việc tổ chức mọi lực lượng XH cấp cơ sở tham gia giáo dục. GD với chiến lược phát triển toàn diện con người trong thời kỳ CNH-HĐH I. Một số khái niệm: 1- Phát triển con người .(Human Development) bao gồm rất nhiều hiện tượng gần nhau như: con người (Human beings); cá thể (individual); cá nhân (person); nhân cách (personality); nhân lực (human resources). + Phát triển con người là lĩnh vực của sự phát triển nói chung, nó còn là tiên chỉ, mục tiêu cao cả của phát triển. (phát triển XH là phát triển cấp 2, phát triển kinh tế là phát triển cấp 1 , phát triển con người là phát triển cấp + Phát triển con người là sự phát triển loài người, cá thể người, cá nhân, nhân cách, nhân lực, do đó nhiều hình thái, nhiều giá trị và nhiều chức năng. + Bản chất của sự phát triển con người là làm gia tăng giá trị của con người trên các mặt tinh thần, thể chất, đạo đức, kinh tế, kỹ thuật, nghệ thuật, trí tuệ, tình cảm, XH, 37 pháp lý v.v... (Với ý nghĩa đó, phát triển con người được xem là nguyên tắc hạt nhân của sự phát triển bền vững xét trên bình diện toàn XH). + Về mặt triết học, phát triển con người được xét đều trên ba lĩnh vực cơ bản: . Phát triển thể chất hoặc thể xác (thể lực, thể hình, thể năng) . Phát triển tâm trí (lý trí và trí tuệ, các chức năng nhận thức và lôgíc- trí dũng). . Phát triển tâm hồn, tình cảm (đánh giá, biểu thị thái độ, thể hiện nhu cầu tâm năng. 2 - Phát triển nguồn nhân lực + Về mặt giá trị (phát triển con người là gia tăng giá trị nói chung của con người) phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị sử dụng của con người. + Về mặt lôgíc (phát triển con người là gia tăng giá trị của con người như là giá trị cứu cánh - mục đích của phát triển và như là giá trị phương tiện) còn phát triển nguồn nhân lực chủ yếu là phát triển mặt công cụ ở con người, như một nguồn tài nguyên, một nguồn vốn và một nguồn động lực trong quá trình phát triển. + Trình độ phát triển của con người thể hiện tập trung ở các chỉ số phát triển con người (HDI) và chất lượng cuộc sống. Nó quyết định chất lượng của nguồn nhân lực và những tiền đề quan trọng nhất để phát triển nguồn nhân lực. Vì thế, trong nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực luôn đặt ra ra mục tiêu phát triển con người: có con người phát triển đầy đủ giá trị thì mới có nhân lực chất lương cao. (Tuy nhiên, không thể đồng nhất phát triển nguồn nhân lực với phát triển con người, vì con người không chỉ có giá trị sử dụng và chức năng công cụ mà còn giữ vai trò, chức năng nhân bản). + Có thể nói: phát triển con người là phạm trù tâm lý - giáo dục và HH; phát triển nguồn nhân lực là phạm trù kinh tế - chính trị - xã hội. Hai phạm trù này thống nhất với nhau trên cơ sở phạm trù nhân cách, hoạt động và giá trị. II- Mô hình con người với tư cách là đơn vi của nguồn nhân lực trong xã hội CNH-HĐH 1- Theo kinh nghiệm của các nước đã và đang CNH-HĐH, con người cần có những thuộc tính cơ bản sau: + Năng lực trí tuệ và kỹ thuật hoạt động chắc chắn, chính xác + Trình độ nghiệp vụ, chuyên môn hoá + Khả năng hợp tác và cạnh tranh 38 + Khả năng di truyền nghề nghiệp và việc làm + Khả năng hoạch định, đánh giá và tự đánh giá + Sức chịu đựng sự căng thẳng (stres) do nhịp độ sống và môi trường công nghiệp, lối sống hiện đại gây ra. + Học vấn chung về quản lý, công nghệ, kinh tế, hành chính, luật, chính sách, thị trường, ... + Nhu cầu, sở thích tinh thần của cá nhân tương đối rõ ràng, đặc biệt trong sinh hoạt văn hoá, thể thao, giải trí + Tính kỷ luật và tính tổ chức + Tính độc lập của lý trí và tình cảm trong công việc, cuộc sống gia đình, quan hệ XH, học tập + Năng động và hiệu quả trong công việc + Lòng trung thực thẳng thắn + Kỹ năng sống thường nhật, tỉnh táo, ít viển vông + Ý chí và tính mạo hiểm trong hành động + Thiện chí với lao động chân tay, tập luyện và vận động thể chất + Tính độc lập với gia đình và dòng họ + Ý thức quan tâm tới đại cục + Nhu cầu thành đạt, học tập, giao tiếp và phát triển bản thân + Giàu trải nghiệm, biết học hỏi và tích luỹ kinh nghiệm + Ứng xử đa phương tiện và đa chiều + Hướng vào tương lai + Thừa nhận giá trị của sự thay đổi + Chấp nhận sự khác biệt với mình + Khả năng xử lý thông tin, tính toán, cân nhắc, giải quyết vấn đề + Tính tạo nhã, lịch thiệp (nghi thức văn hoá) trong công việc và quan hệ + Tính hiệu lực, hiệu quả trong công việc và đời sống + Tính quy đồng dân tộc ở phương diện văn hoá + Tính lạc quan, chịu đựng thất bại và nắm bắt vận hội mới + Quý trọng và sử dụng thời gian nghiêm túc + Gắn bó với công việc (trách nhiệm và tính mục đích) và coi trọng nhân cách nghề nghiệp 39 + Phong cách thị dân + Quang giao và khoan dung + Xu hướng cá nhân CN và tính riêng biệt trong đời sống sinh hoạt + Yêu thích nghệ thuật và du lịch + Đa dạng trong phương thức hành vi 2- Ở Việt Nam, những nét đặc trưng của con người Việt Nam đã được chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương II (khoá VIII) và trong Luật Giáo dục bao gồm: + Sức khoẻ, thể hình tốt, ý chí bền bỉ + Bản sắc dân tộc trong đời sống và đạo đức, văn hoá, nghệ thuật, giao tiếp của cá nhân, của gia đình, của cộng đồng. + Hệ tư tưởng Mác-lênin và Hồ Chí Minh + Lý tưởng và niềm tin XHCN + Lý tưởng độc lập dân tộc và ý chí bảo vệ, xây dựng tổ quốc III. Giáo dục và sự phát triển con người 1- Quan hệ giữa GD và phát triển con người là mối quan hệ giữa đầu tư và lợi ích, giữa vốn liếng và hiệu quả. + Cơ cấu chung nhất của quá trình phát triển con người bao gồm hai thành phần: Một là đầu tq vào con người Hai là động cơ hoá hay huy động những tiềm năng và sức mạnh trong đời sung và công việc, phát huy tính tích cực cá nhân của con người bằng những ảnh hưởng và tác động khác nhau. + Các giải pháp phát triển con người cho dù ở khâu đầu tư hay động cơ hoá đều có thể sắp xếp vào 4 loại cơ bản: . Các giải pháp XH / con người . Các giải pháp thông tin / ra quyết định . Các giải pháp cơ cấu / hành chính . Các giải pháp công nghệ / kinh tế + Loại giải pháp XH / con người có vai trò bao trùm, gắn với giáo dục, đào tạo, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và phúc lợi XH, những giá trị của đời sống gia đình, sinh hoạt, văn hoá, giải trí, thể thao, quan hệ XH (giao lưu), các bổn phận công dân, truyền thống và TLXH... trong đó GD- ĐT có vai trò chủ đạo bởi vì thực chất những giải pháp này chính là các quá trình XHH hoá cá nhân. + Loại giải pháp thông tin / ra quyết định chủ yếu dựa vào những nghiên cứu, 40 điều tra, tìm hiểu hiện trạng, chính sách và những khuyến nghị về con người, những chủ trương quản lý vĩ mô và vi mô, những ảnh hưởng của truyền thống quảng bá, giao dịch, tiếp xúc... đối với con người. + Những giải pháp về cơ cấu / hành chính có liên quan tới tổ chức, quản lý, điều hành (luật) phân bố, kiểm soát, điều chỉnh... những ảnh hưởng của môi trường đến con người và những ảnh hưởng do con người tác động lẫn nhau cũng như tác động lên môi trường. + Loại giải pháp công nghệ / kinh tế gắn với tài chính, cải thiện công nghệ, điều kiện, công cụ, nội dung lao động, mức tiêu dùng, chuẩn vật chất của đời sống, môi trường sinh thái của con người. + Hai thành phần trong cơ cấu phát triển con người đều là đầu tư, chúng chỉ khác nhau ở chỗ đầu tư trực tiếp hay gián tiếp. Giáo dục - đào tạo tham gia vào cả hai thành phán và luôn giữ vai trò chủ đạo, do đó, giáo dục - đào tạo được xem là lĩnh vực đầu tư phát triển, nó chi phối hiệu quả của tất cả những loại đầu tư khác nhau. 2. Quan hệ giữa giáo dục và phát triển người là Quan hệ giữa phương tiện và mực đích giữa công cụ và thành tựu - Đảng CSVN khẳng định: GD là quốc sách hàng đầu; quan điểm này được biểu hiện: + Ưu tiên cho giáo dục (tài chính, tinh thần, tính pháp chế của hệ thống giáo dục...) + GD là công cụ mạnh mẽ của quốc gia, một phương sách quan trọng bậc nhất để phát triển đất nước: GD là công cụ cơ bản để phát triển con người (con người là yếu tố quyết định đến mọi thành tựu phát triển kinh tế - xã hội khác nhau). - Phát triển con người là công việc lâu dài “trồng người" có "lợi ích trăm năm". - Trong chiến lược phát triển con người, GD phải được đặt ở vị trí chủ đạo và nòng cốt. (Nếu cơ cấu chiến lược phát triển con người bao gồm: tư tưởng, đường lối; các mục tiêu; các nhiệm vụ; các giai pháp; các điều kiện thi GD là một thành tố xuyên suốt cả 5 khâu). - Tính chất của giáo dục: Luật GD quy định tính chất của nền GD Việt Nam là: nền GD XHCN; tính nhân dân; tính dân tộc; tính khoa học; tính hiện đại. Những tính chất này bao trùm toàn bộ hệ thống giáo dục. Mối quan hệ dân trí, nhân lực, nhân tài + Dân trí là một nền tảng để có được và phát triển được nhân lực và nhân tài (GD-ĐT phải xây dụng được nền tảng dân trí này. Nhân lực và nhân tài chỉ là một bộ phận của dân trí; nhân tài chỉ là bộ phận ưu tú nhất trong nhân lực). 41 + Mô hình nâng cao dân trí; nhân tài trong cuối thế kỷ XX ở nước ta là giáo dục cho mọi người. Từ năm 2001, sẽ là mô hình: phổ cập THCS; giáo dục thường xuyên; phổ cập trung học; phổ cập nghề trong đội ngũ nhưng người lao động. + Dân trí, nhân lực và nhân tài chỉ là những thứ công cụ đơn thuần nếu thiếu đi cơ sở giá trị của chúng là con người và nhân cách con người. - Nội dung giáo dục: Vấn đề nội dung GD được xét trên 3 mặt: + Về mặt tổ chức: Nội dung được cơ cấu thành các lĩnh vực học tập và rèn luyện, được phản ánh trong hệ thống các hoạt động trong môn học và ngoài môn học. Phân hoá trong GD nhờ chia ban, phân luồng đào tạo, phân chia lĩnh vực đào tạo (bắt buộc và tự chọn) dựa trên năng lực, sở trường và cơ sở GD, nhu cầu thị trường lao động và xu thế phân công lao động, phát triển ngành nghề. Sử dụng phương thức tích hợp nội dung như lồng ghép môn học, tích hợp xuyên môn (môn học tích hợp), tích hợp liên môn (các chủ đề tích hợp) nhằm phát huy tốt nhất hiệu quả sử dụng chương trình và học liệu, của phương tiện và chi phối thời gian học tập. + Về thành phần của nội dung GD: Cần nghiêng về tri thức ứng dụng, các kỹ năng hành dụng và các kỹ năng hiểu biết XH (luật pháp, văn hoá), kinh tế, chính trị, lịch sử, học vấn công nghệ và kinh tế; học vấn về bản thân con người và đời sống con người, học vấn về tài nguyên và môi trường; kỹ năng độc lập học tập; kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, xử lý tình huống; thái độ nhân văn đối với công việc, con người và thiên nhiên, kỹ năng chung sống và sống khoan dung; thái độ trách nhiệm đối với XH và bản thân; thái độ sáng tạo trong hoạt động và quan hệ. + Về mặt giá trị : Nội dung GD cần phản ánh được các xu thế chính của sự chuyển đổi giá trị vài ba chục năm gần đây: pháp chế và nền hành chính hợp lý hoá; hợp tác và cạnh tranh; đô thị hoá và siêu đô thị hoá; chủ động, năng động trong sự phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ; thế tục hoá (đời thường hoá); liên kết và tích hợp các tổ chức, các nguồn nhân lực, các năng lực; phân hoá và chuyên môn hoá các kỹ năng, sức mạnh và quyền lực của tri thức khoa học - kỹ thuật; nhịp độ hoạt động cao; vai trò quyết định của nhân tố con người, đặc biệt trong quản lý; định hướng nhân văn và phát triển bền lững; năng lực thích ứng cao của XH trước những thay đổi của tự nhiên và lịch sử; chất lượng cuộc sống tương xứng với mức độ tăng trưởng kinh tế, các xu thế toàn cầu hoá trong các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, khoa học - công nghệ; truyền thông; dịch vụ giải trí, du lịch, thể thao v.v... - Phương Pháp giáo dục: 42 (Nếu nội dung GD chứa đựng những giá trị tiềm tàng, sẽ xuất hiện trong sản phẩm GD thì phương pháp GD sẽ quyết định giá trị thật sự của sản phẩm GD. Các Mác đã chỉ rõ: "Thước đo trình độ của một nền văn minh không phải ở chỗ nó sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ nó sản xuất ra cái đó bằng cách nào”). + Phương pháp GD hiện nay chỉ có thể là phương pháp dựa vào hoạt động của người học và các quan hệ và môi trường học tập cởi mở, dân chủ, nhân văn, vào các phương thức giao tiếp tích cực như hợp tác, tham gia vào các học liệu, công cụ, KT đa phương tiện được hiện đại hoá. + Phương pháp GD phải được xây dựng trên cơ sở giải quyết có hiệu quả vấn đề tích cực hoá, cá thể hoá. + Phương pháp GD muốn có hiệu quả phải dựa vào tiềm năng trít hực, kỹ năng, tay nghề của người dạy, người học, chế độ đánh giá GGD và sử dụng con người sau đào tạo. (Vì thế, những tiền đề này cần được XD đồng bộ và được đổi mới trước khi giải quyết nhiệm vụ đổi mới phương pháp). IV. Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong chiến lược phát triển toàn diện con người 1. Khái niệm: - Nhân cách con người: Trong Tâm lý học (TLH) có hai cách hiểu về nhân cách con người: + Là cá nhân với tư cách là chủ thể của các quan hệ XH và của hoạt động có ý thức . + Là một hệ thống các phẩm chất của cá nhân được quy định bởi sự gia nhập vào các quan hệ XH, được hình thành trong hoạt động cùng nhau và trong giao tiếp (A.V.Petrovsky và Yaroshevsky, chủ biên, Từ điển TLH, tiếng Nga, Matskva, 1990). Có thể nói: nhân cách là bộ mặt TL, đạo đức của mỗi người - đó là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất TL quy định giá trị XH và hành vi XH của người đó. Nhân cách được phân tích trên ba bình diện khác nhau và được đánh giá ở ba mức độ khác nhau: Thứ nhất, nhân cách của con người được thể hiện trước tiên ở dạng cá tính (nhân cách bộc lộ trong tính cá biệt, không đồng nhất với mọi người, với cái chung, vì vậy giá trị của nhân cách là ở tính tích cực của nó trong việc khắc phục những hạn chế của hoàn cảnh và sự hạn chế tự nhiên nhất của mình). Thứ hai, nhân cách được thể hiện trong mối quan hệ và liên hệ mà nó tham gia trong quá trình hoạt động cộng đồng. Giá trị nhân cách ở mức độ này (mức độ giữa các cá nhân). 43 Thứ ba, nhân cách được xem như là một chủ thể đang thực hiện một cách tích cực, có chủ định hay không chủ định, những biến đổi trong những người khác nhau mà nó có liên quan - quen biết, hoặc không liên quan bằng hành động của mình: nhân cách như là chủ thể của hoạt động. Giá trị của nhân cách ở mức độ này là ở những tác động mà nhân cách này gây ra đối với những nhân cách khác, đối với những biến đổi của nhân cách khác, diễn ra dưới ảnh hưởng hoạt động của những nhân cách này. (Mọi biến đổi cơ bản nhờ hoạt động đối tượng và giao tiếp của mình, cá nhân này tạo ra được những cá nhân khác, đặt biệt là ở bản thân mình như là một người khác, đã tạo bằng nét đặc trưng đầy đủ và có giá trị nhất của cá nhân ấy như là một nhân cách). Nhân cách chỉ có thể được xem xét trong sự thống nhất của ba bình diện trên. Nó phản ánh tính ổn định, thống nhất, tích cực và tính giao tiếp. - Cấu trúc nhân cách: Nếu xét nhân cách tách khỏi những đặc điểm cá thể của đặc trưng tâm lý mỗi người, có thể xác lập được một cấu trúc điển hình của nhân cách con người nói chung. Có thể đề cập tới một số quan niệm về cấu trúc nhân cách có liên quan nhiều tới quá trình giáo dục, đào tạo như sau: + Quan niệm coi nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản là: Nhận thức (bao gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ) Rung cảm (tình cảm và thái độ) Ý chí (phẩm chất ý chí, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen) + Quan niệm coi nhân cách bao gồm 4 tiểu cấu trúc: Xu hướng (thế giới quan, lý tưởng, hứng thú, tâm thế...) Kinh nghiệm (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen) Đặc điểm của quá trình tâm lý (các phẩm chất trí tuệ, ý chí, đặc điểm cảm xúc, tình cảm). Các đặc điểm sinh học (khí chất, giới tính, lứa tuổi, các đặc điểm bệnh lý) + Quan niệm nhân cách có nhiều tầng: tầng nổi, sáng tỏ (bao gồm ý thức, tự ý thức và ý thức nhóm) và tầng sâu, tối tăm (bao gồm tiềm thức và vô thức). + Quan niệm về các mặt đào tạo của nhân cách: đức, trí, thể, mỹ... và quan niệm về 4 thuộc tính phức hợp của nhân cách là xu hướng, tính cách, năng lực và khí chất. Nhưng bao quát hơn cả, phù hợp hơn cả, nên xem hai cách con người bao gồm bốn khối bộ phận sau đây: * Xu hướng của nhân cách: Đó là hệ thống những động lực thúc đẩy, quy định lựa chọn của các thái độ và tính tích cực của con người. 44 (Xu hướng bao gồm nhiều thuộc tính khác nhau, bao gồm một hệ thống các nhu cầu, hứng thú mềm tin, lý tưởng tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó có một thành phần nào đấy chiếm ưu thế và có ý nghĩa chủ đạo, đồng thời các thành phần khác nhựa giữ vai trò chỗ dựa, làm nền). * Những khả năng của nhân cách: bao gồm một hệ thống các năng lực, bảo đảm cho sự thành công của hoạt động. Các năng lực của cá nhân là tiền đề tâm lý bảo đảm cho xu hướng của cá nhân trở thành hiện thực. Thông thường ở mỗi cá nhân có một năng lực nào đó chiếm ưu thế, còn các năng lực khác thì phụ thuộc vào nó và tăng cường cho nó. * Phong cách hành vi của nhân cách: Phong cách là do tính cách và khí chất của nhân cách ấy quy định. (Tính cách là hệt hóng thái độ của con người đối với thế giới xung quanh và bản thân, được thể hiện trong hành vi của họ. Tính cách tạo nên phong cách hành vi của con người trong môi trường XH và phương thức giải quyết những nhiệm vụ thực tế của họ). * Hệ thống điều khiển nhân cách: Hệ thống này thường được gọi là "tự ý thức" của nhân cách, nó thực hiện sự tự điều chỉnh - tăng cường hay làm giảm bớt hoạt động, tự kiểm tha và sửa chữa các hành vi và hành động, dự kiến và hoạch định cuộc sống và hoạt động của cá nhân. Tuỳ thuộc vào mức độ phát triển mà hệ thống tự điều chỉnh này được củng cố và con người trở thành chủ nhân của các sức mạnh của mình. Tuỳ thuộc vào sự giáo dục và lối sống của trẻ và người lớn mà phẩm chất của "tự ý thức" được xác định, khả năng tự điều chỉnh các sức mạnh và phương tiện của bản thân được xác định. (Ở Việt Nam, các bộ phận trên trong cấu trúc mà nhân cách được sắp xếp thành hai mặt thống nhất là đức và tài hay phẩm chất và năng lực, dưới sự chỉ đạo của ý thức bản ngã). Có thể biểu diễn cấu trúc đó theo sơ đồ sau: 45 Đức (phẩm chất) - Phẩm chất hướng về XH (đạo đức- chính trị): thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, lập trường, thái độ chính trị, thái độ lao động... - Phẩm chất hướng về cá nhân (đạo đức tư cách): nết na, sự ham muốn - Phẩm chất ý chí: tính kỷ luật, tự chú, mục đích, quả quyết, phê phán... - Cung cách ứng xử: tác phong, lễ tiết, tính khí Tài (năng lực) - Năng lực XH hội: khả năng thích ứng, năng lực sáng tạo, cơ động, mềm dẻo, linh hoạt trong toàn bộ cuộc sống XH. - Năng lực chủ thể hoá: khả năng biểu hiện tính độc đáo, đặc sắc, cái riêng, bản lĩnh của cá nhân. - Năng lực hành động: có mục đích, có điều khiển, chủ động tích cực. - Năng lực giao tiếp; khả năng thiết lập và duy trì quan hệ với người khác Cấu trúc tâm lý của nhân cách khá phức tạp, nhiều mặt và cơ động. Cấu trúc tâm lý của nhân cách tương đối ổn định, chứa đựng những thuộc tính điển hình chi mỗi cá nhân. 2. Giáo dục phát triển nhân cách nhằm phục vu sư nghiệp CNH-HĐH đất nước đối với con người Việt Nam thế kỷ XXI - Đại hội Đảng lần thứ VIII đã xác định mục tiêu tổng quát của thời kỳ CNH- HĐH là: đến năm 2020, căn bản hoàn thành CNH-HĐH, cải biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành nước công nghiệp, cụ thể là: + Lao động sử dụng máy móc + Điện khí hoá về cơ bản + Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, có khả năng nắm bắt và vận dụng được nhiều thành tựu mới nhất của cách mạng khoa học và công nghệ. Nhiệm vu cơ bản của thời kỳ này là: Phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất mới theo định hướng XHCN. Phát triển nguồn lực con người, thực hiện công bằng XH, xây dựng những thế hệ con người Việt Nam có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực. Mô hình nhân cách con người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH - Căn cứ để xây đựng mô hình: + Những đòi hỏi của sự nghiệp CNH-HĐH + Hiện trạng về nhân cách con người Việt Nam nói chung và của thanh thiếu niên nói riêng. + Kinh nghiệm, truyền thống của cha ông: yêu nước, cần cù, sáng tạo, lạc quan, 46 thương người, vì nghĩa. + Kinh nghiệm nước ngoài: Mô hình nhân cách của nhà quản trị kinh doanh; mô hình người chín muồi; mô hình con người hiện thực hoá bản thân. Mô hình con người phát huy đầy đủ chức năng (nhà tâm lý học Mỹ Lockes cho rằng: "con người phát huy đầy đủ chức năng" về nhiều mặt giống như đứa trẻ. Đây là cái tôi thuần khiết và cái thiện chân chính. ông cho rằng hạnh phúc không có nghĩa là mọi nhu cầu SV của con người đều được thoả mãn (tài sản, địa vị). ý nghĩa chân thực của hạnh phúc là ở khuynh hướng tích cực tham gia vào hiện thực, ở sự phấn đấu liên tục, chứ không phải là kết quả của nó). Mô hình Người sáng tạo (nhà tâm lý học Mỹ A.Floom) ông cho rằng, ở mỗi người đều có khuynh hướng tận dụng đầy đủ tiềm năng của mình để trưởng thành và phát triển. “Con người sáng tạo" có thể sử dụng mọi sức mạnh, tiềm năng và năng lực của mình. Ông cho rằng con người như thế có các đặc điểm trên 4 mặt: khả năng yêu mến người khác, năng lực tư duy, hạnh phúc và lương tâm. - Mô hình dự kiến về nhân cách con người Việt Nam thế kỷ XXI + Đó là một nhân cách được phát triển toàn diện + Đó là một nhân cách gắn bó nhịp nhàng, hài hoà giữa ba mặt: nội tâm thống nhất, lành mạnh, ổn định tích cực; quan hệ với người khác một cách nhân ái, hữu nghị, hợp tác; quan hệ với công việc và sự nghiệp say mê và nhiệt tình, thích ứng và sáng tạo, hiệu quả và thành đạt (quan hệ của con người với bản thân, với người khác và với công việc). (Sự phát triển hài hoà tâm lý bên trong; người có nhân cách lành mạnh có thể xử lý đúng đắn quan hệ giữa người với người, phát triển tình bạn; người có nhân cách lành mạnh có thể vận dụng có hiệu quả trí tuệ và năng lực của mình vào việc giành lấy thành công trong công việc và sự nghiệp). Nếu mô tả một cách đầy đủ, chi tiết thích ứng với giai đoạn CNH- HĐH thì mô hình đó là: “Con người có lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; có ý chí kiên cường, có hoài bão lớn lao phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, có tư duy sáng tạo và óc thực nghiệm, có tính tổ chức và kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cao, có lòng nhân ái, tôn trọng và hợp tác được với người khác, năng động và thích ứng, có tinh thần pháp luật và ý thức công dân, ý thức bảo vệ môi sinh, biết yêu cái đẹp". (Đó chính là mô hình gắn bó chặt chẽ hai mặt đức và tài và là cơ sở cho việc giáo dục toàn diện con người). 47 V. Định hướng chiến lược phát triển trí tuệ con người Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH 1. Trí tuệ và vai trò của trí tuệ trong sự nghiệp CNH-HĐH *Khái niêm về trí tuệ - “Trí" theo Mạnh Tử, có mầm mống bẩm sinh là cái "ta sẵn có vậy, nguồn gốc của trí là lòng phải chăng"- Như vậy, trí không những là trí thông minh, mà còn là tâm trí, là tấm lòng, biết cân nhắc và suy xét. Theo tiếng Việt thì đó là sự khôn ngoan. - Theo Tuân Tư thì: "Cái biết trọng người gọi là tri; tri mà hợp với cái gì ở bên ngoài gọi là trí" - Như vậy trí tuệ là sự phù hợp giữa nội tâm và hiểm hực bên ngoài, là lý trí thực hành. - Các học giả hiện đại cũng đưa ra những định nghĩa khác nhau về trí tuệ, trí thông minh. Từ định nghĩa này có thể chọn ra ba quan niệm sau: + Coi thông minh là năng lực học tập + Coi thông minh là năng lực tư duy trừu tượng + Coi thông minh là năng lực thích ứng Xu hướng định nghĩa trí thông minh qua hoạt động thích nghi được nhiều nhà nghiên cứu cấp nhận nhất (V.Stem, D.Wecheles, Jpiaget). - Khái niệm "trí tuệ" có thể có những hàm ý sau: + Trí tuệ và các khái niệm tương đương như trí, trí thông minh... đều thuộc phạm trù năng lực tư duy, thuộc lĩnh vực nhận thức. + Trí tuệ là thuộc tính chung của nhân cách được hình thành thông qua hoạt động có mục đích, có tương tác với môi trường xung quanh theo hướng thích nghi tích cực để đạt mục đích, gắn bó với hai lĩnh vực khác nhau của nhân cách là cảm xúc và tâm vận động. + Trí tuệ được phát triển trong một quá trình từ thấp lên cao. Mức độ gia tăng giá trị và tính mới mẻ của sự khái quát và của công cụ sử dụng, tính chủ động của hoạt động tư duy có thể coi là các tiêu chí về chất lượng, hiệu quả của trí tuệ. + Việc nghiên cứu trí tuệ phải lấy khái niệm hoạt động có đối tượng là hoạt động then chốt, coi con người được làm chủ, làm chủ được và tự làm chủ là tư tưởng trung tâm, sử dụng phương pháp luận dựa vào hành động làm đơn vị của đời sống tâm lý con người, rất chú trọng đến sản phẩm và ngày nay còn nhấn mạnh đến tính hiệu quả. (Như vậy, có thể coi thí tuệ, trí thông minh là năng lực tư duy được hình thành thông qua hoạt động có mục đích, có tương tác với môi trường xung quanh với tinh thần tự chủ, năng động cao, nhằm đạt kết quả có chất lượng và hiệu quả, có tính mới mẻ, sáng tạo, phục vụ mục đích hoạt động, đồng thời tạo được sự tiến bộ trong năng lực và nhân cách con người). 48 * Vai trò của trí tuệ trong sự nghiệp CNH-HĐH - Các nhà tương lai học đều tiên đoán: "thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của trí tuệ". - Văn kiện ĐH Đảng lần thứ 8 đã khẳng định vai trò của nguồn lực con người nói chung và nguồn lực trí tuệ nói riêng: + Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. + Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH-HĐH. + Phát triển trí tuệ con người Việt Nam thể hiện trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. + Khơi dậy trong người dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí người Việt Nam quan tâm đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn bằng khoa học và công nghệ. - Theo phương hướng trên, Hội nghị lần thứ hai BCHTW Đảng khoá VIII đã nêu lên những yêu cầu về con người, có thể coi như cất lõi của những định hướng giá trị của người Việt Nam trong thời kỳ CNH-HĐH. Đó là: “Những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ quốc; CNH, HĐH đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp; có tính tổ chức kỷ luật, có sức khoẻ, là những người kế thừa xây dựng CNXH vừa “hồng" vừa "chuyên" như lời dạy của Bác Hồ". - Trong thời kỳ CNH-HĐH, trí tuệ trong sự hài hoà với đạo đức, với tác động môi trường phải đóng vai trò là xuất phát điểm của sáng tạo, là nguồn sức mạnh sáng tạo, là hạt nhân của tiến là con người. - Cách mạng công nghiệp và công nghệ, năng suất và quản lý là nền tảng tạo nên sự thay đổi của tri thức. (Tri thức theo kiểu truyền thống là tri thức chung, mang tính uyên bác, còn bây giờ, tri thức trước hết phải là chuyên sâu, phải là tri thứcc hứng minh cho chính nó trong hoạt động, là thông tin thực tế đối với hoạt động, thông tin dẫn đến kế quả sản xuất – sản phẩm). 2. Một số định hướng cơ bản về giáo dục trí tuệ - Chiến lược phát triển trí tuệ được dựa trên các cơ sở: + Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong 20 năm (tối thiểu). 49 + Chiến lược phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam. + Chiến lược phát triển GD Việt Nam + Những xu thế về GD con người trên thế giới trong thế kỷ XXI: XH trong thế kỷ XXI sẽ là một XH có sự thống trị của tri thức, một XH học tập suốt đời, mọi người phải được tạo cơ hội để thực hiện yêu cầu bình đẳng trong học tập vừa để thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ, vừa để dễ dàng tìm kiếm việc làm. Trí tuệ là tài sản của đất nước GD và kỹ thuật ngày càng gắn bó chặt chẽ với nhau (GD vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển kinh tế). + Yếu tố sinh học: . Bẩm sinh, di truyền . Hoàn cảnh tự nhiên, môi trường sống . Hoạt động của cá nhân bao gồm cả hoạt động lao động sáng tạo lẫn lao động giao tiếp XH và tự xử sự. 2.1. Định hướng về lựa chọn nội dung tri thức Các yêu cầu, tiêu chuẩn cần bảo đảm khi xây dựng nội dung trí dục. Nhận thức đúng chức năng của trí dục trong thời đại hiện nay. GD trí tuệ là quá trình tác động có hệ thống và định hướng đến sự phát triển của hệ thống tri thức, kỹ năng, trí xét đoán, khả năng ứng dụng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo của con người, nhằm chuẩn bị cho họ hoạt động có hiệu quả trong cuộc sống, trong lao động. Cần đặc biệt nhấm mạnh đến việc hình thành và phát triển những năng lực quan trọng như năng lực hành động, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thích ứng, năng lực sáng tạo. Nội dung kiến thức nói một cách khái quát bao gồm các thành tố sau: + Hệ thống kiến thức thế giới (tự nhiên, XH, tư duy...) và kinh nghiệm để nhận thức thế giới. + Hệ thống những kinh nghiệm, cách thức hoạt động (phương pháp, kỹ năng, kỹ xảo...) để tái tạo thế giới. + Hệ thống những kinh nghiệm hoạt động sáng tạo giải quyết các vấn đề mời xuất hiện để phát triển thế giới. + Hệ thống những kinh nghiệm về thái cúi chuẩn mực ứng xử với thế giới tự nhiên, đối với con người (thế giới quan, chuẩn mực đạo đức thẩm mỹ). + Các yêu cầu đặt ra cho nội dung trí dục là: 50 . Nội dung phải đáp ứng được mục tiêu đào tạo con người phổ thông, toàn diện, đáp ứng giai đoạn xây dựng đất nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bảo đảm cho việc đào tạo mẫu người tương thích cho việc tham gia xây dựng một nước công nghiệp và hiện. . Nội dung vừa cơ bản, tinh giảm , thiết thực, vừa là nội dung có tính chất chìa khoá để tạo điều kiện cho người học chiếm lĩnh được nội dung khác. . Nội dung phải bảo đảm được sự cân đối của các mối quan hệ nhân văn - khoa học - kỹ thuật truyền thống và hiện đại, cá nhân và cộng đồng, giữa dân tộc và quốc tế. . Nội dung phải bảo đảm được sự cân đối giữa hai dòng tri thức văn hoá- khoa học và kỹ thuật - công nghệ- hướng nghiệp. Tạo điều kiện cho người học nhanh chóng tiếp cận với nghề nghiệp. Những định hướng về phương pháp dạy học Chuyển dần sang định hướng dạy học, theo đó học sinh được học một cách tích cực, độc lập, sáng tạo; HS thực hiện các nhiệm vụ nhận thức qua các hình thức hoạt động, tạo thời cơ và điều kiện để họ thích nghi và năng động giải quyết những vấn đề đặt ra trước hết là trong học tập ứng dụng và sau đó là các vấn đề của XH. (Quan niệm về tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo gắn liền với phương pháp dạy học hiện đại phản ánh những mức độ tư duy khác nhau mà mỗi mức độ tư duy đi trước là tiền đề cho mức độ tư duy đi sau). + Rèn luyện kỹ nâng làm việc độc lập cho học sinh, để các em tự lực chiếm lĩnh kiến thức là cách làm hiệu quả nhất để việc nắm kiến thức của các em trở nên sâu sắc và có ý thức. Tính độc lập của học sinh biểu hiện ở sự độc lập suy nghĩ, biết cách tổ chức công việc của mình một cách hợp lý trên cơ sở quy trình được giáo viên hướng dẫn. + Tích cực hoá gắn liền với động cơ hoá, với sự kích thích hứng thú, với sự tự giác nhận trách nhiệm. (Tư duy tích cực phải thể hiện qua hành động trong việc phát hiện, tìm kiếm và giải quyết một vấn đề bằng kiến thức, kỹ năng và phương pháp của bản thân). + Lựa chọn hệ phương pháp dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh nhằm giải quyết những mâu thuẫn sau: Mâu thuẫn thứ nhất là: cần phải dạy tất cả nhưng lại không thể học được tất cả. Mâu thuẫn thứ hai là: nói chung trong mọi khoa học, nếu tìm cách truyền thụ tri thức một cách đơn giản, nhanh chóng lại đối lập với con đường tìm kiếm chân lý của khoa học. Mẫu thuẫn thứ ba là: trong khoa học, cái đơn giản nhất, tinh tuý nhất, tổng quát nhất không phải là cái có thể nắm bắt ngay được. 51 + Hệ phương pháp dạy học tích cực có 3 tiêu chuẩn chủ yếu: . Hoạt động: để có được kiến thức mới, học sinh phải được hoạt động, được quan sát, được thao tác trên các đối tượng. . Tự do: học sinh phải được tự do phát huy sáng kiến, được lựa chọn con đường đi tới kiến thức. . Giáo dục: hoạt động dạy học phải hướng tới sự đáp ứng nhu cầu của học sinh, thúc đẩy nhu cầu đó, hướng tới việc phát huy tính chủ động, tự chủ, sự phát triển và hoàn thiện nhân cách. (áp dụng hệ phương pháp này cần giảm bớt phần trình bày của giáo viên, tăng cường các hoạt động độc lập của học sinh, chuẩn bị cho các em dần làm chủ quá trình đào tạo của mình. Tuy nhiên, không phải mọi kiến thức đều có thể để học sinh tự tìm kiếm. Hơn nữa, phương pháp này cũng đòi hỏi nhiều thời gian nên không thể vận dụng ở mọi nơi, mọi lúc, cũng không phải mọi học sinh đều sẵn sàng, tự giác học tập). Việc áp dụng hệ phương pháp tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất là nhận thức và trình độ của giáo viên, cụ thể là: + Vai trò của giáo viên không hề giảm nhẹ mà đòi hỏi giáo viên phải có trình độ lành nghề, óc sáng tạo, tính quả quyết để giữ được vai trò khởi xướng, động viên, xúc tác, giúp đỡ, cố vấn, hướng dẫn. + GV phải được đào tạo chu đáo, đạt chuẩn, có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ tay nghề vững, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng thành thao các phương tiện kỹ thuật dạy học, có thể định hướng sự phát triển của học sinh, đảm bảo cho sự tự do trong học tập của các em. + Sách giáo khoa phải giảm bớt loại thông tin buộc học sinh phải thừa nhận và ghi nhớ, tăng cường các bài tập nhận thức để học sinh giải; giảm bớt những câu trả lời sẵn về các vấn đề nêu ra, thay bằng những hướng dẫn tìm tòi, tra cứu; giảm bớt phần tóm tắt bài học làm sẵn cho học sinh, tăng cường gợi ý để các em tự nghiên cứu bài học. + Hệ phương pháp dạy học tích cực yêu cầu có đủ các phương tiện, thiết bị dạy học để học sinh được thao tác trực tiếp. Hình thức tổ chức học tập phải thay đổi linh hoạt. + Tạo điều kiện để thực hiện yêu cầu học tập trong hoạt động và bằng hoạt động của bản thân học sinh. - Đổi mới phương pháp dạy học là việc làm cần thiết, song thực hiện yêu cầu này lại là một việc làm có nhiều khó khăn. Các giải pháp sau đây có thể góp phần khắc phục những khó khăn đó: + Thống nhất về quan điểm, quy trình giữa các tổ chức có trách nhiệm (các cơ 52 quan nghiên cứu, chỉ đạo, quản lý từ trung ương đến địa phương) và thể chế hoá bằng văn bản cần thiết. + Biên soạn các tài liệu tham khảo, các thiết bị dạy học phần mềm máy tính nói chung cho GV các cấp đến từng bộ môn nhằm cụ thể hoá các quan niệm và quy trình đã thống nhất. + Tiến hành đổi mới đồng bộ từ biên soạn chương trình, sách giáo khoa, tăng cường thiết bị dạy học, cách thức đánh giá, thi cử. + Phải bắt đầu từ các trường sư phạm và bắt đầu từ các lớp tiểu học. + Tạo ra một môi trường XH thuận lợi cho việc đề cao các giá trị của trí tuệ cũng như cho việc phát triển trí tuệ. + Xác định những định hướng về việc cung cấp các phương tiện dạy và học hiện đại đáp ứng các yêu cầu giáo dục nói chung và phát triển trí tuệ nói riêng. 53 MỤC LỤC Trang Phần I: NHŨNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA XÃ HỘI HỌC .......................................................2 I. Đối tượng, nhiệm vụ nghiên cứu của xã hội học ................................................................2 II. Các hình thức biểu hiện cơ bản của cấu trúc XH: .............................................................4 III. Đặc điểm của cấu trúc XH:...............................................................................................5 IV. Các hình thức biểu hiện cơ bản của cấu trúc xã hội:........................................................6 V. Con người xã hội .............................................................................................................13 Phần II: Xã hội học giáo dục ....................................................................................................22 I. Quan niệm của xã hội học về giáo dục..............................................................................22 II. Đối tượng nghiên cứu của XHHGD. ...............................................................................24 III. Nhiệm vụ nghiên cứu của XHHGD. ..............................................................................25 IV. Nội dung nghiên cứu cơ bản của XHH giáo dục............................................................26 V. Một số quan điểm về mối quan hệ giữa GD với XH và công bằng XH.........................30 VI. Một số vấn đề XH về GD ở nước ta hiện nay ................................................................32 VII. Xã hội hoá giáo dục ......................................................................................................34 54

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfGiáo trình Xã hội học giáo dục.pdf
Luận văn liên quan